1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

tóm tắt bài giảng luật hành chính - đh mở tp. hcm

132 2,6K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tóm Tắt Bài Giảng Luật Hành Chính - ĐH Mở TP. HCM
Tác giả Lê Minh Nhựt
Trường học Trường Đại Học Mở TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Tóm Tắt Bài Giảng
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những chế định chủ yếu thuộc phần này bao gồm: - Các nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước; - Vị trí, thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị trong bộ máy hành chính nhà nước; - Thủ tục hành

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT KINH TẾ

Trang 2

ủan lý Nhà nước là hoạt động không thể thiếu khi con người sống quần tự thành xã hội và xuất hiện Nhà nước Hoạt động này không những giúp xã hội ổn định, trật tự mà còn là điều kiện cần thiết để xã hội phát triển Ngòai ra, các qui định này cũng góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân được Hiến pháp công nhận Vì vậy, trong hệ thống pháp luật của tất cả các nước đều có những qui định về pháp luật hành chính để điều chỉnh các hành vi nầy

Tại nước ta, kể từ khi áp dụng chủ trương đổi mới nhằm hòan thiện hệ thống pháp luật trong nước, phù hợp với tiến trình hội nhập với thế giới, các qui định về luật hành chính ngày càng mở rộng và chi phối rất nhiều lãnh vực có liên quan

Tài liệu tóm tắt về Luật hành chính nầy được soạn dựa trên những qui định pháp luật hiện hành nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản liên quan đến hoạt động quản lý Nhà nước như : hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước, các văn bản và thủ tục hành chính, qui chế pháp lý của cán bộ, công chức, qui định về khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện hành chính,… Tuy nhiên, để phù hợp với môn học diễn giảng trong thời lượng khỏang 50 tiết học nên trong một số vấn đề, tài liệu không đi sâu vào chi tiết

Nội dung của tài liệu phân tích các vấn đề chính sau đây:

- Những kiến thức chung về luật hành chính

- Qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính

- Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước

- Thủ tục hành chính và văn bản hành chính nhà nước

- Qui chế pháp lý của cán bộ, công chức, viên chức

- Qui định về khiếu nại, tố cáo

- Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính

- Khiếu kiện hành chính

Các nội dung trên sẽ được bố cục trong 8 chương của tập tài liệu

Hy vọng tài liệu nầy sẽ giúp các bạn sinh viên làm quen được với các qui định về pháp luật hành chính, một lãnh vực không kém phần quan trọng trong giai đọan xây dựng đất nước hiện nay

TP.Hồ Chí Minh, tháng 3/ 2012

LÊ MINH NHỰT

Trang 3

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LHC

3 VAI TRÒ CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ MỐI QUAN HỆ

VỚI CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC

1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT, HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, LUẬT HÀNH CHÍNH :

1.1 Khái niệm pháp luật :

Theo từ nguyên, pháp luật là những tiêu chuẩn mẫu mực mà mọi người phải theo và nên theo, phản ánh ý niệm công lý, sự ngay thẳng, đúng đắn

Khi xã hội có Nhà nước, bên cạnh các các qui phạm xã hội, còn có những quy tắc xử sự rất quan trọng do nhà cầm quyền đặt ra gọi là các qui phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trong các quan hệ xã hội cụ thể

Tổng hợp các qui tắc xử sự nầy được gọi chung là pháp luật

Các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của qui phạm pháp luật được gọi là các quan hệ pháp luật

1.2 Khái niệm hệ thống pháp luật :

Hệ thống pháp luật gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật của một nước và giữa các qui phạm nầy được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc gồm nhiều từng nấc và có mối liên hệ nhau chặt chẽ

Hệ thống pháp luật xếp theo cấp độ từ hẹp đến rộng gồm các bộ phận mang tên: qui phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật, hệ thống pháp luật

1.2.1 Qui phạm pháp luật :

Qui phạm pháp luật là những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành nhằm mô hình hóa tổng quát các hành vi dự liệu và cách xử sự cần phải làm trong từng trường hợp cụ thể Đây là phần tử nhỏ nhất trong hệ thống pháp luật nhưng quan trọng nhất hình thành nên hệ thống pháp luật Qui phạm pháp luật có cấu trúc riêng Giữa các qui phạm pháp luật có mối liên hệ nhau rất chặt chẽ

Trang 4

Bao gồm những chế định pháp luật cùng loại hay nói khác đi ngành luật gồm một nhóm các qui phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội (quan hệ pháp luật) trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Giữa các ngành luật cũng có mối liên hệ nhau

Hệ thống pháp luật bao gồm tất cả các ngành luật của một nước

1.3 Khái niệm luật hành chính :

Xét về mặt thẩm quyền hoạt động, các cơ quan trong bộ máy nhà nước nước ta bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước, cơ quan kiểm sát và cơ quan xét xử

Trong đó, các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước là cơ quan chấp hành của

cơ quan quyền lực, được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ từ trung ương đến địa phương để trực tiếp quản lý, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội

từ kinh tế, văn hóa đến an ninh, quốc phòng, từ họat động đối nội đến hoạt động đối ngoại Như vậy, trong mối quan hệ và sự phân định về thẩm quyền hoạt động của cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước với các cơ quan nhà nước khác như cơ

quan quyền lực, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử thì khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo một nghĩa hẹp, tức là chỉ giới hạn trong các họat động chấp hành

và điều hành, chủ yếu là của cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước Trên ý nghĩa

đó cũng có thể nói, luật hành chính là ngành luật về quản lý nhà nước

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, với tư cách là một ngành luật độc lập, luật

hành chính là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện họat động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Cũng như các ngành luật khác, hệ thống luật hành chính là sự sắp xếp các quy phạm của luật hành chính thành các chế định cụ thể Trong đó, mỗi chế định điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội Hệ thống pháp luật hành chính được sắp xếp thành phần chung và phần riêng

Phần chung bao gồm các chế định liên quan đến tất cả các ngành, các lĩnh vực của quản lý Nhà nước Những chế định chủ yếu thuộc phần này bao gồm:

- Các nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước;

- Vị trí, thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị trong bộ máy hành chính nhà nước;

- Thủ tục hành chính và văn bản hành chính nhà nước;

- Quy chế pháp lý hành chính đối với cán bộ công chức;

- Trách nhiệm hành chính;

- Chế độ pháp lý về công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Chế độ pháp lý về việc giải quyết các vụ án hành chính;

Phần riêng của luật hành chính bao gồm các chế định điều chỉnh các quan hệ trong quản lý, điều hành các lĩnh vực, các mặt họat động cụ thể của đời sống xã hội: an ninh chính trị, trật tự an tòan xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, y tế, giáo dục, tôn giáo, đối ngoại… trong đó các chế định về quản lý (hành chính) nhà nước về kinh tế và họat động kinh doanh là một bộ phận rất quan trọng của luật hành chính

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LHC:

2.1 Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính :

Đối tượng điều chỉnh là thuật ngữ để chỉ quan hệ xã hội (quan hệ pháp luật) cụ thể chịu sự tác động của qui phạm pháp luật tương ứng

Trang 5

Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ pháp luật chịu sự tác động của các qui phạm pháp luật về hành chính, gồm các nhóm quan hệ sau

đây:

2.1.1 Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội :

Nhóm quan hệ xã hội này là đối tượng điều chỉnh cơ bản của Luật hành chính Thông qua việc thiết lập những quan hệ loại này các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng cơ bản của mình Những quan hệ loại này rất phong phú, chủ yếu là những quan hệ :

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc (giữa Chính phủ với UBND tỉnh, thành phố thuộc trung ương) hoặc giữa cơ quan chuyên môn theo hệ cấp (thí dụ giữa Bộ Giáo dục

và Đào tạo với các Sở Giáo dục và Đào tạo)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn trực thuộc (thí dụ giữa Chính phủ với các Bộ, giữa UBND tỉnh với các Sở)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp tỉnh nhằm thực hiện chức năng theo pháp luật (Thí dụ giữa Bộ với UBND tỉnh)

- Giữa những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương, cơ quan này có một số quyền hạn đối với cơ quan kia trong lĩnh vực quản lý chức năng nhất định song giữa các cơ quan đó không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức Các cơ quan này có quyền hạn nhất định đối với các cơ quan chuyên môn khác trong các lĩnh vực chuyên môn mà họ phụ trách (thí dụ giữa Bộ Tài chính với

Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc quản lý ngân sách nhà nước)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương đóng tại phương đó (như giữa UBND Quận với trường Đại học thuộc Bộ)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị cơ sở trực thuộc (như giữa

Bộ Tư pháp với Trường Đại học Luật TP.HCM)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Các tổ chức kinh tế này được đặt dưới sự quản lý thường xuyên của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền (như giữa UBND huyện với các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp trên địa bàn huyện)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội ( như giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức thành viên của Mặt trận)

- Giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch

2.1.2 Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan nhằm ổn định về

tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình

Mỗi loại cơ quan nhà nước có chức năng cơ bản riêng và để hoàn thành chức năng cơ bản của mình, các cơ quan nhà nước phải tiến hành những hoạt động quản

lý hành chính nhất định

Trang 6

Những người lãnh đạo và một bộ phận công chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước được trao quyền tiến hành hoạt động tổ chức trong giới hạn cơ quan Hoạt động này còn được gọi là hoạt động tổ chức nội bộ, khác với hoạt động hướng ra bên ngoài Để cơ quan nhà nước có thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, hoạt động quản lý nội bộ cần được tổ chức tốt, đặc biệt là những hoạt động như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của cơ quan, công việc văn phòng, đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết v.v…

Hoạt động tổ chức nội bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, tạo điều kiện cần thiết cho các cơ quan nhà nứơc thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình

2.1.3 Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được Nhà nứơc trao quyền thực hiện hoạt động quản lí (hành chính) nhà nứơc trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định

Trong thực tiễn quản lí (hành chính) nhà nứơc, trong nhiều trường hợp, pháp luật có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành- điều hành cho cơ quan nhà nứơc khác (không phải là cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức hoặc cá nhân Họat động trao quyền đựơc tiến hành trên cơ sở những lí do khác nhau: chính trị,

tổ chức, đảm bảo hiệu quả v.v Vì vậy, hoạt động quản lí hành chính nhà nứơc không chỉ do các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành

Hoạt động của cơ quan nhà nứơc, tổ chức cá nhân đựơc trao quyền có tất cả những hậu quả pháp lí như hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nhưng chỉ

áp dụng khi thực hiện hoạt động chấp hành- điều hành cụ thể đựơc pháp luật quy định Thí dụ : các tổ chức đoàn thể như Tổng liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,… phối hợp với các cơ quan nhà nước đăt ra những qui định để áp dụng cho các cá nhân, tổ chức có liên quan

Như vậy, căn cứ vào đối tựơng điều chỉnh của Luật hành chính như nêu trên,

có thể định nghĩa Luật hành chính theo cách khác như sau:

Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chình những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản lí hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nứơc xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nứơc, tổ chức xã hội và cá nhân thực hiện hoạt động quản lí hành chính đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định

2.2 Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính

Đối tựơng điều chỉnh là tiêu chuẩn chủ yếu để phân biệt các ngành luật Nhưng cũng có những trường hợp cùng với đối tựơng điều chỉnh còn phải xem xét phương pháp điều chỉnh mới có thể phân biệt rõ ràng cách thức tác động của ngành luật

Phương pháp điều chỉnh là cách thức mà nhà nước áp dụng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật để tác động vào các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đựơc hình thành từ quan hệ “quyền lực- phục tùng” giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên kia là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó Chính mối quan hệ “quyền lực- phục tùng” thể hiện sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lí nhà

Trang 7

nước Sự không bình đẳng đó là sự không bình đẳng về ý chí và thể hiện ở những điểm sau:

- Sự không bình đẳng trong quan hệ quản lí nhà nứơc thể hiện việc chủ thể quản lí có quyền nhân danh nhà nước để áp đặt ý chí của mình lên đối tượng quản

lí Các quan hệ này rất đa dạng nên việc áp đặt ý chí của chủ thể quản lí lên đối tựơng quản lí đựơc thực hiện dứơi những hình thức khác nhau:

+ Hoặc một bên có quyền ra các mệnh lệnh cụ thể hay đặt ra các quy định bắt buộc đối với bên kia và kiểm tra việc thực hiện, phía bên kia có nghĩa vụ thực hiện các quy định mệnh lệnh, mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền (Thí dụ: quan hệ giữa cấp trên với cấp dứơi, giữa thủ trưởng với nhân viên)

+ Hoặc một bên có quyền đưa ra yêu cầu, kiến nghị còn bên kia có quyền xem xét, giải quyết và có thể đáp ứng hay bác bỏ yêu cầu, kiến nghị đó (Thí dụ: Công dân có quyền yêu cầu công an quận, huyện giải quyết cho di chuyển hộ khẩu Công an quận, huyện xem xét có thể chấp nhận yêu cầu (nếu hồ sơ của công dân

