1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt

96 1,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân vật trong tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt
Tác giả Nguyễn Thị Liên
Người hướng dẫn TS. GVC. Nguyễn Thị Kiều Anh
Trường học Trường ĐHSP Hà Nội
Chuyên ngành Lĩnh vực Văn học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 530,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Việt là một nhà văn sống, học tập và làm việc tại Mĩ nơi được coi là trung tâm văn hoá của nhân loại, thu hút biết bao nghệ sĩ tài năng có tên tuổi, đồng thời nơi đây cũng là cái nôi của những cách tân nghệ thuật đương đại trên cả hai phương diện lí luận và thực tiễn sáng tác. Do vậy, Phan Việt không chỉ chịu ảnh hưởng của những đợt sóng cách tân mà còn thực sự bị cuốn vào guồng quay trong quỹ đạo chuyển động tất yếu của đời sống văn học đương đại thế giới. Song trong tác phẩm của mình, với lối hành văn hiện đại, thông minh, sắc sảo, nghệ thuật tự sự độc đáo, linh hoạt, với những liên tưởng bất ngờ, thú vị đã phá vỡ các biên độ không gian thời gian. Đó chính là những yếu tố mới lạ lôi cuốn độc giả đi đến những dòng chữ cuối cùng trong tác phẩm Tiếng người của Phan Việt mặc dù đó thực sự là một cuộc thử thách không đơn giản của tư duy.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

= = o 0 o = =

NGUYỄN THỊ LIấN

NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

TIẾNG NGƯỜI CỦA PHAN VIỆT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyờn ngành: Lớ luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS GVC NGUYỄN THỊ KIỀU ANH

nhân vật trong tiểu thuyết

tiếng ng ời của phan việt

khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Ng ời h ớng dẫn khoa học

ts gvc nguyễn thị kiều anh

Trang 2

LỜI CAM ĐOA

Khoá luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS.GVC.

Nguyễn Thị Kiều Anh Tôi xin cam đoan rằng:

Khoá luận này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

Những tư liệu được trích dẫn trong khoá luận là trung thực

Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trìnhnghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Liên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Đóng góp của khoá luận 10

8 Bố cục của khoá luận 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC 12

1.1 Quan niệm về nhân vật văn học 12

1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 12

1.1.2 Vai trò, chức năng của nhân vật văn học 16

1.1.3 Các loại nhân vật văn học cơ bản 18

1.2 Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật văn học 21

1.2.1 Kết cấu 21

1.2.2 Các biện pháp thể hiện nghệ thuật xây dựng nhân vật 25

1.2.3 Lời nói nghệ thuật 28

1.3 Nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 30

1.3.1 Nhân vật tiểu thuyết 30

1.3.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 33

CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT “TIẾNG NGƯỜI” CỦA PHAN VIỆT 37

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 37

2.1.1 Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” 37

2.1.2 Vai trò của khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong tìm hiểu đánh giá tác giả và tác phẩm văn học 40

2.1.3 Vài nét về sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

42 2.1.4 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết “Tiếng người” của Phan Việt 47

Trang 4

2.2 Thế giới nhân vật 52

2.2.1 Nhân vật cô đơn, sợ hãi, hoài nghi 52

2.2.2 Nhân vật tự ý thức

2.2.3 Nhân vật xu thời

65 69 CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT “TIẾNG NGƯỜI” CỦA PHAN VIỆT

72 3.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật 72

3.2 Miêu tả hành động nhân vật 75

3.3 Khám phá nhân vật qua những tình huống tâm lí 80

3.4 Lời văn trần thuật đan xen kể, tả với triết lí, bình luận, trữ tình ngoại đề 85 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam đương đại chứng kiến sự toả sáng của hàng loạt

các cây bút tài năng Bên cạnh các cây bút trong nước thì những cây bút hải ngoại cũng góp phần không nhỏ tạo nên dòng chảy liên tục của văn học đương đại Giữa làng văn Việt ở hải ngoại, Phan Việt đã dần trở thành một cái tên đầy ấn tượng trên văn đàn Phan Việt tên thật là Nguyễn Ngọc Hường, sinh năm 1978, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 2000, sau đó sang Mĩ học cao học ngành truyền thông tại Omaha (bang Nebraska) Từ năm 2002 đến nay, Phan Việt là nghiên cứu sinh chương trình tiến sĩ về chính sách xã hội tại Đại học Chicagô, Mĩ Có thể thấy rằng, Phan Việt là nhà văn đầu tiên ở hải ngoại đoạt giải thưởng Văn học tuổi 20, lần 3 (do Hội Nhà văn TP HCM

báo TS và Nxb Trẻ tổ chức, 2005) với tập truyện ngắn đầu tay Phù phiếm

Trang 5

truyện Sau đó, Phan Việt ngày càng thể hiện sự gắn bó và tâm huyết của chị dành cho văn chương Năm 2007, chị tham gia dịch và hiệu đính Suối nguồn (The Fountainhead) của Ayn Rand - một trong hai tác phẩm đứng đầu bảng

xếp hạng những tiểu thuyết hay nhất thế kỉ XX - do nhật báo New York công

bố theo bình chọn của độc giả Năm 2008, chị giới thiệu đến công chúng cuốn

tiểu thuyết Tiếng người (Nxb Trẻ và báo Tuổi trẻ) Chị vừa cho ra mắt tác phẩm Nước Mĩ, nước Mĩ (Nxb Trẻ và công ty Phương Nam kết hợp xuất bản

và phát hành) Tuy là một cây bút mới xuất hiện trên văn đàn nhưng PhanViệt là một nhà văn không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam Đây chính là lí dothứ nhất

1.2 Phan Việt là một nhà văn sống, học tập và làm việc tại Mĩ - nơi

được coi là trung tâm văn hoá của nhân loại, thu hút biết bao nghệ sĩ tài năng

có tên tuổi, đồng thời nơi đây cũng là cái nôi của những cách tân nghệ thuậtđương đại trên cả hai phương diện lí luận và thực tiễn sáng tác Do vậy, PhanViệt không chỉ chịu ảnh hưởng của những đợt sóng cách tân mà còn thực sự

bị cuốn vào guồng quay trong quỹ đạo chuyển động tất yếu của đời sống vănhọc đương đại thế giới Song trong tác phẩm của mình, với lối hành văn hiệnđại, thông minh, sắc sảo, nghệ thuật tự sự độc đáo, linh hoạt, với những liêntưởng bất ngờ, thú vị đã phá vỡ các biên độ không gian - thời gian Đó chính

là những yếu tố mới lạ lôi cuốn độc giả đi đến những dòng chữ cuối cùng

trong tác phẩm Tiếng người của Phan Việt - mặc dù đó thực sự là một cuộc

thử thách không đơn giản của tư duy Đó chính là lí do thứ hai

1.3 Văn học nghệ thuật là địa hạt của sự sáng tạo Từ sự quan sát đời

sống văn học đương đại có thể nhận thấy chưa bao giờ cá tính sáng tạo củanhà văn và sự độc đáo mới lạ của tác phẩm lại được đề cao như trong giaiđoạn này Những đợt sóng cách tân đổi mới diễn ra không có điểm dừngkhiến cho những sáng tạo, thể nghiệm của nhà văn luôn bị đặt trước nguy cơ

Trang 6

“cũ đi”, bị phủ nhận một sớm một chiều Thậm chí, mỗi nhà văn cũng luôn phải tự làm mới mình qua từng tác phẩm như Aragông từng quan niệm: “Tôi

viết ra chỉ để nói ngược lại chính tôi” Tiếp cận tiểu thuyết Tiếng người của

Phan Việt, tác giả khoá luận nhận thấy sự trăn trở và ý thức cách tân mãnh liệtcủa nhà văn thể hiện đậm nét trong cách lựa chọn và xây dựng hệ thống nhânvật Nhân vật là tụ điểm phản ánh rõ lối đi riêng của Phan Việt trên hành trình

làm mới thể loại tiểu thuyết và khám phá, tái hiện những “ẩn mật bản ngã”

trong chiều sâu tâm hồn con người Với Tiếng người, bằng một thể nghiệm,

một cách viết khá mới lạ, độc đáo cùng với kĩ thuật lồng ghép, cắt dán, ghép

mảnh, những dòng tâm tư, ý thức của nhân vật, loại “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” điểm nhìn trần thuật di động, đa điệu, đa thanh, Phan Việt đã có một

sự đóng góp quan trọng cho sự cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam hiệnđại, đưa tiểu thuyết Việt Nam hoà nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới Đó là

đã trực tiếp phát biểu những vấn đề liên quan tới tác phẩm, quan niệm vềnghệ thuật, quan niệm về nghề viết Có thể điểm qua một vài cuộc trao đổitiêu biểu như:

Trang 7

Trong cuộc trao đổi với tác giả Phan Việt về tiểu thuyết Tiếng người

trên email (thứ 2, 19/ 11/ 2007), nhà báo Song Phạm đã khẳng định: “Tất cả những thứ bất hạnh, duyên nghiệp, trò vè tâm tưởng, nhữnh cái vòi nhuyễn của thể vô thức là những gì và nó đã làm gì với Duy cũng như cuộc sống gia đình anh thì bạn đọc buộc phải đọc truyện mới biết”.

