MỤC LỤC CHƯƠNG I: CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN 4 1.1 Khái niệm chứng chỉ đặc quyền (CCĐQ) 4 1.2 Định giá chứng chỉ đặc quyền 4 1.3 Hai vấn đề phức tạp: Cổ tức và loãng giá 6 CHƯƠNG 2: TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 13 2.1 Khái niệm trái phiếu chuyển đổi 13 2.2 Con thú bằng thủy tinh chuyển đổi 13 2.3 Chứng khoán chuyển đổi bắt buộc 15 2.4 Định giá trái phiếu chuyển đổi 15 2.4.1 Giá trị lúc đáo hạn 16 2.4.2 Giá trị trước lúc đáo hạn: 19 2.5 Loãng giá và pha loãng cổ tức 21 2.6 Chuyển đổi bắt buộc 22 CHƯƠNG 3: SO SÁNH CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 25 3.1 Sự giống nhau giữa chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi 25 3.2 Sự khác nhau giữa chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi 26 CHƯƠNG 4: TẠI SAO CÁC CÔNG TY PHÁT HÀNH CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 27 4.1 Tại sao các công ty phát hành chứng chỉ đặc quyền 27 4.2 Tại sao các công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi 29 CHƯƠNG 5: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 31 5.1 Mục đích của bài nghiên cứu: 31 5.2 Các lý thuyết có liên quan 31 5.3. Phương pháp nghiên cứu 32 5.4. Kết quả nghiên cứu 32 5.4.1 Xem xét lựa chọn giữa trái phiếu thẳng và trái phiếu chuyển đổi. 32 5.4.2. Xem xét vai trò của các quỹ đầu tư 33 5.4.3 Xem xét vai trò của ngân hàng đầu tư, nguyên tắc kế toán và thuế. 33 5.5 Kết luận 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 CHƯƠNG 1: CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN 1.1 Khái niệm chứng chỉ đặc quyền (CCĐQ) Một tỷ lệ khá lớn các trái phiếu mua bán riêng và một tỷ lệ nhỏ hơn các phát hành ra công chúng được bán có kèm theo các chứng chỉ đặc quyền. Ngoài ra, đôi khi các chứng chỉ đặc quyền được bán theo các phát hành cổ phần thường hay cổ phần ưu đãi; chúng cũng thường được dành cho các ngân hàng đầu tư như một đền bù cho các dịch vụ bao tiêu hay dùng để đền bù cho các chủ nợ trong trường hợp phá sản . Ví dụ: Tháng 41995, B.J Service một DN về dịch vụ trong nghành dầu khí, đã phát hành 4,8 triệu chứng chỉ đặc quyền để thanh toán một phần cho hoạt động mua lại công ty. Mỗi chứng chỉ này cho phép người nắm giữ mua cổ phần của B.J Service với giá 30 vào bất kỳ thời điểm nào trước tháng 42000. Khi các chứng chỉ này được phát hành, cổ phần được định giá là 19, vì vậy, giá cổ phần này cần phải tăng thêm 50% nữa mới đáng để thực hiện quyền mua này. Những người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền không được quyền bỏ phiếu biểu quyết hay nhận cổ tức. Nhưng giá thực hiện chứng chỉ được tự động điều chỉnh theo các khoản thanh toán cổ tức bằng cổ phần hay các nghiệp vụ chia nhỏ cổ phần. Ví dụ: Khi B.J. Service chia nhỏ cổ phần 1 thành 2 trong năm 1998, công ty cũng chia nhỏ chứng chỉ đặc quyền giảm giá giá thực hiện xuống ½: 302 = 15 1.2 Định giá chứng chỉ đặc quyền Chứng chỉ đặc quyền của B.J.Service được xem xét như một quyền chọn mua với thời gian 5 năm, giá thực hiện là 15 (do năm 1998 điều chỉnh đối với lần chia nhỏ cổ phần). Ta có thể mô tả mối liên hệ giữa giá trị chứng chỉ đặc quyền và giá trị cổ phần thường với cách tốc ký quyền chọn theo hình 1.1: Đường thẳng là giới hạn dưới của giá trị chứng chỉ đặc quyền. Giá trị chứng chỉ đặc quyền sụt xuống giới hạn dưới ngay trước khi quyền chọn đáo hạn. Trước khi đáo hạn, giá trị chứng chỉ đặc quyền nằm trên đường cong giống như đường cong trong hình. Hình 1.1 Mối liên hệ giữa giá trị của chứng chỉ đặc quyền B.J.Service và giá cổ phần.
