1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng và giải pháp trong MA ngân hàng trong giai đoạn hiện nay

31 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu hướng và giải pháp trong M&A ngân hàng trong giai đoạn hiện nay
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP  TIỂU LUẬN MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH Đề tài: XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP MA TRONG NGÂN HÀNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Khoá: 20 Lớp: TCDN Đêm 1 Nhóm: 09 MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I. Tổng quan về mua bán và sáp nhập (MA) 1 I. Khái niệm mua bán và sáp nhập 1 1. Định nghĩa 1 2 Phân biệt giữa sáp nhập và mua lại 4 3. Sự cộng hưởng trong MA 5 II. Phân loại MA 6 III. Các phương thức MA 7 CHƯƠNG 2. Xu hướng sáp nhập hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 7 I Tình hình MA ở một số nước trên thế giới 7 1. Tại Mỹ 8 2. Tại Hàn Quốc 10 3. Một số kết luận rút ra từ bài học kinh nghiệm các nước 12 II. Thực trạng và xu hướng hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13 1. Thực trạng hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng ở VIệt Nam trong giai đoạn hiện nay 13 2. Một số xu hướng dự đoán hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng tại Việt Nam 25 CHƯƠNG 3. Giải pháp và kiến nghị cho hoạt động MA NHTM tại Việt Nam 26 KẾT LUẬN LỜI MỞ ĐẦU o0o Sáp nhập và thâu tóm đã trở thành một trong những hình thức chủ yếu trong việc tái cơ cấu lại doanh nghiệp trên toàn cầu và nền công nghiệp dịch vụ tài chính trong đó có những ngân hàng và tổ chức tài chính cũng không nằm ngoài làn sóng thâu tóm và sáp nhập này . Việc thâu tóm và sáp nhập này là do sự cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành và riêng đối với lĩnh vực ngân hàng thì nó xuất phát từ quan điểm của Chính Phủ “ too big too fail” những ngân hàng quy mô lớn chưa hẳn đã tốt bởi khi nó sụp đổ sẽ mang đến những hệ lụy nghiêm trọng cho cả nền kinh tế , đối với những ngân hàng nhỏ thì cần phải sáp nhập với ngân hàng khác để tránh những vấn đề như nợ xấu, khả năng thanh khoản kém v.v… Tại Việt Nam với những thay đổi về điều kiện kinh tế vĩ mô : việc gia nhập WTO dẫn đến mở cửa hệ thống ngân hàng sự cạnh tranh khắc nghiệt với ngân hàng ngoại, khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 dẫn đên vỡ bong bóng thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản kết quả nợ xấu gia tăng ở các ngân hàng dẫn đến những bất thường trên thị trường tiền tệ, ngân hàng với sự vi phạm nghiêm trọng, có tính hệ thống đối với việc vượt trần lãi suất huy động, “lách” trần tín dụng, bản chất hoạt động ngân hàng bị làm sai lệch, các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tiền với sự tham gia của các cán bộ ngân hàng ngày càng gia tăng… Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này xuất phát từ những yếu kém về năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, năng lực quản trị, điều hành của một số ngân hàng thương mại , sự yếu kém và sa sút về đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ ngân hàng. Kết quả là sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các ngân hàng, tạo phản ứng lan truyền trong toàn hệ thống và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển lành mạnh, bền vững của hệ thống ngân hàng. Vì vậy tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng với mục tiêu xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh thông qua giải pháp sáp nhập, hợp nhất và mua lại là nhu cầu cấp thiết của ngành Ngân hàng hiện nay Nội dung bài nghiên cứu được sắp xếp như sau: Chương 1 giới thiệu khung lý thuyết về mua bán sáp nhập và một số bài học kinh nghiệm về hoạt động MA. Chương 2 giới thiệu thực trạng và xu hướng phát triển hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất trong ngành ngân hàng tại Việt Nam . Giải pháp và kiến nghị sẽ được giới thiệu trong Chương 3 . Và cuối cùng là phần kết luận. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (MA) I. Khái niệm mua bán và sáp nhập:

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP



TIỂU LUẬN MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Đề tài:

XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP M&A

TRONG NGÂN HÀNG TRONG GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I Tổng quan về mua bán và sáp nhập (M&A) 1

I Khái niệm mua bán và sáp nhập 1

1 Định nghĩa 1

2 Phân biệt giữa sáp nhập và mua lại 4

3 Sự cộng hưởng trong M&A 5

II Phân loại M&A 6

III Các phương thức M&A 7

CHƯƠNG 2 Xu hướng sáp nhập hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 7

I Tình hình M&A ở một số nước trên thế giới 7

1 Tại Mỹ 8

2 Tại Hàn Quốc 10

3 Một số kết luận rút ra từ bài học kinh nghiệm các nước 12

II Thực trạng và xu hướng hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13

1 Thực trạng hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng ở VIệt Nam trong giai đoạn hiện nay 13

2 Một số xu hướng dự đoán hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong ngành ngân hàng tại Việt Nam 25

CHƯƠNG 3 Giải pháp và kiến nghị cho hoạt động M&A NHTM tại Việt Nam 26

KẾT LUẬN LỜI MỞ ĐẦU

Trang 3

-o0o -Sáp nhập và thâu tóm đã trở thành một trong những hình thức chủ yếu trong việc tái cơcấu lại doanh nghiệp trên toàn cầu và nền công nghiệp dịch vụ tài chính trong đó có những ngânhàng và tổ chức tài chính cũng không nằm ngoài làn sóng thâu tóm và sáp nhập này Việc thâutóm và sáp nhập này là do sự cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt giữa các doanh nghiệp trong cùngngành và riêng đối với lĩnh vực ngân hàng thì nó xuất phát từ quan điểm của Chính Phủ “ too bigtoo fail” những ngân hàng quy mô lớn chưa hẳn đã tốt bởi khi nó sụp đổ sẽ mang đến những hệlụy nghiêm trọng cho cả nền kinh tế , đối với những ngân hàng nhỏ thì cần phải sáp nhập vớingân hàng khác để tránh những vấn đề như nợ xấu, khả năng thanh khoản kém v.v… Tại ViệtNam với những thay đổi về điều kiện kinh tế vĩ mô : việc gia nhập WTO dẫn đến mở cửa hệthống ngân hàng sự cạnh tranh khắc nghiệt với ngân hàng ngoại, khủng hoảng kinh tế toàn cầu