Trong bài Đọc tiểu thuyết “Tiếng người” của Phan Việt trên Dân trí

(số ra ngày 18/ 3/ 2008), tác giả bài báo đã viết: “Sau hơn ba năm im hơi lặng

tiếng kể từ khi đoạt giải Văn học tuổi 20, Phan Việt xuất hiện trở lại với một cuốn tiểu thuyết sẽ bắt độc giả đọc từ đầu đến cuối Tiếng người đề cập đến

đời sống của một thế hệ thanh niên lớn lên trong thời kì đổi mới, những người đang bước vào lứa tuổi 30 thông qua quan hệ của Duy và M Họ có thể được xem như là hai đại biểu ưu tú của thế hệ: thông minh, hiểu biết, được học hành đầy đủ, thành đạt và có sự tự tin vào chính mình Tuy nhiên, sống bên cạnh nhau mà họ vẫn cảm thấy cô đơn, trống vắng Họ trải nghiệm hạnh phúc với niềm vui thú lẫn cay đắng qua đó họ mới cảm thấy mình thực sự trưởng thành”.

Trong bài Kẻ đi tìm tiếng người (số ra ngày 07/ 04/ 2008), tác giả

Dương Bình Nguyên nhận xét: “Phải đặt trong người viết một trái tim dũng cảm mới có đủ tâm sức mà tự mình đi, cô độc đi ở một nơi mà không ai biết, không ai thích, không ai đọc những gì mình viết ra Và cũng phải đặt trong trái tim ấy một tình yêu đủ lớn với chữ nghĩa, để bắt đầu “nhập thế” với thể loại tiểu thuyết Đi tìm “những tiếng nói của một đời không bày tỏ hết” Phan Việt là một người phụ nữ hiện đại, văn chương của chị loại bỏ toàn bộ những khuôn thức cũ, tràn trề tự do Nhưng trên hết tôi cảm giác ở Phan Việt, viết văn như hành trình đi tìm chính mình, đi tìm những ý nghĩa mới trong những chiều kích khác nhau của cuộc sống”.

Trang 8

Trong chương trình giới thiệu Mỗi ngày một cuốn sách phát trên kênh

VTV1, tác giả bài viết khẳng định: “Tất cả những chi tiết mà Phan Việt đưa

vào tác phẩm rất thực, rất đời thường Nó làm nên sự hấp dẫn của Tiếng

người khiến người đọc sống lại những cảm xúc chính xác của mình vào một

thời điểm có thật trong cuộc đời mà họ đã trải qua Tiếng người khiến người

đọc tự vấn hạnh phúc trong cuộc đời đôi khi là cái khó nắm bắt và không ai dám chắc nó có phải là cái có thật hay không”.

Có thể nói, những bài viết liên quan đến Phan Việt không nhiều chủyếu là các bài viết được đăng tải trên các website văn học Bên cạnh đó cũngphải kể tới những lời giới thiệu, lời bình ngắn về tác phẩm của Phan Việt củacác tác giả, các nhà nghiên cứu phê bình

Trong lời bạt cuối cuốn Phù phiếm truyện nhà Lí luận phê bình Huỳnh

Như Phương đã đưa ra dự báo về Phan Việt: “Nếu tác giả quyết tâm chọn lựa

và theo đuổi con đường văn chương thì đây sẽ là một trong những nhà văn trẻ tiên báo cho một chiều kích mới của văn học Việt Nam hiện đại” Dự báo

ấy càng có thêm cơ sở khi Tiếng người xuất hiện trên văn đàn, với lối viết

chặt chẽ, tỉnh táo, mạnh mẽ, khả năng phân tích tâm lí nhân vật, đào sâu, mổ

xẻ đến tận đáy sâu của tâm hồn nhân vật

Trong lời bạt của tiểu thuyết Tiếng người, nhà văn Nguyễn Đông Thức

khẳng định: “Tiếng người” không phải là một chuyện kể đơn giản (nó sẽ khó đọc hơn Oxford thương yêu của Dương Thuỵ) mà có nhiều tầng nấc để người đọc suy ngẫm về các giá trị của cuộc sống Thật ra tôi rất thích cái tựa đề

“Bong bóng” cùng một chủ đề lẩn khuất: Mọi thứ trên đời đều là bong bóng, là phù vân, vô thường, vô nghĩa Nhưng Phan Việt đã gác lại cái tựa

đó Cô muốn người đọc tự chiêm nghiệm về những điều cô muốn nói”.

Trong bài Tiểu thuyết như là sự hiện hữu những khoảnh khắc thầm kín của tâm trạng, in trên Phong điệp.net, (2008) tác giả Phùng Gia Thế nhận

Trang 9

định: “Sau Phù phiếm truyện, Tiếng người là một cuộc tìm kiếm mới của tác

giả, ở tiểu thuyết, trong một hình vóc cổ điển Quả vậy, 46 phần trên 279 trang truyện không khiến người ta có cảm giác đây là một cuộc chơi kĩ thuật Khước từ những sự kiện xã hội, tiểu thuyết tập trung vào các sự kiện tâm trạng Có thể nói, cấu trúc của truyện là một sự mẫn cảm về sự hiện diện của tâm trạng Một tiếng nói thầm kín, tinh tế, trung thực và đầy khao khát”.

Có thể thấy, các bài viết của các tác giả trên là những bài nghiên cứuđầu tiên có tính chất học thuật về tác phẩm của Phan Việt nói chung và tiểu

thuyết Tiếng người nói riêng Song trong những bài báo, bài viết đánh giá,

nhận xét đó chưa có bài viết nào đề cập đến nhân vật của tác phẩm một cáchtoàn diện Nghiên cứu về nhân vật vẫn là một mảnh đất trống để người viếtkhám phá Lấy tác phẩm nghệ thuật làm đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu sâuhơn về nhân vật trong tác phẩm, tác giả khoá luận muốn tìm hiểu sâu hơn vềtác phẩm để thấy được sự cách tân của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mớiđồng thời nghiên cứu nó dưới sự soi sáng của lí thuyết Thi pháp học hiện đại

3 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận hướng tới tìm ra những điểm độc đáo, nổi bật trong cách tiếpcận con người, những kiểu loại nhân vật tiêu biểu và những yếu tố nghệ thuật

đặc sắc trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ chính của khoá luận là học tập và nắm vững lí luận về nhânvật văn học nói chung, nhân vật tiểu thuyết nói riêng, chỉ ra những nét nổi bật

về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Đồng thời cần chỉ ranhững điểm mới trong việc tiếp cận, khai thác nhân vật, nắm được những kiểunhân vật cơ bản và phân tích những nét độc đáo cũng như hiệu quả của các

biện pháp nghệ thuật khi xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Tiếng người

của Phan Việt

Trang 10

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận là: “Nhân vật trong tiểu thuyết “Tiếng người” của Phan Việt”.

Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt

6 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong khoá luận này gồm:

- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

- Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật

- Phương pháp hệ thống lịch sử - chức năng

- Phương pháp thống kê, so sánh

7 Đóng góp của khoá luận

Thứ nhất, tác giả khoá luận đã khái quát lí thuyết về nhân vật văn học,

vận dụng để tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt

và nêu ra được những điểm cơ bản về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Namthời kì đổi mới

Thứ hai, tác giả khoá luận đã chỉ ra và phân tích những khía cạnh mớitrong việc tiếp cận con người, tìm hiểu những kiểu nhân vật cơ bản trong tiểu

thuyết Tiếng người của Phan Việt, phân tích được những yếu tố độc đáo

trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Qua đó, người viết góp thêmmột tiếng nói khẳng định những đóng góp quan trọng của Phan Việt nói riêng

và bộ phận văn học hải ngoại nói chung vào quá trình cách tân thể loại tiểuthuyết Việt Nam đương đại

8 Bố cục của khoá luận

Cũng như các khoá luận khác, ngoài mở đầu và kết luận, nội dung củakhoá luận được triển khai thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận về nhân vật văn học

Trang 11

- Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vậttrong tiểu thuyết “Tiếng người” của Phan Việt

- Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết “Tiếngngười” của Phan Việt

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC

1.1 Quan niệm về nhân vật văn học

1.1.1 Khái niệm về nhân vật văn học

Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hi Lạp: persona, tiếng Anh: personage, tiếng Nga: personaj) Hơn 2000 năm trước đây, trong tiếng Hi Lạp cổ, “persona” vốn mang ý nghĩa là “cái mặt nạ” - một dụng cụ

biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Theo thời gian, chúng ta đã sử dụngthuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ những đối

Trang 12

tượng mà văn học miêu tả và thể hiện Nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vậtvăn học.