Trang 2Cty Thuốc Lá Sài Gòn
Ngân Hàng Tiên Phong Chi nhánh Cty Haneco tại Tp.HCM Cty CP Bao Bì Sài Gòn
Ngân Hàng SEABANK Cty vải sợi Gia Nguyễn Chi nhánh Cty Thông Tin Di Động
MỤC LỤC
Trang 3CHƯƠNG I: CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN 4
1.1 Khái niệm chứng chỉ đặc quyền (CCĐQ) 4
1.2 Định giá chứng chỉ đặc quyền 4
1.3 Hai vấn đề phức tạp: Cổ tức và loãng giá 6
CHƯƠNG 2: TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 13
2.1 Khái niệm trái phiếu chuyển đổi 13
2.2 Con thú bằng thủy tinh chuyển đổi 13
2.3 Chứng khoán chuyển đổi bắt buộc 15
2.4 Định giá trái phiếu chuyển đổi 15
2.4.1 Giá trị lúc đáo hạn 16
2.4.2 Giá trị trước lúc đáo hạn: 19
2.5 Loãng giá và pha loãng cổ tức 21
2.6 Chuyển đổi bắt buộc 22
CHƯƠNG 3: SO SÁNH CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 25
3.1 Sự giống nhau giữa chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi 25
3.2 Sự khác nhau giữa chứng chỉ đặc quyền và trái phiếu chuyển đổi 26
CHƯƠNG 4: TẠI SAO CÁC CÔNG TY PHÁT HÀNH CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 27
4.1 Tại sao các công ty phát hành chứng chỉ đặc quyền 27
4.2 Tại sao các công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi 29
CHƯƠNG 5: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 31
5.1 Mục đích của bài nghiên cứu: 31
5.2 Các lý thuyết có liên quan 31
5.3 Phương pháp nghiên cứu 32
5.4 Kết quả nghiên cứu 32
5.4.1 Xem xét lựa chọn giữa trái phiếu thẳng và trái phiếu chuyển đổi 32
5.4.2 Xem xét vai trò của các quỹ đầu tư 33
Trang 45.4.3 Xem xét vai trò của ngân hàng đầu tư, nguyên tắc kế toán và thuế 33 5.5 Kết luận 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 5CHƯƠNG 1: CHỨNG CHỈ ĐẶC QUYỀN
1.1 Khái niệm chứng chỉ đặc quyền (CCĐQ)
Một tỷ lệ khá lớn các trái phiếu mua bán riêng và một tỷ lệ nhỏ hơn các phát hành racông chúng được bán có kèm theo các chứng chỉ đặc quyền Ngoài ra, đôi khi các chứng chỉ đặc quyền được bán theo các phát hành cổ phần thường hay cổ phần ưu đãi; chúng cũng thường được dành cho các ngân hàng đầu tư như một đền bù cho các dịch vụ bao tiêu hay dùng để đền bù cho các chủ nợ trong trường hợp phá sản1
Ví dụ:
Tháng 4/1995, B.J Service một DN về dịch vụ trong nghành dầu khí, đã phát hành 4,8triệu chứng chỉ đặc quyền để thanh toán một phần cho hoạt động mua lại công ty Mỗichứng chỉ này cho phép người nắm giữ mua cổ phần của B.J Service với giá 30$ vào bất kỳthời điểm nào trước tháng 4/2000 Khi các chứng chỉ này được phát hành, cổ phần đượcđịnh giá là 19$, vì vậy, giá cổ phần này cần phải tăng thêm 50% nữa mới đáng để thực hiệnquyền mua này
Những người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền không được quyền bỏ phiếu biểu quyếthay nhận cổ tức Nhưng giá thực hiện chứng chỉ được tự động điều chỉnh theo các khoảnthanh toán cổ tức bằng cổ phần hay các nghiệp vụ chia nhỏ cổ phần Ví dụ: Khi B.J.Service chia nhỏ cổ phần 1 thành 2 trong năm 1998, công ty cũng chia nhỏ chứng chỉ đặcquyền giảm giá giá thực hiện xuống ½: 30/2 = 15$
