1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển. Phân tích tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước” pps

87 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 713 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đầu tư phát triển.Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốntrong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ranhững tài sản vật

Trang 1

Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển Phân tích tình hình đầu

tư phát triển trong hệ thống doanh

nghiệp nhà nước”



Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

-CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4

I ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 4

1 Các khái niệm chung 4

2 Khái niệm đầu tư phát triển 5

3 Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển 6

Trang 3

4 Vai trò của đầu tư phát triển 8

-II DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 11

1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 11

2 Phân loại doanh nghiệp Nhà nước 13

3 Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước 14

-CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỜI KỲ 2000 – 2006 18

-I TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DNNN THỜI KỲ 2000 2006 18

-II NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DNNN 2000 2006 22

1 Đầu tư phát triển xây dựng cơ bản 22

2 Đầu tư phát triển tài sản vô hình : 28

-2.1/ Thực trạng nguồn nhân lực và đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước: 28

2.2/ Thực trạng KHCN và đầu tư phát triển KHCN trong DNNN 35

-III ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 42

-1 Hiệu quả kinh tế tài chính của hoạt động đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp Nhà nước 42

-2 Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước 46

-CHƯƠNG III: MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 51

-I MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN LÀM GIẢM HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DNNN 51

1 Nhóm nhân tố vĩ mô: 51

2 Nhóm nhân tố vi mô: 56

-2.1 Yếu kém về trình độ quản lý đội ngũ cán bộ và trình độ tay nghề của CBCNV trong doanh nghiệp 56

-2.2 Quản lý dự án đầu tư yếu kém gây thất thoát lãng phí trong quá trình thực hiện và vận hành dự án đầu tư 57

-2.3 Công tác lập thẩm định dự án đầu tư yếu kém, chưa được chú trọng đúng mức 57

Trang 4

-II NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÂU TƯ TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG

GIAO ĐOẠN TỚI 58

1 Nhóm giải pháp vĩ mô: 58

1.1 Đổi mới và hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược 58

1.2 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đầu tư 60

1.3 Tăng quy mô vốn cho doanh ngiệp nhà nước 61

-1.4 Tăng cường đẩy nhanh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước : 63

-1.5 Xây dựng hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý thông thoáng để quản lý hoạt động đầu tư 65

1.6 Tăng cường cải cách thủ tục hành chính 66

-1.7 Tăng cường vận động xúc tiến và kêu gọi thu hút đầu tư trong và ngoài nước 67

-1.8 Ban hành các chính sách cụ thể nhằm thu hút và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đầu tư 68

2 Nhóm giải pháp vi mô 73

-2.1 Nâng cao chất lượng công tác lập và thẩm định dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước 73

-2.2 Tăng cường công tác quản lý hoạt động đầu tư trong từng DNNN 75 -2.3 Tăng cường công tác nghiên cứu và ứng dụng, triển khai khoa học công nghệ vào sản xuất 78

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

-LỜI MỞ ĐẦU

Đầu tư phát triển là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu và không thể thiếu được để hưng thịnh quốc gia Đầu tư phát triển là vấn đề được toàn xã hội, đặc biệt là các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển của đất nước thường xuyên quan tâm và coi trọng Từ Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đến mỗi người dân, nhất là những

Trang 5

người trực tiếp tham gia hoạt động đầu tư đều rất quan tâm đến vấn đề này.

Từ cổ tới kim, đề cập đến phát triển nói chung và phát triển kinh tế, tăngtrưởng kinh tế nói riêng, người ta đều không quên nói đến đầu tư phát triển.Với tầm quan trọng như vậy của đầu tư phát triển thì việc nghiên cứu, tìmhiểu nội dung cơ bản của nó là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn ỞViệt Nam và các nước trên thế giới thì doanh nghiệp nói chung cũng nhưdoanh nghiệp Nhà nước nói riêng được coi là tế bào của nền kinh tế, nó cụ thểhóa đường lối phát triển doanh nghiệp của Đảng, quyết định tăng trưởng kinh

tế và phát triển kinh tế của đất nước

Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng ấy, nhóm 13 đã tìm hiểu và

trình bày đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển Phân tích tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước” Chúng tôi

tìm hiểu đề tài này với mong muốn có được sự hiểu biết sâu rộng hơn về đầu tưphát triển cũng như tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhànước đồng thời giúp cho các bạn trong lớp có thêm tài liệu tham khảo khimuốn tìm hiểu về vấn đề này Dù thế nào đi nữa cũng phải nhấn mạnh rằngviệc tìm hiểu về đề tài này là vấn đề lớn, có phạm vi rộng, cần phải có công sức

và thời gian Trong quá trình làm đề tài chúng em đã nhận được sự chỉ dẫn vàgiúp đỡ tận tình của PGS.TS Từ Quang Phương Mặc dù, với sự cố gắng tíchcực của các thành viên trong nhóm nhưng trong khuôn khổ hạn hẹp của bàiviết, chắc hẳn sẽ khó lòng đề cập đầy đủ các khía cạnh của vấn đề đưa ra, vànhững sai sót là không thể tránh khỏi vậy chúng tôi chân thành cám ơn sự góp

ý, bổ sung của thầy cô giáo và bạn đọc để cho đề tài được hoàn thiện hơn

Các thành viên nhóm 13

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

I ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

Trang 6

1 Các khái niệm chung.

- Đầu tư: là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội (KT-XH)

để mong thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau trong tương lai Đầu

tư hay hoạt động đầu tư là việc huy động các nguồn lực hiện tại để tiến hànhcác hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớnhơn Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động,tài sản vật chất khác Biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trênđây được gọi là vốn đầu tư Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tàisản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, ), tài sản trí tuệ( trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và nguồn nhân lực Cónhiều cách phân loại đầu tư Xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu

tư đem lại ngưòi ta phân chia ra thành :

- Đầu tư tài chính : là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho

vay hoặc mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm,mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)

- Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra đểmua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênhlệch giá khi mua và khi bán

- Đầu tư tài sản vật chất và nguồn nhân lực, khoa học công nghệ : làloại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằmtrực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinhdoanh, hoạt động xã hội khác Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửachữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, xây lắp, bồidưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liềnvới sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các

cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền KTXH Loại đầu tư này được

gọi chung là đầu tư phát triển.

Trang 7

2 Khái niệm đầu tư phát triển.

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốntrong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ranhững tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹnăng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu pháttriển

Đối tượng của đầu tư phát triển: là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư

-> Theo góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư đượcchia thành loại khuyến khích đầu tư, loại không khuyến khích đầu tư và loại

- Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi íchquốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư Đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nângcao đời sống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằmtối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượngnguồn nhân lực…

Trang 8

- Chủ đầu tư của đầu tư phát triển là người sỡ hữu vốn hoặc được giaoquản lý, sử dụng vốn đầu tư Chủ đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sátđầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnhhưởng của đầu tư đến môi sinh và do đó, có ảnh hưởng quan trọng đến việcnâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.

3 Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển.

 Theo cách tiếp cận dựa vào lĩnh vực phát huy tác dụng của đầu

tư phát triển, đầu tư phát triển bao gồm:

* Đầu tư phát triển sản xuất

* Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chung của nền kinh tế

* Đầu tư phát triển văn hóa giáo dục

* Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật

* Đầu tư phát triển khác

 Theo cách tiếp cận dựa vào quá trình hình thành và thực hiệnđầu tư, đầu tư phát triển bao gồm :

* Đầu tư cho hoạt động chuẩn bị đầu tư

* Đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư

* Đầu tư trong quá trình vận hành

 Ở đây chúng ta chọn cách tiếp cận dựa vào khái niệm đầu tưphát triển, theo đó khái niệm nội dung của đầu tư phát triển bao gồm: đầu tưphát triển các tài sản vật chất và đầu tư phát triển các tài sản vô hình

* Đầu tư phát triển các tài sản vật chất gồm: đầu tư phát triển xây dựng

cơ bản và đầu tư vào hàng tồn trữ

- Đầu tư xây dựng cơ bản : là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cốđịnh của doanh nghiệp Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động nhưxây lắp và mua sắm máy móc thiết bị Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn

Trang 9

và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị Đầu tư xâydựng cơ bản trong khối nhà nước tuy có nhiều kết quả tốt song việc thất thoáttrong lĩnh vực đầu tư này đang rất lớn Đây là một trong những vấn đề làm

“đau đầu” của Chính phủ ta

- Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ: Việc xác định quy mô đầu tư hàng tồntrữ tối ưu cho doanh nghiệp là rất cần thiết Trong danh mục hàng tồn trữ gồmnguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành Tùy theo loại hìnhdoanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ củng khác nhau

* Đầu tư phát triển tài sản vô hình gồm: đầu tư nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học, kỹthuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo…

- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệtquan trọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp vì chỉ có nguồn nhân lực chấtlượng cao thì mới tao ra hiệu quả cao nhất Do đó đầu tư phát triển nguồnnhân lực phải được quan tâm tối đa, là việc làm hết sức cần thiết Đầu tư pháttriển nguồn nhân lực bao gồm đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ lao động;đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y tế; đầu tư cải thiện môi trường, điềukiện làm việc của người lao động

- Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.Nhằm phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới Đầu tư nghiêncứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao Hiện nay khả năngđầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ củadoanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn Đặc biệt việc nhập các công nghệ

cũ, đã lỗi thời trên thê giới còn rất phổ biến ở Việt Nam Có rất ít các trungtâm nghiên cứu lớn, các trường đại học với nhiều chuyên gia đầu nghànhcủng chưa phát huy được vai trò nghiên cứu Cùng với đà phát triển của kinh

tế đất nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tưnày sẽ ngày càng tằng, tương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp

Trang 10

- Đầu tư cho hoạt động marketing cũng là một lĩnh vực đầu tư hết sứcquan trọng, đặc biệt là trong các doanh nghiệp thương mại Đầu tư cho hoạtđộng marketing bao gồm đầu tư cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến thươngmại, xây dựng thương hiệu…Đầu tư cho hoạt động marketing cần chiếm một

tỷ trọng hợp lý trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp

4 Vai trò của đầu tư phát triển.

- Trước hết cần phải xác định rõ rằng đầu tư nói chung có một vai tròhết sức to lớn trong nền kinh tế, là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, làchìa khoá của sự tăng trưởng Nếu không có đầu tư thì không có phát triển.Nhìn trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước, đầu tư vừa tác động đếntổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Về cầu, đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trongtổng cầu Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổngcầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sựtăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng, đường tổng cầu dịch chuyển sangphải, kéo sản lượng và mức giá cân bằng tăng theo Về cung, khi đầu tư đã cóthành quả thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, đường tổngcung dịch chuyển xuống dưới, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng và do đómức giá chung giảm Tăng tiêu dùng tiếp tục kích thích sản xuất tăng hơnnữa Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế Sự tác động khôngđồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung làm chomỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu

tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọiquốc gia

- Đầu tư có tác động to lớn đến việc tăng cường khả năng khoa học vàcông nghệ của đất nước Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tựnghiên cứu phát minh và nhập công nghệ từ bên ngoài Dù là tự nghiên cứuphát minh hay là nhập công nghệ từ bên ngoài đều phải có đầu tư Đầu tư là

Trang 11

điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ Mọiphương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là nhữngphương án không khả thi

- Đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinhnghiệm của các nước trên thế giới cho thấy nếu muốn tốc độ phát triển kinh tếtăng cao ( 9-10%) thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khuvực công nghiệp và dịch vụ Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do hạnchế nhiều mặt, để đạt tốc độ tăng trưởng từ 5 - 6% là rất khó khăn Như vậychính đầu tư đã quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đạt được tốc độtăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế

- Ngoài ra đầu tư còn có tác động giải quyết những mất cân đối về pháttriển giữa các vùng lãnh thổ, xoá đói giảm nghèo, phát huy lợi thế so sánh vềtài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị … của những vùng có khả năng pháttriển nhanh để làm đầu tàu cho các vùng khác Đầu tư tác động đến tốc độtăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế chothấy, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư ít nhấtphải đạt được từ 15-20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR mỗi nước

- Đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ thì đầu tư quyết định sự ra đời,tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Đối với các cơ sở hoạt động phi lợi nhuận,

để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vậtchất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên Tất cả những hoạtđộng và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư

- Đầu tư phát triển có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi

vì nó tạo ra các tài sản cố định Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư

để sản xuất ra của cải vật chất đặc biệt, tạo ra cơ sở vật chất và kỹ thuật banđầu cho xã hội Tất cả các ngành kinh tế chỉ có thể tăng nhanh khi có đầu tưxây dựng cơ bản , đổi mới công nghệ, xây dựng mới để tăng năng suất, chấtlượng và hiệu quả Đầu tư phát triển xây dựng cơ bản nhằm xây dựng kết cấu

Trang 12

hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nướcđầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Đầu tư phát triển sẽ tạo điều kiện để phát triển mới, đầu tư chiều sâu,

mở rộng sản xuất ở các doanh nghiệp, sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực,cải thiện cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, pháttriển y tế, văn hoá và các mặt xã hội khác Đầu tư phát triển góp phần thựchiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, cảithiện điều kiện sống ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, phát triển nguồnnhân lực, xây dựng các cơ sở sản xuất và dịch vụ, tạo ra những tác động tíchcực cho vùng nghèo, người nghèo, hộ nghèo khai thác các tiềm năng củavùng, vươn lên làm ăn khá giả Từ đó đảm bảo tỷ lệ cân đối vùng miền, ngànhnghề, khu vực và phân bố hợp lý sức sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh

- Đầu tư phát triển của nhà nước trong nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai tròquan trọng hết sức to lớn, bởi vì vốn dành cho đầu tư phát triển của nhà nướcchiếm một tỷ lệ lớn trong ngân sách của toàn xã hội Đầu tư phát triển của nhànước góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơcấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội Mặt khác đầu tư phát triển của nhànước được tập trung vào những công trình trọng điểm, sử dụng nguồn vốnlớn, có khả năng tác động mạnh đến đời sống kinh tế xã hội Bên cạnh đócũng cần phải thấy rằng đầu tư phát triển của nhà nước nếu không được quản

lý một cách hợp lý sẽ dễ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu

tư phát triển từ các nguồn vốn khác

II DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước.

Trang 13

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là loại hình doanh nghiệp được thừanhận tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Tuy nhiên, do đặc điểm hìnhthành, vai trò, phạm vi hoạt động… không giống nhau nên quan niệm vềDNNN cũng không giống nhau.

Thông thường, DNNN là những loại hình doanh nghiệp do Nhà nướcđầu tư, xây dựng và chi phối hoạt động sản xuất và kinh doanh DNNN cónhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp quốc hữu hoá, xí nghiệp quốcdoanh, doanh nghiệp công…Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, DNNNđược hiểu la ”những doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ toàn bộ hoặc mộtphần sở hữu và Nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình raquyết định của doanh nghiệp”

Ở Việt Nam, nhận thức về DNNN là cả một quá trình gắn liền với cácgiai đoạn lịch sử Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiếtcủa Nhà nước hiên nay, nền kinh tế Việt Nam tồn tại nhiều thành phần kinh

tế, nhiều hinh thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sởhữu hỗn hợp… Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó có ba loại hình thứcdoanh nghiệp là: DNNN, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hỗn hợp (công

ty cổ phần…), trong đó DNNN la nòng cốt của thành phần nhà nước, giữ vịtrí chu đạo Chính thực tế này đặt ra vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc kháiniệm DNNN và cần nghiên cứu đầy đủ hơn về khái niệm này theo hướngngày càng phù hợp hơn với thực tế

Theo Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ), “DNNN là tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu

tư vốn và quản lý với tư các chủ sở hữu DNNN là một pháp nhân kinh tế,hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật” Để phù hợp với tìnhhình mới Luật DNNN được ban hành ngày 24/4/1995 đã đưa ra định nghĩanhư sau: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao , DNNN có tư

Trang 14

cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn

bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý DNNN

có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam” Tuynhiên, chỉ đến khi luật DNNN ra đời thì nhận thức về DNNN mới đầy đủ sátvới thực tế hơn và để phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế và xu thế hộinhập của nước ta vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì theo nghị quyết số14/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 quy định về doanh nghiệpnhà nước như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước

sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chứcdưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn.”

Luật Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) được Quốc hội ban hành ngày26-11-2003, có hiệu lực thi hành ngày 1-7-2004, thay thế cho Luật DNNNban hành ngày 20-4-1995 Việc ban hành Luật DNNN lần này có tác dụng rấtquan trọng trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của Luật DNNNnăm 1995, như quy định chặt chẽ hơn các vấn đề về quản lý tài chính, tiền tệdoanh nghiệp, mở rộng thẩm quyền, đồng thời xác định rõ ràng hơn tráchnhiệm của giám đốc, quy định rõ mối quan hệ giữa Tổng giám đốc và Chủtịch Hội đồng quản trị

Từ khái niệm trên có thể nêu ra một số đặc trưng cơ bản của doanhnghiệp nhà nước :

Thứ nhất về mức độ sở hữu vốn trong doanh nghiệp, Nhà nước là chủ

sở hữu đối với toàn bộ hoặc đa số vốn trong doanh nghiệp và vì thế nhà nước

có thể chi phối được những hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp

Thứ hai Nhà nước kiểm soát đối với quá trình ra quyết định của

DNNN bằng việc nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 50% vốn.Song điều này không có nghĩa la nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt độnghàng ngày của doanh nghiệp bởi lẽ, nhà nước và DNNN là những chủ thểpháp lý tách bạch và độc lập với nhau Nhà nước đóng vai trò là người chủ sở

Trang 15

hữu đối với doanh nghiệp người đầu tư vốn, còn DNNN là chủ thể kinh doanhđộc lập có tư cách pháp lý như mọi chủ thể kinh doanh của các nhà đầu tưkhác trong nền kinh tế.