Đôi khi, nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ

khác như: “vai” (actor) và “tính cách” (character) Tuy nhiên, các thuật ngữ này lại có nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật” (persona).

Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, thích hợp với loại “nhân vật hành động” Còn thuật ngữ tính cách lại

chỉ thiên về những nhân vật có tính cách trong thực tế sáng tác, không phải

nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về “suy tư”, và

cũng không phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt Từ đó có thể thấy các

thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao quát được hết những biểu hiện khác

nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học

“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, có sức khái quát những

hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và cấp độ Như

vậy, thuật ngữ “nhân vật” là đúng đắn và đầy đủ nhất.

Nhìn một cách rộng nhất, “nhân vật” là khái niệm không chỉ được dùng

trong văn chương mà còn được dùng trong nhiều lĩnh vực khác Theo bộ Từ điển tiếng Việt thì “nhân vật” là khái niệm mang hai nghĩa: Thứ nhất, đó là

"đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật” Thứ hai, đó là “người có vai trò nhất định trong xã hội” [22; 881] Tức là thuật ngữ “nhân vật” được dùng phổ biến ở nhiều mặt, cả đời

sống nghệ thuật, đời sống xã hội - chính trị lẫn đời sống sinh hoạt hàng ngày.Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận, chúng tôi chỉ đề cập đến

“nhân vật” theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa như vừa

trích ở trên tức là, nhân vật trong tác phẩm văn chương

Trong Từ điển văn học (tập 2), các tác giả đã xác nhận:

Trang 13

“Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [20; 86].

Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từkhía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của

nó với các yếu tố hình thức tác phẩm Có thể nói đây là định nghĩa tương đốitoàn diện về nhân vật văn học

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đề xuất một cách

nhìn khác Nhân vật được ông xem xét trong mối tương quan với cá tính sángtạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học:

“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn

từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường đuợc gán cho những đặc điểm giống con người” [1; 241].

Theo Lại Nguyên Ân, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tốtạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học.Nhà nghiên cứu còn quan tâm chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trởthành nhân vật văn học

Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm về nhân vật có

phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha ) cũng có thể không có tên riêng Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả mà

Trang 14

chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [9; 235].

Một số nhà nghiên cứu khác lại định nghĩa nhân vật dựa trên tiêu chíchức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học Nhân vật là phương tiện

để nhà văn tái hiện đời sống, mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm

Cuốn Lí luận văn học (tập 2) do Phương Lựu (chủ biên) có định nghĩa

khá kĩ về nhân vật văn học: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như như Tấm, Cám, Thạch Sanh Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong "Truyện Kiều" Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Khái niệm “nhân vật” có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng cụ thể trong tác phẩm Nhưng chủ yếu vẫn là hình tượng con người trong tác phẩm Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để nhận ra” [17; 277- 278].

Trong cuốn Lí luận văn học do GS Hà Minh Đức (chủ biên) định

nghĩa: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ược lệ, đó không phải là sự sao chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người Cũng có khi đó không

Trang 15

phải là những con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [7; 126].

Trong Giáo trình Lí luận văn học dành cho các trường Cao đẳng Sư

phạm (tập 2) những người biên soạn sách có xu hướng nghiên cứu nhân vật

trong tư cách là đối tượng để nhà văn khái quát, phân tích đời sống và tái hiện

bằng các phương tiện đặc trưng của văn chương: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức và tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [27; 73].

Như vậy, các nhà văn, nhà nghiên cứu Lí luận văn học bằng cách nàyhay cách khác khi định nghĩa về nhân vật văn học vẫn cơ bản gặp nhau ở nộihàm không thể thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối tượng màvăn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học Thứ hai, đó lànhững con người hoặc con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn conngười, là hình ảnh ẩn dụ của con người Thứ ba, đó là đối tượng mang tínhước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qualăng kính chủ quan của nhà văn

Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là điểm quan trọng

nhất là “nội dung của mọi nhân vật văn học” [17; 280] Đôxtôievxki cũng khẳng định: “Đối với nhà văn, toàn bộ vấn đề là ở tính cách” [17; 280] Tính

cách với ý nghĩa rất lớn như vậy nên trước kia một số giáo trình Nga đã gọinhân vật là tính cách Ở đây cần phải hiểu tính cách là các phẩm chất xã hộilịch sử của con người thể hiện qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm

chất, tâm sinh lí của họ: “Tính cách cũng là nhân vật nhưng là nhân vật được thể hiện với một chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao hơn, tuy chưa đạt đến mức độ là những điển hình” [9; 105] Và tính cách tự nó cũng bao hàm những

thuộc tính như: có nét cụ thể, độc đáo của một con người cá biệt nhưng lại

Trang 16

mang cả những nét chung, tiêu biểu cho nhiều người khác ở một mức độ nhấtđịnh, đồng thời có một quá trình phát triển hợp logic khách quan của đờisống

Như vậy, nhân vật có hạt nhân là tính cách Trong tác phẩm vănchương có nhân vật được khắc hoạ tính cách nhiều hay ít nhưng cũng có nhânvật không được khắc hoạ tính cách Điều này phụ thuộc vào chức năng nghệthuật và giá trị tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm qua nhân vật đó

1.1.2 Vai trò, chức năng của nhân vật văn học

Nhân vật là yếu tố vừa thuộc về nội dung vừa thuộc về hình thức tácphẩm Nhân vật là điều kiện thiết yếu để sự khám phá, sự đánh giá - lí giải, sựmiêu tả mang tính nghệ thuật của tác giả về đời sống đạt đến tính toàn vẹn, cóchiều sâu, có sức hấp dẫn riêng đối với độc giả

Xem xét vai trò của nhân vật đối với hình thức tác phẩm, trong cuốn

Văn chương dẫn luận, G.N Pospelov nhấn mạnh: “Nhân vật là phương

diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [23; 157].

Nhân vật văn học có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò khácnhau trong tác phẩm Trước hết, nhân vật văn học là đơn vị cơ bản, là phươngtiện tất yếu và quan trọng nhất giúp nhà văn phản ánh một cách chân thựccuộc sống Bằng sự suy ngẫm, chiêm nghiệm, bằng những tìm tòi khám phá,nhà văn xây dựng nên nhân vật và hệ thống nhân vật để từ đó khái quát cáctính cách xã hội và đời sống gắn liền với nó

Tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội, lịch sử của con ngườiqua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất, tâm sinh lí của họ Tínhcách của nhân vật mang vai trò hết sức quan trọng đối với cả nội dung và hìnhthức của tác phẩm văn học Về nội dung: nhân vật với tính cách của nó làphương tiện để thể hiện tư tưởng của tác phẩm, tức thông qua sự hoạt động và

Trang 17

mối liên hệ giữa các tính cách người đọc sẽ đi đến một sự khái quát hóa vềmặt nhận thức tư tưởng Về hình thức: nhân vật với tính cách của nó quyếtđịnh phần lớn các yếu tố hình thức như kết cấu, những quy luật loại thể, ngônngữ (lời nói nghệ thuật), các biện pháp nghệ thuật thể hiện Về luận điểm

này, Heghen cũng đã từng nói: “Tính cách là điểm trọng tâm của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức” Ta cũng cần lưu ý rằng tính cách nhân vật mang

tính lịch sử, nghĩa là với mỗi thời đại lịch sử các tính cách được tôn vinh haycoi nhẹ là khác nhau, có thể trong thời kì này tính cách này được tôn sùngnhưng ở thời kì sau thì không

Cùng với việc thể hiện tính cách, nhân văn học thực hiện chức năng thểhiện số phận con người Bởi tính cách, số phận là kết tinh của môi trường,hoàn cảnh nên nhân vật văn học còn đóng vai trò là người dẫn dắt bạn đọcvào các thế giới khác nhau của đời sống và trước hết là phương tiện để nhàvăn mở ra những cánh cửa vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận các đề tài, chủ đềmới mẻ Qua nhân vật ta hiểu được bản chất của chế độ xã hội mà nó đangsống

Bên cạnh đó, nhân vật còn có chức năng thể hiện quan niệm nghệ thuật

và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người, về cuộc đời Văn học phản ánhthế giới bằng hình tượng song điều đó không có nghĩa là nhà văn sao chụp lại,

bê nguyên xi hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm Nhà văn phải là ngườisáng tạo ra trên cơ sở sự trải nghiệm, suy ngẫm theo cách cảm thụ của bảnthân

Tóm lại, nhân vật có một vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm củamỗi nhà văn Nó là hình thức, là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực

cuộc sống, thể hiện quan niệm, tư tưởng của bản thân: “Nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời,

Trang 18

xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu cách hiểu về cuộc đời của tác giả đối với con người”.