đó là hợp lệ) hoặc không chấp nhận (nếu hồ sơ không đầy đủ, không hợp lệ) + Hoặc cả hai bên đều có quyền hạn nhất định nhưng bên này quyết định điều

gì phải đựơc bên kia cho phép hay phê chuẩn hoặc cùng phối hợp quyết định (Thí

dụ : Quan hệ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ khác về việc quyết định hình thức, quy mô đào tạo trong đó hình thức, quy mô đào tạo của các Bộ khác phải đựơc Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp thuận)

- Sự không bình đẳng thể hiện ở chỗ một bên có thể áp dụng các biện pháp cữơng chế nhằm buộc đối tượng quản lí phải thực hiện mệnh lệnh của mình

Sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lí nhà nước luôn thể hiện rõ nét, xuất phát từ quy định pháp luật, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia vào quan hệ đó

Trong thực tiễn quản lí có những trường hợp cơ quan hành chính nhà nứơc ra quyết định do yêu cầu của cơ quan cấp dứơi, đơn vị trực thuộc hay của cá nhân Cũng có nhiều trường hợp trước khi ra quyết định các chủ thể quản lí hành chính nhà nước tổ chức trao đổi, thảo luận về nội dung quyết định với sự tham gia của đại diện cho cơ quan cấp dưới, đơn vị trực thuộc hoặc những đối tượng có liên quan Ngay cả trong những trừơng hợp này quyết định của cơ quan có thẩm quyền vẫn có tính chất đơn phương vì yêu cầu của các đối tựơng có liên quan, của cấp dứơi hoặc ý kiến đóng góp trong các cuộc thảo luận không có tính chất quyết định

mà chỉ là những ý kiến để chủ thể quản lí nhà nước nghiên cứu, xem xét, tham khảo trước khi ra quyết định

Những quyết định hành chính đơn phương đều mang tính chất bắt buộc đối với các đối tựơng quản lí Tính chất bắt buộc thi hành của các quyết định hành chính được bảo đảm bằng các biện pháp cữơng chế nhà nước Tuy nhiên, các quyết định hành chính đơn phương không phải bao giờ cũng đựơc thực hiện trên cơ sở cưỡng chế mà được thực hiện chủ yếu thông qua sự thuyết phục

Tóm lại, phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương Phương pháp này được xây dựng trên nguyên tắc:

- Xác nhận sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước: một bên được nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước

để đưa ra các quyết định hành chính, còn bên kia phải phục tùng những quyết định

ấy

Trang 8

- Bên nhân danh Nhà nứơc, sử dụng quyền lực nhà nước có quyền đơn phương

ra quyết định trong phạm vi thẩm quyền của mình vì lợi ích của nhà nứơc, của xã hội

- Quyết định đơn phương của bên có quyền sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hữu quan và đựơc bảo đảm thi hành bằng cưỡng chế nhà nước

3 VAI TRÒ CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC:

3.1.Vai trò của luật hành chính :

Trong các quyền của nhà nước, quyền quản lý nhà nước là một quyền rất quan trọng Khác với các loại hoạt động khác, hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện thường xuyên liên tục bởi một hệ thống cơ quan đông đảo nhất về số lượng cũng như về biên chế đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước từ cấp trung ương đến tận từng xã, phường, đơn vị cơ sở, nhằm đảm bảo quản lý toàn diện mọi lãnh vực hành chính –chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội của đất nước

Điều này chứng tỏ Luật hành chính có vị trí, vai trò điều chỉnh quan trọng, thể hiện ở các vấn đề mà Luật hành chính điều chỉnh như sau :

3.1.1 Luật hành chính giúp việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội phù hợp với quan điểm, chủ trương của Nhà nước :

Qua nội dung điều chỉnh của Luật hành chính cho thấy vai trò này như sau :

- Các quy phạm hành chính quy định cụ thể các nguyên tắc quản lý (hành chính) nhà nước XHCN Việt Nam, các hình thức áp dụng cụ thể các nguyên tắc ấy trong tổ chức và hoạt động quản lý, cơ chế bảo đảm thực hiện các nguyên tắc ấy

- Các quy phạm của Luật hành chính điều chỉnh mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước – hệ thống cơ quan nhà nước đông đảo, đa dạng và phức tạp nhất Việc điều chỉnh một cách khoa học, chính xác các vấn đề trình tự thành lập, sắp xếp bộ máy, giải thể các cơ quan đó, cũng như các yếu tố quan trọng của địa vị pháp lý các cơ quan này như chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trình tự thành lập, sắp xếp lại, giải thể và phân cấp quản lý đối với các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, cơ sở, quan hệ qua lại giữa chúng với nhau hoặc với các cơ quan quyền lực, xét xử và kiểm sát, trình tự hoạt động …, có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm sự hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu quả của các

cơ quan, đơn vị ấy và của nhà nước nói chung

- Luật hành chính quy định về cán bộ, công chức nhà nước trong thực hiện công vụ Cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý (hành chính) nhà nước là một chủ thể quan trọng, là người trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện nhiệm vụ chức năng quản lý (hành chính) nhà nước, đội ngũ đông đảo gấp nhiều lần so với tổng số cán

bộ công chức trong biên chế hệ thống cơ quan quyền lực, kiểm sát và xét xử Về

cơ bản, thì chế độ phục vụ nhà nước của đội ngũ cán bộ này (vấn đề tuyển dụng, thuyên chuyển, đề bạt, đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn, khen thưởng, chế độ trách nhiệm, v.v…) cũng như của đội ngũ công chức trong hệ thống cơ quan quyền lực, xét xử và kiểm sát là do Luật hành chính điều chỉnh

- Luật hành chính quy định sự tham gia của các tổ chức xã hội, thu hút nhân dân tham gia vào quản lý (hành chính) nhà nước là một hình thức quan trọng, đồng thời với việc phải phân định rõ chức năng của nhà nước và của tổ chức xã hội Điều đó chỉ có thể ấn định được bởi những quy định của Luật hành chính

Trang 9

- Luật hành chính có vai trò cụ thể hóa, chi tiết hóa quy định về quyền, nghĩa

vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, đồng thời trong nhiều lãnh vực còn quy định bổ sung những quyền và nghĩa vụ mới ; mặt khác, còn định

ra cơ chế thực hiện, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân, qui định các biện pháp xử lý hành chính đối với các hành vi xâm phạm tới quyền, tự do của công dân

- Luật hành chính là ngành luật quy định những giới hạn, những hình thức và phương pháp tác động của các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước đối với những đối tượng bị quản lý Các quy định này là kết quả của sự tìm kiếm các phương án tác động tối ưu, có ý nghĩa rất quan trọng bảo đảm hiệu quả hoạt động của mọi mắt xích trong cơ chế quản lý (hành chính) nhà nước về kinh tế, văn hóa-

xã hội và hành chính - chính trị

- Luật hành chính cũng nêu những quy định có tính chất bắt buộc chung (như quy tắc bảo vệ sức khỏe, vệ sinh môi trường, bảo vệ thiên nhiên, giao thông, vận tải, phòng cháy, chữa cháy…) có ý nghĩa to lớn bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của các đối tượng bị quản lý (doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cơ sở), bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho con người, bảo vệ và bảo tồn môi trường, tạo điều kiện sống

và làm việc bình thường cho người lao động Luật hành chính còn điều chỉnh hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện các quy tắc bắt buộc chung ấy và quy định các biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm, trình tự và thủ tục xử phạt Trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy tắc ấy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Hoạt động hành chính và hoạt động của đối tượng bị quản lý phải tuân theo thủ tục do Luật Hành chính quy định Do vậy, ngành luật này có vai trò quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính nhà nước

Ngoài những vấn đề có tính liên ngành kể trên thì Luật hành chính là công cụ điều chỉnh chủ yếu trong mọi ngành kinh tế, văn hóa- xã hội và hành chính- chính trị Luật hành chính đặt ra những quy chế đặc biệt bảo đảm an ninh quốc gia và trật

tự xã hội (như quy chế biên giới quốc gia, quy chế bảo vệ tài liệu bí mật nhà nước, quy chế sử dụng vũ khí, súng săn, chế độ quản lý hộ khẩu, quy chế người nước ngoài và người không quốc tịch,v.v…) Từ đó cho thấy rõ vai trò quan trọng của Luật hành chính trong quản lý mọi mặt đời sống xã hội nói chung, và bảo vệ đất nước, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội nói riêng

3.1.2 Luật hành chính góp phần lớn trong việc xây dựng và hòan thiện bộ máy nhà nước và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay:

Thực hiện đường lối đổi mới mà Đảng và Nhà nước đã nêu, Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới: từ đổi mới tư duy đến đổi mới các mặt họat động kinh tế, văn hóa, xã hội mà trọng tâm là đổi mới kinh tế Nhờ đường lối và bước đi thích hợp, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã thay thế cho nền kinh

tế kế họach hóa tập trung theo cơ chế bao cấp trước đây Kết quả đó đã đưa đất nước bước sang một thời kỳ mới của phát triển với những cơ hội và những thách thức mới

Sự phát triển mạnh mẽ với những đòi hỏi mới và to lớn của nền kinh tế đã đặt

ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới của bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước hình thành trong nền kinh tế kế họach hóa tập trung bao cấp trước đây đã tỏ ra bất cập với yêu cầu mới của nền kinh tế cả về tổ chức và trình độ, năng lực Do vậy, bộ

Trang 10

máy hành chính Việt Nam cần phải có những bước cải cách quan trọng được xác định bởi các qui phạm về luật hành chính :

+ Cải cách thể chế hành chính nhà nước bao gồm việc cải cách thủ tục hành

chính, thủ tục giải quyết các khiếu nại của dân, thủ tục lập pháp, lập quy và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật

+ Chấn chỉnh tổ chức và quy chế họat động của bộ máy nhà nước nói chung,

của hệ thống hành chính nói riêng; từ đó tạo ra mối quan hệ hợp tác, thân thiện giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật

+ Xây dựng, kiện tòan đội ngũ cán bộ, công chức để từ đó nâng cao hiệu quả

của việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ

Như vậy, Luật hành chính đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hòan

thiện bộ máy nhà nước và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

3.2 Quan hệ của Luật hành chính với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật

3.2.1 Luật hành chính với Luật hiến pháp :

Luật hiến pháp (hay còn gọi là Luật Nhà nước) có vị trí chủ đạo trong hệ thống pháp luật, vì các quan hệ xã hội mà Luật hiến pháp điều chỉnh là cơ bản nhất, quan trọng nhất, Luật hiến pháp quy định các chính sách cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại, chế độ kinh tế, chính trị ,văn hóa- xã hội, các nguyên tắc

tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam, cơ sở quan hệ giữa nhà nước và công dân (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quốc tịch), thiết lập hệ thống bộ máy nhà nước, những nét cơ bản của địa vị pháp lý của chúng (vị trí, chức năng, thẩm quyền), chế độ bầu cử đại biểu của cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật hiến pháp rộng hơn đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính Hiến pháp là văn bản cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng là văn bản cơ bản chứa các quy phạm Luật hiến pháp Hiến pháp và các văn bản khác của Luật hiến pháp quy định những vấn đề có tính nguyên tắc làm cơ sở, nền tảng cho hoạt động quản lý Luật hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung các quy định của Luật hiến pháp, đặt ra cơ chế bảo đảm thực hiện chúng, đặc biệt là những quy định về tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước

3.2.2 Luật hành chính với Luật dân sự

Luật hành chính trong một số trường hợp cũng điều chỉnh quan hệ tài sản Nhưng quan hệ tài sản do Luật hành chính điều chỉnh bằng phương pháp quyền lực- phục tùng vì tài sản trong quản lý (hành chính) nhà nước là công sản; còn quan hệ tài sản trong Luật dân sự có tính chất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự

Các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước có thể trực tiếp điều chỉnh quan hệ tài sản bằng cách ra quyết định mang tính chất quyền lực nhà nước để phân phối tài sản cho các cơ quan quản lý cấp dưới, các tổ chức kinh tế, quyết định chuyển giao tài sản giữa các cơ quan, tổ chức đó Một số cơ quan quản lý có ra quyết định tịch thu, kê biên tài sản hoặc phạt tiền Nhưng trong điều kiện đổi mới cơ chế quản

lý hiện nay, thì các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước thường điều chỉnh quan

hệ tài sản một cách gián tiếp thông qua các quyết định về kế hoạch, tiêu chuẩn chất lượng, về cơ chế định giá … Trên cơ sở các quyết định quản lý (hành chính) nhà nước, đối tượng bị quản lý ký kết các hợp đồng dân sự về sản xuất, mua, bán sản

Trang 11

phẩm, v.v… Trong hoạt động này công dân cũng có thể tham gia, nhất là trong nền kinh tế nhiều thành phần như hiện nay Các hợp đồng dân sự về sử dụng điện, nước, nhà ở và dịch vụ công cộng khác giữa các cơ quan quản lý với công dân hay với các cơ quan, tổ chức khác cũng căn cứ vào các quy định của Luật hành chính Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật dân sự Nhưng ở đây, các cơ quan