Thứ ba Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng quản lý của nhà nước,

phải thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hộido Nhà nước giao cho

Tóm lại quan niệm về doanh nghiệp nhà nước có thể được xem xét từcác góc độ khác nhau, thay đổi theo từng thời kỳ, gắn với thực tiễn đổi mớikinh tế xã hội 20 năm qua ở nước ta Trong điều kiện tiến tới hội nhập kinh

tế khu vực và toàn cầu nhưng vẫn đảm bảo đường lối độc lập tự chủ về kinh

tế của nước ta hiện nay, tạo mọi thuận lợi phát huy hiệu quả vốn Nhà nước

và tiềm năng về vốn của mọi thành phần kinh tế khác thì phải nhận thứcđúng phù hợp về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước

2 Phân loại doanh nghiệp Nhà nước.

Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp Nhà nước khác nhau Ở đây bàiviết trình bày một số cách phân loại DNNN mà sẽ được sử dụng trong nghiêncứu

Thứ nhất : Dựa vào mục đích hoạt động chia DNNN thành hai loại:

DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích

DNNN hoạt động kinh doanh là loại doanh nghiệp có chức năng chủyếu là hoạt động kinh doanh trên số vốn và tài sản Nhà nước được giao Mụctiêu chủ yếu của loại doanh nghiệp này là thu lợi nhuận và doanh nghiệp tựquyết định loại sản phẩm kinh doanh trên cơ sở tuân thủ pháp luật

DNNN hoạt động công ích là loại doanh nghiệp thuộc khu vực vô vịlợi, hoạt động với chức năng chủ yếu là đáp ứng nhu cầu của xã hội bằngnhững sản phẩm, dịch vụ cụ thể, không thể thiếu được trong quốc kế dân sinh.Yếu tố lợi nhuận không đóng vai trò quan trọng

Thứ hai: căn cứ theo mức độ đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

chia DNNN thành hai loại:

Trang 16

Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước là những doanh nghiệp mà Nhànước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ để thành lập.

Doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là những doanhnghiệp mà Nhà nước đầu tư trên 50% vốn điều lệ và Nhà nước giữ quyền chiphối doanh nghiệp

Thứ ba: căn cứ vào lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế DNNN được

chia thành hai loại: doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật chất

và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

DNNN hoạt động sản xuất vật chất là những doanh nghiệp trực tiếptham gia sản xuất, tạo ra các sản phẩm , hàng hóa cho xã hội DNNN hoạtđộng thương mại dịch vụ là những doanh nghiệp tham gia vào khâu lưu thôngphân phối của quá trình tái sản xuất hoặc lĩnh vực dịch vụ, nhưng không trựctiếp sản xuất ra sản phẩm vật chất

3 Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất quan trọng điều này được thểhiện tại Nghị quyết 05 Hội nghị lần thứ ba BCHTƯ Đảng khoá IX: kinh tếNhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng XHCN.DNNN phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ

vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhànước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủyếu để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, là chủ lực trong hội nhập quốc tế

Theo chúng tôi cần nhấn mạnh một số điểm dưới đây về vai trò củakinh tế Nhà nước mà nòng cốt là DNNN:

 Vai trò chính trị: Một là, DNNN nắm giữ những ngành đặc biệtquan trọng liên quan đến an ninh, quốc phòng quốc gia Hai là, DNNN thamgia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ theo từng thời kỳ phát

Trang 17

triển kinh tế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng trong phát triểnhội nhập kinh tế quốc tế.

 Vai trò xã hội: Được thể hiện ở một số điểm sau: Thứ nhất,DNNN

đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng, đặc biệt đốivới địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, nơi các vùng kinh tếkhó khăn, vùng sâu, vùng xa Nếu lợi nhuận là mục tiêu cở bản của doanhnghiệp tư nhân thì đối với DNNN, ngoài mục tiêu kinh doanh còn nhiều mụctiêu cở bản khác Lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất mà trước hếtphải xem xét đến lợi ích chính trị- xã hội- kinh tế của đất nước DNNN phải

có mặt và phát triển tại các lĩnh vực mà các doanh nghiệp khác không muốnhoặc không có khả năng làm, để đảm bảo cung cấp các hàng hoá và dịch vụcần thiết cho nhu cầu của các tầng lớp dân cư Vì vậy, hiệu quả của DNNN cóthể là hiệu quả kinh tế, hoặc hiệu quả xã hội, hoặc cả hiệu quả kinh tế và hiệuquả xã hội Do đó trong nhiều trường hợp các DNNN hoạt động trong lĩnhvực công ích phải đặt mục tiêu lợi nhuận xuống hàng thứ yếu Thứ hai,DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục những khuyết tật củanền kinh tế thị trường, tạo điều kiện cho việc xây dựng xã hội mới Từ thựctiễn phát triển kinh tế thị trường ở các quốc gia trên thế giới, bên cạnh nhiềumặt tích cực, người ta cũng nhận thấy những khuyết tật vốn có Những khuyếttật cơ bản của nền kinh tế thị trường bao gồm: Một là, do theo đuổi mục tiêulàm cho chi phí biên cá nhân nhỏ hơn chi phí biên xã hội, gây ra ảnh hưởngngoại ứng, ô nhiễm môi trường Hai là, việc cung cấp sản phẩm công cộngthường không hấp dẫn các doanh nghiệp vì lợi nhuận ở khu vực này thườngthấp trong khi đòi hỏi đầu tư lớn Trong tình hình đó, DNNN đóng vai trò tạođiều kiện khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường Để góp phấn hạnchế khuyết tật thứ hai, các DNNN không những phải xuất hiện ở lĩnh vựccung cấp sản phẩm công cộng, mà quan trọng là phải cung cấp sản phẩm côngcộng một cách có hiệu quả

Trang 18

 Vai trò kinh tế: DNNN phải là công cụ kinh tế quan trọng để Nhànước trực tiếp tác động đến các quá trình kinh tế xã hội, điều tiết vĩ mô, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mối cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HDH.Doanh nghiệp Nhà nước có vai trò kinh tế chung rất quan trọng Vai trò ấy thểhiện chủ yếu ở chỗ khắc phục thất bại thị trường, điều tiết vĩ mô, nhằm làmcho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, công bằng, ổn định Đồng thời DNNNnắm giữ các ngành then chốt và thực sự trở thành công cụ để Nhà nước điềutiết và định hướng phát triển XHCN DNNN là công cụ để Nhà nước điềuchỉnh cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế, đặc biệt cơ cấu kinh tế ngành, vùnglãnh thổ, phát triển hạ tầng cơ sở và xây dựng từng bước nền Công nghiệphiện đại Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước được thể hiện không phải ởviệc phát triển tràn lan mà lựa chọn các ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn đểphát triển Kinh tế Nhà nước nắm giữ phần lớn những cơ sở hạ tầng kinh tế-

xã hội, dịch vụ công cộng…, những lĩnh vực mà tư nhân các thành phần kinh

tế khác không được làm, không muốn hoặc không đủ năng lực đầu tư Mặtkhác, trong nền kinh tế thị trường, quyết định đầu tư trước hết phải là củadoanh nghiệp, hộ gia đình trong nền kinh tế, do vậy trước hết phải huy độngđầu tư phát triển từ khu vực tư nhân Quyết định ấy bị dẫn dắt bởi chính nềnkinh tế thị trường Tuy nhiên có những lĩnh vực mà tư nhân sẽ không đầu tưhoặc đầu tư không hiệu quả, đòi hỏi đầu tư của nhà nước Cụ thể là nhà nướcnên đầu tư sản xuất hàng hoá công Nhà nước phải trực tiếp đầu tư để cungcấp một số hàng hoá tư nhân mà khu vực tư nhân không thể, không muốn đầu

tư Ví dụ như hàng hoá tư nhân chi phí cao ( nước sạch, …) Nhà nước phảiđầu tư để sản xuất một số hàng hoá tư nhân vì lý do chính trị xã hội, mà nếukhông có việc sản xuất các loại hàng hoá này thì nền kinh tế sẽ không có hiệuquả

Ngoài vai trò kinh tế chung, nhà nước có hai vai trò cơ bản hết sứcquan trọng trong lĩnh vực đầu tư phát triển của toàn xã hội:

Trang 19

Một là tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động đầu tư phát triểnđược tiến hành.