2008 dẫn đên vỡ bong bóng thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản kết quả nợ xấu giatăng ở các ngân hàng dẫn đến những bất thường trên thị trường tiền tệ, ngân hàng với sự vi phạmnghiêm trọng, có tính hệ thống đối với việc vượt trần lãi suất huy động, “lách” trần tín dụng, bảnchất hoạt động ngân hàng bị làm sai lệch, các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tiền với sự tham gia của cáccán bộ ngân hàng ngày càng gia tăng… Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này xuất phát từnhững yếu kém về năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, năng lực quản trị, điều hành của một

số ngân hàng thương mại , sự yếu kém và sa sút về đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộngân hàng Kết quả là sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các ngân hàng, tạo phản ứng lan truyềntrong toàn hệ thống và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển lành mạnh, bền vững của hệthống ngân hàng Vì vậy tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng với mục tiêu xây dựng một hệ thốngngân hàng lành mạnh thông qua giải pháp sáp nhập, hợp nhất và mua lại là nhu cầu cấp thiết củangành Ngân hàng hiện nay

Nội dung bài nghiên cứu được sắp xếp như sau: Chương 1 giới thiệu khung lý thuyết vềmua bán sáp nhập và một số bài học kinh nghiệm về hoạt động M&A Chương 2 giới thiệu thựctrạng và xu hướng phát triển hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất trong ngành ngân hàng tạiViệt Nam Giải pháp và kiến nghị sẽ được giới thiệu trong Chương 3 Và cuối cùng là phần kếtluận

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A)

I Khái niệm mua bán và sáp nhập:

1 Định nghĩa:

Mua bán và sáp nhập là nghĩa của cụm từ thông dụng M&A tức Merger and Acquisitions

Tại Việt Nam khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh Nghiệp 2005 như sau:

Sáp nhập doanh nghiệp: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp

nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, quyền lợi và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.

Hợp nhất doanh nghiệp: “Hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất)

có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”.

Khái niệm hai công ty cùng loại trong hai điều Luật trên được hiểu theo nghĩa là các công

ty cùng loại hình doanh nghiệp theo qui định của pháp luật Như vậy, điều kiện tiên quyết để cómột vụ sáp nhập hay hợp nhất là hai doanh nghiệp phải cùng loại hình và có sự chấm dứt hoạtđộng của một hoặc cả hai bên tham gia

Theo đó, Luật Doanh Nghiệp không đề cập đến việc mua lại doanh nghiệp Trong khi

Luật Cạnh Tranh 2004 có nhắc tới việc mua lại doanh nghiệp: “Mua lại doanh nghiệp là việc

doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.

Cũng theo Luật cạnh tranh tại Chương II, Mục 3, Điều 17 các khái niệm về sáp nhập, hợp

nhất được Luật định nghĩa như sau: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh

nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh

nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích

hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”.“Hợp nhất được xem là một trường hợp đặc biệt so với sáp nhập”.

Việc đầu tư góp vốn vào quá trình M&A cũng được Luật Đầu tư 2005 qui định:“ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong các hình thức đầu tư trực tiếp dưới các hình thức: Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lí hoạt

Trang 5

động đầu tư, mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp”.

Theo điều 91 Luật cạnh tranh Canada (bản sửa đổi bổ sung năm 1985), sáp nhập được hiểu là việcmua lại hoặc thiết lập, trực tiếp hay gián tiếp bởi một hay nhiều người bằng cách mua hay thuêmua cổ phần hoặc tài sản, sự kiểm soát đối với toàn bộ hay một phần của hoạt động kinh doanhcủa một đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng hoặc một người nào khác bằng cách kếthợp hay liên kết hoặc hình thức khác

Còn theo định nghĩa kỹ thuật của David L.Scott, viết trong cuốn: Wall Street Words: An A

to Z Guide to Investment Terms for Today’s Investor thì:

 Sáp nhập: Là sự kết hợp của 2 hay nhiều công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệmpháp lý của (những) công ty được công ty khác tiếp nhận Mặc dù hãng mua lại có thể làm một tổchức khác đi rất nhiều sau quá trình mua lại, nhưng nó vẫn là thực thể ban đầu

 Mua lại: Là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí là toàn

Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây

gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (sauđây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt

sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất

Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ

chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp phápcủa tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại) Sau khi mua lại, tổ chứctín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại

Xem xét sáp nhập, mua lại doanh nghiệp trên thế giới chúng ta có thể rút ra các kết luận sau:

 Quan niệm phổ biến về M&A trên thế giới được hiểu bao gồm không chỉ sáp nhập,mua lại mà còn gồm cả hợp nhất và giành quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp

Trang 6

 Phân tích về sáp nhập, hợp nhất, chúng ta thấy đây không phải là hoạt động đầu tưtheo nghĩa thông thường mà về bản chất đó là sự tối ưu hoá đầu tư Chỉ có mua lại, giành quyềnkiểm soát mới thực sự là bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư.