1.1.3 Các loại nhân vật văn học cơ bản

Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng về kiểu loại Xét nhân vậtvăn học qua từng thời kì phát triển của nền văn học, người ta có thể phân chianhân vật văn học thành nhiều kiểu loại khác nhau: nhân vật trong văn học dângian khác với nhân vật trong văn học viết, nhân vật thần thoại khác nhân vậttruyền thuyết và nhân vật cổ tích Xét về cấu trúc, nhân vật chính khác nhânvật phụ, nhân vật trung tâm Xét về ý thức, hệ nhân vật chính diện khác nhânvật phản diện Xét về cấu trúc hình tượng, nhân vật chức năng, nhân vật loạihình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng đều có những đặc trưng khácnhau

Thứ nhất, dựa trên vai trò của nhân vật trong kết cấu và cốt truyện của tác phẩm có nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt

và liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển

khai đề tài cơ bản của mình Đó là nhân vật được tác giả “dày công” miêu tả,

khắc họa được thể hiện rõ nét, gây ấn tượng sâu đậm đối với người đọc.Trong số các nhân vật chính của tác phẩm lại có nhân vật được thể hiện đặcbiệt nổi bật, có ý nghĩa tư tưởng, thẩm mĩ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung

tâm Nhân vật trung tâm là nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, có

mối liên hệ với tất cả những nhân vật khác trong tác phẩm, đó là nơi quy tụcác mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tácphẩm

Bên cạnh nhân vật chính là các nhân vật phụ Đó là những nhân vật ít

xuất hiện trong tác phẩm, đóng vai trò thứ yếu trong việc triển khai đề tài vàbiểu hiện tư tưởng tác phẩm Nhân vật phụ là nhân vật ít được miêu tả, không

Trang 19

được chú trọng miêu tả nhưng lại không thể thiếu được vì nó có vai trò

“giăng mối” các đầu mối quan hệ, bổ sung và hỗ trợ về nhiều mặt, kể cả hình

thức và nội dung tác phẩm, nó soi sáng cho nhân vật trung tâm, cho vấn đềtrung tâm của tác phẩm góp phần thể hiện sự đa dạng sinh động của bức tranhđời sống được miêu tả

Thứ hai, dựa trên mối quan hệ với lí tưởng xã hội của nhà văn lại có thể chia thành nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) Hai kiểu nhân vật này cũng mang tính lịch sử, trong đó

nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng đạo đức tốt đẹp củatác giả, của thời đại được nhà văn khẳng định, đề cao Còn nhân vật phản diệnngược lại mang những phẩm chất xấu, trái với đạo đức và lí tưởng đáng lên

án và phủ định

Ngoài hai cách chia thường thấy như trên về nhân vật, dựa vào cấu trúc

nhân vật người ta lại có thể nói tới các kiểu nhân vật như: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng

Nhân vật chức năng là loại nhân vật xuất hiện để thực hiện một số chức

năng nào đó Loại nhân vật này thường có đặc điểm, tính cách ổn định vớinhững phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối Nhân vật chứcnăng thông thường chỉ thấy trong văn học dân gian, văn học cổ trung đại như:Tiên, Bụt, Thần xuất hiện để giúp đỡ người tốt, thử thách con người, ban pháthạnh phúc

Nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã

hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật nhằmkhái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy được gọi là điểnhình Loại nhân vật này bao giờ cũng có một số phẩm chất loại biệt về mặt xã

hội được nêu bật hơn hẳn các tính cách khác Bêlinxki nói: “Điển hình vừa là một người, vừa là nhiều người Trên người anh ta bao quát rất nhiều người,

Trang 20

nguyên cả một phạm trù người, thể hiện cùng một khái niệm” Dĩ nhiên, nhân

vật loại hình như mọi nhân vật văn học khác, đòi hỏi một cá tính nhất định,được thể hiện một cách sinh động qua các chi tiết cụ thể, chân thực Nhân vậtloại hình thường xuất hiện nhiều trong các trào lưu văn học cổ điển.Acpagông, Tac-tuyp, Giuốc-đanh là nhân vật như thế

Nhân vật tính cách là nhân vật có tính cách nổi bật, được xây dựng cụ

thể, sinh động như con người thực ngoài đời Nhân vật tính cách thường đadiện, chứa đầy mâu thuẫn và chính những mâu thuẫn đó làm cho tính cáchkhông tĩnh tại mà luôn vận động, phát triển đôi khi làm bất ngờ cho cả ngườisáng tạo ra nó Cấu trúc của nhân vật tính cách phản ánh một trình độ cao củavăn học trong việc khái quát và chiếm lĩnh đời sống

Nhân vật tư tưởng là loại nhân vật có nhiều điểm tương đồng với nhân

vật chức năng và có hạt nhân cấu trúc là một tư tưởng, một ý thức Xây dựngloại nhân vật này nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một

tư tưởng nào đó về đời sống và việc phát biểu, tuyên truyền đó đôi khi thậmchí được thực hiện lộ liễu không cần che giấu Sự đa dạng về tính cách bị tổnthất tầm vóc của những nhân vật này được quyết định bởi tầm vóc tư tưởng

mà tác giả muốn biểu đạt

Việc phân chia nhân vật thành các loại khác nhau như trên chỉ mang ýnghĩa tương đối và ở bình diện nào đó còn mang tính lịch sử Ranh giới phânchia nhân vật không phải lúc nào cũng rạch ròi Đặc biệt về sau này, văn họccủa chúng ta hướng tới việc thể hiện con người chân thực, sinh động, đa chiềuhơn Nhưng tựu chung lại điều cần chú ý nhất vẫn là khả năng phản ánh vàtác động đến cuộc sống, khả năng hấp dẫn lôi cuốn người đọc của nhân vật

1.2 Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật văn học

Như đã trình bày ở trên, nhân vật ngoài chức năng quan trọng làphương tiện để nhà văn gửi gắm ý tưởng nghệ thuật của mình còn có vai trò

Trang 21

quyết định đến phần lớn những yếu tố hình thức của tác phẩm văn chương Vìthế, có thể nói: qua mỗi yếu tố của hình thức tác phẩm, ta sẽ thấy được cụ thểnghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Cả ba yếu tố: kết cấu, các biệnpháp nghệ thuật thể hiện nhân vật, lời nói nghệ thuật đều tham gia vào việcxây dựng nhân vật Do vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật thựcchất là xem xét, tìm hiểu ba khía cạnh đó của hình thức.

1.2.1 Kết cấu

Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật Trong cuốn

Lí luận văn học do Phương Lựu (chủ biên), các tác giả định nghĩa: “Kết cấu

là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm” [19; 295].

Cuốn Lí luận văn học do Hà Minh Đức (chủ biên), NXB Giáo dục, H,

2007 lại quan niệm như sau về kết cấu: “Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” [7; 143].

Trong bài Tính nghệ thuật, một đối tượng nghiên cứu riêng và một cách tiếp cận riêng, tác giả Nắng Mai đã có một quan niệm cụ thể hơn về kết

cấu: “Kết cấu là việc sắp xếp, lắp ráp chẳng những kiến trúc trong chiều sâu,

mà còn bố cục, bài trí ở bên ngoài, nhằm tổng hợp những tương quan cho thành sinh thể toàn vẹn Kết cấu là yếu tố không thể hiện trực tiếp trên câu chữ, mà nó là chất liệu kết dính, liên kết các bộ phận, chi tiết rời rạc thành dòng thống nhất Trong tác phẩm kết cấu có vai trò của người đạo diễn thay mặt tác giả làm nên hệ thống các hình tượng như là kết quả của sự thống nhất hoàn thiện các yếu tố hình thức nghệ thuật” [18; 20].

Trang 22

Những quan niệm trên đều có những nét cơ bản giống nhau đó là: kếtcấu là sự liên kết, lắp ráp, tổ chức các yếu tố hình thức cũng như tư tưởng tácphẩm Vì vậy, theo chúng tôi, việc xem xét, tìm hiểu nội dung của kết cấu tácphẩm có thể tiến hành ở những phương diện sau:

Kết cấu trước hết thể hiện ở việc người nghệ sĩ trong tác phẩm củamình gắn nhân vật này với nhân vật kia, tạo ra các mối quan hệ qua lại giữachúng Từ đó các nhân vật sẽ tự bộc lộ bản chất xã hội - thẩm mĩ của mình

Kết cấu còn là việc nhà văn gắn nhân vật vào các hoàn cảnh, môitrường cụ thể, đặc biệt là những tình huống kịch tính, có vấn đề để cho nhânvật hoạt động Qua đó, nhân vật sẽ thể hiện phẩm chất, nhân cách, cá tínhriêng cũng như chiều hướng con đường đời của nó

Kết cấu đồng thời còn là việc người nghệ sĩ gắn thành dòng thống nhấtnhững điều xảy ra trước với những điều xảy ra sau trong cuộc đời nhân vật.Điều này có tác dụng làm nổi bật vấn đề trung tâm, nội dung tư tưởng chủ yếucủa tác phẩm cùng chiều hướng con đường đời của tất cả các loại nhân vật

Tóm lại, kết cấu là phương tiện phức tạp và tinh vi bậc nhất của tác

phẩm văn học Tài kết cấu được ví với tài của tạo hóa (làm ra sự sinh động của thế giới nghệ thuật) Nếu tác phẩm văn chương được coi là “bức tranh đời sống” thì kết cấu đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc tạo nên sự

đa dạng của bức tranh đời sống đó

1.2.2 Các biện pháp thể hiện nghệ thuật xây dựng nhân vật

Các biện pháp nghệ thuật phong phú trong văn chương có được là dovăn chương mượn từ đời sống Trong tác phẩm nhà văn sáng tạo chúng đểcho hay hơn, hấp dẫn hơn; xét đến cùng các biện pháp nghệ thuật là phươngtiện thể hiện đời sống đặc biệt là thể hiện nhân vật làm cho nhân vật trở thànhhình tượng nghệ thuật hiện lên trong sự hình dung của bạn đọc một cách sinhđộng, toàn vẹn có cả bên trong lẫn bên trong lẫn bên ngoài, cả lí trí và tình

Trang 23

cảm, có sự vận động, phát triển tính cách trong hoàn cảnh môi trường…Thông thường trong sáng tác văn chương nhà văn thường sử dụng các biệnpháp nghệ thuật sau: kể, tả, đối thoại, độc thoại, tâm tình, bàn luận - triết lí đặtnhân vật vào xung đột - kịch tính Việc sử dụng các biện pháp thể hiện nghệ

thuật “gắn liền với việc xây dựng hình tượng nhân vật toàn vẹn và sinh động”.