Hai là khuyến khích, dẫn dắt hoạt động đầu tư phát triển theo địnhhướng nhất định trên cơ sở quyết định quy hoạch, kế hoạch, cấp phát ngânsách, cho vay vốn hoặc các biện pháp điều tiết khác.Vai trò của nhà nướctrong hoạt động đầu tư phát triển được thể hiện rõ thông qua chính hoạt độngđầu tư phát triển của nhà nước cũng như việc điều tiết, thúc đẩy, hỗ trợ đầu tưkhu vực ngoài nhà nước( tư nhân và đầu tư nước ngoài) và thông qua việcquyết định kế hoạch, quy hoạch

Ở một góc độ cụ thể hơn, ta có thể thấy vai trò của nhà nước thể hiệntrên các khía cạnh như chi tiêu, cấp phát ngân sách, cho vay vốn ưu đãi; đầu

tư phát triển để tạo ra hàng hoá công; đầu tư phát triển để thực hiện việc cungcấp công cộng một số hàng hoá tư nhân; chính sách bao tiêu một số sản phẩm

và dịch vụ từ đầu tư phát triển được lựa chọn để giữ vững cầu, ổn định giá cả

và thúc đẩy tăng trưởng; đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thi hành chínhsách thuế khoá liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển; quản lý nhà nước vềđầu tư phát triển (quản lý cá nhân và tổ chức tham gia đầu tư phát triển , quản

lý sản phẩm của đầu tư phát triển ); xây dựng các văn bản quy phạm pháp luậtnhằm điều chỉnh hoạt động đầu tư phát triển; thanh tra, kiểm tra hoạt độngđầu tư phát triển ,

Công tác xử lý các vướng mắc, các phát sinh trong quá trình thực hiện và vậnhành dự án đầu tư phát triển

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỜI KỲ 2000 – 2006

I TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DNNN THỜI KỲ 2000 - 2006

Trang 20

DNNN tiếp tục là lực lượng nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước,đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân.Trong những năm qua, tỷ trọng đầu tư của khu vực này trong tổng mức đầu tưtoàn xã hội vẫn được duy trì theo các năm, đóng góp rất lớn về đầu tư trongtổng đầu tư của xã hội Đây là nguồn vốn các doanh nghịêp chủ động trongviệc huy động và sử dụng theo đúng yêu cầu của các doanh nghịêp Nguồnvốn này được tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, bổ sung thiết bị

để nâng cao công suất, chất lượng sản phẩm và một phần dùng để đầu tư xâydựng mới, mở rộng sản xuất kinh doanh Nếu nguồn vốn huy động được từdoanh nghiệp nhà nước được sử dụng có hiệu quả hơn sẽ góp phần trực tiếpcho tăng trưởng nhanh kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh trong từng sản phẩm

Một số kết quả chính đã đạt được trong năm 2003 như sau:

- Doanh thu khu vực DNNN đạt 470.000 tỷ đồng, tăng 10,5% so vớinăm 2002 và 11% so với năm 2001, đã đóng góp 40% GDP của cả nước, tăng0,5% so với năm 2001;

- Nộp ngân sách đạt 87.000 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2002 và 69%

so với năm 2001 chiếm trên 60% tổng thu NSNN ;

- Lợi nhuận thực hiện đạt 21.000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với năm 2002

và 31,2% so với năm 2001 ;

- Chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 3 năm 2001 - 2003 củaDNNN đạt mức 10%/năm, xấp xỉ mức bình quân trong 10 năm 1991-2000(11%) Trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, sức cạnh tranh đượcnâng cao, dần dần thích nghi với cơ chế thị trường

DNNN hoạt động công ích đi vào thực chất hơn, đảm bảo đa số sảnphẩm, dịch vụ thiết yếu của xã hội, đặc biệt cho quốc phòng - an ninh, đồngbào vùng sâu, vùng xa Cải cách DNNN được đẩy mạnh theo hướng tiếp tục

Trang 21

đa dạng hóa sở hữu các DNNN, đạt kết quả vượt bậc so với 5 năm trước 1996

- 2000

Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp lại theo tinh thần Nghịquyết Trung ương 3 theo hướng đa dạng hóa sở hữu với các hình thức cổphần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước Tổng số doanhnghiệp nhà nước được sắp xếp lại trong 5 năm qua vượt xa cùng thời kỳ trước

đó Các doanh nghiệp sau khi sắp xếp lại hoạt động có hiệu quả hơn, nâng caođược tính cạnh tranh, phát huy được vai trò tích cực và chủ động trong cáchoạt động kinh tế, xã hội Từ 2001 - 2004 cổ phần hoá được 1.654 DNNN và

bộ phận DNNN (sau đây gọi chung là DNNN) chiếm 73% tổng số DNNN cổphần hoá từ năm 1992 đến nay (2.242 DNNN cổ phần hoá) Trong đó, năm2001: 205 doanh nghiệp: năm 2002: 164 doanh nghiệp: năm 2003: 532 doanhnghiệp; năm 2004: 753 doanh nghiệp Nhiều đơn vị thực hiện tốt lộ trình cổphần hoá theo đế án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, điển hình là:

Bộ Xây dựng (đạt 125%), Bộ Công nghiệp (đạt 106%), Tổng công ty Bưuchính Viễn thông Việt Nam (đạt 182%), Tổng công ty Dệt May Việt Nam(đạt 133%), tỉnh An Giang (đạt 130%), tỉnh Hải Dương (đạt 116%), tỉnh VĩnhPhúc (đạt 115%), thành phố Hồ Chí Minh (đạt 109%), thành phố Cần Thơ(đạt 109%), tỉnh Nam Định (đạt 109%), tỉnh Hà Tây (đạt 103%) Theo kếhoạch, năm 2005 sẽ thực hiện cổ phần hoá 724 DNNN, hoàn thành cơ bản

104 Đề án sắp xếp DNNN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án cổ phần hoá toàn Tổng công

ty Thương mại và Xây dựng (Bộ Giao thông - Vận tải) và Tổng công ty Điện

tử và Tin học (Bộ Xây dựng) Ngoài ra, một số đề án cổ phần hoá các Tổngcông ty lớn đang được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định nhưTổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng VINACONEX (Bộ Xây dựng); Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam Đây sẽ là bước quan trọng để triển khai đẩymạnh quá trình cổ phần hoá DNNN

Trang 22

Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNN sau khi cổphần hóa đều tốt hơn theo hướng tăng vốn sản xuất kinh doanh, tăng doanhthu, tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho người lao động

Bên cạnh hình thức cổ phần hoá là giải pháp mang tính đột phá trongquá trình sắp xếp, đổi mới DNNN, các hình thức khác như giao, bán, chuyểnDNNN thành công ty TNHH 1 thành viên cũng được triển khai mạnh, làm đadạng hoá các hình thức sắp xếp, đổi mới cơ chế quản lý, góp phần nâng caohiệu quả hoạt động của DNNN Ngoài ra, còn thực hiện các hình thức tổ chứclại, giải thể và phá sản DNNN làm ăn kém hiệu quả

Sau 4 năm thực hiện (2001 - 2004), cả nước thực hiện giao 127 doanhnghiệp, bán 76 doanh nghiệp, sáp nhập 390 doanh nghiệp, hợp nhất 133doanh nghiệp, giải thể 134 doanh nghiệp, phá sản 18 doanh nghiệp, chuyểnsang công ty TNHH 1 thành viên 55 doanh nghiệp, thành lập mới 67 doanhnghiệp[2]

Trong quá trình sắp xếp DNNN, doanh nghiệp đã quan tâm giải quyếtchế độ cho người lao động dôi dư theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11tháng 4 năm 2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư dosắp xếp lại DNNN

Tính đến hết năm 2004, đã có 1.342 doanh nghiệp được Bộ Tài chínhduyệt cấp kinh phí cho 62.305 người nghỉ việc hưởng theo chế độ lao độngdôi dư với tổng số tiền khoảng 1.803 tỷ đồng Trong đó, có 6.448 người nghỉhưu trước tuổi với số tiền là 111,1 tỷ đồng; 55.257 người hưởng trợ cấp mấtviệc làm với số tiền là 1.698,4 tỷ đồng

Chính sách đối với những lao động dôi dư phù hợp với thực tế, quyềnlợi được bảo đảm, góp phần bình ổn thị trường lao động dôi dư, giảm nhẹgánh nặng cho xã hội, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sau khi thựchiện các hình thức sắp xếp

Bên cạnh đó Đảng và chính phủ cũng không ngừng hoàn thiện khung

Trang 23

pháp lý theo hướng dần bình đẳng với các doanh nghiệp khác; dần hình thànhcác Tổng công ty mạnh, Tập đoàn kinh tế lớn Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khoá XI

đã thông qua Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thay thế Luật Doanhnghiệp nhà nước năm 1995 Luật DNNN năm 2003 đã có thay đổi lớn về kháiniệm DNNN, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộvốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công

ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH Ngày 24 tháng 8 năm 2004, Thủtướng Chính phủ ban hành Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg về ban hành tiêuchí, danh mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độclập thuộc tổng công ty nhà nước, đây là cơ sở để các Bộ, ngành, địa phương tậptrung đầu tư cho những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vựcthen chốt, mang tính chất ổn định kinh tế - xã hội mà Nhà nước cần nắm giữ100% vốn Ngày 09 tháng 8 năm 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số153/2004/NĐ-CP về tổ chức, quản lý tổng công ty nhà nước và chuyển đổi tổngcông ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ - công tycon, làm nền tảng hình thành các Tổng công ty mạnh, thay đổi cơ chế quản lý từquan hệ hành chính sang quan hệ dựa vào tỷ lệ góp vốn