Về khía cạnh thuật ngữ, M&A thực chất là hoạt động giành quyền kiểm soát doanhnghiệp, bộ phận doanh nghiệp (gọi chung là doanh nghiệp) thông qua việc sở hữu một phần hoặctoàn bộ doanh nghiệp Mục đích của M&A là giành quyền kiểm soát doanh nghiệp ở mức độ nhấtđịnh chứ không đơn thuần chỉ là sở hữu một phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như cácnhà đầu tư nhỏ, lẻ Vì vậy, khi một nhà đầu tư đạt được mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần củadoanh nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi đó mới

có thể coi đây là hoạt động M&A Ngược lại, khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không

đủ để quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tưthông thường

Như vậy, cụm từ Merger và Acquisition (M&A) có thể được định nghĩa như sau:

Acquisition - Mua lại

Mua lại được hiểu như một hành động tiếp quản bằng cách mua lại một công ty (gọi làcông ty mục tiêu) bởi một công ty khác Trước đây, để thực hiện một thương vụ mua lại các công

ty thường hợp tác thương lượng với nhau, nhưng về sau hình thức này đã khác, và thương vụ mualại có thể diễn ra khi bên bị mua không sẵn lòng bán lại hoặc là bên bị bán không biết gì về bênmua Một thương vụ mua lại thường đề cập đến một công ty nhỏ bị mua lại bởi một công ty lớnhơn, tuy nhiên đôi khi một công ty nhỏ hơn sẽ giành được quyền quản lý một công ty lớn hơnhoặc là lâu đời hơn, sau đó đổi tên công ty mới thành công ty đi mua - hình thức này gọi là tiếpquản ngược - reverse takeover Một hình thức khác phổ biến hơn có nhiều nét tương đồng vớihình thức này là sáp nhập ngược - reverse merger, phần này sẽ được nhắc lại rõ hơn trong địnhnghĩa về Merger

Merger - hợp nhất, sáp nhập

Merger - hợp nhất, sáp nhập là sự kết hợp của hai công ty để trở thành một công ty lớn hơn Những giao dịch loại này thường là tự nguyện và hình thức thanh toán chủ yếu thông quahoán đổi cổ phiếu stock - swap (hoán đổi số lượng cổ phần của công ty cũ sang số lượng cổ phầncủa công ty mới tương ứng với tỷ lệ phần trăm góp vốn của công ty vào công ty mới - tỷ lệ nàyxác định dựa trên sự thỏa thuận lúc ký kết) hoặc là chi trả bằng tiền mặt Một thỏa thuận hợp nhất

có thể giống với một thương vụ thâu tóm, tuy nhiên, kết quả là tạo ra tên công ty mới (thường làtên kết hợp giữa tên ban đầu của hai công ty) và một thương hiệu mới

Tuy nhiên, trong một vài trường hợp việc một thỏa thuận, giao dịch gọi là một vụ hợpnhất, sáp nhập - Merger hơn là một thương vụ hay là một vụ mua lại -Acquisition chỉ đơn thuần

Trang 7

nhằm mục đích chính trị hoặc chiến lược marketing, những thương vụ sáp nhập, hợp nhất kiểunày thường liên quan đến hình thức thanh toán bằng tiền mặt, ngược lại những thỏa thuận sápnhập, hợp nhất thuần túy lại áp dụng phương pháp hoán đổi cổ phiếu khi đó các cổ đông của công

ty có thể chia sẽ rủi ro, quyền lợi trong công ty mới

2 Phân biệt giữa sáp nhập và mua lại:

Mặc dù có nhiều điểm tương đồng nhưng hai thuật ngữ Merger và Acquisition có nhữngđiểm khác nhau có thể phân biệt được:

 Khi một công ty tiếp quản một công ty khác và trở thành chủ sở hữu mới thì thương vụ

đó gọi là một acquisition - mua lại, công ty bị mua sẽ chấm dứt tồn tại, trong khi cổ phiếu củacông ty mua vẫn tiếp tục giao dịch bình thường

Ví dụ : Tại khối ngành ngân hàng Mỹ, tham vọng đứng đầu ngành ngân hàng nội địa của

Mỹ là động lực khiến Bank of America mua lại Merrill Lynch với giá 50 tỷ USD Việc mua lạinày đã cho ra đời tập đoàn tài chính hùng mạnh nhất thế giới Theo đó, Bank of America đã trởthành ngân hàng thương mại lớn nhất tại Mỹ tính theo lượng tiền gửi và lượng vốn hóa thị trường

và là ngân hàng thành viên thuộc tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC)

 Theo lý thuyết, một merger - hợp nhất, sáp nhập xảy ra khi hai công ty, thường là cùngkích cỡ đồng ý để tiến tới trở thành một công ty duy nhất thay vì là hai công ty độc lập Loại hìnhnày gọi là “Merger of equals” - hợp nhất, sáp nhập bình đẳng Cổ phiếu của hai công ty sẽđược thay thế bằng cổ phiếu của công ty mới Như vậy, loại hình này chính là hình thức hợp nhất,sáp nhập hoán đổi cổ phiếu Stock-swap hay theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp Việt Nam thìđây là một thương vụ Hợp nhất

Ví dụ: Điển hình cho hình thức này là sự hợp nhất giữa hai tập đoàn máy tính khổng lồ của