1.2 Định giá chứng chỉ đặc quyền
Chứng chỉ đặc quyền của B.J.Service được xem xét như một quyền chọn mua vớithời gian 5 năm, giá thực hiện là 15$ (do năm 1998 điều chỉnh đối với lần chia nhỏ cổphần) Ta có thể mô tả mối liên hệ giữa giá trị chứng chỉ đặc quyền và giá trị cổ phầnthường với cách tốc ký quyền chọn theo hình 1.1: Đường thẳng là giới hạn dưới của giá trị
1 Thuật ngữ chứng chỉ đặc quyền thường dùng để chỉ một quyền chọn dài hạn do một công ty phát hành đối với cổ
phần hay trái phiếu của chính công ty đó, nhưng các ngân hang đầu tư và các định chế tài chính khác cũng phát hành
“chứng chỉ đặc quyền” để mua cổ phần của một doanh nghiệp khác Thí dụ, vào tháng 10/1994, ngân hang Pháp Credit Lyonnaise bán một triệu chứng chỉ đặc quyền cho phép người nắm giữ chứng chỉ mua cổ phần của ba doanh nghiệp xe hơi Đức.
Trang 6chứng chỉ đặc quyền Giá trị chứng chỉ đặc quyền sụt xuống giới hạn dưới ngay trước khiquyền chọn đáo hạn Trước khi đáo hạn, giá trị chứng chỉ đặc quyền nằm trên đường conggiống như đường cong trong hình.
Nếu giá của cổ phần thấp hơn 15$, giới hạn dưới của giá chứng chỉ đặc quyền là 0
Nếu giá của cổ phần lớn hơn 15$, giới hạn dưới của giá chứng chỉ đặc quyền bằng vớigiá cổ phần trừ giá thực hiện 15$
Thực tế vào trước ngày thực hiện cuối cùng thì giá trị của chứng chỉ đặc quyền luônnằm phía trên giới hạn dưới trên một đường cong (như hình vẽ) Và mức độ lệch củađường cong này tùy thuộc vào hai điều:
- Phương sai của lợi nhuận cổ phần mỗi kỳ (σ2) nhân với số kỳ trước khi quyền chọn đáohạn (s2t)
- Lãi suất (rf) nhân với độ dài của kỳ quyền chọn (t) (Khi thời gian đáo hạn càng ngắn,giá càng tiến về gần với giới hạn dưới, và vào ngày cuối cùng, giá của chứng chỉ đặcquyền chạm bằng với giới hạn dưới)
Giá trị thực tế của chứng
chỉ đặc quyền khi đáo hạn
Giá trị lý thuyết (giới hạn dưới của chứng chỉ đặc quyền)
Giá trị của chứng chỉ độc quyền
Trang 71.3 Hai vấn đề phức tạp: Cổ tức và loãng giá
Nếu các chứng chỉ đặc quyền không có các đặc trưng bất thường và cổ phần khôngchi trả cổ tức, có thể ước tính giá trị của quyền chọn bằng công thức Black-Scholes đã trìnhbày trong chương quyền chọn
Nhưng có một vấn đề phát sinh khi các chứng chỉ đặc quyền được phát hành cùngvới cổ phần đang chi trả cổ tức Người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền không được quyềnhưởng cổ tức Thực ra, người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền còn chịu thiệt hại mỗi lần cổtức tiền mặt được chi trả, vì cổ tức làm giảm giá cổ phần và như vậy, làm giảm giá trị củachứng chỉ đặc quyền Sẽ có lợi khi thực hiện đặc quyền mua cổ phần trước đáo hạn để thuđược số lợi tức thêm này2