Hiện nay, đã có 47 tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lậpxây dựng đề án chuyển đổi hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con,trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Trong đó, một số doanh nghiệp đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đi vào hoạt động Ngoài ra, Thủtướng Chính phủ đã cho phép xây dựng thí điểm đề án các Tập đoàn kinh tếhoạt động trong một số lĩnh vực mang tính then chốt, mũi nhọn của nền kinh

tế như Bưu chính - Viễn Thông; Dầu khí; Điện lực; Xi măng

Tóm lại, với tình hình phát triển doanh nghiệp trong nước trong 5 nămqua đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế theo hướng sắpxếp lại và đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, phát huy mạnh mẽ tiềm năngcủa khu vực kinh tế dân doanh, kinh tế hợp tác xã, kinh tế trang trại

Trang 24

Đóng góp của từng thành phần kinh tế vào quá trình tăng trưởng chungcủa toàn nền kinh tế cũng có nhiều thay đổi, theo hướng giảm tỷ trọng củakhu vực kinh tế nhà nước, tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế dân doanh.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì những yếu kém, tồn tại vẫn còn

là vấn đề bức xúc, chưa được giải quyết triệt để ở nhiều lĩnh vực Điển hình làtình trạng thất thoát, lãnh phí vốn đầu tư phát triển diễn ra khá là phổ biến nhất làtrong xây dựng cơ bản, diễn ra trong nhiều dự án đâu tư, thuộc các nguồn vốn, ởcác ngành, các địa phương và trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư

Năm 2002, Thanh tra Nhà nước thanh tra 17 dự án có tổng mức đầu tư

là 9.385 tỷ đồng, tổng giá trị vốn đầu tư được thanh tra, kiểm tra là 6.407 tỷđồng Tổng số sai phạm về kinh tế và tài chính được phát hiện ở 17 dự án là

871 tỷ đồng, chiếm 13,6% tổng số vốn đầu tư được thanh tra, kiểm tra

Năm 2003, Thanh tra Nhà nước thanh tra 14 dự án lớn với tổng mức đầu

tư là 8.193 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn đầu tư được thanh tra là 6.450 tỷ đồng.Qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm về kinh tế do làm trái các quy địnhcủa Nhà nước là 1.235 tỷ đồng, chiếm khoảng 19% số vốn được thanh tra Trongtổng số vốn được phát hiện có sai phạm nói trên, Thanh tra Nhà nước đã kiếnnghị thu hồi 357 tỷ đồng, chiếm 5,5% tổng số vốn được thanh tra

II NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DNNN 2000 - 2006

1 Đầu tư phát triển xây dựng cơ bản.

Thực trạng cơ sở hạ tầng:

Một trong nhiều yêu cầu để Việt Nam gia nhập vào WTO là phải minhbạch trong việc kiểm toán chi thu của quốc gia Do đó, lần đầu tiên trong lịch

sử Đảng CSVN đã đưa ra bản báo cáo từng phần ngân sách nhà nước năm

2005 Theo đó, riêng trong lãnh vực quốc doanh, 19 tổng công ty và ngânhàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc, cho thấy kết quả kiểm

Trang 25

toán hoàn toàn đưa đến việc thua lỗ và công ty quốc doanh đã làm kinh tếtheo một chính sách phi kinh tế Sau đây là vài con số thua lỗ cũa các công tyquốc doanh trong năm 2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng ; ngành giấy lỗ

199 tỷ Đồng ; ngành lương thực lỗ 183 tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương đương60.000 Mỹ kim) Tổng số nợ của 16 doanh nghiệp các ngành kễ trên là 47,000

tỷ đồng, tương đương với 80% tổng tài sản của các công ty Do đó, nhữngcông ty trên hoàn toàn không còn khả năng thanh toán phần nợ

Cơ sở hạ tầng yếu kém trong một thời gian dài là một trong nhữngnguyên nhân chính khiến các DNNN làm ăn thua lỗ Một số các nguyên nhânkhác như là trình độ quản lý, tác phong làm việc kém chuyên nghiệp, luậtpháp chưa chặt chẽ, kém linh hoạt… Các DNNN quy mô vẫn chua lớn NhiềuDNNN có trình độ công nghệ dưới mức trung bình của thế giới và khu vực.Thiết bị, dây chuyền lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm, trong đó có 38%đang chờ thanh lý Chi phí sản xuất công nghiệp còn rất cao, hạn chế mứctăng giá trị gia tăng Cụ thể là giá trị sản xuất mấy năm gần đây tăng15%/năm, nhưng giá trị gia tăng chỉ tăng 10% Tốc độ đổi mới công nghệchậm, chỉ khoảng 10% trong thời gian qua Các ngành công nghiệp có trình

độ công nghệ cao, hiện đại như: điện tử, tin học mới chỉ chiếm vài phầntrăm giá trị sản xuất công nghiệp; dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao khôngnhiều Một số DNNN có nhiều máy móc, thiết bị tuy được đầu tư hiện đạinhưng không huy động hết công suất (nhiều doanh nghiệp có hiệu suất sửdụng tài sản cố định chỉ đạt 50-60%) hoặc tổng vốn đầu tư lớn dẫn đến chi phíkhấu hao, chi phí lãi vay trong giá thành sản phẩm cao Nguyên nhân sâu xa

là trình độ công nghệ lạc hậu hiện nay, điều mà nhiều đại biểu Quốc hội đãlên tiếng khi bàn thảo về Dự án Luật Chuyển giao Công nghệ Khi cả nềnkinh tế Việt Nam chỉ có chưa đầy 2% số doanh nghiệp sử dụng công nghệcao, mà rất hiếm có DNNN lọt vào số 2% này, thì thực trạng hiện nay là hậuquả tất yếu không thể tránh khỏi Trong khi đó, tỷ lệ này ở Thái Lan là 30%,Malaysia là 51%, Singapore là 73% Theo cuốn “Nâng cao năng lực cạnh

Trang 26

tranh xuất khẩu trên cơ sở cắt giảm chi phí” do Viện Quản lý kinh tế Trungương (CIEM) chủ biên, (Nhà xuất bản Tài chính tháng 7 năm 2006), tìnhtrạng công nghệ ở nước ta hiện nay đang ở vào hoàn cảnh Singapore nhữngnăm 60 của thế kỷ trước

Thực trạng đầu tư phát triển xây dựng cở bản trong DNNN.

Trong những năm gần đây, việc phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đã

có những tiến bộ vượt bậc Đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh,xây dựng cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi trường có tác động trực tiếp đến tăngtrưởng kinh tế và hiệu quả của đầu tư cho thấy nhanh hơn, rõ ràng hơn Chính

vì vậy vốn đầu tư vào lĩnh vực này được xem là quan trọng nhất, đặc biệt vớicác nước đang phát triển.Việt Nam hiện đầu tư hơn một phần ba giá trị GDP;khoảng 9% được đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng Kết quả là Việt Namđang nhanh chóng đuổi kịp các nước láng giềng về dịch vụ cung cấp và chiphí Điện khi hóa và điện thoại là những tiến bộ lớn nhất, hệ thống đường bộcũng được mở rộng đáng kể Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phànnàn về cơ sở hạ tầng giao thông không đầy đủ; giá điện và điện thoại quá đắt

đỏ Để đạt được tiến bộ hơn nữa trong phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải đadạng nguồn vốn điều tiết đúng đắn hỗ trợ thu hồi chi phí và khuyến khíchcạnh tranh cũng giúp thu hút tư nhân vào tham gia vào phát triển cơ sở hạtầng và góp phần phát triển kinh doanh hơn nữa ở Việt Nam Hiện đã có một

số sáng kiến đầy hứa hẹn trong hầu hết các lĩnh vực của cơ sở hạ tầng đặc biệt

là tăng tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp Tuy nhiên, phần lớn các bêntham gia kinh doanh là các DNNN Nhìn về tương lai, trong những năm tới,không thể chỉ dựa vào sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân để giải quyếtnhu cầu về cơ sở hạ tầng trông đợi khu vực kinh tế này đáp phần lớn nhu cầu.Trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở, phát triển kinh doanh đặc biệt phụ thuộc vàochất lượng đầu tư công và việc đặt giá phù hợp cho dịch vụ cung cấp

Vốn đầu tư phát triển của DNNN được huy động từ nhiều nguồn, bao

Trang 27

gồm vốn ngân sách, vốn vay và vốn tự có Tỷ trọng của từng nguồn vốnkhông giống nhau vì thay đổi tuỳ thuộc chính sách huy động vốn trong từngthời kỳ Trong những năm đầu của thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoátập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước XHCN, đểDNNN vượt qua những khó khăn ban đầu và làm vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế, thì nguồn vốn ngân sách Nhà nước được sử dụng cho đầu tư pháttriển thường chiếm tỷ trọng lớn nhất

Bảng1: Vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo nguồn vốn

Vốn ngân sáchNhà nước Vốn vay

Vốn của cácdoanh nghiệpNhà nước vànguồn vốn khác

Nguồn: Niên giám thống kê 2006, tổng cục thống kê

Từ sau quá trình chuyển đổi cơ chế, DNNN đã phát triển, trưởng thành

về cả thế và lực Kết quả là, những năm gần đây, Nhà nước đã không còn cấpphát vốn cho các doanh nghiệp như trước mà đầu tư cho DNNN thông qua

Trang 28

hình thức cho vay Tỷ trọng vốn ngân sách tăng chậm và ổn định ở mức cao,nguồn vốn tự có của DNNN đã chiếm vị trí xứng đáng và vốn vay vẫn tiếptục giảm dần trong tổng vốn đầu tư phát triển của DNNN.