1.2.2.1 Biện pháp kể

Kể là một hoạt động sáng tạo của nhà văn, cụ thể đó là hình thức trầnthuật lại các sự kiện, biến cố, chi tiết, hoạt động… và làm cho đối tượng miêu

tả có một quá trình phát triển riêng, sinh động, không lặp lại Qua biện pháp

kể, quan hệ giữa các nhân vật, quan hệ giữa nhân vật với môi trường hay cáchành động, cử chỉ, ý nghĩ của nhân vật được xâu chuỗi, nối kết một cách logicvới nhau Trong tác phẩm có nhiều cách kể, có thể theo trình tự thời gianhoặc xáo trộn trật tự thời gian, có thể nhà văn trực tiếp làm người kể chuyệncũng có thể để nhân vật kể chuyện Do vậy, kể không chỉ là một biện pháp thểhiện nghệ thuật đơn thuần mà còn được nâng cao thành một phương thức tạo

ra tác phẩm như một câu chuyện Lúc đó, các biện pháp thể hiện nghệ thuậtkhác chỉ đóng vai trò bổ trợ cho kể

Có thể nói, kể là biện pháp thể hiện nghệ thuật chủ đạo của thể loại tự

sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng

1.2.2.2 Biện pháp tả

Tả là một hoạt động sáng tạo của nhà văn, đòi hỏi nhà văn phải khéokết hợp các danh từ với các kiểu tính từ, động từ; khéo kết nối các kiểu câuvới nhau sao cho hiệu quả cuối cùng là đối tượng được miêu tả hiện lên trước

sự hình dung của bạn đọc bằng càng nhiều giác quan càng tốt Nếu biện pháp

kể tạo ra thời gian nghệ thuật thì biện pháp tả lại tạo ra không gian nghệ thuậtcho tác phẩm Biện pháp này rất hữu dụng trong việc cụ thể hoá đối tượng

Nó không chỉ cho người đọc hình dung về hình thức, vẻ bề ngoài của đối

Trang 24

tượng mà cùng với dụng ý của nhà văn còn hé mở cả những điều thầm kín sâu

xa, cái bản chất bên trong của đối tượng

Tuy nhiên, với từng loại văn, từng kiểu nhân vật, đặc biệt với từngdụng ý nghệ thuật và từng tài năng sáng tạo riêng, mỗi nhà văn lại có cách sửdụng biện pháp thể hiện nghệ thuật này ở mức độ và hình thức khác nhau

Song mục đích cuối cùng của biện pháp tả “là để cho ngoại hình nhân vật, dáng vẻ, hành động, cử chỉ của nó, môi trường tự nhiên - xã hội bao quanh (vừa sinh ra nó, vừa lưu trữ dấu vết của nó) hiện lên cụ thể, sinh động trước

sự hình dung, tưởng tượng của bạn đọc bằng cả năm giác quan” [18; 26].

1.2.2.3 Biện pháp đối thoại

Đối thoại trong văn chương là hình thức mà nhà văn để các nhân vật tròchuyện, trao đổi, thậm chí tranh luận với nhau về một vấn đề nào đó Các mốiquan hệ giữa các nhân vật càng đa dạng, các nhân vật đối thoại càng nhiều thìcàng bộc lộ tính cách, cá tính, nghề nghiệp, giai cấp, lứa tuổi, giới tính… củamình Hơn nữa, sự bộc lộ đó còn thể hiện qua nội dung lời thoại, qua cả cách

(hình thức) nhân vật đối thoại Biện pháp này “giúp bạn đọc như nghe thấy nhân vật nói năng với lối tư duy và ứng xử riêng trong những tình huống cụ thể Đôi khi lời đối thoại còn được tác giả giới thiệu kèm theo giọng nói, cách nói Thông qua cách nói giúp người đọc hiểu được cái bên trong thế giới nội tâm của nhân vật” [18; 26].

Với mỗi loại văn, biện pháp này được sử dụng đậm hay nhạt là khácnhau Thơ trữ tình hầu như không có đối thoại, còn kịch thì lại đậm đặc nhữnglời đối thoại, bởi theo giới nghiên cứu: đối thoại là biện pháp nghệ thuật thểhiện đặc trưng của thể kịch Đối thoại trong kịch nhiều về số lượng và quantrọng về chất lượng, khả năng thể hiện nội dung của biện pháp đối thoại rất

Trang 25

lớn Ngôn ngữ đối thoại của mỗi nhân vật có một đặc điểm riêng, không nhânvật nào giống nhân vật nào Còn ở các tác phẩm tự sự thì việc sử dụng biệnpháp đối thoại rất đa dạng, linh hoạt Với những đặc điểm đó, biện pháp nghệthuật này có tác dụng lớn trong việc cá biệt hoá các nhân vật, làm nên điểmriêng biệt không thể trộn lẫn

1.2.2.5 Biện pháp để nhân vật tâm tình

Tâm tình là hình thức nhân vật bày tỏ thành lời những suy nghĩ tâm tư

của mình (hay của tác giả) với nhân vật khác Thường thì lời tâm tình cũng

chính là lời đối thoại, nhưng với một sắc điệu khác, một giọng điệu khác,điềm đạm, thâm trầm và giàu cảm xúc, suy tư hơn Qua biện pháp nghệ thuậtnày ta có thể có cái nhìn vào chiều sâu nhân vật, thấy được niềm đam mê, nỗi

Trang 26

vui sướng hay tuyệt vọng, những tâm sự, bức xúc của nhân vật Theo tác giả

Nắng Mai “biện pháp để nhân vật tâm tình dù trong thơ trữ tình hay ở kịch và truyện cũng có tác dụng khơi sâu, đồng thời bộc lộ bản chất tâm hồn cũng như đời sống tình cảm riêng tư của nó” [18; 26].

1.2.2.6 Biện pháp bàn luận triết lí

“Bàn luận là đoạn trữ tình ngoại đề nảy sinh với mục đích giúp bạn đọc thấy rõ tầm quan trọng của hành động nào đấy” [18; 26].

Hình thức của biện pháp này thường là để các nhân vật tự bàn luậnnhưng thực chất nó chỉ là điểm nhấn trực tiếp của nhà văn để lưu ý bạn đọcmột nội dung quan trọng nào đó Nhà văn dừng lại để nhân vật đưa ra ý kiếnnhận xét đánh giá cùng chiều hoặc trái chiều thể hiện điểm nhìn phong phú vềmột đối tượng, nội dung xã hội thẩm mĩ cụ thể Tham gia vào quá trình bànluận này, người đọc sẽ tự tìm ra nội dung tư tưởng chủ đề, chiều sâu tư tưởngcủa nhà văn

Nếu bàn luận là trữ tình ngoại đề thì triết lí được xem như một hìnhthức diễn đạt ngắn gọn, một chân lí sống, một kinh nghiệm sống nào đó dướidạng những luận đề mang nội dung, tất yếu có tính quy luật Nhà văn xoáysâu vào những vấn đề mà mình quan tâm bình luận về nó, từ đó khái quátnhững quy luật của bản chất đời sống Triết lí có khi do chính nhân vật nói racũng có khi do chính tác giả trực tiếp diễn đạt, song đôi lúc là lời nửa trực tiếpkhó phân biệt lời tác giả hay lời nhân vật

1.2.2.7 Biện pháp tạo xung đột kịch tính

Biện pháp này đòi hỏi nhà văn khéo đặt nhân vật vào những hoàn cảnh,tình huống xung đột mang kịch tính, tức nó có vấn đề Hoàn cảnh đó có thểđược tạo dựng một cách rất đa dạng, đó là trạng thái tình cảm cao độ, mộtnghịch cảnh trái ngang, một tình huống éo le, trớ trêu hay sự hiểu lầm mà dẫnđến xung đột Mâu thuẫn xung đột có thể từ trong chính bản thân nhân vật, có

Trang 27

thể giữa các nhân vật với nhau hoặc giữa nhân vật và hoàn cảnh Qua cáchnhân vật đối diện với tình huống ấy và giải quyết tình huống để thoát khỏixung đột, chúng ta sẽ nhìn nhận được bình diện nào đó tính cách của nó Quaxung đột - kịch tính, nhân vật vừa có hành động giống nhau, vừa bộc lộ cátính Nhìn chung xung đột làm bộc lộ tính cách nhân vật, tạo ra những biến cốthúc đẩy sự phát triển tính cách, số phận nhân vật Miêu tả nhân vật trongtrạng thái xung đột cũng là cách nhà văn đưa bạn đọc đến với phần căngthẳng nhất của đời sống để tiếp cận nó một cách nhanh nhất.