đó không hoạt động với tư cách trực tiếp thực hiện chức năng nhà nước, không phải là chủ thể của hoạt động chấp hành và điều hành, mà với tư cách một pháp nhân - chủ thể của pháp luật dân sự Thí dụ, cơ quan quản lý có thể ký kết hợp đồng thuê hoặc cho thuê nhà cửa, địa điểm, điện thoại, mua thiết bị máy móc và các hàng tiêu dùng, v.v…

Quan hệ giữa Luật hành chính và Luật dân sự thể hiện chủ yếu ở điểm: Luật hành chính trong nhiều trường hợp là công cụ, phương tiện bảo vệ các quan hệ pháp luật dân sự khi bị xâm phạm, đồng thời là công cụ, phương tiện để đưa các quy phạm pháp luật dân sự vào đời sống xã hội

3.2.3 Luật hành chính với Luật lao động

Nhiều quy phạm của Luật hành chính và Luật lao động xen kẽ, phối hợp để điều chỉnh cùng một vấn đề cá biệt- cụ thể, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới hoạt động công vụ, lao động của cán bộ, công chức nhà nước

Nội dung của văn bản cá biệt của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực quan hệ lao động do Luật lao động quy định, còn trình tự ban hành do Luật hành chính qui định Thí dụ, công dân có đủ các điều kiện cần thiết có thể ký hợp đồng lao động với cơ quan nhà nước (các điều kiện đó và trình tự ký hợp đồng, nội dung hợp đồng lao động do Luật lao động quy định), nhưng thủ trưởng cơ quan là người ra quyết định cuối cùng về việc nhận ngừơi vào làm việc (hình thức quyết định, trình

tự ban hành quyết định do Luật hành chính quy định) Cán bộ, công chức, người lao động nói chung có quyền nghỉ ngơi theo quy định của Luật lao động, nhưng quyền đó được thực hiện nhờ có quyết định của thủ trửơng cơ quan qua việc cho nghỉ phép…Vì vậy, nhiều khi quan hệ pháp luật hành chính là phương tiện thực hiện quan hệ pháp luật lao động Nhưng ngược lại có khi quan hệ pháp luật lao động lại là tiền đề của quan hệ pháp luật hành chính Thí dụ : công chức vi phạm

kỷ luật lao động trong quá trình thực thi công vụ là cơ sở để cơ quan hành chính Nhà nứơc ra quyết định kỷ luật Nhà nứơc thông qua các cơ quan của mình tiến hành kiểm tra, giám sát công tác bảo hộ lao động và quy tắc an toàn lao động Hoạt động này do Luật hành chính quy định, nhưng bản thân các quy tắc bảo hộ và an toàn lao động là thuộc phạm vi điều chính của Luật lao động

Luật hành chính và Luật lao động cũng điều chỉnh chế độ phục vụ, hoạt động công vụ nhà nứơc Ở đây rất khó phân biệt các quy phạm của hai ngành luật vì chúng đan xen vào nhau Dù là cán bộ, công chức nhà nứơc nhưng trong nhiều trừơng hợp vẫn có thể ký những hợp đồng lao động Các điều kiện cơ bản để đựơc tuyển dụng vào biên chế nhà nứơc, quyền đựơc nghỉ ngơi, đựơc trả lương phù hợp với thành quả lao động, đựơc dữơng bệnh, trách nhiệm bồi thừơng khi gây thiệt hại cho tài sản nhà nứơc hoặc trách nhiệm khi vi phạm kỷ luật lao động, do Luật lao động diều chỉnh Nhưng trình tự thực hiện các vấn đề này do quy phạm luật hành chính quy định Trong nhiều trừơng hợp các quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan quản lý ban hành nhưng quy định cụ thể, điều kiện và thủ tục thực hiện các quyền và chế độ khác do pháp luật lao động quy định

Trang 12

3.2.4 Luật hành chính và Luật tài chính :

Luật hành chính quan hệ rất chặt chẽ với Luật tài chính, là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động tài chính của nhà nứơc, trứơc hết là quan hệ thu chi ngân sách, phân phối nguồn vốn của nhà nứơc (chủ yếu mang tính chất tiền tệ) tức là nguồn thu nhập quốc dân

Luật tài chính và Luật hành chính đều điều chỉnh hoạt động tài chính nhà nứơc, một bộ phận hoạt động chấp hành và điều hành nhà nứơc và đều sử dụng phổ biến phương pháp mệnh lệnh Do đó, có quan điểm cho rằng Luật tài chính là một bộ phận của Luật hành chính nhưng do tính chất quan trọng đặc biệt của nhóm quan

hệ xã hội về hoạt động tài chính, nên được tách ra thành một ngành luật độc lập Nhưng thực chất, Luật tài chính có nguồn gốc không chỉ từ Luật hành chính,

mà còn từ Luật hiến pháp và một phần nhỏ từ Luật dân sự Luật hiến pháp quy định các chính sách và những vấn đề cơ bản về hoạt động tài chính của nhà nước Các nguyên tắc của Luật dân sự đựơc áp dụng trong bản thân một số hoạt động tài chính như tín dụng, thuế… còn Luật tài chính đa phần là điều chỉnh bản thân các quan hệ tài chính (như tín dụng, ngân sách, thuế, …) một dạng đặc biệt của quan

hệ kinh tế liên quan đến việc sử dụng nguồn tiền nhà nứơc

Các quy phạm pháp luật quy định thẩm quyền của các cơ quan quản lý công tác tài chính (Thí dụ: Bộ Tài chính) đồng thời là quy phạm của Luật hành chính và Luật tài chính Vì vậy, để phân biệt, cần xem xét quy phạm cụ thể nào xác định nội dung các quyết định của các cơ quan tài chính, đó là quy phạm Luật tài chính; quy phạm nào quy định vấn đề tổ chức cơ cấu bộ máy và tổ chức công tác của các cơ quan đó, thì đó là quy phạm Luật hành chính

Ngoài ra Luật hành chính còn quy định cơ chế kiểm toán nhằm đảm bảo sự đúng đắn trong các quan hệ tài chính do Luật tài chính điều chỉnh

sự (do tái phạm, vi phạm nhiều lần, hoặc vi phạm đã gây hay có thể gây hậu quả nghiêm trọng)

Quy phạm luật hành chính quy định hành vi nào là vi phạm hành chính, nhưng hành vi trong số đó rất khó phân biệt với tội phạm Vì vậy, muốn xác định những hành vi đó là tội phạm hay vi phạm hành chính thì cần phân tích đồng thời các quy phạm tương ứng của cả hai ngành luật Cần lưu ý rằng tội phạm khác với vi phạm hành chính ở mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn Do đó, hình phạt khác với những hình thức phạt và biện pháp cữơng chế khác mà Luật hành chính quy định áp dụng đối với chủ thể vi phạm hành chính Trình tự xử lý và chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và tội phạm cũng khác nhau

3.2.6 Luật hành chính và Luật đất đai :

Luật đất đai là ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà nứơc với tư cách là người thống nhất quản lý nhà nứơc về đất đai và ngừơi sử dụng đất đai Đó là

Trang 13

những quan hệ liên quan đến đất đai, khách thể của quyền sở hữu toàn dân, đựơc nhà nứơc bảo vệ

Trong quan hệ Luật đất đai, với tư cách là người thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, Nhà nứơc giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Trên cơ sở quyết định giao đất của cơ quan hành chính nhà nứơc có thẩm quyền làm nẩy sinh quan hệ đất đai

Các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nứơc giám sát người sử dụng đất đai đúng mục đích, bảo đảm hiệu quả kinh tế khi sử dụng đất, … Trong những trừơng hợp do luật định, Nhà nước có quyền đơn phương thu hồi đất, xử phạt hành chính ngừơi sử dụng trong quan hệ đất đai Như vậy, Luật hành chính là phương tiện thực hiện Luật đất đai, bảo đảm, bảo vệ các quan hệ do Luật đất đai điều chỉnh… Trong cơ chế thị trừơng hiện nay, quan hệ đất đai có thể phát sinh, thay đổi, chấm dứt trên cơ sở hợp đồng về quyền sử dụng đất

Tóm lại, là một bộ phận trong hệ thống pháp luật, Luật hành chính có mối liên

hệ chặt chẽ với các bộ phận pháp luật khác, đồng thời Luật hành chính cũng đựơc phân biệt với các ngành luật khác bởi tính chất quan hệ xã hội và cách thức mà ngành luật này điều chỉnh

Đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt Luật hành chính với các ngành luật khác là tính chất quyền lực – phục tùng của quan hệ xã hội do Luật hành chính điều chỉnh

Từ đó các quy phạm Luật hành chính đặt ra những qu tắc xử sự nhằm buộc và cấm đoán, cho phép và định hứơng cho hành vi quản lý và hành vi phục tùng sự quản

Tuy nhiên, từ hành chính cai trị chuyển sang hành chính phục vụ, phạm vi điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính ngày nay phần nào “mềm dẻo” “linh hoạt” hơn so với trước đây

Trang 14

1.1 Khái niệm và đặc điểm của qui phạm pháp luật hành chính :

1.1.1 Khái niệm qui phạm pháp luật hành chính :

Trong hoạt động quản lý (hành chính) nhà nước, các chủ thể quản lý nhà nước cần đặt ra qui tắc xử sự để định ra các khuôn mẫu xử sự chung cho cá nhân, tổ chức (đối tượng quản lý) thực hiện trong những tình huống được dự liệu trước và

Trang 15

có thể lặp lại nhiều lần trong thực tiễn Do đặc trưng của quan hệ quản lý (hành chính) nhà nước là quan hệ “ quyền lực – phục tùng”, quan hệ có sự bất bình đẳng

về ý chí giữa các bên tham gia nên việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lọai quan hệ này có những điểm riêng biệt cả về phương pháp điều chỉnh và loại qui phạm điều chỉnh

Những qui tắc xử sự được dùng để điều chỉnh các quan hệ quản lý (hành chính) nhà nước là các qui phạm pháp luật hành chính

Do đó, có thể định nghĩa : qui phạm pháp luật hành chính là một dạng cụ thể

của qui phạm pháp luật, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý (hành chính) theo phương pháp mệnh lệnh đơn phương

1.1.2 Đặc điểm của qui phạm pháp luật hành chính :

Đây là một dạng cụ thể của qui phạm pháp luật nên các qui phạm pháp luật hành chính có đầy đủ các đặc điểm chung của qui phạm pháp luật như : là qui tắc

xử sự chung thể hiện ý chí của nhà nước; được nhà nước bảo đảm thực hiện; là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người về tính hợp pháp Bên cạnh đó, quy phạm pháp luật hành chính có những đặc điểm sau đây:

a) Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành :

Ơ nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành thì các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là chủ thể lập pháp hoặc chủ thể quản lý (hành chính) nhà nước

Việc ban hành pháp luật (hoạt động lập pháp) của Quốc hội, Uy ban thường vụ Quốc hội theo cơ chế thảo luận tập thể, quyết định theo đa số tại các kỳ họp, không

đủ đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ quản lý (hành chính) nhà nước một cách năng động và kịp thời Mặt khác, do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội không có chức năng quản lý (hành chính) nhà nước do đó khó có thể ban hành các quy phạm pháp luật hành chính một cách cụ thể và phù hợp với thực tiễn quản lý từng ngành, lĩnh vực và địa phương Do đó, các quy phạm pháp luật hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được ban hành trên cơ sở cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của hiến pháp, luật và pháp lệnh trong lĩnh vực quản lý (hành chính) nhà nước

Việc quy định thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính cho một số chủ thể quản lý (hành chính) nhà nước mà trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước còn phù hợp với yêu cầu về tính chủ động, sáng tạo trong quản lý (hành chính) nhà nước

b) Các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và hiệu lực pháp lý khác nhau:

Do phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng và tính chất đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn Trong đó có những quy phạm có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước

và chung cho các ngành, lĩnh vực quản lý nhưng cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi một ngành, một lĩnh vực quản lý hay trong một địa phương nhất định

c) Các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc pháp lý nhất định :

Trang 16

Do yêu cầu điều chỉnh thống nhất pháp luật trong quản lý (hành chính) nhà nước, các quy phạm pháp luật tuy có số lượng lớn và có hiệu lực pháp lý khác nhau song chúng hợp thành một hệ thống theo nguyên tắc sau :

- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp ban hành

Các cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là các cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước, khi ban hành các quy phạm pháp luật hành chính cần phải căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Mặt khác, các cơ quan quyền lực nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền trong việc giám sát, phát hiện và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước hay những cơ quan khác do mình quyết định thành lập và những người giữ những chức vụ do mình bầu Thí dụ: Quốc hội có quyền “ bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm soát nhân dân tối cao trái với hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”

- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành

Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất Do đó, đòi hỏi các cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng ý chí hay sự chỉ đạo điều hành của các cơ quan nhà nước cấp trên Sự phục tùng đó trước hết là đối với các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành

- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp ban hành

Trong số các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn, bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng các quyết định, thông tư

Bộ, cơ quan ngang bộ khi ban hành các quy phạm pháp luật hành chính để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong ngành hay lĩnh vực mình phụ trách, phải căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Mặt khác, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm và thẩm quyền kiểm tra, phát hiện và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ Thí dụ: Thủ tướng Chính phủ có quyền: “Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang

bộ trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên”

- Các quy phạm pháp luật hành chính do người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do tập thể cơ quan đó ban hành

Phù hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ, các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo

và cá nhân phụ trách theo nguyên tắc : những công việc quan trọng thuộc thẩm quyền của cơ quan phải được các thành viên của cơ quan thảo luận tập thể và quyết định theo đa số; những công việc khác được phân cấp cho cá nhân người đứng đầu cơ quan Việc ban hành quy phạm pháp luật hành chính của người đứng

Trang 17

đầu cơ quan phải phù hợp với nội dung, mục đích các văn bản quy phạm pháp luật

do tập thể cơ quan ban hành

- Bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các qui phạm pháp luật hành chính

do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị pháp lý ban hành :

Thực tiển quản lý nhà nước đòi hỏi nhà nước phải bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các qui phạm pháp luật hành chính do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị pháp lý ban hành như :

+ Các chủ thể có thẩm quyền ban hành qui phạm pháp luật hành chính có trách nhiệm kiểm tra và bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các qui phạm hành chính

- Các qui phạm pháp luật phải được ban hành đúng trình tự, thủ tục và dưới hình thức nhất định do pháp luật qui định

Mỗi loại văn bản qui phạm pháp luật về hành chính được ban hành để áp dụng trong từng trường hợp luật định và khi ban hành các văn bản này, cấp thẩm quyền hoặc cơ quan thẩm quyền không được ban hành tùy tiện mà phải thực hiện đúng theo trình tự đã được qui định trước

1.2 Cơ cấu qui phạm pháp luật hành chính :

Xét cơ cấu của qui phạm pháp luật là xét đến các bộ phận hợp thành qui phạm pháp luật hay còn gọi là cấu thành qui phạm pháp luật

Có 2 quan điểm về cơ cấu của qui phạm pháp luật

- Gặp trường hợp đó, chủ thể phải xử sự thế nào?

- Nếu xử sự hoặc không xử sự đúng qui định của pháp luật, sẽ chịu những hậu quả, biện pháp pháp lý gì ?

Do đó, theo quan điểm cổ điển, cơ cấu của qui phạm pháp luật gồm 3 bộ phận

để giải quyết 3 vấn đề nêu trên, mang tên : giả định, qui định, chế tài

a) Giả định: giả định là bộ phận của qui phạm pháp luật dự kiến trường hợp,

hoàn cảnh có thể xảy ra trong đời sống nằm trong phạm vi điều chỉnh của qui phạm pháp luật đó

Giả định có thể nêu một trường hợp, một hoàn cảnh áp dụng (gọi là giả định đơn giản) hoặc dự liệu nhiều trường hợp, hoàn cảnh áp dụng (gọi là giả định phức tạp)

Thí dụ : - đ.20 NĐ31/2010/NĐ-CP (29/3/2010) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản : “Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đối với hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác”

Trang 18

Trong qui phạm nầy, đoạn ” : “đối với hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác” chỉ một trường hợp áp dụng nên đây là giả định đơn giản

- đ.24 NĐ31/2010/NĐ-CP (29/3/2010) : “Phạt tiền từ 20 triệu đến 30 triệu đối với hành vi kinh doanh, tàng trữ, nhập khẩu thức ăn nuôi thủy sản đã quá hạn sử dụng”

Trong qui phạm nầy, đoạn có gạch dưới chỉ 3 trường hợp sẽ áp dụng qui phạm (kinh doanh, tàng trữ, nhập khẩu) nên đây là giả định phức tạp

b) Qui định: qui định là bộ phận của qui phạm pháp luật nêu hành vi, cách xử

sự mà các chủ thể phải thực hiện (do Nhà nước đặt ra) khi gặp trường hợp nêu trong giả định

Nếu bộ phận qui định nêu một hành vi, một cách xử sự phải thực hiện, gọi là qui định đơn giản ; nếu nêu nhiều (từ 2 trở lên) hành vi, cách xử sự phải tực hiện, gọi là qui định phức tạp

Thí dụ: - đ.47 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 : “Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản” (qui định đơn giản)

- đ.46 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 : “Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản kèm theo biên bản tạm giữ và phải giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm một bản” (qui định phức tạp)

c) Chế tài: Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu những hậu

quả,biện pháp pháp lý dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể khi xử sự hoặc không

xử sự đúng như phần qui định ứng với trường hợp của giả định

Chế tài cũng có thể ở dạng đơn giản (hay chế tài khẳng định dứt khoát hoặc chế tài cố định) khi nêu một biện pháp, hậu quả rõ ràng sẽ áp dụng; chế tài ở dạng phức tạp (hay chế tài không cố định) khi nêu nhiều loại biện pháp pháp lý có thể

áp dụng cho chủ thể

Thí du : -đ.16 Nghị định 113/NĐ-CP (16/4/2004) về xử phạt hành chánh đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động: “Xử phạt bằng hình thức trục xuất đối với người lao động nước ngòai làm việc tại Việt Nam từ đủ 3 tháng trở lên mà không

có giấy phép lao động hoặc sử dụng giấy phép lao động đã hết hạn” (chế tài đơn giản)

- đ.20 NĐ31/2010/NĐ-CP (29/3/2010) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản : “Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đối với hành vi chế biến

các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác” (chế tài phức tạp)

Trên lý thuyết, theo quan điểm 1, các qui phạm pháp luật gồm 3 bộ phận: giả định, quy định, chế tài, nhưng trong thực tế, để lời văn cô đọng, ngắn gọn, các qui phạm pháp luật được thể hiện rất đa dạng, phức tạp:

- Thứ tự của các bộ phận (giả định, quy định, chế tài), khi xuất hiện có thể thay đổi Cũng có khi cụm từ diễn đạt có các bộ phận đan xen nhau

- Hầu hết các qui phạm pháp luật chỉ thể hiện cụ thể 2 trong 3 bộ phận Bộ phận không xuất hiện được gọi là bộ phận ẩn

Thí dụ : đ.20 NĐ31/2010/NĐ-CP (29/3/2010) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản : “Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đối với hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác”

Trang 19

Qui phạm pháp luật này chỉ có hai bộ phận: giả định (đối với hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác) và chế tài (phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu) ; bộ phận qui định không được nêu lên (ẩn) nhưng được hiểu là

“nghiêm cấm hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác” Thí dụ: - đ.47 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 : “Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản”

Qui phạm nầy chỉ xuất hiện 2 bộ phận : giả định (mọi trường hợp khám người)

và qui định (đều phải lập biên bản); bộ phận chế tài ẩn và được hiểu là “nếu khám người mà không lập biên bản thì sẽ bị xử lý theo pháp luật ”

a) Điều kiện tác động : nêu lên trường hợp, hoàn cảnh áp dụng qui phạm

pháp luật (tức tương ứng với bộ phận giả định của quan điểm 1)

b) Hậu quả pháp lý : nêu lên những hành vi, cách xử sự phải thực hiện hoặc

hậu quả, biện pháp pháp lý áp dụng cho chủ thể (tức tương ứng với bộ phận qui định hoặc chế tài theo quan điểm 1)

Thí dụ : - đ.20 NĐ31/2010/NĐ-CP (29/3/2010) : “Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đối với hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh mục cấm khai thác” Phân tích theo quan điểm 2:

* Điều kiện tác động : “đối với hành vi chế biến các lọai thủy sản trong danh

mục cấm khai thác”

* Hậu quả pháp lý : “Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu”

Thí dụ: - đ.47 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 : “Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản”

Phân tích theo quan điểm 2:

* Điều kiện tác động :” Mọi trường hợp khám người”

* Hậu quả pháp lý : “đều phải lập biên bản”

1.3 Phân loại qui phạm pháp luật :

Do tính chất đa dạng và phức tạp của các quy phạm pháp luật hành chính nên việc phân loại các quy phạm này có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn xây dựng cũng như áp dụng pháp luật trong quản lý (hành chính) nhà nước Việc phân loại các quy phạm này có thể được thực hiện theo các tiêu chí cơ bản sau:

1.3.1 Căn cứ vào chủ thể ban hành :

Các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân loại thành các nhóm sau đây:

+ Quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành

+ Quy phạm pháp luật hành chính do Chủ tịch nước ban hành

+ Quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người

có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành

+ Quy phạm pháp luật hành chính do Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

Trang 20

1.3.2 Căn cứ vào cách thức ban hành :

Các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân loại thành các nhóm sau đây:

+ Quy phạm pháp luật hành chính do một cơ quan hay người có thẩm quyền độc lập ban hành

+ Quy phạm pháp luật hành chính liên tịch

1.3.3 Căn cứ vào mối quan hệ được điều chỉnh :

Các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân loại thành các nhóm sau đây:

+ Quy phạm nội dung là quy phạm được ban hành để quy định nội dung quyền

và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước Các quy phạm này được ban hành chủ yếu để quy định về địa vị pháp lý hành chính của các chủ thể tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước Thí dụ: Quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Uy ban nhân dân các cấp hay quy định về nghĩa vụ lao động công ích của công dân v v

+ Quy phạm thủ tục là loại quy phạm được ban hành để quy định những trình

tự, thủ tục cần thiết mà các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước phải tuân theo khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình do các quy phạm pháp luật nội dung quy định Thí dụ: Các quy phạm quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính v v

Các quy phạm nội dung phải được thực hiện theo những trình tự thủ tục nhất định do quy phạm thủ tục quy định Do đó, nếu có quy phạm nội dung nhưng không có quy phạm thủ tục tương ứng hay quy phạm thủ tục tương ứng không phù hợp với mục đích của quy phạm nội dung thì sẽ làm mất hoặc giảm sút hiệu quả điều chỉnh của pháp luật hành chính nói chung và của các quy phạm nội dung nói riêng

1.3.4 Căn cứ vào hiệu lực pháp lý về thời gian :

Các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân loại thành các nhóm sau đây:

+ Quy phạm áp dụng lâu dài là loại quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng không ghi thời hạn áp dụng Ví dụ: Các quy phạm pháp luật hành chính trong Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ,… Các quy phạm này chỉ hết hiệu lực khi bị bãi bỏ, thay thế Các quy phạm này có số lượng rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh lâu dài và ổn định các quan hệ phát sinh trong quản lý (hành chính) nhà nước

+ Quy phạm áp dụng có thời hạn là loại quy phạm được ban hành để điều chỉnh các quan hệ quản lý (hành chính) nhà nước chỉ phát sinh trong những tình huống đặc biệt hay chỉ tồn tại trong khỏang thời gian nhất định Khi tình huống đó không còn hay hết thời hạn đó thì quy phạm hết hiệu lực (Thí dụ: Nghị quyết của Chính phủ số 12/2000/NQ –CP ngày 14/8/2000 về “Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá” trong giai đoạn 2000 -2010)

+ Quy phạm tạm thời là loại quy phạm được ban hành để điều chỉnh một số loại quan hệ quản lý hành chính nhà nước trên một phạm vi, trong khoảng thời gian nhất định làm cơ sở tổng kết để ban hành chính thức nếu phù hợp

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì pháp lệnh được ban hành để quy định về những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời

Trang 21

gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật Trong một

số trường hợp theo sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ được ban hành nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Như vậy, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội và những nghị định nêu trên là những văn bản có nội dung chứa đựng các quy phạm áp dụng tạm thời

1.3.5 Căn cứ vào hiệu lực pháp lý về không gian :

Các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân loại thành các nhóm sau đây:

+ Quy phạm có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước Các quy phạm này do các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành

+ Quy phạm có hiệu lực pháp lý trên phạm vi từng địa phương nhất định Các quy phạm này chủ yếu do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ quản lý hành chính nhà nước phù hợp với đặc thù của địa phương mình Ngòai ra, các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương có thể ban hành những quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực pháp lý trên phạm vi từng địa phương nhất định

để điều chỉnh riêng biệt một số loại quan hệ quản lý hành chính nhà nước quan trọng có tính đặc thù ở địa phương đó Ví dụ: Pháp lệnh Thủ đô Hà nội ngày 28/12/ 2000 là văn bản có nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính chỉ có liệu lực pháp lý trên phạm vi địa bàn thành phố Hà nội

Việc phân loại quy phạm pháp luật hành chính theo hiệu lực pháp lý về không gian nêu trên chỉ mang tính chất tương đối vì căn cứ vào hiệu lực pháp lý về đối tượng thì sẽ có những quy phạm pháp luật hành chính của Việt Nam được áp dụng đối với công dân và tổ chức của Việt Nam ở nước ngòai