Như chỉ ra trong bảng 1, quy mô và tỷ lệ vốn NSNN chi đầu tư pháttriển của DNNN tăng liên tục trong thời kỳ 2000-2006, năm 2000 chiếm43,6%, năm 2001 chiếm 44,7%, năm 2002 chiếm 43,8%, năm 2003 chiếm45,0%, năm 2004 chiếm 49,5%, năm 2005 chiếm 54,4% và tính toán sơ bộnăm 2006 chiếm 54,1% Vốn vay tăng về quy mô song giảm khá nhanh về tỷtrọng cơ cấu, năm 2000 đạt 27774 tỷ đồng và chiếm 31,1& đến năm 2006,theo tinh toán sơ bộ đạt 41200 tỷ đồng và chiếm 22,3% Chi tiết qua các nămnhư trên bảng báo cáo Vốn của các DNNN và nguồn vốn khác tăng đều đặntrong suốt thời kỳ các năm 2000-2006 Mức biến động qua các con số nêutrên đã phản ánh xu thế thay đổi tất yếu theo chiều hướng tích cực

Vốn tự có là phần vốn tự tích luỹ từ kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của DNNN và bộ phận vốn khấu hao được để lai doanh nghiệp Đây lànguồn vốn quan trọng và rât có ý nghĩa trong điều kiện đổi mới cơ chế quản

lý vốn, nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là điềukiện để tái đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rống sản xuất nâng cao hiệu quảhoạt động của các DNNN Như chỉ ra ở bảng 1, vốn tự có tăng đều về quy

mô, tuy giảm về tỷ trọng nhưng giảm chậm

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước là phần vốn hỗ trợ DNNN đầu tư pháttriển được thực hiện theo cơ chế mới, tức chuyển từ hình thức cấp phát vốnsang hình thức tín dụng ưu đãi đã tạo động lực thúc đẩy các DNNN năngđộng hơn Nguồn vốn này là nguồn hỗ trợ quan trọng cho DNNN song khôngphải là nguồn vốn duy nhất, song đang chiếm tỷ trong lớn nhất Đây là mộtvấn đề cần được chú ý giải quyết trong thời gian tới để có thể đảm bảo đượctính độc lập, tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước

Quy mô vốn đầu tư của DNNN vào từng ngành nhiều hay ít có ảnh hưởngtrực tiếp đến sự phát triển của ngành đó, đến việc thay đổi cơ cấu ngành và

Trang 29

chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và dẫn đến hiệu quả đầu tư khác nhaugiữa các ngành

Bảng 2: Vốn đầu tư theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế

1707 7

5106 0

5871

5 68297 75375Sản xuất và phân phối điện, khí đốt

và nước

1692 2

2094 3

2488 4

1119

7 13202 15243Thương nghiệp; Sửa chữa xe có động

cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân

và gia đình

7953 1196

2

1476 3

3822 6

Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 2770 3207 4370 5665 5775 6145 Hoạt động văn hóa và thể thao 2228 3029 4288 4583 4893 5625 Các hoạt động Đảng, đoàn thể và

HĐ phục vụ cá nhân, cộng đồng và

các hoạt động khác

2307 1

2923 0

3515 1

4669

0 56969 65452 Nguồn: tổng cục thống kê (trang Web: http://www.gso.gov.vn )

Trang 30

Vốn đầu tư phát triển được tập trung sử dụng và đầu tư đồng bộ với côngnghệ hiên đại cho những ngành có tốc độ tăng trưởng cao.

Cơ cấu vốn đầu tư phát triển của DNNN chia theo ngành kinh tế (sảnxuất và thương mại dịch vụ) trong những năm qua đã có sự chuyển dịch tíchcực.Vốn đầu tư phát triển dành cho các ngành công nghiệp của DNNN có xuhướng tăng lên nhanh, đặc biệt trong các năm 2003, 2004 Tỷ trọng vốn đầu

tư phát triển của DNNN dành cho ngành nông nghiệp giảm từ năm 2000-2003

và tăng dần từ năm 2004-2006 Thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ của cơ cấunền kinh tế, từng bước hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa

2 Đầu tư phát triển tài sản vô hình :

2.1/ Thực trạng nguồn nhân lực và đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước:

Thực trạng nguồn nhân lực :

Ngay từ đầu năm 2006, những tín hiệu khả quan về tốc độ tăng trưởngkinh tế, tốc độ đầu tư trong và ngoài nước, hàng loạt doanh nghiệp mới ra đời,

mở rộng quy mô sản xuất đã tạo ra sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn lao động

đã qua đào tạo ở vùng kinh tế trọng điểm, trong đó nổi cộm là 3 địa phương

TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương Hiện nay, nguồn nhân lực đang

là điểm yếu của chúng ta Nếu nguồn cung nhân lực có chất lượng khôngđược cải thiện, thì chỉ trong vòng 2 – 3 năm tới, dù có nhà đầu tư, nhưng cũngkhông có người làm Một số ngành kinh tế, do phát triển quá nhanh, đã nảysinh những thách thức không nhỏ về tuyển dụng nhân lực, đặc biệt là nhân lựcchất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường Hơn nữa, việc mặt bằngtiền lương còn trênh nhau ở các khu vực, ngành nghề cũng là nguyên nhântiềm ẩn dẫn đến sự biến động, di chuyển lao động và cuối cùng là, sự thiếuhụt nhân lực ở các doanh nghiệp, khu công nghiệp – khu chế xuất Trongdoanh nghiệp nhà nước những bất cập trong chính sách đãi ngộ cán bộ đượcthể hiện 1 cách rõ ràng khi mà ở nhiều nơi các doanh nghiệp nhà nước đangphải trả mức lương cho nhiều giám đốc, các chuyên gia vượt khung để giữ

Trang 31

người Với Doanh nghiệp Nhà nước, điều này đang có ý nghĩa rất quan trọngtrong nỗ lực cải cách, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản trị củadoanh nghiệp Nhà nước… Một điểm yếu dễ nhận thấy ở các doanh nghiệpViệt Nam là, thiếu vắng những nhà lãnh đạo doanh nghiệp có tầm nhìn toàncầu, có khả năng quản trị kinh doanh một cách khoa học và bài bản

Hàng năm đều có một lượng sinh viên không nhỏ tốt nghiệp các trườngđại học, cao đẳng dạy nghề nhưng tình trạng thiếu hụt lao động có trình độcao vẫn không giảm Do việc đào tạo nhân lực tại các trường trong nước hiệnnay rất yếu, không thể sử dụng được Giáo trình đại học tuy in mới nhưng nộidung cũ mấy chục năm, lạc hậu rất nhiều so với thực tế, không cập nhật đượcthông tin, công nghệ mới… Thế nhưng, nếu doanh nghiệp chủ động cử người

đi đào tạo ở nước ngoài với chi phí cao thì lại gặp khá nhiều khó khăn từ cơquan quản lý Nhà nước Đây là một bất cập trong chính sách đào tạo nguồnnhân lực ở nước ta hiện nay

Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, cơn sốt thiếu lao động đang lan rộng

Vì thế, nếu không giải quyết tốt, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởngkinh tế nói chung và tiến độ đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất của các doanhnghiệp Chính vì thế, để khắc phục sự hẫng hụt nguồn nhân lực, đã có không ítdoanh nghiệp buộc phải đi thuê lao động nước ngoài Tuy nhiên việc thuê laođộng nước ngoài chỉ phù hợp với những vị trí quản lý và cùng không thể đi thuêmãi được Đối với lực lượng công nhân lành nghề, cán bộ quản lý chuyên môn ởtầng trung và tầng thấp nhất thiết phải được đào tạo ngay trong nước

Lực lượng lao động nước ta đông đảo (khoảng 40 triệu lao động vàonăm 2005), nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (khoảng 23% năm2003) Một bộ phận lớn thanh niên trong độ tuổi 18 – 23 (khoảng 80%) bướcvào thị trường lao động, nhưng chưa qua đào tạo nghề Lao động phổ thông

dư thừa lớn, song thiếu lao động kỹ thuật lành nghề, thiếu chuyên gia, doanhnhân, nhà quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao Lực lượnglao động nước ta còn hạn chế về ý thức, tác phong công nghiệp, thể lực và

Trang 32

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực hành nghề chưa đáp ứng tốt nhucầu nhân lực của người sử dụng lao động, nên còn một tỷ lệ đáng kể lao độngqua đào tạo không tìm kiếm được việc làm thích hợp hoặc làm không đúngvới trình độ và nghề được đào tạo So với các nước trong khu vực, thứ bậcxếp hạng về chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn thấp (Việt Nam chỉđạt 3,79/10 so với Trung Quốc là 5,73/10 và Thái Lan là 4,04/10) Nước takhông chỉ thiếu lực lượng lao động kỹ thụât, mà còn thiếu trầm trọng cả độingũ cán bộ hành chính, cán bộ quản lý chất lượng cao.