Biện pháp thể hiện nghệ thuật này sử dụng triệt để mâu thuẫn làmnguyên tắc xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật Trong tácphẩm kịch thì việc xây dựng những mâu thuẫn, xung đột là không thể thiếubởi nó là linh hồn, là cốt lõi của vở kịch Biện pháp này ngoài tác dụng tăngtính kịch cho tác phẩm, làm nhân vật hiện lên rõ nét còn kích thích hứng thú

và sự hiếu kì của bạn đọc trong việc theo dõi nhân vật tìm lối ra

Tóm lại, so với hai yếu tố kết cấu và lời nói nghệ thuật, các biện phápthể hiện nghệ thuật là yếu tố cụ thể và rõ nét hơn trong việc xây dựng lênnhân vật Bảy biện pháp thể hiện nghệ thuật này được sử dụng tất cả haykhông, đậm hay nhạt là tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: loại thể tác phẩm, ý

đồ nghệ thuật của nhà văn, loại nhân vật,…Trong kịch, tả và kể rất ít đượcdùng mà nổi trội là đối thoại và biện pháp đưa nhân vật vào tình huống xungđột, kịch tính Trong tác phẩm tự sự thì các biện pháp được sử dụng đa dạnghơn

1.2.3 Lời nói nghệ thuật

Lời nói nghệ thuật hay còn gọi là lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn

chương Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Lời văn nghệ thuật là dạng phát

ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật tạo thành cơ sở ngôn từ của tác phẩm văn học… Lời văn nghệ thuật có tính chất cố định, tính độc lập hoàn

Trang 28

chỉnh trong bản thân nó có tính vĩnh viễn” [9; 161] Lời nói nghệ thuật được

coi là phương tiện quan trọng để khắc họa hình tượng thể hiện đời sống và tưtưởng của nhà văn

Nếu ngôn ngữ là hệ thống các quy tắc nói, viết chung của một cộngđồng phân biệt với tiếng nói, chữ viết của cộng đồng khác và có thể khái quátlại trong từ điển và sách ngữ pháp thì lời nói được hiểu là ngôn ngữ tronghành động, trong hoạt động, là ngôn từ gắn với những chủ thể phát ngôn khácnhau Nếu ngôn ngữ là sản phẩm chung của cả cộng đồng thì lời nói là việcvận dụng, sử dụng ngôn ngữ của các cá nhân gắn với những mẹo luật riêng(ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các phương tiện tu từ…) và theo những mụcđích giao tiếp riêng Lời nói nghệ thuật cũng là một dạng của ngôn từ nhưng

là ngôn từ đã được tổ chức theo quy luật nghệ thuật, được đặt trong một hệthống giao tiếp khác với giao tiếp thông thường và mang những chức năngđặc thù Lời nói nghệ thuật là lời của cá nhân nghệ sĩ trong tác phẩm văn học

Nó là một hiện tượng văn học

Có thể thấy, lời nói nghệ thuật bắt nguồn từ ngôn từ, ngôn ngữ đờisống, ngôn ngữ toàn dân nhưng đã đươc nâng lên đến trình độ nghệ thuật Đó

là ngôn ngữ toàn dân đã được mài giũa, tinh luyện, được tổ chức một cáchnghệ thuật trong tác phẩm Không đối lập cực đoan với lời nói hàng ngàysong lời nói nghệ thuật vẫn có những đặc trưng riêng và những điểm nhấnriêng: nó mang tính hình tượng, tính biểu cảm, tính tổ chức cao và phục vụcho cấu trúc hình tượng cuả tác phẩm

Căn cứ vào hệ thống tác phẩm văn chương, trong lịch sử văn chương,giới nghiên cứu cho rằng, lời nói nghệ thuật bao gồm hai thành phần chính là

lời nói gián tiếp của người kể chuyện và lời nói trực tiếp của nhân vật Mỗi

yếu tố này trong tác phẩm có đặc điểm riêng và có nhiệm vụ cụ thể khácnhau

Trang 29

Lời người kể chuyện khá phổ biến ở các tác phẩm tự sự (ở đây là lời tácgiả hay nhân vật kể) là phương tiện hết sức cơ bản để bộc lộ chủ đề, tư tưởngcủa tác phẩm, nêu bật tính cách của nhân vật Nó tạo nên ở bạn đọc một thái

độ nhất định đối với vấn đề được nói tới Ngôn ngữ người kể chuyện đóng vaitrò chủ yếu trong việc dẫn dắt câu chuyện từ những manh nha của mâu thuẫn,xung đột đến từng bước đi giải quyết chúng trong tác phẩm Trong kịch, lờinói tác giả rất hãn hữu chỉ xuất hiện thấp thoáng ở đầu các hồi và các cảnhhay chen giữa lời thoại để gợi ý đạo diễn và diễn viên cũng như họa sĩ trang

trí và nghệ sĩ đạo cụ Còn lời nói trực tiếp của nhân vật (là lời nhân vật đối

thoại hay độc thoại) “phản ánh diễn biến của sự việc, lời nói thể hiện xung đột và sự cởi mở, lời nói thể hiện vị trí xã hội, nghề nghiệp, tính tình, tư cách, dục vọng của nhân vật và diễn biến của nó; nhiều khi hành động (theo nghĩa đen) không diễn ra trên sân khấu, chỉ có lời nói của nhân vật báo trước hay thuật lại hành động… Trong kịch bản, lời nói nhân vật choán hết các cảnh và

có hệ thống” [17; 260].

Ở tác phẩm văn chương, mỗi yếu tố của lời nói nghệ thuật này có ýnghĩa khác nhau, vai trò khác nhau nhưng luôn đan xen, hỗ trợ, bổ sung nhau

để cùng đạt tới dụng ý nghệ thuật của tác giả Lời nói trực tiếp của nhân vật

có vai trò khắc họa những đặc điểm, thuộc tính của nhân vật Nó lại được thểhiện thông qua ngôn ngữ của tác giả Và chính ngôn ngữ người kể chuyện cótác dụng kết hợp với lời nhân vật đưa lại tính hoàn chỉnh và thống nhất củamột chỉnh thể nghệ thuật

Như thế, với sự phân tích ba yếu tố của hình thức tác phẩm: kết cấu,các biện pháp thể hiện nghệ thuật và lời nói nghệ thuật như trên, chúng tôithấy mỗi yếu tố đều góp phần vào việc xây dựng nên nhân vật trong tác phẩm

Vì vậy, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật chính là tìm hiểu ba mặt củahình thức tác phẩm

Trang 30

Tóm lại, lời văn nghệ thuật có vai trò rất lớn trong việc xây dựng nênngôn ngữ chuẩn hóa, trong sáng, giàu đẹp của nhân vật Nhưng mặt khác, làhình thức của tác phẩm, lời văn có đặc trưng riêng Cần có nhận thức đúng đểđánh giá cái hay, cái đẹp của nó, đồng thời đấu tranh kiên quyết để giữ gìn sựtrong sáng và phát triển tiếng nói dân tộc.