Ta nhớ là công thức Black-Scholes định giá quyền chọn giả định là cổ phần khôngchi trả cổ tức Như vậy, nó sẽ không cho một giá trị đúng về mặt lý thuyết của một chứngchỉ đặc quyền do một doanh nghiệp đang chi trả cổ tức phát hành Tuy nhiên, chúng ta cóthể sử dụng một phương pháp nhị phân theo từng bước để định giá các quyền chọn đối với
cổ phần đang chi trả cổ tức
Một phức tạp khác là việc thực hiện các chứng chỉ đặc quyền làm gia tăng số cổphần Vì vậy việc thực hiện quyền chọn có nghĩa là tài sản và lợi nhuận của doanh nghiệpđược dàn trải ra cho một số lớn cổ phần Các doanh nghiệp có số lượng lớn các chứng chỉđặc quyền hay chứng khoán chuyển đổi đang lưu hành được yêu cầu báo cáo lợi nhuận trên
cơ sở “loãng giá hoàn toàn”, công nhận sự gia tăng có thể có trong một số cổ phần
Vấn đề loãng giá (dilution) không bao giờ phát sinh trong trường hợp quyền chọnmua Nếu bạn mua hay bán một quyền chọn ở thị trường mua bán quyền chọn Chicago,bạn không tạo tác động lên số lượng cổ phần đang lưu hành
Ví dụ: Định giá chứng chỉ đặc quyền của United Glue
United Glue vừa mới phát hành một gói 2 triệu đô la gồm nợ và chứng chỉ đặc quyền Sauđây là một số dữ liệu căn bản mà ta có thể dùng để định giá các chứng chỉ đặc quyền:
2 Việc thực hiện quyền chọn mua trước ngày đáo hạn sẽ không có giá trị trừ khi chi trả cổ tức lớn hơn tiền lãi có thể
kiếm được từ giá thực hiện Bằng cách không thực hiện, người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền vẫn giữ số tiền giá thực
hiện và có thể đem số tiền này đầu tư kiếm lời.
Trang 8Số cổ phần đang lưu hành (N) 1 triệu
Số chứng chỉ đặc quyền được phát hành bởi mỗi cổ phần 0,10
đang lưu hành (q)
Tổng số chứng chỉ đặc quyền đã phát hành (Nq) 100.000
Thời gian đến khi đáo hạn của chứng chỉ đặc quyền (t) 4 năm
Độ lệch tiêu chuẩn hàng năm của thay đổi giá cổ phần (s) 0,40
Cổ phần United không chi trả cổ tức
Giả dụ là nếu không có các chứng chỉ đặc quyền, nợ trị giá 1,5 triệu đô la Như vậy các nhàđầu tư đang phải trả 0,5 triệu đô la cho các chứng chỉ đặc quyền này:
Chi phí cho các CCĐQ = Tổng tài trợ – Giá trị các khoản vay không kèm các CCĐQ
500.000 = 2.000.000 – 1.500.000Nhà đầu tư phải trả cho mỗi chứng chỉ đặc quyền
Bảng 1.1 - Cho thấy giá trị thị trường của tài sản và nợ của United trước và sau khi pháthành
Trang 9Bảng tổng kết tài sản giá trị thị trường của United Glue (triệu đô la)
TRƯỚC KHI PHÁT HÀNH
$12
Cổ phần thường (một triệu cổ phần thường với giá mỗi cổ phần
$12)
SAU KHI PHÁT HÀNH
Tài sản được tài trợ
3 Sử dụng công thức Black-Scholes để tính giá trị của một quyền mua:
[N(d1) X S] –[N(d2)XPV(EX)]
Trang 10dịch có lợi cho các nhà đầu tư và một giao dịch không thuận lợi cho United Các nhà đầu tưđang chi trả 5$ một cổ phần cho các chứng chỉ đặc quyền có trị giá 6,15$.
Loãng giá tác động đến giá trị của các chứng chỉ đặc quyền như thế nào?