Mỹ Hewlett-Packard và Compaq hồi tháng 9 năm 2001, công ty mới có tên là HP-Compaq, trị giácủa giao dịch là 25 tỷ USD, mỗi cổ phiếu của Compaq sẽ đổi được 0,6325 cổ phiếu phát hành mớicủa HP, như vậy cổ đông của HP sẽ sở hữu 64% và cổ đông của Compaq sẽ sở hữu 36% trên tổng

số cổ phần của của công ty mới hợp nhất

Trong thực tế loại hình hợp nhất - Merger of equals không diễn ra một cách thường xuyên.Thông thường thì một công ty sẽ mua lại một công ty khác, sau đó cả hai công ty sẽ đồng ý đểcông bố rằng đây là một vụ hợp nhất, một merger of equal, thậm chí nếu đó thật sự là một thương

vụ mua lại - Acquisition Như vậy, một thương vụ mua bán vẫn có thể gọi là một thỏa thuận hợpnhất khi cả hai bên đều đạt đươc sự thỏa thuận hợp tác với nhau Nhưng nếu thương vụ đó diễn ratrong sự chống đối, thù địch và công ty bị mua không muốn thương vụ diễn ra thì nó sẽ được gọi

là một vụ Mua lại – Acquisition

Trang 8

Nếu liên hệ với định nghĩa của Luật Doanh nghiệp như phần trên thì hình thức Merger loạinày giống với hình thức sáp nhập Về bản chất hình thức sáp nhập - Merger và mua lại -Acquisition là giống nhau, trong cả hai hình thức công ty đi mua đều tìm cách thâu tóm công tymục tiêu và giá trị của thương vụ sẽ được thanh toán bằng tiền mặt, tuy nhiên nếu thương vụ đượccông bố là một vụ sáp nhập thì tên công ty bị mua vẫn còn tồn tại như là một phần của tên công tymới, mặc dù cổ đông của công ty mục tiêu không còn là cổ đông của công ty mới như trường hợpHợp nhất - Merger of equals Việc công bố một thương vụ là một Merger - sáp nhập hơn là mualại - Acquistion đôi khi nó còn nhằm một mục đích chính trị hay marketing nào đó.

Tuy nhiên, trong thực tế sự phân biệt giữa Merger và Acquisition chỉ có ý nghĩa quantrọng đối với các nhà làm luật, các chuyên viên thuế, các kế toán viên nhưng nó lại ít quan trọngđối với các nhà kinh tế nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, bởi lẽ người ta quan trọng cáibản chất của nó, do đó, họ thường không dùng cụm từ Merger hay Acquisition một cách tách biệt

mà thay vào đó là một cụm từ quen thuộc M&A

3 Sự cộng hưởng trong M&A

Cộng hưởng là động cơ quan trọng và kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ mua bánsáp nhập Cộng hưởng sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp mới (sau khi sáp nhập)được nâng cao Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:

- Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn lúc nào cũng có thế hơn khigiao dịch với các đối tác, kể cả mua văn phòng phẩm hay một hệ thống IT phức tạp thì công tylớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp giảmthiểu chi phí

- Đạt được hiệu quả dựa vào phạm vi : Sáp nhập cho phép một ngân hàng đa dạng hóađược các dịch vụ và sản phẩm tài chính giúp ngân hàng nâng cao sức cạnh tranh Ngoài ra cũng

có thể cung cấp các sản phẩm bán chéo cho khách hàng với chi phí thấp hơn so với khi kháchhàng phải đến sử dụng từng sản phẩm ở các ngân hàng riêng lẻ

- Trang bị công nghệ mới: Để duy trì cạnh tranh và sự hoạt động ổn định , các ngân hàngluôn cần vị trí đỉnh cao của phát triển kỹ thuật và công nghệ Thông qua việc mua bán hoặc sápnhập, ngân hàng mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh

- Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu của mua bán

& sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu và thu nhập Sáp nhập chophép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối Bên cạnh đó, vị thế của ngân hàng mớisau khi sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt cộng đồng đầu tư: quy mô lớn hơn có lợi thế hơn và có khảnăng tăng vốn dễ dàng hơn

Trang 9

- Hoạt động hiệu quả : Các ngân hàng có cùng quy mô, kích thước nhưng thực sự chi phívận hành thì chênh lệch nhau rất nhiều Thông qua việc sáp nhập thì các ngân hàng có cơ hộiđánh giá việc quản lý chi phí vận hành của mình từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Trên thực tế, đạt được sự cộng hưởng thường khó hơn người ta tưởng - nó không tự đếnkhi hai công ty sáp nhập Đương nhiên khi hai công ty sáp nhập dễ nhìn thấy khả năng đạt đượclợi thế quy mô nhưng đôi khi nó lại có hiệu ứng ngược lại Trong nhiều trường hợp, một cộng mộtlại nhỏ hơn hai Do đó, việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành nhữngthương vụ M&A rất quan trọng Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranhcộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp

II Phân loại M&A

Sáp nhập chiều ngang (horizontal acquisition) còn được gọi là sáp nhập cùng

ngành, là hình thức sáp nhập giữa các công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sảnphẩm và thị trường Ví dụ, sự sáp nhập của ba ngân hàng : ngân hàng Sài Gòn (SCB), Đệ Nhất(FCB) và Việt Nam Tín Nghĩa (TNB) , nâng vốn điều lệ của ngân hàng sau sáp nhập lên 10,583.8

tỉ đồng

Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều dọc (vertical mergers): Là sự sáp nhập hoặc mua lại

của hai hay nhiều công ty nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc

về phía sau hoặc về cả hai phía của công ty sáp nhập trên chuỗi giá trị đó Ví dụ , sự sáp nhậpgiữa Công ty Dịch vụ Tiết kiệm bưu điện và ngân hàng Liên Việt Bank thành lập ngân hàngTMCP Bưu điện Liên Việt , đây là mô hình mới tại Việt Nam có thể đẩy dịch vụ ngân hàng đếntừng hộ gia đình.M&A theo chiều dọc được phân thành 2 loại :