1.3 Nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

1.3.1 Nhân vật tiểu thuyết

Như đã biết, nhân vật là yếu tố hàng đầu của tác phẩm văn học Nhânvật văn học là sự thể hiện quan điểm nghệ thuật của nhà văn về con người.Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh đời sống xã hội còn

có khả năng đi sâu khám phá số phận con người

M.Bakhtin - tác giả của công trình nghiên cứu nổi tiếng Lí luận và thi pháp tiểu thuyết đã dành nhiều công sức để tìm hiểu về đặc trưng của tiểu

thuyết trên nhiều bình diện, trong đó có nhân vật Những nhận định củaM.Bakhtin về đặc trưng nhân vật tiểu thuyết rất xác đáng, có giá trị lí luận cao

và còn nguyên tính thời sự Theo nhà nghiên cứu, nhân vật tiểu thuyết cần vàphải được phân biệt với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trungđại ở những đặc trưng cơ bản sau:

Trước hết, nhân vật tiểu thuyết được thể hiện trong thì hiện tại chưahoàn thành, trong quá trình biến đổi, trưởng thành và chịu mọi tác động của

đời sống Do đó, nhân vật tiểu thuyết sẽ là những “con người nếm trải”, những “con người chưa hoàn kết” [2; 290] và phải tự làm ra chính mình bằng

hành động của mình trong khi đó, nhân vật trong các thể loại kia lại được thểhiện trong thì quá khứ, là những nhân cách đã được hình thành

Nhân vật tiểu thuyết “không tương hợp với số phận và vị thế của nó”

[2; 80] Bởi trên thực tế, con người không thể hoá thân đến cùng vào cái thân

Trang 31

xác lịch sử - xã hội hiện hữu trong tiểu thuyết, tính thuần toàn của con ngườibiến mất Thay vào đó, xuất hiện sự phân lập giữa con người bên ngoài và con

người bên trong Ở nhân vật tiểu thuyết luôn tồn tại “một con người bên trong con người” Tuy nhiên, sự phân lập đó không làm giảm đi sức sống và tính chân thực trong hình tượng nhân vật Ngược lại, “sự sống đích thực của cái bản ngữ diễn ra dường như ở chính cái điểm con người không trùng hợp với bản thân mình ấy, ở cái điểm con người vượt ra ngoài giới hạn của toàn bộ cái hiện hữu của nó, như một vật thể sinh tồn mà ta có thể rình xem, có thể nhận định, tiên đoán ngoài ý muốn của nó, sau lưng nó” [2; 292].

M.Bakhtin còn khẳng định: nhân vật trong tiểu thuyết chủ yếu đượckhám phá từ chiều sâu tâm lí Tiểu thuyết truyền thống hay hiện đại đềuhướng tới tìm tòi và thể hiện thế giới bên trong đầy ảo diệu của con người, cái

được gọi là “sự thật tức bản thân” hay “ẩn mật bản ngã” Nhân vật tiểu

thuyết trong tư cách là một quan điểm, một cách nhìn thế giới và bản thânđược miêu tả thực sự, không hoà lẫn với tác giả Cái được khám phá và thể

hiện ở nhân vật không phải là “hiện thực về nó” mà là “cái kết quả cuối cùng của ý thức là sự tự ý thức của nó” Xét cho cùng là “lời nói cuối cùng của nhân vật về bản thân và thế giới của mình" [2; 267] Và đó mới là “trọng tâm xây dựng nhân vật”.

Đôitôiepxki cũng quan niệm rằng “Nhân vật không phải là cái gì trong thế giới này mà trước hết thế giới này là cái gì đối với bản thân nó” Đây là

một đặc điểm rất quan trọng và có tính nguyên tắc trong sự tri giác nhân vật.Nhân vật với tư cách một quan điểm, một cách nhìn thế giới và bản thân đòihỏi những phương pháp khám phá, thể hiện nghệ thuật đặc thù Bởi vì cáiphải được khám phá và thể hiện không phải là cái tồn tại được quy định củanhân vật, cái hình tượng rắn chắc về nó mà là cái kết quả cuối cùng của ý thức

và sự tự ý thức của nó, xét cho cùng là lời cuối cùng của nhân vật về bản thân

Trang 32

mình và về thế giới của mình Do đó, những yếu tố cấu thành hình tượng nhânvật không phải là những nét thực tại - những nét của bản thân nhân vật đối với

sự tự ý thức của nó

Tiếp nối quan niệm về nhân vật tiểu thuyết của M.Bakhtin, Milan

Kundera cho rằng: “Tiểu thuyết là một sự chiêm nghiệm về cuộc đời được nhìn thấy thông qua những nhân vật tưởng tượng” [32; 107].Theo Milan

Kundera, nhân vật không phải là sự mô phỏng con người thật mà hoàn toàn

có thể là một con người tưởng tượng, một “cái tôi thử nghiệm” [32; 109].

Song điều đó không có nghĩa là nhà văn xa rời thực tế mà vẫn phải bám sát

các vấn đề đời sống trong quá trình xây dựng nhân vật Trên cơ sở một “chủ nghĩa hiện thực toàn vẹn”, “chủ nghĩa hiện thực cao nhất” [2; 259], nhà văn

khám phá và miêu tả toàn bộ chiều sâu của tâm hồn con người, nhìn thấychiều sâu ấy ở ngoài mình, ở tâm hồn những người khác, qua trải nghiệm và

qua thử nghiệm M Kundera yêu cầu tiểu thuyết phải nắm bắt được “cái tôi” đời sống bên trong của con người, cái cô đọng toàn bộ “cục diện hiện sinh của nó" [32; 108].

-1.3.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm Văn học luôn luôn bồiđắp tình người, tình đời cho con người, hướng con người vươn tới cái cao cả.Nhà văn là người mang nỗi đau nhân thế luôn có một trái tim mẫn cảm trước

hiện thực đời sống từ đó phản ánh vào trong tác phẩm của mình “những muối mặn phù sa” của cuộc đời Trước đổi mới, cảm hứng chủ đạo là ngợi ca những con người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thì sau đổi mới các nhà văn với chủ trương đưa văn học về gần với cuộc sống và coi đó là “mảnh đất vĩnh hằng khám phá những quy luật của các giá trị nhân bản” Họ dường như đã nhận ra rằng: Hình như cuộc chiến

tranh ảnh hưởng sôi nổi hôm nay được văn xuôi thơ ca tráng lên một lớp men

Trang 33

“trữ tình” hơi dày cho nên ngắm nó ta thấy mong manh, bé bỏng và óng chuốt

quá khiến người ta ngờ vực Với nhận thức đó, văn học Việt Nam sau 1986 đã

có sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch

sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư, thay vì những câu chuyện về chiếntranh và súng đạn là những câu chuyện về tình đời, tình người Các nhà văn

chân chính đã “tự thay máu” cho chính mình Và thể loại tiểu thuyết đã phát

huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con người trong giai đoạnmới một cách nhanh nhạy và sắc bén

Trong thế kỉ XX, khi các tiểu thuyết gia hiện đại phương Tây, đặc biệt

là ở Pháp không chú trọng đến nhân vật, họ cho rằng tiểu thuyết của các nhânvật đã thuộc về quá khứ Khi hoàn cảnh xã hội đã đổi khác, trong bối cảnhhỗn độn của cuộc sống, cá nhân không còn giữ được sức mạnh tuyệt đỉnh, vìthế tiểu thuyết đã không dung nạp loại nhân vật có tính cách hoặc như người

ta thường gọi là “phản nhân vật” Trong tác phẩm của họ thay vì nhân vật là

“đồ vật” hoặc chỉ còn là duy nhất dòng chảy của ngôn từ, “nhân vật chỉ còn

là những đại từ mơ hồ” Nhân vật đã không còn là nhân vật theo đúng nghĩa

của nó Nó chỉ là những mảnh vỡ manh mún, hay chỉ là một suy nghĩ thoảngqua, một dòng ý thức, một sự ám ảnh,… Các nhà văn không quan tâm đến cáigọi là nhân vật điển hình, tính cách điển hình Trung tâm hứng thú của họ làviệc vạch ra và tái hiện một cách sinh động những chất liệu tâm lí mới mẻ, làkhám phá những gì đang diễn ra trong miền nội tâm khuất tối, những bí mậtsâu thẳm nhất của con người Các nhà văn đương đại đã bứt ra khỏi khuônkhổ chật hẹp của cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống để đitìm những yếu tố, chất liệu mới mẻ tiềm tàng, khả năng trong việc phản ánhđời sống ở bề sâu bí ẩn

Trong văn học Việt Nam nói chung, tiểu thuyết Việt Nam đương đạinói riêng, con người với tất cả các mối quan hệ, ứng xử, thân phận và cuộc

Trang 34

đời của nó là đối tượng và cũng là đặc trưng cơ bản của thể loại Số phận conngười trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Các nhà văn đã hướngngòi bút của mình miêu tả số phận những con người bình thường với những

bi kịch của cuộc đời họ Đó là bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cáimuốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa cái nhân bản và cái phi nhân bản Khôngchỉ vậy, các nhà văn đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thườngtrong những môi trường đời sống bình thường Nhân vật trong tiểu thuyết là

những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “đầy những vết dập xóa trên thân thể trong tâm hồn” Có thể nói, trong tiểu thuyết Việt Nam những

năm đổi mới không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập đếnkhát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa Các tác giả đã khaithác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộcsống riêng tư Khi con người trở về với cuộc sống đời thường, mối quan hệgiữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và conngười xã hội phải được giải quyết hài hòa, gắn bó

Bên cạnh đó, tiểu thuyết đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tìnhyêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân Miêu tả những conngười tự nhiên, khai thác yếu tố tích cực của con người tự nhiên cũng là mộtkhía cạnh nhân bản của văn học

Các nhà văn cũng đã đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâutâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực Ngòi bút nhà văn

khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác “con người ở bên trong con người”.