Rất tiếc là các tính toán của chúng ta về giá trị của các chứng chỉ đặc quyền Unitedchưa cho thấy toàn bộ câu chuyện Ta nhớ rằng khi các nhà đầu tư thực hiện một quyềnchọn mua hay quyền chọn bán, không có thay đổi trong tài sản của công ty hoặc số cổ phầnđang lưu hành Nhưng, các chứng chỉ đặc quyền của United được thực hiện, số cổ phầnđang lưu hành sẽ tăng thêm Nq = 100.000 Tài sản cũng tăng thêm số tiền thực hiện (Nq x
EX = 100.000 x 10$ = 1.000.000$) Nói cách khác, sẽ có loãng giá Chúng ta cần khấu trừloãng giá này khi định giá các chứng chỉ đặc quyền
Gọi giá trị của vốn cổ phần của United là V, ta có:
Giá trị của vốn cổ phần = V = Giá trị của tổng tài sản United – Giá trị của nợ
Nếu các chứng chỉ đặc quyền được thực hiện, giá trị vốn cổ phần sẽ tăng thêm sốtiền thực hiện, trở thành V + NqEX Đồng thời, số lượng cổ phần cũng sẽ tăng đến N + Nq
Vì vậy, giá cổ phần sau khi các chứng chỉ đặc quyền được thực hiện sẽ là:
Với:
N(d1) là hàm xác suất chuẩn tích lũy
Gắn các dữ liệu của United vào công thức này, ta có:
Trang 11Giá cổ phần sau khi thực hiện =
Khi đáo hạn, người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền có thể chọn để cho chứng chỉ đặcquyền hết hạn hoặc thực hiện các đặc quyền này và nhận được giá cổ phần trừ cho giá thựchiện Như vậy, giá trị của các chứng chỉ đặc quyền sẽ bằng giá cổ phần trừ cho giá thựchiện hay trừ cho 0, lấy giá nào cao hơn Ta có thể viết theo một cách khác là:
Giá trị chứng chỉ đặc quyền khi đáo hạn = Max (Giá cổ phần – giá thực hiện, 0)
của United Vì vậy, khi chúng ta định giá quyền chọn mua đối với doanh nghiệp tương ứngnày, chúng ta phải nhớ sử dụng độ lệch tiêu chuẩn của các thay đổi trong V/N
Bây giờ chúng ta có thể tính lại giá trị của các chứng chỉ đặc quyền của United cókhấu trừ loãng giá Trước hết chúng ta tìm giá cổ phần của doanh nghiệp tương ứng:
Trang 12Giá trị vốn cổ phần hiện tại của DN tương ứng = V = giá trị tổng tài sản – Giá trị Nợ
4 Trên thực tế, ta tính * như thế nào? Sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta có thể chờ cho đến khi các chứng chỉ đặc quyền
đã được giao dịch trong một thời gian Trong trường hợp đó, có thể tính * từ lợi nhuận của một gói gồm tất cả các
cổ phần và chứng chỉ đặc quyền của công ty Trong trường hợp hiện tại, chúng ta cần định giá chứng chỉ đặc quyền trước khi chúng bắt đầu giao dịch Chúng tôi lập luận như sau: Độ lệch tiêu chuẩn của tài sản trước khi phát hành bằng với độ lệch tiêu chuẩn của cổ phần trước khi phát hành gói trái phiếu – chứng chỉ đặc quyền là 38% Chúng ta sẽ tính
độ lệch tiêu chuẩn của tài sản ban đầu như sau:
Độ lệch tiêu chuẩn của tài sản ban đầu=Tỷ lệ trong
cổ phần thườngxĐộ lệch tiêu chuẩn
cổ phần28,5%= x38Bây giờ, giả sử là tài sản sau khi phát hành có rủi ro bằng nhau Ta có:
Độ lệch tiêu chuẩn của tài sản sau phát hành=Tỷ lệ trong cổ phần thường sau phát hànhxĐộ lệch tiêu chuẩn
cổ phần ( *)28,5= x41%Lưu ý là trong thí dụ của chúng tôi, độ lệch tiêu chuẩn của lợi nhuận cổ phần trước khi phát hành chứng chỉ đặc quyền hơi thấp hơn độ lệch tiêu chuẩn của gói gồm cổ phần và chứng chỉ đặc quyền Tuy nhiên, những người nắm chứng chỉ đặc quyền chịu rủi ro này nhiều hơn theo tỷ lệ tương ứng so với các cổ đông, vì vậy gói trái phiếu – chứng chỉ đặc quyền có thể hoặc làm tăng hoặc làm giảm rủi ro của cổ phần.