Tóm lại, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý (hành chính) nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật hành chính

Trong khoa học pháp lý, quan hệ pháp luật hành chính được xác định là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, là kết quả của sự tác động của quy phạm pháp luật hành chính theo phương pháp mệnh lệnh-đơn phương đối với các quan hệ quản lý (hành chính) nhà nước

2.1.2 Đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính :

Trang 22

Là một quan hệ pháp luật cụ thể, quan hệ pháp luật hành chính có tất cả những đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung: Đó là các quan hệ ý chí, trong đó mỗi bên (chủ thể) có các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tức là các chủ thể được và phải xử

sự trong những mức độ, phạm vi nhất định mà Nhà nước đã xác định trong các quy phạm pháp luật

Tuy nhiên, quan hệ pháp luật hành chính cũng có những đặc điểm riêng Những đặc điểm này xuất phát từ các đặc điểm của luật hành chính, trong đó những đặc điểm chủ yếu là:

a) Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính luôn gắn liền với họat động chấp hành, điều hành quản lý nhà nước :

Các quyền và nghĩa vụ này chỉ phát sinh trong quá trình quản lý (hành chính) Nhà nước trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội

b) Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của bất kỳ bên chủ thể nào, không bắt buộc phải có sự thỏa thuận với bên kia:

Việc điều chỉnh đối với các quan hệ pháp lí hành chính nhà nước không chỉ nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của nhà nước mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi nhiều mặt của các cơ quan,tổ chức, cá nhân trong xã hội Thẩm quyền quản lí hành chính của nhà nước chỉ có thể được thực hiện nếu có sự tham gia tích cực từ phía các đối tượng quản lí Mặt khác, nhiều quyền lợi của đối tượng quản lí (hành chính) nhà nước chỉ có thể đựơc bảo đảm nếu có sự hỗ trợ tích cực của các chủ thể quản lí bằng những hành vi quản lí cụ thể

Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính của các bên tham gia quan hệ đó

Các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức hay cá nhân; có thể nhân danh nhà nước, vì lợi ích của nhà nước hoặc nhân danh chính mình nhưng họ đều thực hiện các quyền và nghĩa vụ do quy phạm pháp luật hành chính quy định.Việc quy định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ này là cần thiết đối với việc xác lập và duy thì trật tự quản lí hành chính nhà nước

c) Trong quan hệ pháp luật hành chính bao giờ cũng có ít nhất một chủ thể mang quyền lực Nhà nước :

Đây là chủ thể bắt buộc phải có, nếu thiếu thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính Chủ thể này có thể là cơ quan hành chính nhà nước, là cán

bộ, công chức hoặc các cơ quan, tổ chức khác được nhà nước trao quyền thực hiện những nhiệm vụ quản lý nhà nước cụ thể nào đó Do vậy, không thể hình thành một quan hệ pháp luật hành chính giữa các cá nhân, tổ chức xã hội với nhau nếu các cá nhân tổ chức đó không được nhà nước trao quyền thực hiện nhiệm vụ quản

lý nhà nước Trong các quan hệ pháp luật hành chính, chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước luôn có quyền đơn phương đưa ra các quyết định quản lý và bên kia (các đối tượng bị quản lý) có nghĩa vụ bắt buộc phải chấp hành các quyết định đơn phương đó

Như đã nêu, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lí (hành chính) nhà nước được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính.Vì vậy, về tư cách

và cơ cấu chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính phải phù hợp với tư cách và cơ cấu chủ thể của quan hệ quản lí (hành chính) nhà nước tương ứng Nếu một bên tham gia quan hệ quản lí (hành chính) nhà nước đựơc sử dụng quyền lực nhà nước (chủ thể quản lí nhà nước) thì chủ thể đó trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng sẽ được xác định là chủ thể đặc biệt; đối tựơng bị quản lí là bên chủ thể không

Trang 23

được sử dụng quyền lực nhà nước và có nghĩa vụ phục tùng việc sử dụng quyền lực nhà nứơc của chủ thể quản lí, các đối tựơng này được xác định là chủ thể thường

Như vậy, các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính được phân chia thành chủ thể đặc biệt và chủ thể thường trong đó, chủ thể đặc biệt là các cơ quan, tổ chức, cá nhân đựơc nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nứơc trong quan hệ ấy

Từ đó có thể nhận định quan hệ pháp luật hành chính không thể phát sinh và tồn tại nếu thiếu chủ thể đặc biệt

Trong quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của bên này ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại

Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ “quyền lực - phục tùng”, quan hệ bất bình đẳng về ý chí giữa các bên tham gia Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở quyền lực nhà nước và chủ thể thường có nghĩa vụ chấp hành việc sử dụng quyền lực nhà nước của chủ thể đặc biệt Tuy nhiên, không có nghĩa là trong quan hệ pháp luật hành chính, chủ thể đặc biệt này chỉ có quyền và chủ thể thừơng chỉ có nghĩa vụ

Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt vừa là quyền vừa là trách nhiệm của chủ thể này Bên cạnh đó, chủ thể thường tuy có nghĩa vụ chấp hành các mệnh lệnh của chủ thể đặc biệt song cũng có những quyền nhất định xuất phát

từ yêu cầu bảo đảm tính khách quan,đúng pháp luật của các hành vi quản lý (hành chính) nhà nước hoặc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, như: quyền yêu cầu, đề nghị , khiếu nại, tố cáo,……

Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt chỉ có hiệu lực khi nó làm phát sinh nghĩa vụ chấp hành của chủ thể thừơng Mặt khác, việc thực hiện quyền của chủ thể thường trong quan hệ pháp luật hành chính chỉ có ý nghĩa thực sự nếu nó làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải quyết của chủ thể đặc biệt.Thí dụ: công dân có quyền khiếu nại nhưng nếu việc thực hiện quyền khiếu nại đó của công dân không làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì việc khiếu nại đó của công dân chỉ mang tính hình thức, không có giá trị pháp lí

d) Các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính phần lớn được giải quyết theo thủ tục hành chính :

Một số ít các tranh chấp có tính chất phức tạp, sau khi đã giải quyết theo thủ tục hành chính mà không đạt kết quả, thì có thể được giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính Quan hệ tố tụng hành chính, có những đặc điểm riêng phù hợp với các đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính và khác biệt với các quan hệ tố tụng dân sự, tố tụng hình sự

Cũng như các công việc khác trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước, các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính cần phải được giải quyết theo thủ tục hành chính Tuy nhiên, do tính chất và yêu cầu giải quyết một số tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính mà việc giải quyết chúng có thể được thực hiện bằng cách kết hợp thủ tục hành chính với thủ tục tố tụng Thí dụ: Tòa án có quyền giải quyết các khiếu nại hành chính theo thủ tục tố tụng hành chính trong trường hợp người khởi kiện trước đó đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và không tiếp tục khiếu nại đến ngừơi có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai

Trang 24

đ) Bên vi phạm trong quan hệ pháp luật hành chính phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước :

Bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luật hành chính phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước vì :

+ Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở quyền lực nhà nước nên phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước khi sử dụng quyền lực ấy + Chủ thể thường thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trước bên đại diện cho Nhà nước, do đó phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tính hợp pháp của hành vi do mình thực hiện trong quan hệ pháp luật hành chính;

+ Những vi phạm trên đều xâm hại đến trật tự quản lí (hành chính) nhà nước

Do đó, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước về hành vi vi phạm của mình

Như vậy, cho dù ngừơi vi phạm là chủ thể đặc biệt hay chủ thể thường thì họ đều có nguy cơ phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước.Tất nhiên, không phải trong mọi trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật hành chính đều phải chịu cùng một loại trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước Tùy thuộc vào việc hành vi trái pháp luật hành chính cấu thành loại pháp luật nào mà Nhà nước sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự, hành chính, kỉ luật nhà nước đối với ngừơi vi phạm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường

Những đặc điểm trên thể hiện trong cả quan hệ pháp luật hành chính dọc và

quan hệ pháp luật hành chính ngang Quan hệ pháp luật hành chính dọc hình thành

giữa các chủ thể có quan hệ lệ thuộc về mặt tổ chức như những quan hệ giữa Chính phủ với các bộ, cơ quan ngang bộ; Giữa Chính phủ với Ủy ban nhân dân

cấp tỉnh Quan hệ pháp luật hành chính ngang hình thành giữa các chủ thể của luật

hành chính mà giữa họ không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức, chẳng hạn như quan

hệ giữa các bộ, các ngành với nhau Giữa các cơ quan này có mối quan hệ phối hợp để cùng thực hiện các họat động quản lý nhà nước trong phạm vi ngành hoặc các địa phương Cũng thuộc lọai này là những quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức xã hội, với công dân, người nước ngòai

2.2 Phân loại quan hệ pháp luật hành chính:

Các quan hệ pháp luật hành chính có thể đựơc phân loại theo các căn cứ chủ yếu sau:

2.2.1 Căn cứ vào tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể :

Các quan hệ pháp luật hành chính có thể phân loại thành các nhóm sau đây:

a) Quan hệ pháp luật hành chính nội bộ :

Đây là loại quan hệ pháp luật hành chính phát sinh giữa các chủ thể có quan hệ

lệ thuộc vào mặt tổ chức

Do yêu cầu về tính thống nhất và hiệu quả hoạt động của Nhà nứơc nên các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước chịu sự chi phối bởi các quan hệ lệ thuộc vào tổ chức- quan hệ giữa một bên là cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền quyết định đối với bên kia về việc thành lập, giải thể cơ quan, tổ chức hoặc bầu, bãi nhiệm, bổ nhiệm, cách chức cán bộ, công chức.Thí dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc quan hệ giữa Bộ trưởng Bộ tư pháp với thanh tra Bộ tư pháp v.v…

Trang 25

Nội dung của các quan hệ pháp luật hành chính nội bộ thường đề cập các vấn

đề như phân cấp quản lí, chỉ đạo điều hành, kiểm tra đối với các cơ quan, tổ chức trực thuộc hoặc kiện toàn về tổ chức và bảo đảm kỉ luật trong bộ máy nhà nước

b) Quan hệ pháp luật hành chính liên hệ:

Đây là loại quan hệ pháp luật hành chính phát sinh giữa các chủ thể không có quan hệ lệ thuộc về mặt tổ chức

Các quan hệ này rất đa dạng và phát sinh trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Chúng có thể là quan hệ giữa cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước với các tổ chức, cá nhân ngoài bộ máy nhà nước (như quan

hệ giữa Chủ tịch UBND, chủ thể xử phạt vi phạm hành chính với công dân vi phạm hành chính); hoặc là quan hệ ngang cấp giữa các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước với nhau (như quan hệ giữa Bộ Tài chính với

Bộ Tư pháp trong việc kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ Tư pháp)

2.2.2 Căn cứ vào tính chất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể :

Các quan hệ pháp luật hành chính có thể được phân loại thành các nhóm sau đây:

a) Quan hệ nội dung :

Đây là loại quan hệ pháp luật hành chính đựơc thiết lập để trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đó Các quan hệ này do quy

phạm nội dung điều chỉnh Thí dụ: quan hệ giữa Chủ tịch Uy ban nhân dân cấp

tỉnh với cá nhân phát sinh khi cá nhân này đựơc Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định bổ nhiệm làm Chánh thanh tra tỉnh

cơ quan ngang bộ “kiến nghị với Thủ tứơng đình chỉ việc thi hành nghị quyết của

hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với các văn bản pháp luật của Nhà nước hoặc của bộ, cơ quan ngang bộ về ngành, lĩnh vực do bộ,

cơ quan ngang bộ phụ trách”

2.2.3 Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh quan hệ :

Các quan hệ pháp luật hành chính có thể đựơc phân lọai thành các nhóm quan

hệ pháp luật hành chính về quản lí kinh tế, văn hóa,an ninh, chính trị,trật tự, an toàn xã hội ; về xử lí vi phạm pháp luật, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,

tố cáo

2.3 Thành phần của quan hệ pháp luật hành chính :

Thành phần của quan hệ pháp luật hành chính gồm các bộ phận cấu thành quan

hệ pháp luật hành chính, đó là chủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ pháp luật hành chính

2.3.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính

Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và nghĩa

vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính Như vậy, điều kiện để các

cơ quan, tổ chức, cá nhân trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là

Trang 26

các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó phải có năng lực chủ thể phù hợp với quan hệ pháp luật hành chính mà họ tham gia

Xét về mặt thuật ngữ, năng lực chủ thể là khả năng pháp lí của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể của quan hệ đó

Nhìn chung, năng lực chủ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được xem xét ở những khía cạnh chủ yếu sau:

- Năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước phát sinh khi cơ quan đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó bị giải thể

Năng lực này đựơc pháp luật hành chính quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó trong quản lí (hành chính) nhà nước Thí dụ: sau khi được thành lập, cơ quan thanh tra có năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính về thanh tra với tổ chức bị thanh tra

- Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức phát sinh khi cá nhân được Nhà nước giao đảm nhiệm một công vụ, chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước và chấm dứt khi không còn đảm nhiệm công vụ, chức vụ đó Năng lực này được pháp luật hành chính quy định phù hợp với năng lực chủ thể của cơ quan và vị trí công tác của cán bộ, công chức đó Thí dụ: Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung nên có thẩm quyền xử phạt các vi phạm hành chính phát sinh trên các lĩnh vực của quản lí hành chính nhà nước ở địa phương Tuy nhiên, không phải là bất kì ai trong Ủy ban nhân dân đều có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể xử phạt vi phạm hành chính

mà khả năng này được pháp luật quy định chỉ thuộc về Chủ tịch UBND

- Năng lực chủ thể của tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, đơn vị vũ trang, đơn vị hành chính –sự nghiệp… (gọi chung là tổ chức) phát sinh khi nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó trong quản lí (hành chính) nhà nước và chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổ chức bị giải thể

Do không có chức năng quản lí nhà nước nên các tổ chức nêu trên thường tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể thường Cá biệt trong một số trường hợp, khi được nhà nước trao quyền quản lí hành chính nhà nước đối với một số công việc cụ thể, tổ chức này có thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể đặc biệt

- Năng lực chủ thể của cá nhân được biểu hiện trong tổng thể năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính

Khác với cơ quan nhà nước, tổ chức và cán bộ, công chức, năng lực chủ thể của

cá nhân được xem xét cụ thể trên hai phương diện : Năng lực pháp luật và năng lực hành vi hành chính Sở dĩ có điểm khác biệt này là khi xem xét năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước, tổ chức và cán bộ, công chức chúng ta không cần xem xét tới phương diện khả năng thực tế của các cơ quan tổ chức, tổ chức và cán bộ, công chức đó (vì khả năng này đã được Nhà nước thừa nhân khi bầu, bổ nhiệm cán bộ, công chức hoặc khi thành lập cơ quan, tổ chức đó) Việc tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính của các cá nhân không chỉ phụ thuộc vào quy định của pháp luật hành chính mà còn phụ thuộc nhiều vào khả năng thực tế của mỗi cá nhân Năng lực hành vi hành chính của cá nhân là khả năng của cá nhân được Nhà nước thừa nhận mà với khả năng đó họ có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính đồng thời phải gánh chịu những hậu quả pháp lí nhất định do những hành vi của mình mang lại

Trang 27

Tùy thuộc vào tính chất và nội dung của các loại quan hệ pháp luật hành chính

cụ thể mà pháp luật có thể quy định độ tuổi tối thiểu hay tối đa để xác định năng lực hành vi hành chính của cá nhân Thí dụ: Cá nhân phải từ đủ 14 trở lên mới có thể bị xử phạt vi phạm hành chính;công dân từ đủ 12 tưổi đến dưới 18 tuổi mới có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

Ngòai độ tuổi, tình trạng sức khỏe là điều kiện phổ biến để xác định năng lực hành vi hành chính của cá nhân theo nguyên tắc: Ngừơi mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không có năng lực hành vi hành chính đối với mọi loại quan hệ pháp luật hành chính

Trình độ đào tạo, khả năng tài chính cũng là điều kiện xác định năng lực hành

vi hành chính của cá nhân đối với một số loại quan hệ pháp luật hành chính nhất định Thí dụ: Công dân Việt Nam phải có trình độ cử nhân luật mới được tuyển chọn và bổ nhiệm làm thẩm phán; cá nhân phải có một số lượng vốn nhất định mới được thành lập doanh nghiệp mà pháp luật đòi hỏi phải có vốn pháp định

Như vậy, đối với cá nhân thì thời điểm phát sinh năng lực pháp luật hành chính

và năng lực hành vi hành chính không giống nhau Mặt khác, năng lực hành vi hành chính của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào năng lực thực tế của cá nhân, mà nhiều khi còn phụ thuộc vào cách thức Nhà nứơc thừa nhận khả năng thực tế đó Nhà nước có thể mặc nhiên thừa nhận năng lực hành vi hành chính của cá nhân khi

họ có đủ những điều kiện nhất định hoặc thông qua những hành vi pháp lí cụ thể

để thừa nhận năng lực đó Thí dụ : Ngừơi từ đủ 18 tuổi trở lên được lái xe môtô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự Tuy nhiên, năng lực hành vi hành chính của các cá nhân này trong việc điều khiển các loại xe nêu trên không mặc nhiên phát sinh khi họ đủ 18 tuổi

mà năng lực này chỉ đựơc Nhà nước thừa nhận khi họ đựơc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe phù hợp với các loại xe đó

2.3.2 Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính:

Trong quản lý (hành chính) nhà nước, các lợi ích trực tiếp thúc đẩy các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính rất đa dạng Chúng có thể là lợi ích của Nhà nước hay quyền lợi chính đáng của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, các lợi ích đó chỉ được đảm bảo nếu chúng phù hợp với các trật

tự quản lý (hành chính) nhà nước

Pháp luật hành chính xác lập và bảo vệ các trật tự quản lí nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và định hướng quản lý (hành chính) nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của đất nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của các cá nhân, tổ chức

Từ những nhận định trên có thể thấy cho dù những lợi ích trực tiếp thúc đẩy các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính có đa dạng đến đâu thì khách thể chung của các quan hệ pháp luật hành chính vẫn là các trật tự quản lí hành chính nhà nước

Tùy thuộc vào từng lĩnh vực phát sinh, các quan hệ pháp luật hành chính sẽ có những khách thể là trật tự quản lý hành chính nhà nước tương ứng với lĩnh vực đó

Thí dụ : Các quan hệ pháp luật hành chính về giải quyết khiếu nại, tố cáo đều có

chung khách thể là trật tự quản lý hành chính nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trang 28

2.3.3 Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính :

Nội dung của quan hệ pháp luật là những cách xử sự mà pháp luật qui định cho các chủ thể phải thực hiện khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Như vậy, nội dung của quan hệ pháp luật thể hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật

a) Quyền của chủ thể:

Quyền của chủ thể là khả năng được xử sự của chủ thể, theo đó:

- Chủ thể có quyền chọn lựa cách xử sự do luật pháp quy định Thí dụ: theo qui định về lưu thông, chủ thể có thể chọn một lọai phương tiện lưu thông pháp luật qui định (lưu thông bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không)

- Chủ thể có quyền yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt hoạt động cản trở mình thực hiện quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu các chủ thể khác phải tôn trọng các nghĩa vụ tương ứng phát sinh Thí dụ: chủ thể A có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng bị chủ thể B xâm chiếm, có quyền yêu cầu chủ thể B chấm dứt hành vi xâm chiếm ;

- Chủ thể có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng các biện pháp luật định kể cả việc cưỡng chế Thí dụ; chủ thể A (trong thí dụ trên) có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền buộc chủ thể B vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường các thiệt hại phát sinh

Quyền của chủ thể được thực hiện theo ý chí của chủ thể nhưng chịu sự giới hạn bởi các quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm trật tự xã hội và quyền của các chủ thể khác

b) Nghĩa vụ của chủ thể:

Trong quan hệ pháp luật hành chính, tương ứng với quyền của chủ thể có các nghĩa vụ phát sinh cho chủ thể

Nghĩa vụ của chủ thể là khả năng phải xử sự của chủ thể tức là cách xử sự mà

chủ thể bắt buộc phải làm để thực hiện quyền của chủ thể khác về mặt pháp lý hoặc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng

Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể thể hiện hai mặt:

- Chủ thể phải xử sự theo cách mà qui phạm pháp luật nêu ra Cách xử sự nầy

có thể mang tính chủ động như phải làm một việc nào đó (thí dụ: chủ thể B phải trả tiền cho chủ thể A) hoặc cách xử sự mang tính thụ động tức là kềm chế, không được làm một việc nào đó (thí dụ: chủ thể B không được xâm phạm thửa đất mà chủ thể A có quyền sử dụng hợp pháp)

- Chủ thể có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm pháp lý về cách xử sự của mình nếu không thực hiện đúng theo qui định của pháp luật

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là hai mặt thống nhất trong quan hệ pháp luật Nói khác đi trong các quan hệ pháp luật luôn luôn thể hiện hai mặt quyền và nghĩa vụ của chủ thể

Tuy nhiên, mối tương quan giữa quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật không giống nhau Trong một số quan hệ pháp luật, quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh mang tính độc lập, trong đó một bên có quyền, một bên

có nghĩa vụ pháp lý (thí dụ: quan hệ pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính giữa

cơ quan nhà nước và người vi phạm) nhưng có quan hệ pháp luật, trong đó quyền

và nghĩa vụ pháp lý phát sinh mang tính đối ứng tức là chủ thề thực hiện nghĩa vụ

Trang 29

pháp lý xong thì phát sinh quyền ; chủ thể có quyền thì sẽ phát sinh nghĩa vụ pháp

lý (thí dụ: quan hệ pháp luật về khiếu nại giữa người khiếu nại và tổ chức có thẩm quyền giải quyết khiếu nại)

CHƯƠNG III

HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2 PHÂN LOẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC:

1.1 Khái niệm :

Các cơ quan hành chính nhà nước là các chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hành chính Các cơ quan này là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Đó là những cơ quan thực hiện các hoạt động chấp hành, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội Chính vì vậy, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước cũng chính

là hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước

1.2 Đặc điểm :

Do là một cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có tất cả những đặc

điểm của cơ quan nhà nước nói chung, trong đó, đặc điểm quan trọng nhất là tính

quyền lực nhà nước Các cơ quan này khi hoạt động đều nhân danh nhà nước, vì

lợi ích nhà nước, có quyền đơn phương đưa ra các quyết định quản lý để thực hiện chức năng của mình Mặt khác, các quyết định đơn phương đó có hiệu lực bắt buộc

Trang 30

thực hiện và cơ quan nhà nước có quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo thực thi các quyết định đơn phương đó

Một đặc điểm chung khác của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan

hành chính nhà nước là thẩm quyền Thẩm quyền có thể được hiểu là tổng thể

những quyền và nghĩa vụ chung cũng như các quyền hạn cụ thể được pháp luật quy định để các cơ quan đó thực hiện chức năng của mình Thẩm quyền của mỗi

cơ quan nhà nước bao giờ cũng được xác định giới hạn về phạm vi, đối tượng tác động cũng như về không gian, thời gian Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước chỉ họat động trong phạm vi thẩm quyền của mình, nếu vượt khỏi phạm vi đó là vi phạm pháp luật Nhưng trong phạm vi đó, cơ quan hành chính nhà nước họat động độc lập, chủ động, sáng tạo Mặt khác việc thực hiện thẩm quyền đã được quy định cũng là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước Việc thực hiện các thẩm quyền đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, sự xét đoán riêng của bản thân một cơ quan nào cũng như của bất kỳ người lãnh đạo nào

Bên cạnh những đặc điểm chung của cơ quan nhà nước, các cơ quan hành chính Nhà nước còn có một số đặc điểm riêng sau đây :

1.2.1 Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành của cơ quan quyền lực :

Hoạt động của các cơ quan này phải trên cơ sở và để thực hiện Hiến pháp, luật

và các nghị quyết của Quốc hội, Lệnh và Quyết định của Chủ tịch nước, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội Ơ địa phương, các cơ quan hành chính nhà nước phải chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Để đảm bảo tính chất chấp hành này các cơ quan hành chính phải báo cáo công việc của mình trước cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực

1.2.2 Hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước có quan hệ trực thuộc với nhau:

Đó có thể là các quan hệ trực thuộc dọc, quan hệ trực thuộc ngang hoặc quan

hệ trực thuộc hai chiều (chế độ song trùng trực thuộc) Trong hệ thống đó, chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Toàn bộ hệ thống và mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính nhà nước tạo thành bộ máy hành chính quốc gia, bộ phận quan trọng của bộ máy nhà nước

2 PHÂN LOẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC:

Các cơ quan hành chính nhà nước có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau

2.1 Theo cơ sở pháp lý của việc thành lập :

Các cơ quan hành chính bao gồm:

2.1.1 Các cơ quan hành chính được thành lập bởi Hiến pháp :

Được gọi là các cơ quan hiến định, gồm :

- Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất

- Ủy ban nhân dân các cấp là các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

2.1.2 Các cơ quan hành chính được thành lập bởi các luật, các văn bản dưới luật :

Đó là các tổng cục, cục, vụ, các sở, ban trực thuộc các cơ quan hiến định nói trên

2.2 Căn cứ vào địa giới họat động :

Trang 31

Có thể phân chia thành:

2.2.1 Các cơ quan hành chính trung ương :

Gồm Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước về ngành hay lĩnh vực công tác Hoạt động quản lý của các cơ quan này bao trùm trong phạm vi tòan quốc Các quyết định quản lý do các cơ quan này ban hành có hiệu lực thực thi trong phạm vi cả nước