Như vậy, nếu như nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trước đổi mới(đặc biệt là trong giai đoạn 1945 - 1975) được khai thác trong tư cách côngdân đơn phiến, được nhìn nhận đánh giá theo quan điểm chính trị thì nhân vậttrong tiểu thuyết Việt Nam đương đại được khai thác toàn diện hơn, phức tạp

Trang 35

hơn và sâu sắc hơn Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là conngười trần thế với tất cả chất người tự nhiên của nó: con người có sự hòa hợpgiữa con người xã hội - con người tự nhiên - con người tâm linh, con ngườivới sự thống nhất giữa ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vôthức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt vàcon người trong tính nhân loại phổ quát.

Tóm lại, trên lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn đã khắc họa chân dungnhững con người vừa đời thường, vừa trần thế, vừa đẹp đẽ, thánh thiện luônkhao khát cái đẹp và hướng tới cái thiện Đó chính là nét nổi bật mang đậm ý

nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người, tạo nên tiếng nói đa thanh đầy “hòa âm” và “nghịch âm” trong tiểu thuyết.

Trang 36

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

“TIẾNG NGƯỜI” CỦA PHAN VIỆT.

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

2.1.1 Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người”

Theo Từ điển tiếng Việt, “Quan niệm” - là cách nhận thức, đánh giá về

một vấn đề, một sự kiện [22; 990]

Như vậy, “quan niệm” là cách nhận thức, lí giải, đánh giá về một vấn

đề chứ không phải là khái niệm về vấn đề đó Nó là tầm hiểu biết, tầm trí tuệ,tầm đánh giá, tầm nhìn, tầm cảm của chủ thể nhận thức

Về thuật ngữ “Quan niệm nghệ thuật”, Từ điển thuật ngữ văn học

định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó […] Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách biểu hiện thế giới và con người của một hệ thống

Trang 37

nghệ thuật thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó”

[9; 273]

Trong cuốn Lí luận và phê bình văn học, nhà nghiên cứu Trần Đình

Sử nêu ra cách hiểu: “Quan niệm nghệ thuật là giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật, nó là thể thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa lí giải của con người […] trong nghệ thuật, thế giới được “quan niệm hóa” trên cơ sở sự thụ cảm cá nhân về một thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật” [25; 99 - 100].

Tóm lại, quan niệm nghệ thuật là hệ thống quan điểm chỉ đạo hoạt độngsáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Nó cung cấp một mặt bằng để trên đódiễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn của người nghệ sĩ để sáng tạo ra hìnhtượng nghệ thuật Để thấy được quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ đòihỏi phải khám phá và nhìn sâu vào thực chất sáng tạo tư tưởng của ngườinghệ sĩ đó

Như chúng ta đã biết, “văn học là nhân học” (M.Gorki), là nghệ thuật

miêu tả, biểu hiện con người Con người là đối tượng chủ yếu của văn học

Do vậy, tất cả những gì liên quan đến con người, thuộc về con người đều nằmtrong phạm vi biểu hiện của con người Đó là cơ sở cho quan niệm đa dạng

về con người trong văn học Mặt khác, thực tiễn sáng tác cho thấy người takhông thể miêu tả con người nếu như không hiểu biết cảm nhận và có biệnpháp biểu hiện nhất định Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính độc đáocủa hình tượng con người trong văn học

Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” trở thành một tiêu

điểm của nghiên cứu Lí luận văn học Xô Viết từ những năm 70 trở đi Trênthực tế khái niệm này được nghiên cứu trên nhiều phương diện với nhữngcách hiểu phong phú

Trang 38

Thuật ngữ “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong giáo trình Dẫn luận Thi pháp học, Trần Đình Sử đã định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về

con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mĩ và nghệ thuật cho các hình tượng nhân vật trong đó” [24; 55].

Nói khác đi, quan niệm nghệ thuật về con người là sự tổng hợp nhữngphát hiện, triết lí, tư tưởng riêng của nhà văn về cuộc sống và con người vớikhả năng và trình độ nắm bắt, sáng tạo, sử dụng các phương thức phương tiệnchất liệu nghệ thuật của người nghệ sĩ, đảm bảo cho nó có khả năng thể hiệnđời sống ở một chiều sâu nào đó

Trong chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, tác giả Trần Đình Sử đề cập

tới quan niệm nghệ thuật về con người với tư cách là khái niệm trung tâm của

thi pháp học Ông cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của đời sống” [26; 90].

Từ những định nghĩa trên có thể thấy, quan niệm nghệ thuật về conngười là khả năng gắn bó chặt chẽ, mật thiết với chủ thể sáng tạo Trên cơ sởhấp thụ các yếu tố thế giới quan nhất định của thời đại, trong tư tưởng củangười nghệ sĩ đã hình thành nên quan niệm của riêng mình về thế giới và conngười Bởi mỗi nhà văn là một cá tính sáng tạo riêng không trộn lẫn, nên quanniệm nghệ thuật về con người của họ cũng hết sức phong phú và đa dạng,muôn màu muôn vẻ, nhiều chiều kích như bản thân cuộc sống

Cần phải phân định hai khái niệm “Quan niệm về nghệ thuật” và khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” Nếu khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” được hiểu như đã trình bày ở trên thì khái niệm “Quan

Trang 39

niệm về nghệ thuật” lại thuộc phạm trù ý thức tự giác về nghệ thuật của bản

thân chủ thể sáng tạo - tức cách nhìn nhận, đánh giá của cá nhân người nghệ

sĩ về chính lĩnh vực nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật chính là hình thức đặcthù thể hiện con người và trong văn học đó là các nguyên tắc cảm thấy, hiểubiết và miêu tả con người trong văn học Các nguyên tắc này có cơ sở sâu xa

từ thực tế lịch sử, là sản phẩm lịch sử cho dù mỗi thời đại có thể có một sốquan niệm nghệ thuật về con người mang tính ý thức hệ Quan niệm nghệthuật về con người cũng là sản phẩm của văn hóa tư tưởng và mang dấu ấnsáng tạo của nghệ sĩ

2.1.2 Vai trò của khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong tìm hiểu đánh giá tác giả và tác phẩm văn học.

Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng làm sản sinh ra những con ngườimới Đó là hệ quả về cách hiểu mới về con người Do vậy, đổi mới nghệ thuật

là đổi mới cách giả thiết và cảm nhận con người Có thể nói quan niệm nghệ

về con người là thước đo quan trọng bậc nhất về trình độ nghệ thuật của mộtdân tộc, một thời đại và mỗi cá nhân nghệ sĩ

Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vậnđộng của nghệ thuật Sự vận động của thực tế đời sống sẽ làm nảy sinh nhữngcon người mới và việc miêu tả, thể hiện những con người mới ấy tất yếu dẫnđến sự đổi mới cho văn học Như thế có nghĩa sự thay đổi quan niệm nghệthuật về con người cho thấy sự vận động, đổi mới, tiến bộ của văn học nghệthuật

Quan niệm nghệ về con người là thước đo trình độ chiếm lĩnh đời sống

của văn học Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định “Chừng nào chưa có

sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện

Trang 40

tượng khác nhau trong đời sống chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu” [26; 118].

Như thế có thể khẳng định quan niệm nghệ thuật về con người chính làchiều sâu nhân bản của một tác phẩm nghệ thuật, trong khi đó những cách tânnghệ thuật, những chất liệu nghệ thuật mới không phải là hệ quy chiếu quantrọng nhất để từ đó xác định sự vận động, đổi mới của một nền văn học Bởibên cạnh những dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ thì quan niệmnghệ thuật về con người xét về quy luật xã hội - là một sản phẩm của lịch sử

mang đặc trưng của văn hóa, tư tưởng của thời đại “Quan niệm con người là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó phản ánh sự tác động qua lại của nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác” [24; 58].

Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn hướng vàocon người trong mọi chiều sâu có thể có, nó là tiêu chuẩn quan trọng nhất đểđánh giá giá trị nhân văn của một tác phẩm văn chương Nguyễn Văn Siêu từ

thế kỉ XIX đã có nhận xét “Văn chương có hai loại: đáng thờ và không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú vào văn chương Loại đáng thờ là loại luôn chuyên chú vào con người”.

Quan niệm nghệ thuật về con người là hệ quy chiếu nội tại của chủ thểtrong cảm nhận con người Nó phản ánh tính chất tiến bộ, sâu sắc trong tưduy chủ thể sáng tạo Người nghệ sĩ đích thực là người không ngừng suy tưmột cách nghiêm túc về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới

để hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về con người Do vậy, khám phá quanniệm nghệ thuật về con người của nhà văn chính là quá trình thâm nhập sâuhơn vào tư duy nghệ thuật, thực chất sáng tạo của người nghệ sĩ và có cơ sởvững chắc hơn trong việc đánh giá những đóng góp, những thành tựu của họ

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ đầu năm 1986, nhà văn

Nguyễn Minh Châu cũng đã phát biểu về vấn đề này: “Văn học và đời sống là

Ngày đăng: 04/07/2014, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w