Trang 13Công thức Black-Scholes cho ta giá trị của quyền chọn mua cổ phần với giá 12,5$
là 6,64$ và độ lệch tiêu chuẩn là 0,41 Giá trị của chứng chỉ đặc quyền của United bằng giátrị của 1/(1+q) quyền chọn đối với cổ phần của doanh nghiệp tương ứng này Như vậy, giátrị của chứng chỉ đặc quyền là x giá trị của quyền chọn mua đối với doanh nghiệptương ứng
Cuối cùng, lưu ý rằng các điều chỉnh này cần thiết để áp dụng công thức Scholes để định giá một chứng chỉ đặc quyền Người nắm chứng chỉ đặc quyền, là ngườiphải quyết định có nên thực hiện chứng chỉ khi đáo hạn hay không, sẽ không cần đến cácđiều chỉnh này Nếu khi đáo hạn, giá của một cổ phần cao hơn giá thực hiện của chứng chỉđặc quyền, dĩ nhiên là người nắm giữ chứng chỉ đặc quyền sẽ thực hiện quyền của mình
Trang 14Black-CHƯƠNG 2: TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI
2.1 Khái niệm trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là một thân nhân gần của gói trái phiếu – chứng chỉ đặcquyền Nhiều công ty cũng chọn phát hành chứng khoán ưu đãi chuyển đổi như mộtphương án thay thế cho phát hành các gói cổ phần ưu đãi và chứng chỉ đặc quyền Chúngtôi sẽ tập trung vào các trái phiếu chuyển đổi, nhưng hầu như tất cả các điều trình bày củachúng tôi áp dụng cho các phát hành chứng khoán ưu đãi chuyển đổi
Ví dụ:
Trong năm 1996, ALZA, một công ty dược phẩm đã phát hành 500 triệu đô laTPCĐ với lãi suất 5%, đáo hạn vào năm 2006 (tương đương với chủ sở hữu trái phiếu cómột quyền chọn 10 năm để hoàn trả trái phiếu cho công ty và đổi lại) Các trái phiếu có thểchuyển đổi bất kì lúc nào thành 26,2 cổ phần thường Như vậy, tỷ lệ chuyển đổi của tráiphiếu ALZA là 26,2
Để nhận 26,2 cổ phần của ALZA, chủ sở hữu trái phiếu phải giao lại các trái phiếu
có mệnh giá 1000$ Vì vậy, để nhận được 1 cổ phần, chủ sở hữu trái phiếu phải giao lại
một số tiền mệnh giá là 1000$/26,2 = 38,17$ Con số này được gọi là giá chuyển đổi Bất
cứ người nào đã mua trái phiếu với giá 1000$ để chuyển đổi nó thành 26,2% cổ phần đãchi trả tương đương 38,17$ mỗi cổ phần
Trang 15Vào thời điểm phát hành, giá cổ phần của ALZA vào khoảng 28$ Vì vậy, giáchuyển đổi cao hơn giá cổ phần: 36%.