2.2.2 Các cơ quan hành chính nhà nước địa phương :

Gồm ủy ban nhân dân các cấp và các sở, phòng, ban thuộc ủy ban nhân dân, họat động quản lý trong phạm vi lãnh thổ địa phương Các văn bản do các cơ quan này ban hành chỉ có hiệu lực pháp lý trong phạm vi lãnh thổ hoạt động của các cơ quan đó, đối với các tổ chức và công dân tại địa phương đó

2.3 Căn cứ theo phạm vi thẩm quyền :

Các cơ quan hành chính nhà nước được chia thành: cơ quan có thẩm quyền

chung và cơ quan có thẩm quyền riêng

2.3.1 Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung :

Gồm Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp Những cơ quan này, theo quy định của Hiến pháp có thẩm quyền quản lý chung đối với các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong phạm vi cả nước hoặc trong từng địa phương Họat động của các

cơ quan này đảm bảo phối hợp và sự phát triển thống nhất, nhịp nhàng giữa các ngành, các lĩnh vực, giữa các vùng trong phạm vi cả nước

2.3.2 Các cơ quan hành chính có thẩm quyền riêng :

Còn gọi là thẩm quyền chuyên môn gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, các sở, phòng, ban trực thuộc ủy ban nhân dân là những cơ quan quản lý theo ngành hoặc theo chức năng, trực tiếp quản lý một ngành, một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực trên phạm vi cả nước hoặc ở từng địa phương

2.4 Căn cứ theo chế độ lãnh đạo :

Các cơ quan hành chính được chia thành :

2.4.1 Các cơ quan hành chính theo chế độ lãnh đạo tập thể :

Việc quyết định trong cơ quan này do tập thể quyết định, theo ý kiến của đa số Thông thường các cơ quan hành chính có thẩm quyền chung hoạt động theo

nguyên tắc lãnh đạo tập thể

2.4.2 Các cơ quan hành chính theo chế độ lãnh đạo cá nhân :

Việc quyết định trong các cơ quan này do người đứng đầu cơ quan quyết định Thông thường, các cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo cá nhân

Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001, thì có sự kết hợp giữa chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ cá nhân lãnh đạo trong họat động của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp Các cơ quan này thường quyết định những vấn đề quan trọng có liên quan đến nhiều lĩnh vực, do vậy, cần có sự đóng góp trí tuệ tập thể trong bàn bạc và ra quyết định Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch ủy ban nhân dân cũng có quyền quyết định những vấn đề thuộc phạm vi chức trách của mình, căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn được giao

Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn tổ chức và họat động theo chế độ cá nhân lãnh đạo, theo đó người đứng đầu mỗi cơ quan như Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ có quyền ra các quyết định cá nhân để

Trang 32

đặt ra những quy tắc quản lý nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực cũng như để thực hiện chức năng nhiệm vụ mà pháp luật quy định

3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 3.1 Chính phủ :

3.1.1 Vị trí , vai trò :

Theo điều 109 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ (2001) Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng

Căn cứ vào vị trí pháp lý như vậy, Chính phủ có chức năng cơ bản là: thống nhất việc quản lý thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngọai của Nhà nước

Theo Điều 112 Hiến pháp 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ (2001), Chính phủ còn có toàn quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước, trừ các công việc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Uy ban thường vụ Quốc hội và chủ tịch nước Với vị trí trên, Chính phủ là cơ quan điều hành cao nhất của quyền lực nhà nước trong hệ thống các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước, chỉ đạo tập trung, thống nhất các Bộ và các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương

Chính phủ do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội Trong kỳ họp này Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước và giao cho Thủ tướng đề nghị danh sách các Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn Quy định pháp lý này vừa xác định vai trò

và trách nhiệm tập thể của Chính phủ trước Quốc hội; vừa xác định vai trò cá nhân của Thủ tướng là người lãnh đạo toàn bộ công việc của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, đồng thời cũng là xác định vai trò và trách nhiệm của

Bộ trưởng trong tập thể của Chính phủ và trách nhiệm của cá nhân Bộ trưởng về lĩnh vực mình phụ trách

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội,

Uy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

Chính phủ và các Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ chịu sự giám sát của Quốc hội và Uy ban Thường vụ Quốc hội trực tiếp hoặc thông qua các Uy ban thường trực của Quốc hội Chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với Chính phủ là một hình thức giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ; Chính phủ và các thành viên phải trả lời trong các kỳ họp của Quốc hội các điều chất vấn của đại biểu Quốc hội

Chính phủ lãnh đạo họat động của các Bộ, của chính quyền địa phương, thể hiện trên hai mặt:

- Chính phủ với tư cách là cơ quan chấp hành cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập quy bằng cách ban hành các văn bản pháp quy dưới luật (nghị quyết, nghị định), có tính bắt buộc trên phạm vi cả nước, để thực hiện các đạo luật, các pháp lệnh và các nghị quyết của Quốc hội và Uy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) Các Bộ và chính quyền địa phương có nghĩa vụ thực hiện các văn bản pháp quy đó Căn cứ vào tình hình của địa phương, Hội đồng nhân dân định ra các biện pháp thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, Uy

Trang 33

ban thường vụ Quốc hội và của Chính phủ, đồng thời đề ra các nghị quyết cho Uy ban nhân dân cùng cấp thực hiện

- Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là cấp trên cao nhất của tòan bộ hệ thống hành chính nhà nước, từ bộ máy hành chính trung ương đến các UBND các cấp, các cơ quan, công sở hành chính, sự nghiệp trong cả nước Chính phủ lãnh đạo UBND các cấp một cách trực tiếp trong việc thực hiện các nhiệm vụ điều hành của bộ máy hành chính nhà nước, UBND có nhiệm vụ chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên và HĐND cùng cấp; nhưng HĐND không được quyết định trái với luật pháp và những quyết định của các cơ quan nhà nước cấp trên, của Chính phủ

và các Bộ trưởng

3.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền của Chính phủ :

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được quy định tại chương VIII Hiến pháp

1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ 2001, gồm :

a) Quyền kiến nghị lập pháp : dự thảo các văn bản luật trình Quốc hội và dự

thảo Pháp lệnh trình Uy ban thường vụ Quốc hội (sáng kiến lập pháp), dự thảo trình Quốc hội dự án kế hoạch nhà nước và ngân sách nhà nước, dự thảo trình Quốc hội các chính sách lớn về đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

b) Quyền lập quy (quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật) : là quyền

đặt ra những văn bản dưới luật có tính chất quy phạm pháp luật, quyết định các chủ trương, biện pháp nhầm thực hiện chính sách, pháp luật, bảo vệ lợi ích nhà nước, trật tự xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Các văn bản pháp quy của Chính phủ có giá trị pháp lý trong cả nước, Chính phủ ban hành nghị quyết, nghị định, Thủ tướng ban hành quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc chấp hành các văn bản đó của mọi cơ quan ở trung ương và chính quyền địa phương

c) Quyền quản lý và điều hành tòan bộ công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa-

xã hội theo đúng đường lối chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước và hệ thống pháp quy của Chính phủ

d) Quyền xây dựng và lãnh đạo tòan bộ hệ thống các tổ chức, các cơ quan

quản lý (hành chính) nhà nước, thành lập các cơ quan trực thuộc Chính phủ và cơ quan giúp việc Thủ tướng, lãnh đạo các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do HĐND bầu ra; chỉ đạo việc tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương

đ) Quyền tổ chức những đơn vị sản xuất, kinh doanh, theo những hình thức

thích hợp, lãnh đạo dơn vị ấy kinh doanh theo định hướng kế hoạch, đúng cơ chế, đúng pháp luật

e) Quyền hướng dẫn, kiểm tra HĐND : Chính phủ hướng dẫn và kiểm tra

HĐND trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra tính hợp pháp của các nghị quyết của HĐND Thủ tướng có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi hoặc bãi bỏ các quyết định đó

3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Chính phủ:

Trang 34

Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các bộ, các cơ quan ngang bộ, do Quốc hội quyết định thành lập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ

Thành phần Chính phủ gồm có Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ

Theo Luật tổ chức Chính phủ thì không có cơ quan thường trực của Chính phủ như trước đây (Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng gồm: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng

Bộ trưởng)

Chính phủ hoạt động thông qua các hình thức căn bản như sau:

a) Hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ là phiên họp Chính phủ

b) Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng và các Phó thủ tướng là những người giúp Thủ tướng theo sự phân công của Thủ tướng; khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ

c) Sự hoạt động của các Bộ trưởng với tư cách là thành viên tham gia vào công việc chung của Chính phủ và với tư cách là người đứng đầu một bộ hay cơ quan ngang bộ

Chính phủ là cơ quan làm việc theo chế tập thể, những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số gồm những vấn đề sau:

+ Chương trình hoạt động hàng năm của Chính phủ;

+ Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm kỳ, các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trình Quốc hội và Uy ban thường vụ Quốc hội; các nghị quyết, nghị định của Chính phủ;

+ Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, năm năm, hàng năm, các công trình quan trọng; dự toán ngân sách nhà nước, dự kiến phân bổ ngân sách trung ương và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương; tổng quyết tóan ngân sách nhà nước hàng năm trình Quốc hội;

+ Đề án chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo trình Quốc hội;

+ Các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế – xã hội, tài chính, tiền tệ, các vấn

đề tiền tệ, các vấn đề quan trọng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại;

+ Các đề án trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể Bộ, cơ quan ngang Bộ; việc thành lập mới, nhập, chia điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, việc thành lập hoặc giải thể các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; quyết định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

+ Quyết định việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ; + Các báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội, Uy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

3.1.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ :

Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, có những nhiệm vụ quyền hạn, thẩm quyền quy định trong Điều 114 Hiến pháp 1992 và Chương III Luật tổ chức Chính phủ gồm :

- Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Chính phủ;

Trang 35

- Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, quyết định, chỉ thị của UBND và chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên;

- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết bất hợp pháp của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đồng thời đề nghị Uy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ,

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương;

- Phê chuẩn việc bầu cử các thành viên UBND cấp tỉnh,

- Miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trực thuộc trung ương; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Theo pháp luật và quy chế hiện thành, Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp; quyết định những vấn đề được Hiến pháp và luật pháp quy định thuộc thẩm quyền của mình (Điều 20 Luật tổ chức Chính phủ)

Thủ tướng còn chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ Để tăng cường sự chỉ đạo của Thủ tướng, cũng như để đề cao vai trò và trách nhiệm của các Phó Thủ tướng, các Phó Thủ tướng được Thủ tướng phân công phụ trách khối hay lĩnh vực, giúp Thủ tướng chỉ đạo việc điều hòa phối hợp công việc của các Bộ trưởng, bảo đảm sự thống nhất lãnh đạo của Thủ tướng, tránh tình trạng phân tán Ngòai ra, để giúp Chính phủ chuẩn bị những đề án lớn, có tính chất liên ngành, có thể thành lập Hội đồng hoặc ủy ban thường xuyên hoặc lâm thời thuộc Chính phủ Các Hội đồng và ủy ban này với địa vị pháp lý và cơ cấu tổ chức hợp

lý, có thể làm việc đạt hiệu quả thiết thực với tư cách là cơ quan nghiên cứu, tư vấn, chuẩn bị đề án hoặc giao trách nhiệm chỉ đạo phối hợp giải quyết những vấn

Điều 116 Hiến pháp 1992 quy định: Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành do mình phụ trách, bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật

Phạm vi quản lý (hành chính) nhà nước của bộ đối với ngành hoặc lĩnh vực được phân công, bao gồm hoạt động của mọi tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc mọi tổ chức hành chính, sự nghiệp thuộc các thành phần khác nhau và trực thuộc các cấp chính quyền, các đòan thể, các tổ chức xã hội khác nhau, hoạt động của mọi công dân, cũng như hoạt động của mọi tổ chức và của người nước ngoài tại Việt Nam trên lĩnh vực thuộc Bộ quản lý

Trang 36

Bộ trưởng, một mặt là thành viên của Chính phủ, cơ quan hành pháp cao nhất, tức là mang tính quyền lực chính trị trong quyền lực thống nhất; mặt khác, là người đứng đầu bộ thực hiện quyền hành pháp, tức là người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực, để quản lý các ngành hay lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước

Có hai loại bộ: bộ quản lý nhà nước đối với ngành, và bộ quản lý đối với lĩnh vực (cũng có thể gọi là bộ quản lý tổng hợp, hay quản lý chức năng, hay quản lý liên ngành)