Sáp nhập tiến (Forward): xảy ra khi một công ty mua lại công ty khác hàng của mình, như

trường hợp các công ty sản xuất mua lại các chuỗi cửa hàng bán lẻ

Sáp nhập lùi (Backward): Khi một công ty mua lại nhà cung cấp, cung ứng sản phẩm,

nguyên liệu đầu vào của mình, điển hình là trường hợp công ty sữa mua lại công ty bao bì, đóngchai hoặc công ty chuyên chăn nuôi bò sữa…

Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho công ty sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểm soátchất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chếnguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh…

Sáp nhập kiểu tập đoàn (conglomerate mergers): xảy ra khi hai hay nhiều công

ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình

-mở rộng kinh doanh sang những lĩnh vực khác không liên quan - tiến hành sáp nhập lại với nhau.Điển hình là thương vụ Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) chào mua công khaithêm 26% để nâng cổ phần của mình lên 49% trong Công ty Cổ phần Nhiên liệu Sài Gòn (SFC)

Trang 10

nhằm bổ sung thêm thế mạnh kinh doanh bất động sản của PNJ Hoặc tháng 9/2009, giới đầu tưchú ý nhiều đến thương vụ ICP (công ty tư vấn kỹ thuật và xây dựng) thâu tóm Thuận Phát với tỷ

lệ sở hữu trên 51% nhằm mở rộng ngành nghề của mình sang kinh doanh thực phẩm

III Các phương thức M&A:

Chào thầu: Là hình thức doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư có ý định mua toàn bộ doanh

nghiệp mục tiêu đề nghị các cổ đông hiện hữu của doanh nghiệp đó bán lại cổ phần của họ vớimột mức giá cao hơn giá thị trường rất nhiều Giá chào mua thường phải đủ hấp dẫn để đa số cổđông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý doanh nghiệp của mình

Thương lượng tự nguyện: Là hình thức phổ biến trong các vụ sáp nhập mang tính tự

nguyện Khi hai doanh nghiệp nhận thấy các lợi ích tương đồng về văn hóa tổ chức, hoặc thịphần, sản phẩm người điều hành sẽ xúc tiến để ban quản trị của hai doanh nghiệp ngồi lại vàthương thảo cho một hợp đồng sáp nhập

Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: Là hình thức doanh nghiệp có ý định

thâu tóm sẽ giải ngân để thu gom cổ phiếu của doanh nghiệp mục tiêu thông qua giao dịch trên thịtrường chứng khoán, hoặc mua lại của các cổ đông chiến lược hiện hữu Phương án này đòi hỏithời gian và tính bảo mật bởi lẽ nếu để lộ ý đồ thôn tính, giá cổ phiếu của doanh nghiệp mục tiêu

có thể tăng vọt trên thị trường Nếu việc thâu tóm này được thực hiện trôi chảy, doanh nghiệpthâu tóm có thể đạt được mục đích cuối cùng của mình một cách êm thấm, không gây xáo động,đồng thời chỉ cần trả một mức giá rẻ hơn nhiều so với hình thức chào mua đã nêu ở trên

Mua lại tài sản doanh nghiệp: Là hình thức doanh nghiệp sáp nhập có thể đơn phương

hoặc cùng doanh nghiệp mục tiêu định giá tài sản của doanh nghiệp đó (họ thường thuê mộtdoanh nghiệp tư vấn chuyên định giá tài sản độc lập) Sau đó các bên sẽ tiến hành thương thảo đểđưa ra mức giá phù hợp (có thể cao hoặc thấp hơn) Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt

và nợ Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, bạnhàng, nhân sự, văn hóa tổ chức rất khó được định giá và được các bên thống nhất Do đó, phươngthức này thường chỉ áp dụng để tiếp quản lại các doanh nghiệp nhỏ, mà thực chất là nhắm đến các

cơ sở sản xuất, nhà xưởng máy móc, dây chuyền công nghệ, hệ thống cửa hàng, đại lý đang thuộc

sở hữu của doanh nghiệp đó

CHƯƠNG II: XU HƯỚNG SÁP NHẬP, HỢP NHẤT VÀ MUA LẠI TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

I Tình hình M&A ở một số nước trên thế giới

Hoạt động M&A của các tổ chức tài chính mà nổi cộm là trong ngành ngân hàng khởixướng và thành xu hướng đầu tiên diễn ra ở nước Mỹ vào những năm 1980, lan rộng ra khắp thế

Trang 11

giới vào những năm 1990 và trở thành một hiện tượng mang tính toàn cầu Con số các ngân hàng

ở EU của những năm 1990 giảm từ 12,378 ngân hàng xuống còn 8395 ngân hàng vào năm 1999

(Nguồn: European Central Bank - ECB, 2000)

Điều đó cũng cho thấy hoạt động M&A trong ngành ngân hàng đã và đang diễn ra rất sôinổi Nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn cũng như có cái nhìn rõ hơn về thế giới để có thể rút rađược bài học kinh nghiệm cho nước ta, xin nêu ra một số trường hợp tiêu biểu về hoạt động M&ANgân hàng tại một số nước để tham khảo

1 Tại Mỹ:

Tại Hoa Kỳ, nhiệm vụ M&A ngân hàng được giao cho Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Hoa