Bảng 3: số lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 1/7 hàng năm.

Trang 33

cơ cấu lao động cả giao đoạn 2000-2005 lại giảm từ 59,05% xuống còn32,69% Từ năm 2000-2003 tổng số lao động trong doanh nghiệp nhà nướctăng thêm 176411 người (tăng 8,45%) Tuy nhiên trong cơ cấu lao động từnăm 2000-2003 thì tỷ lệ lao động trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước lạigiảm từ 59,05% xuống còn 43,77% Điều này chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽcủa nguồn nhân lực trong 2 khu vực còn lại là doanh nghiệp ngoài nhà nước

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực ĐTNN có sự phát triểnmạnh mẽ, đánh dấu rõ nét quá trình mở cửa, hội nhập ngày sâu rộng của nềnkinh tế nước ta Từ năm 2000 – 2005, số lượng lao động trong khu vực này đãtăng 3 lần và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng tăng lên 2,86 lần

Đầu tư phát triển cho nguồn nhân lực: Thực trạng đầu tư phát

triển nguồn nhân lực trong DNNN được thể hiện qua hai nội dung chủ yếu làđầu tư cho giáo dục và đầu tư cho hoạt động tay nghề

Những năm qua, nhận thực được hậu gia nhập WTO sẽ gặp nhiều khókhăn ở tất cả mọi mặt, trong đó có cả nguồn lao động trong nước, Nhà nước

đã không ngừng tăng chi ngân sách cho lĩnh vực GD&ĐT với giá trị tăngtuyệt đối trong 3 năm liên tiếp gần đây (2006-2008) đều trên dưới 10.000 tỷđồng/năm Theo các báo cáo của Bộ GD&ĐT, ngân sách Nhà nước cho giáodục năm 2006 tăng so với năm 2005 là 13.940 tỷ đồng, năm 2007 tăng so vớinăm 2006 là 11.400 tỷ đồng, năm 2008 dự kiến tăng so với năm 2007 là 9.430

tỷ đồng Riêng phần ngân sách cho chi thường xuyên của năm 2006 là 42.625

tỷ đồng, của năm 2007 là 51.860 tỷ đồngNăm 2001 ngân sách nhà nước chi

Trang 34

cho GD chiếm 15,1%, năm 2002 là 15,6%, năm 2003 là 16,4%, năm 2004 là17,1% và năm 2005 là 18% Tuy nhiên, với tổng số tiền từ ngân sách Nhànước cho giáo dục - đào tạo như năm 2006 là 54.798 tỷ đồng thì ngành giáodục đã dùng tới 81,8% tổng số tiền này để chi thường xuyên, số tiền để chicho đầu tư chỉ là 10.000 tỷ đồng, chiếm 18,2%(70-80% dùng để trả lương chogiáo viên) Tỷ lệ này khi về các địa phương còn tiếp tục mất cân đối nghiêmtrọng hơn Với 40.458 tỷ đồng ngân sách giáo dục rót về các địa phương thì

có tới 34.578 tỷ để dành cho việc chi thường xuyên, chi cho đầu tư chỉ là5.880 tỷ đồng Như vậy, với tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục nhưnăm 2006 thì chủ yếu số tiền này chỉ được dùng vào chi tiêu thường xuyên,tiền dành cho đầu tư hầu như không đáng kể Trong khi đó, tiền đầu tư ở đâyđược tính cho những việc như nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học,trường lớp, đổi mới phương pháp dạy và học Trong các năm 2005, 2004,tình hình chi cũng tương tự khi chi thường xuyên của năm 2005 chiếm tới83,2%, năm 2004 là 82,3% Về việc sử dụng tiền cho các chương trình mụctiêu quốc gia giáo dục - đào tạo cũng có sự "thiên vị" rõ rệt khi riêng việc đổimới chương trình, nội dung sách giáo khoa đã "ngốn" tới 1.120,5 tỷ đồng,trong khi đó, chi cho các chương trình khác như phổ cập giáo dục tiểu học chỉ

có 150 tỷ; đưa cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường 78 tỷ; bồi dưỡnggiáo viên, tăng cường cơ sở vật chất hệ thống trường sư phạm 275 tỷ; tăngcường cơ sở vật chất trường học 516 tỷ; tăng cường năng lực đào tạo nghề

500 tỷ Chúng ta đã huy động được nhiều nguồn lực của xã hội đầu tư choGD: cùng với việc tăng chi ngân sách nhà nước cho GD, nguồn tài chínhngoài ngân sách nhà nước tăng lên đáng kể, chiếm khoảng 25%-30% tổngnguồn tài chính đầu tư cho lĩnh vực GD, trong đó học phí và đóng góp xâydựng trường khoảng 25% Nguồn vốn vay ODA cho ngành giáo dục hằngnăm khoảng từ 4.200 đến 4.600 tỷ đồng – tức ở mức 260 triệu đến 280 triệuđô-la Mỹ (riêng năm 2006 chỉ còn 1.200 tỷ đồng tương đương với chừng 75triệu đô-la Mỹ) Theo so liệu năm 2005, nguồn vốn vay ODA (4.640 tỷ đồng)

Trang 35

chiếm trên 10% tổng chi ngân sách cho giáo dục (42.943 tỷ đồng); chiếm trên60% khoản chi đầu tư cho giáo dục (7.226 tỷ đồng)

Bảng 6: CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC

ổn định giữa các năm Nguồn vốn đào tạo nghề tăng nhưng vẫn còn thấp,chưa tương xứng với chỉ tiêu đào tạo Và thực tế đã có nhiều tổ chức tư nhântrong nước, nước ngoài đã tham gia vào lĩnh vực này, đặc biệt là các trườngdạy nghề có quy mô nhỏ, đã và đang đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực phục

vụ, lĩnh vực đào tạo lai cũng là một tất yếu Tiến trình sắp xếp, đổi mới, pháttriển DNNN gắn liến với tiến trình sắp xếp lại tổ chức, bố trí lại lao độngtrong doanh nghiệp theo hướng sử dụng hiệu quả hơn và nâng cao năng suấtlao động của khu vực DNNN Tiến trình đó, đồng thời với quá trình đầu tư

Trang 36

chiều sâu, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nên vấn đề dôi dư lao động làthực tế khách quan cần được giải quyết

Trong những năm gần đây ngân sách Nhà nước không ngừng tăng chicho đầu tư phát triển nguồn nhân lực Năm 2004, kinh phí cho đào tạo nghềtăng thêm 70 tỉ đồng so với 2003 (nâng tổng kinh phí đào tạo nghề lên 200 tỉđồng), trong đó có 30 tỉ để dạy nghề cho thanh niên dân tộc và thanh niênnông thôn Năm 2005, Nhà nước cấp 11,5 tỉ đồng từ ngân sách vào lĩnh vựcdạy nghề ngắn hạn từ 6 đến 11 tháng dành cho người khuyết tật Năm 2006,Nhà nước cấp 18,5 tỉ đồng, năm 2007 cấp 20 tỷ đồng từ ngân sách cho lĩnhvực này trong đó Hiệp hội sản xuất, kinh doanh của người tàn tật Việt Namđược nhận 10% để tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật Các DNNN đãhình thành các quy đào tạo nghề như VINACONEX, TCT Bưu chính viễnthông, TCT Than, TCT Thép… Tuy nhiên với lĩnh vực dạy nghề, đầu tư từngân sách nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhất là trong dạy nghề dài hạn,

do thời gian học dài, chi phí đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị, nguyên vật liệuthực tập tốn kém, trong khi người học chủ yếu là người nghèo nên khả năngđóng góp chỉ khoảng 10%, còn 90% nguồn đầu tư là từ ngân sách nhà nước.Các cơ sở dạy nghề ngoài công lập hiện nay cũng mới chỉ tập trung đào tạonhững nghề đơn giản, đầu tư thấp, chưa có nhiều cơ sở đào tạo nghề cơ khí,

kỹ thuật cao, quy mô tuyển sinh học sinh mới chỉ đạt 35,6%, rất thấp so vớichỉ tiêu 60% vào năm 2010 Quy mô đầu tư cho hoạt động dạy nghề chưanhiều và không ổn định giữa các năm Nguồn vốn đào tạo nghề tăng nhưngvẫn còn thấp, chưa tương xứng với chỉ tiêu đào tạo Và thực tế đã có nhiều tổchức tư nhân trong nước, nước ngoài đã tham gia vào lĩnh vực này, đặc biệt làcác trường dạy nghề có quy mô nhỏ, đã và đang đào tạo, đào tạo lại nguồnnhân lực phục vụ

2.2/ Thực trạng KHCN và đầu tư phát triển KHCN trong DNNN.