- Bộ quản lý theo lĩnh vực là cơ quan nhà nước trung ương của Chính phủ thực hiện sự quản lý hành chính nhà nước theo từng lĩnh vực lớn (kế hoạch, tài chính, khoa học – công nghệ, lao động, ngoại giao, nội vụ ) liên quan đến hoạt động của tất cả các bộ, các cấp quản lý hành chính nhà nước, các tổ chức trong xã hội và công dân Bộ quản lý lĩnh vực có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế – xã hội chung; xây dựng các dự án kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành; xây dựng các quy định chính sách, chế độ chung (tham mưu cho Chính phủ), hoặc tự mình ra những pháp quy về lĩnh vực mình phụ trách, và hướng dẫn các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội thi hành; kiểm tra và bảo đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật nhà nước trong hoạt động của các Bộ và các cấp về lĩnh vực mình quản lý, đồng thời có trách nhiệm phục vụ

và tạo điều kiện thuận lợi cho bộ quản lý ngành hòan thành nhiệm vụ

- Bộ quản lý ngành, là cơ quan nhà nước trung ương của Chính phủ có trách nhiệm quản lý những ngành kinh tế – kỹ thuật, văn hóa, xã hội: (như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, văn hóa, giáo dục, y tế), có thể tập hợp với nhau thành một hay một nhóm liên ngành rộng Bộ cũng có trách nhiệm chỉ đạo tòan diện các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, kinh doanh do mình quản

lý về mặt nhà nước

3.2.2 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng

a) Vai trò của Bộ trưởng :

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước nên Bộ trưởng cũng có những chức năng lập quy, quản lý, tổ chức và nhân sự với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền riêng

Về trách nhiệm, theo điều 117 Hiến pháp 1992 quy định : Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực ngành mình phụ trách

b) Quan hệ giữa Bộ trưởng với Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:

Bộ trưởng hoạt động và quản lý vừa là với tư cách thành viên Chính phủ vừa là với tư cách thủ trưởng của Bộ Do đó, Bộ trưởng chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề thuộc quyền hạn, trách nhiệm thẩm quyền của bộ, và chịu sự lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ

Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; chịu sự điều hành, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ

c) Quan hệ với Quốc hội :

Bộ trưởng chịu trách nhiệm không chỉ trước Thủ tướng Chính phủ mà cả trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách; phải trình bày vấn đề và trả lời chất

Trang 37

vấn của Quốc hội, của Uy ban Thường vụ Quốc hội, của các Uy ban của Quốc hội,

và của đại biểu Quốc hội

d) Quan hệ giữa các Bộ trưởng :

Các Bộ trưởng có trách nhiệm tôn trọng quyền quản lý của nhau; tùy thuộc lẫn nhau, phối hợp với nhau, và khi cần thì ra những văn bản liên bộ; có quyền hướng dẫn và kiểm tra các bộ thực hiện các nhiệm vụ công tác thuộc ngành hay lĩnh vực,

có quyền kiến nghị bộ khác đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quy định của

cơ quan đó trái với các văn bản pháp luật của nhà nước hoặc của bộ, tức là trái với nội dung quản lý thống nhất của ngành hoặc lĩnh vực mình phụ trách; nếu yêu cầu

đó không được chấp nhận thì trình lên Thủ tướng xem xét và quyết định

đ) Quan hệ với chính quyền địa phương :

Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, Bộ trưởng có quyền chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra UBND các cấp thực hiện các nhiệm vụ công tác ngành, lĩnh vực theo đúng nội dung quản lý theo ngành, lĩnh vực, có quyền đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng bãi bỏ những quy định của UBND và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trái với các văn bản của bộ về ngành, lĩnh vực do bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách và chịu trách nhiệm về quyết định đình chỉ đó Trong trường hợp UBND tỉnh, thành phố không nhất trí với quyết định đình chỉ việc thi hành của Bộ trưởng thì vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Thủ tướng

Bộ trưởng có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ thi hành nghị quyết của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc thuộc trung ương trái với các văn bản pháp luật của nhà nước hoặc của bộ về ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách

Về phía mình, bộ phải tôn trọng quyền quản lý trên lãnh thổ của chính quyền địa phương theo pháp luật quy định, và phải xem xét ý kiến, kiến nghị của UBND các vấn đề về chính sách, chế độ ngành, lĩnh vực để điều chỉnh, sửa đổi nếu cần thiết

e) Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng :

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý của Bộ được quy định trong điều

22 Chương IV Luật Tổ chức Chính phủ, và Nghị định số 86/2002/NĐ – CP ngày

05 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, bao gồm:

- Chuẩn bị các dự án pháp luật (luật, pháp lệnh) và các dự án khác theo sự phân công của Chính phủ, về những vấn đề thuộc phạm vi quản lý hành chính nhà nước của bộ để Chính phủ xem xét và trình Quốc hội, Uy ban thường vụ Quốc hội quyết định

Trên cơ sở pháp luật của nhà nước, Bộ trưởng ban hành các văn bản pháp quy

cụ thể, hướng dẫn chế độ quản lý và kế hoạch hóa theo cơ chế thị trường, các chính sách kinh tế – xã hội cụ thể, các chế độ, thể lệ quản lý, các tiêu chuẩn, quy trình quy phạm, các định mức về kinh tế – kỹ thuật để làm cơ sở quản lý ngành hay lĩnh vực

- Về quy hoạch, kế hoạch: trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội – khoa học – công nghệ thuộc ngành hay lĩnh vực phụ trách; phương hướng mục tiêu và các cân đối lớn của kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn để định hướng cho các ngành, các địa phương, các địa phương, các đơn vị cơ

sở xây dựng quy hoạch, kế hoạch của mình; tổng hợp và phân tích hoạt động kinh

Trang 38

tế – kỹ thuật tòan ngành Bộ trưởng có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong phạm vi cả nước

- Về tài chính: Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành xây dựng trình Chính phủ kế hoạch tài chính toàn ngành hoặc lĩnh vực gắn với kế hoạch phát triển kinh

tế xã hội, chương trình mục tiêu bao gồm phần do bộ quản lý và thực hiện Để đề cao trách nhiệm quyền hạn của bộ trong phạm vi tổng mức thu, chi được duyệt, Bộ trưởng có quyền điều chỉnh chi tiết để thực hiện nhiệm vụ được giao, nhưng không được thay đổi mục tiêu kế hoạch đã được duyệt Bộ phải rất quan tâm quản lý hạch tóan, kế tóan, kiểm tóan, đánh giá việc bảo tồn vốn, sử dụng vốn và tài sản được nhà nước giao cho bộ, các tổ chức sự nghiệp và các doanh nghiệp do bộ trực tiếp quản lý về mặt nhà nước

- Xây dựng trình Chính phủ kế hoạch hợp tác quốc tế và tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch ấy; trình Chính phủ việc ký kết, tham gia, phê duyệt các điều ước quốc tế; tổ chức thực hiện và hướng dẫn các bộ, các UBND thực hiện việc hợp tác quốc tế theo kế hoạch và sự phân công của Chính phủ; theo dõi, chỉ đạo các đơn vị

tổ chức thuộc ngành hoặc lĩnh vực triển khai các quan hệ hợp tác quốc tế trong hoạt động kinh doanh, sự nghiệp theo các hiệp định ký kết với nước ngoài Các bộ quản lý ngành cũng như lĩnh vực có trách nhiệm lớn, và đây là một nhiệm vụ đặt ra nhiều vấn đề mới và đòi hỏi kiến thức, năng lực mới

- Về tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước: xây dựng và hòan thiện bộ máy tổ chức quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ; trình Chính phủ quyết định phân cấp nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước cho UBND địa phương; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quy định về hệ thống tổ chức của ngành,

về các chính sách, chế độ quản lý, về tổ chức và cán bộ bao gồm các chức danh, tiêu chuẩn công chức, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, tiền lương, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức của ngành hoặc lĩnh vực công tác thuộc phạm vi quản lý của bộ

Bộ trưởng đề nghị Thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thứ trưởng và các chức vụ tương đương; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Vụ trưởng, Phó vụ trưởng và các chức vụ tương đương

- Bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra các bộ khác, các Uy ban nhân dân, các tổ chức

và công dân trong việc chấp hành luật pháp, thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ, thể lệ quản lý hành chính nhà nước thuộc ngành hoặc lĩnh vực công tác của

bộ

Thực hiện khen thưởng, kỷ luật hoặc kiến nghị khen thưởng, kỷ luật các tổ chức và cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc vi phạm pháp luật và chính sách, gây thiệt hại đến lợi ích chung

Ngoài ra bộ còn quản lý (hành chính) nhà nước các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực; bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các

cơ sở theo quy định của pháp luật; bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu nhà nước của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

- Đối với các tổ chức sự nghiệp trực thuộc bộ thì bộ có nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn:

+ Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, tách, nhập, giải thể hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;

+ Quy định nhiệm vụ và cấp kinh phí;

+ Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra ;

Trang 39

+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ lãnh đạo;

- Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc quyền địa phương

Bộ trưởng có quyền ra những quy định pháp lý mà UBND phải thi hành Theo

hệ thống tổ chức hành chính hiện hành, thì các sở và cơ quan quản lý ngành hay lĩnh vực ở các tỉnh và thành phố là cơ quan chuyên môn thuộcUBND tỉnh, thành phố giúp UBND thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước các ngành hay lĩnh vực ở địa phương; đồng thời cơ quan này chịu sự chỉ đạo của bộ về chuyên môn Đó là chế độ song trùng phụ thuộc, trừ những ngành có tính sự nghiệp thống nhất đọc trong cả nước, như hải quan, thuế, bưu điện, ngân hàng Nhà nước, đường sắt

Về cán bộ, Bộ thỏa thuận việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc sở

để Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định, trường hợp không nhất trí, thì Chủ tịch quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó

3.2.3 Cơ cấu tổ chức của Bộ :

Cơ cấu tổ chức của bộ gồm:

- Các vụ, thanh tra bộ, Văn phòng bộ;

- Cục, tổng cục (không nhất thiết các bộ đều có);

- Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc bộ

Vụ được tổ chức để tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực theo hướng một vụ được giao nhiều việc, nhưng một việc không bao giờ giao cho nhiều vụ đảm nhiệm

Văn phòng bộ có chức năng giúp Bộ trưởng tổng hợp, điều phối hoạt động các

tổ chức của bộ theo chương trình, kế hoạch làm việc và thực hiện công tác hành chính quản trị đối với các hoạt động của cơ quan bộ

Thanh tra bộ có chức năng thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật về thanh tra

Cục thuộc bộ được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; cục không ban hành văn bản quy phạm pháp luật Cục được thành lập phòng và đơn vị trực thuộc; cục có con dấu

và tài khỏan riêng

Tổng cục thuộc bộ được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành lớn, phức tạp không phân cấp cho địa phương, do Bộ trực tiếp phụ trách và theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương trong phạm vi toàn quốc; tổng cục không ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Tổng cục có cơ cấu tổ chức gồm: cơ quan tổng cục và cục ở cấp tỉnh, chi cục ở cấp huyện (nếu có) Cơ quan tổng cục gồm văn phòng, ban và đơn vị trực thuộc Tổng cục có con dấu và tài khoản riêng

- Tổ chức sự nghiệp thuộc bộ được thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc bộ hoặc để thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng cần thiết do bộ trực tiếp thực hiện

3.3 Uy ban nhân dân các cấp :

3.3.1 Vị trí, vai trò :

Uy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Trang 40

Như vậy, Uy ban nhân dân có hai tư cách:

- Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân : Uy ban nhân dân có nghĩa vụ chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân, chịu

sự đôn đốc, kiểm tra của thường trực Hội đồng nhân dân

- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương : Uy ban nhân dân có trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên (đối với Uy ban nhân dân cấp tỉnh thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chính phủ), điều hành các quá trình kinh tế – xã hội, hành chính – chính trị ở địa phương dưới

sự lãnh đạo chung của Chính phủ

Để tăng cường tính thống nhất và thứ bậc của bộ máy hành chính, Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân quy định: Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chủ tịch Uy ban nhân dân phê chuẩn kết quả bầu cử Uy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; điều động, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Uy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp

3.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban nhân dân :

Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban nhân dân các cấp được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Ngòai ra nhiệm vụ, quyền hạn của Uy ban nhân dân còn được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành tương ứng với từng lĩnh vực quản lý nhà nước

Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại các điều từ Điều 82 đến Điều 96 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân năm 2003

Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban nhân dân cấp huyện được quy định tại các điều từ Điều 97 đến Điều 110 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân năm 2003

Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban nhân dân cấp xã – từ Điều 111 đến Điều

118 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân năm 2003

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung, Uy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện có các nhiệm vụ, quyền hạn trên các lĩnh vực : kinh tế; nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và đất đai; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng, giao thông vận tải; thương mại, dịch vụ, du lịch; giáo dục, đào tạo; văn hóa, thông tin, thể dục thể thao; y tế và xã hội; khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường; quốc phòng, an ninh và trật tự, an tòan xã hội; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính;

Đối với Uy ban nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh vực : kinh tế; nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và tiểu thủ công nghiệp; xây dựng, giao thông vận tải; giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa và thể dục thể thao; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phươn; thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật

3.3.3 Hình thức làm việc của Ủy ban nhân dân:

Uy ban nhân dân làm việc thông qua kỳ họp của Ủy ban nhân dân, thông qua hoạt động của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên Ủy ban nhân dân

Ngày đăng: 03/07/2014, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w