Kỳ (FDIC) FDIC được thành lập năm 1993 sau khủng hoảng tài chính đầu thế kỷ XX theo sắclệnh của Tổng thống Franklin D Roosevelt Với mục tiêu chủ động giải quyết nhanh các vụM&A đạt hiệu quả cho xã hội và nền kinh tế, Quốc hội dành cho FDIC những thẩm quyền đặcbiệt để đạt được mục tiêu đó (bất kể luật pháp có quy định khác) được phép toàn quyền tiếp nhận

và thanh lý tài sản của tổ chức nhận tiền gửi thuộc diện M&A mà không chịu sự chi phối của cổđông, tòa án các cấp hay các cơ quan kiểm soát khác

FDIC đảm bảo thực hiện bốn nguyên tắc cơ bản trong hoạt động M&A:

- Các NH thuộc diện M&A được xử lý với chi phí thấp nhất;

- Thực hiện M&A nhanh nhất;

- Tài sản tiếp nhận được quản lý và đưa ra thị trường để bán với giá trị cao nhất (bán chokhu vực kinh tế tư nhân);

- Tiền gửi và các nghĩa vụ trả nợ khác được xử lý công bằng và tiết kiệm

Hoạt động M&A được bắt đầu kể từ khi cơ quan cấp phép gửi thư thông báo cho FDIC về

kế hoạch M&A và chỉ định FDIC là người thực hiện FDIC sẽ dàn xếp để một hoặc một số ngânhàng “khỏe” chấp nhận mua lại một phần hay toàn bộ tài sản của ngân hàng thuộc diện M&A vàtiếp nhận các nghĩa vụ nợ của tổ chức đó Từ năm 1980 đến 1994, 1.188 trong số 1.617 trườnghợp đổ vỡ (tương đương 73,5%) được FDIC xử lý theo phương pháp mua và tiếp nhận nợ, trong

đó giai đoạn khung hoảng lớn nhất 1987-1994, thông qua 34 ngân hàng cầu nối, FDIC đã xử lý

êm thấm 114 ngân hàng với tổng tài sản 89,9 tỷ USD Trong năm 2008, FDIC đã tiến hành M&Ađối với 25 ngân hàng trong đó có trường hợp tiêu biểu là Ngân hàng Indy Mac

Xin nêu ra một ví dụ điển hình về hoạt động M&A tại đây: Thành lập ngân hàng bắc

cầu để xử lý Ngân hàng Indy Mac.

Ngân hàng Indy Mac có tổng tài sản 30 tỷ USD, tổng tiền gửi 19 tỷ USD Đây là Ngânhàng đứng thứ 17 về Tiết kiệm và cho vay, đứng thứ 2 về cho vay cầm cố độc lập tại Mỹ, IndyMac có 33 chi nhánh tại Miền Nam California, 182 Phòng giao dịch Cho vay trên toàn nước Mỹ

Trang 12

Về nguyên nhân đổ vỡ, ngân hàng hoạt động dựa trên nguồn vốn tiền gửi lãi suất cao vàcác khoản ứng trước của ngân hàng, cho vay mua nhà liên bang (FHLB) Thị trường giao dịch cáckhoản chứng khoán hóa đổ vỡ vào cuối năm 2007, sự gia tăng các khoản trả nợ không đúng hạn

và các khoản vay không thu hồi được, xếp hạng trái phiếu bị đánh tụt hạng đối với các khoản vaychứng khoán hóa là các nguyên nhân chủ yếu khiến Indy Mac đổ vỡ nhưng do có quy quá mô lớn,Chính phủ Hoa Kỳ đã chỉ định FDIC thực hiện M&A đối với ngân hàng này

FDIC thành lập Indy Mác Federal Bank, một ngân hàng bắc cầu đặt dưới sự quản lý củaFDIC, đã tiếp nhận hoạt động của Indy Mac

Nếu tiến hành chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền và xóa sổ Ngân hàng lớnnày thì chi phí sẽ cao, hệ thống ngân hàng bị thêm một cú sốc lớn và niềm tin của người dân Mỹ,giới đầu tư và cộng đồng quốc tế đối với hệ thống tài chính Mỹ ngày càng suy giảm Do vậy nước

Mỹ đã chọn con đường duy trì, nâng cấp để bán lại ngâng hàng này cho một đối tác tiềm năng.Tuy nhiên do chưa có ngân hàng nào đứng ra nhận mua, Bảo hiểm tiền gửi hoa Kỳ phải sử dụngcông cụ ngân hàng bắc cầu như một bước đệm Ngân hàng bắc cầu Indy Mac Federal lúc đó:

- Hoạt động dưới mô hình ngân hàng bán lẻ với 33 chi nhánh với 6.5 tỷ USD tiền gửi;danh mục khoản cho vay 16 tỷ USD và 6.9 tỷ chứng khoán nắm giữ, 157.7 tỷ USD dịch vụ thếchấp

- Tự quản về tài chính với 20.2 tỷ USD dịch vụ thế chấp rủi ro cao (reverse mortage)

- Việc bán lại ngân hàng bắc cầu, về nguyên tắc, sau khi tài sản lành mạnh được chuyểnsang ngân hàng bắc cầu, FDIC sẽ quản lý, khôi phục hoạt động và bán lại ngân hàng đó IMBManagerment Holdinhs là tổ chức nhận mua lại và sẽ thanh toán cho FDIC 13.9 tỷ USD Để mualại ngân hàng bắc cầu, IMB có thỏa thuận cơ cấu chia sẻ thiệt hại dựa trên tài sản được đảm bảo.Bên cạnh đó, IMB sẽ sử dụng Chương trình hỗ trợ nâng cấp khoản vay của FDIC và được thamgia vào các chương trình cấp vốn vay của FDIC