Trang 37

Thực trạng khoa học công nghệ:

Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷqua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và caođẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìntiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong

đó, có khoảng 34 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực KH&CNthuộc khu vực nhà nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt độngKH&CN của đất nước Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp thutương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trong một sốngành và lĩnh vực

Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CNvới trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế,trong đó có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao đẳng,trong đó có 30 trường ngoài công lập

2006 qua khảo sát cho thấy, có một sự khác biệt cơ bản giữa doanhnghiệp VN với doanh nghiệp thế giới Trong khi họ có mối quan tâm hàngđầu đến khoa học công nghệ, thị trường thì doanh nghiệp Việt Nam lại chủyếu quan tâm đến cơ chế chính sách

Cuộc điều tra được tiến hành với hơn 41.000 doanh nghiệp tại 30 tỉnhthành phố phía Bắc Bộ Kế hoạch Đầu tư cho rằng, đây là những số liệu đángtin cậy, có thể sử dụng vào mục đích nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp

Trong số gần 11.000 doanh nghiệp được điều tra thì có 39,6% doanhnghiệp có nhu cầu thông tin về cơ chế chính sách liên quan, 25,9% doanhnghiệp có nhu cầu về thông tin công nghệ mới, 22,6% có nhu cầu thông tin vềthị trường Điều này cho thấy, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các thông tin

về kỹ thuật và công nghệ trong khi đây là những thông tin phục vụ trực tiếpcho sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường

Trang 38

Trong khi đó, thực tế, chỉ có khoảng 8% doanh nghiệp đạt trình độkhoa học tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.Điều này cho thấy các doanh nghiệp trong nước có năng lực công nghệ và khảnăng cạnh tranh rất thấp.

Về tình hình sử dụng công nghệ thông tin, tuy có đến 60,2% doanhnghiệp sử dụng máy vi tính, nhưng số doanh nghiệp sử dụng mạng nội bộ chỉ

có 11,55% và chỉ có 2,16% xây dựng Website Thực trạng số doanh nghiệptham gia thương mại điện tử và khai thác thông tin qua mạng thấp là một cảntrở lớn đối với quá trình hội nhập

Mặc dù rất yếu về công nghệ nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật côngnghệ của doanh nghiệp lại có tỷ lệ rất thấp: chỉ có 5,6% doanh nghiệp có nhucầu đào tạo Các chuyên gia thuộc Bộ Kế- hoạch Đầu tư cảnh báo rằng, điềunày cần phải được khắc phục trong thời gian trước mắt vì đây là yếu tố quyếtđịnh thành bại của doanh nghiệp trên thương trường

Trong lĩnh vực đào tạo, việc chú trọng đến học hỏi kinh nghiệm từ cácdoanh nhân thành đạt được quan tâm nhiều nhất với 46,39% trong số hơn26.000 doanh nghiệp được hỏi có câu trả lời Bên cạnh đó có 42,24% sốdoanh nghiệp muốn các chuyên gia quản lý nhà nước giảng dạy; trong khi cácnhà nghiên cứu và nhà tư vấn ít được đề nghị hơn chỉ ở mức 15,2%

Qua phản ánh của các doanh nghiệp, những khó khăn đã được nói đếnrất nhiều của doanh nghiệp về vốn, xúc tiến thương mại, đất đai tiếp tục đượcnhắc đến nhiều lần Trong số hơn 32.000 doanh nghiệp đề cập tới các vấn đềnày thì có 70% doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn; 50,6% gặp khó khăn về

mở rộng thị trường, 41% gặp khó khăn về đất đai

Cụ thể, nếu như mới chỉ có 32% doanh nghiệp được tiếp cận với cácnguồn vốn nhà nước mà chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệpnhà nước được cổ phần hoá, thì gần 70% còn lại vẫn rất khó tiếp cận cácnguồn vốn chính thức Qua điều tra, các doanh nghiệp cũng cho biết chỉ có

Trang 39

5,2% được tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, gần 23% rất khótiếp cận và có đến hơn 70% không hề được tham gia

Cuộc điều tra cũng cho thấy có đến 90% doanh nghiệp có quy mô dưới

5 tỷ đồng Các chuyên gia cho rằng, với quy mô nhỏ bé và khả năng cạnhtranh kém, nếu bản thân các doanh nghiệp không tập trung đổi mới, nâng cấpthiết bị công nghệ thì rất khó cạnh tranh Bên cạnh đó, cần hình thành cácchương trình riêng để trợ giúp nhằm hỗ trợ khu vực này nâng cao năng lựccạnh tranh như: nhanh chóng lập các quỹ bảo lãnh tín dụng, xây dựng mộtchương trình xúc tiến xuất khẩu dành riêng cho các doanh nghiệp vừa vànhỏ

Đầu tư phát triển chi cho khoa học công nghệ năm 2003 chỉ chiếm 2%ngân sách, rất nhỏ so với các nước Khu vực doanh nghiệp, cả quốc doanh vàngoài quốc doanh, chưa đóng góp được bao nhiêu cho nghiên cứu phát triểnkhoa học-công nghệ

Theo sách khoa học-công nghệ VN năm 2003, cả nước có 3.600 côngtrình nghiên cứu khoa học được công bố, trên 7.000 bài báo khoa học đăng tảitrong nước Trong khi đó, chỉ có 400 công trình được đưa ra công bố ở cáctạp chí nước ngoài Ngay cả trong 400 công trình này, chỉ có 1/3 công trình làdùng nguồn nội lực trong nước; còn lại là do hợp tác quốc tế

Thực tế của nền sản xuất VN còn quá thấp, phần lớn các doanh nghiệp(nhà nước) đòi hỏi đối với khoa học-công nghệ chưa thật bức bách Chính vìcòn khó khăn để tìm con đường đi vào sản xuất nên nhà khoa học mệt mỏi

Các doanh nghiệp của chúng ta vẫn phải du nhập công nghệ hiện đạicủa nước ngoài Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước (còn đượcbảo hộ khá nặng) không mặn mòi lắm với khoa học-công nghệ trong nước bởinhiều lý do Vì khi đầu tư thử nghiệm công nghệ mới nào của VN cũng có thểgặp rủi ro Còn mua của nước ngoài có thể đắt hơn, nhưng ít rủi ro, chưa kể

có thể có yếu tố tiêu cực Xin lưu ý rằng, nghiên cứu triển khai là khâu rất tốn

Trang 40

kém, mà thiếu nó thì độ rủi ro trong áp dụng thành tựu khoa học-công nghệrất cao

Đầu tư phát triển cho khoa học công nghệ trong hệ thống DNNN:

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nước ta hiện nay là đẩynhanh tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước để đưa nước ta thànhnước công nghiệp vào năm 2020, trong đó việc ứng dụng khoa học công nghệ(KHCN) là thách thức đặt ra hiện nay

Trong nhiều năm qua Nhà nước đã ưu tiên nhiều nguồn lực tài chínhdành cho KHCN, tạo điều kiện thuận lợi để ngành này tham gia vào tất cả cáclĩnh vực trong cả nước, từng bước giữ vai trò dẫn dắt Từ những kết quả đầu

tư ban đầu đến nay theo đánh giá KHCN Việt Nam đã có những bước đi đúnghướng tạo nền tảng cho những bước đi tiếp theo

Từ xuất phát điểm rất thấp Việt Nam trở thành nước có công nghệ viễnthông phát triển nhanh, hệ thống năng lượng đủ đáp ứng nhu cầu nền kinh tếquốc dân, ngành công nghệ sinh học có khả năng tạo ra nhiều cây trồng vậtnuôi có năng suất cao, vượt trội Mới đây để tạo tiền đề cho việc thúc đẩykinh tế của các vùng miền năm 2003, Chính phủ đã thông qua kế hoạch đầu

tư 45.000 tỷ đồng cho 20 công trình giao thông và 16 công trình thuỷ lợi lớn

từ 2003 đến 2010 Đây là môi trường tốt để KHCN nước ta có điều kiện tiếpcận với các ngành kinh tế kỹ thuật trên diện rộng

Cùng với việc ưu tiên đầu tư hằng năm từ các nguồn vốn tín dụng, ngânsách, nhà nước đã cắt giảm mạnh mẽ hàng rào thuế quan theo cam kết hộinhập quốc tế và sửa đổi chính sách thuế xuất nhập khẩu theo hướng bảo hộ

có thời gian và có chọn lọc, xoá bỏ bao cấp dưới mọi hình thức đã góp phầnlàm tăng khả năng tiếp cận với thị trường toàn cầu về các luồng công nghệmới Việc cắt giảm bảo hộ trong nước cũng góp phần đáng kể vào việc lànhmạnh hoá quá trình đầu tư, phân bổ nguồn vốn vào các khu vực có năng suất,

Ngày đăng: 04/07/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Vốn đầu tư theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế - Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển. Phân tích tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước” pps
Bảng 2 Vốn đầu tư theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế (Trang 27)
Bảng 6: CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC - Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển. Phân tích tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước” pps
Bảng 6 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC (Trang 33)
Bảng 8: hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN giao đoạn 2000 – 2005 - Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển. Phân tích tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước” pps
Bảng 8 hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN giao đoạn 2000 – 2005 (Trang 43)
Bảng 11: thu nhập bình quân một lao động/tháng của các loại hình doanh nghiệp: - Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển. Phân tích tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước” pps
Bảng 11 thu nhập bình quân một lao động/tháng của các loại hình doanh nghiệp: (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w