TPCĐ thường được bảo vệ đối với việc chia nhỏ cổ tức hay chi trả cổ tức bằng cổphần Giả sử ALZA chia cổ tức 1 thành 2, tỷ lệ chuyển đổi sẽ tăng lên 52,4 và giá chuyểnđổi sẽ hạ xuống còn 1000$/52,4 = 19,08$
2.2 Con thú bằng thủy tinh chuyển đổi
Một trong các loại chuyển đổi bất thường nhất là trái phiếu quyền chọn lãi suất dễ
thanh tiêu (liquid yield option note - LYON) Đây là một loại trái phiếu có thể mua và
bán, có lãi suất coupon bằng 0 Một số doanh nghiệp đã phát hành LYON, trong đó cóALZA
Năm 1994, ALZA đã phát hành LYON với giá 35,47%; thời hạn 20 năm, lãi suấtcoupn bằng 0; có thể chuyển đổi bất kỳ lúc nào thành 12,99 cổ phần Khi ALZA phát hànhtrái phiếu chuyển đổi này, trái phiếu doanh nghiệp có tỉ suất sinh lợi 10%
Quyền chọn 1
Các nhà đầu tư chuyển đổi
ngay lập tức hoặc chờ 20 năm
sau mới chuyển đổi
Quyền chọn 2
Bắt đầu năm 1999, công ty có quyền thu hồi trái phiếu trước thời hạn bằng tiền mặt
Quyền chọn 3:
Chuyển đổi ngay lập tức, họ
từ bỏ trái phiếu có trị giá:
P 5 = 46%
hoặc năm 2004:
P 10 = 60%
hay năm 2009:
Trang 16P 15 = 77%
Trong quyền chọn bán (quyền chọn thứ 3), ngay cả nếu lãi suất tăng và giá các tráiphiếu khác sụt giảm, những người nắm giữ LYON vẫn có một giá đảm bảo trong 3 nămnày để họ có thể bán trái phiếu của mình Rõ ràng các nhà đầu tư thực hiện quyền bán sẽ từ
bỏ cơ hội để chuyển đổi trái phiếu của mình thành cổ phần, lợi thế của việc chuyển đổiđáng được tận dụng khi giá chuyển đổi của trái phiếu thấp hơn giá thực hiện quyền bánnhiều lần
2.3 Chứng khoán chuyển đổi bắt buộc
Trong những năm gần đây, một số công ty đã phát hành cổ phần ưu đãi hay nợđược tự động chuyển đổi thành vốn cổ phần sau nhiều năm Đầu tư vào chứng khoán này,nhà đầu tư hưởng được lợi tức hiện tại cao hơn cổ đông thường nhưng bị giới hạn về số
cổ phần họ sẽ nhận Như vậy, họ chỉ được hưởng phần tăng giá của cổ phần thường chođến mức giới hạn này Khi giá cổ phần tăng cao hơn mức giới hạn này, số cổ phần màngười nắm giữ chứng khoán chuyển đổi nhận được bị giảm theo tỷ lệ tương ứng
2.4 Định giá trái phiếu chuyển đổi
Chủ sở hữu của một trái phiếu chuyển đổi sở hữu một trái phiếu và một quyềnchọn mua cổ phần của doanh nghiệp Để thực hiện quyền chọn mua, đòi hỏi người sở hữuTPCĐ phải từ bỏ trái phiếu của mình
Một ví dụ điển hình là: Eastman Kojak (công ty kinh doanh máy ảnh KTS của Mỹ)
đã phát hành các TPCĐ với tổng mệnh giá: 1 triệu đô la và các trái phiếu này có thể đượcchuyển đổi vào bất kỳ thời điểm nào thành 1 triệu cổ phần thường Giá TPCĐ của Kojak
phụ thuộc vào giá trị trái phiếu và giá trị chuyển đổi của nó.
Giá trị trái phiếu là giá trị mà mỗi trái phiếu sẽ bán được nếu không thể chuyển
đổi
Giá trị chuyển đổi là giá trị mà trái phiếu sẽ bán được nếu nó phải chuyển đổi
Trang 17hạn Chừng nào giá trị các tài sản của doanh nghiệp không sụt thấp hơn 1 triệu USD, trái
phiếu sẽ được chi trả đủ Nhưng nếu giá trị của doanh nghiệp bị sụt giảm nhỏ hơn 1 triệu
USD, doanh nghiệp sẽ không có đủ tiền để trả cho các trái chủ Trong trường hợp xấu
nhất là các tài sản không còn giá trị, các trái chủ sẽ không nhận được gì cả Như vậy,
Trang 18đường ngang trong hình 2.1 (a) chỉ thành quả nếu trái phiếu được chi trả đủ, và đường dốcthể hiện thành quả nếu doanh nghiệp vỡ nợ