Như vậy, đối với ngân hàng có quy mô lớn, Mỹ có riêng một tổ chức đứng ra giám sát và

xử lý nguy cơ đổ vỡ

Theo bảng thống kê của FDIC (xem phụ lục), số lượng các ngân hàng thương mại ở Mỹ

có sự giảm đi đáng kể từ năm 1984 đến năm 2010 (từ 14,507 tổ chức vào năm 1984 còn lại 6,544

tổ chức vào cuối năm 2010) Dựa theo một số nghiên cứu về M&A Ngân hàng trước đây, xin liệt

kê một số đặc điểm về các ngân hàng thực hiện M&A như sau:

- Theo nghiên cứu của Hannan và Rhoades (1987) khảo sát 201 ngân hàng bị sápnhập/mua lại và 845 ngân hàng không xảy ra M&A, kết quả là: (1) không có chứng cứ nào choviệc những ngân hàng yếu kém về quản lý sẽ dễ bị thâu tóm hơn so với những ngân hàng quản lýtốt; (2) thị trường tập trung giúp làm giảm khả năng bị thâu tóm từ những ngân hàng bên trong thị

Trang 13

trường hơn so với thị trường bên ngoài; (3) tỷ lệ tài sản vốn cao làm giảm sự thu hút của một ngânhàng để trở thành mục tiêu M&A; (4) thị phần lớn hơn và hoạt động ở thành phố làm tăng sự thuhút của ngân hàng như là một mục tiêu sáp nhập hơn so với ngân hàng không hoạt động trongcùng thị trường.

- Moore (1996) cũng sử dụng phương pháp phân tích để xác định đặc điểm của nhữngngân hàng bị thâu tóm ở Mỹ giữa năm 1993 và 6/1996 Kết quả của ông chỉ ra rằng khả năng bịthâu tóm có khuynh hướng dành cho các ngân hàng có lợi nhuận thấp, tài sản tăng trưởng chậm,thị phần ít, tỷ lệ vốn trên tài sản thấp, và tỷ lệ các khoản cho vay doanh nghiệp lớn trên tổng cáckhoản cho vay thấp Tuy nhiên, những khoản cho vay doanh nghiệp nhỏ và kích cỡ ngân hàngkhông có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng bị thâu tóm

- Trong một nghiên cứu sau này, Wheelock và Wilson (2004) nghiên cứu tất cả các ngânhàng thương mại Mỹ với hơn 3000 vụ sáp nhập xảy ra giữa quí 2 năm 1987 và quí đầu năm 1999.Tác giả kết luận rằng: (1) số lượng các vụ sáp nhập tỉ lệ thuận với sự gia tăng của việc tập trungtrong thị trường mà một ngân hàng đặt trụ sở ở đó; (2) Cơ sở đặt ở vùng đô thị làm tăng đáng kểcác vụ sáp nhập được khảo sát qua thời gian; (3) Qui mô của một ngân hàng tác động đến khảnăng sáp nhập, và (4) một sự gia tăng trong tổng số các khoản tiền gửi cốt lõi, và sự gia tăng trongmột vài chỉ số rủi ro tài sản làm gia tăng số lượng các vụ sáp nhập

2 Tại Hàn Quốc:

Kinh nghiệm nổi bật và hết sức quý báu của Hàn Quốc là chủ động tiến hành M&A để táicấu trúc hệ thống ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc về mặt tài chính cho phát triển kinh tế bền vữngchứ không thụ động ngồi chờ các ngân hàng đổ vỡ để xử lý hậu quả Từ 33 ngân hàng năm 1997,đến ngày 19/5/2009 chỉ còn 19 ngân hàng khỏe mạnh Nghĩa là Hàn Quốc chấp nhận cắt bỏ mộtnửa cơ thể của ngành ngân hàng để tạo ra một hệ thống mới lành mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc

KDIC đã ngăn chặn ảnh hưởng dây truyền do đổ bể Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ H ởkhu vực Busan vào năm 2004 Tóm tắt tiến trình:

- 11/1974: Ngân hàng được thành lập ở Busan

- 3/2000 Tiến hành sáp nhập về mặt pháp lý với 3 ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (MSBs);

Trang 14

- 6/2000 Tiến hành sáp nhập về mặt pháp lý với 2 MSBs được KDIC cấp vốn Vì thế, tàisản của ngân hàng tăng từ 178 triệu $ lên 750 triệu $.

- 9/2001 phát hành cổ phiếu mới trị giá 17 triệu $;

- 12/2001 bắt đầu tích cực tham gia vào thị trường tín dụng vi mô (Đầu tư tăng từ 28triệu $ tới 132 triệu $ trong vòng 2 năm)

- 10/2002 Cấp một lượng lớn khoản vay tài chính dự án lớn (Đầu tư tăng từ 63 triệu $ tới

116 triệu $ trong vòng 1 năm)

- 7/2004 Một hãng kiểm toán độc lập phát biểu ý kiến ngược chiều về các tài khoản ảogiá trị 49.3 triệu $ Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (FSC) tiến hành điều tra vụ việc

- 9/2004 Ủy ban giám sát tài chính quốc gia FSC chính thức công bố ngân hàng này là

tổ chức tài chính phá sản và quyết định tạm ngưng hoạt động kinh doanh của tổ chức này.

Để giải quyết tình trạng thiếu hụt tín dụng suốt quá trình tái cấu trúc tài chính, chính phủ thực hiện chính sách tự do hóa Chính sách này loại bỏ tiêu chí phân loại chất lượng tài sản nhằm

thúc đẩy các khoản vay tín dụng vi mô trị giá ít hơn 3000$ Chính sách này không kiểm soátchiến lược bán các khoản vay rủi ro cao lợi nhuận cao, chẳng hạn thu trước các khoản phí bảolãnh cao và tính lãi suất cao đối với các khoản vay

Các khoản cho vay tín dụng vi mô giá trị ít hơn 3000$ với lãi suất cao khoảng 39%-60%đòi hỏi các con nợ phải trả trước hơn 15% lãi suất, vì thế hứa hẹn nhận được lợi nhuận cao trongmột thời gian ngắn Thiếu bảo lãnh khoản vay cho phép các cá nhân không đủ tư cách nhận đượccác khoản cho vay từ MSBs

Các khoản cho vay tài trợ dự án (PF) là những khoản vay bắc cầu có đảm bảo bằng các bấtđộng sản như cửa hàng hoặc trung tâm thương mại và chỉ cung cấp cho các công ty xây dựngđược chính phủ cấp phép kinh doanh và xây dựng Yêu cầu cần phải trả trước 8% phí bảo lãnhvới tỷ lệ thanh toán là 18% Các khoản cho vay PF thường được cung cấp với giá trị lớn giaođộng trong khoảng 2 và 4 triệu $

Ủy ban giám sát tài chính (FSC), quyết định ngân hàng H mất khả năng thanh toán vàotháng 9/2004, sa thải các quản lý cũ, và bổ nhiệm 2 giám sát viên chịu trách nhiệm quản lý Ngânhàng H xếp hạng thứ 6 trong tất cả các Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ trên toàn quốc với tiền gửitrị tía 1 tỷ $, 58,000 người gửi tiền, 151 nhân viên và 7 chi nhánh ở các khu vực khác nhau Khithâm hụt tài sản ròng lên tới 35% tổng tài sản (256,6 triệu $), FSC đưa ngân hàng này ra đấu giácông khai

Ban quản lý của KDIC hiện tại phải tìm phương pháp tiếp cận mới nhằm xử lý Ngân hàng

H Theo thông lệ chung, KDIC phải chi trả tiền gửi và tuyên bố MSB phá sản Vấn đề khác là

“cách thức giải quyết 38 triệu tiền gửi vượt hạn mức bảo hiểm” Hầu hết người gửi tiền có tiền

Trang 15

gửi vượt hạn mức là các tổ chức của công chúng chẳng hạn như các quỹ tài trợ cho trường trunghọc tư Những tổ chức như vậy sẽ phá sản nếu không bảo hiểm được tiền gửi vượt hạn mức chitrả nói trên.

Hoạt động giải cứu: Phương pháp M&A mới

Tháng 3/2005, KDIC thuê tư vấn và tổ chức đấu thầu công khai ngân hàng H nhằm tìmkiếm tổ chức mua lại Căn cú theo nguyên tắc ra quyết định, KDIC cho phép tổ chức mua lại tiềmnăng đề xuất điều kiện mua lại Do đó, 2 MSB có điều kiện tài chính lành mạnh đề xuất điều kiện

để mua lại ngân hàng H

Ngân hàng S và ngân hàng W muốn KDIC hỗ trợ tài chính cho hai tổ chức này nhằm bùlại khoản thiếu hụt vốn ròng lần lượt là 355 triệu $ và 387,1 triệu $ KDIC chọn ngân hàng S làbên thắng thầu do ngân hàng này đề nghị mức hỗ trợ tài chính ít hơn

Tháng 7 năm 2005, trong quá trình chuyển giao tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng Hcho Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ Busan Solomon, một ngân hàng do Ngân hàng S mới thànhlập, KDIC đã thực hiện hỗ trợ tài chính trị giá 330 triệu USD bằng tiền mặt (96%) và dưới dạngcác khoản vay (4%)

Tổng số tiền gửi lên tới 928,8 triệu đô la (48.220 người gửi tiền), và tiền gửi vượt quá mứcchi trả tối đa 50.000 USD lên tới 58,2 triệu đô la (1164 người gửi tiền) Khi ngân hàng S bày tỏ sựquan tâm muốn tiếp nhận tất cả các khoản tiền gửi kể cả các khoản tiền gửi vượt quá hạn mức chitrả tối đa là 50.000 USD, tất cả các khoản tiền gửi được chuyển cho Busan Solomon

Nhằm giám sát việc quản lý tốt ngân hàng, KDIC cử các nhân viên thực hiện việc kiểm tratại chỗ trong vòng 2 năm, và Busan Solomon đã ký Biên bản ghi nhớ với KDIC phải tuân thủcông tác giám sát của KDIC trong 5 năm

Một ngân hàng MSB mới được thành lập trên cơ sở mua lại ngân hàng H bắt đầu hoạtđộng từ tháng 7 năm 2005 với tên gọi Busan Solomon MSB Ngân hàng mua được biết đến vớichiến lược hoạt động nhằm tăng vốn nhanh chóng rất tham vọng Sau khi mua Ngân hàng H, ngânhàng này tiếp tục mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động bằng cách mua thêm 2 ngân hàng tiếtkiệm tương hỗ và một công ty chứng khoán Các điều kiệm tài chín một năm sau khi tiếp nhậnđược trở nên lạc quan hơn với giá cổ phiếu ngày càng tăng và số lượng đáng kể thu nhập ròng

3 Một số kết luận rút ra từ bài học kinh nghiệm của các nước:

- Thứ nhất, chủ động thực hiện M&A nhằm xây dựng hệ thống tài chính, ngân hàng vữngmạnh, hiện đại, thông qua các giải pháp hỗ trợ sáp nhập, hợp nhất tổ chức nhỏ tạo ra các ngânhàng, tập đoàn tài chính lớn, hiện đại có thể phát triển an toàn, bền vững trong điều kiện hội nhập

Ngày đăng: 03/07/2014, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w