ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CƠ BẢN Tập tính ăn tầm cao của dê và những ứng dụng trong chăn nuôi... Dê cũng là loài gia súc nhai lại có thể ăn được nhiều loại lá cây hoang dại giải phổ thức ăn rộ
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CƠ BẢN
Tập tính ăn tầm cao của dê và những ứng dụng trong chăn nuôi
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Dê thích ăn chồi lộc, lá non (brower animal).
Tập tính ăn tầm cao (bipedal stance behavior) là một tập tính di truyền (innated behavior) thể hiện
sự tính thích nghi của loài dê (Provenza 1995,
Đàm Văn Tiện 2004 và 2007)
Dê cũng là loài gia súc nhai lại có thể ăn được
nhiều loại lá cây hoang dại (giải phổ thức ăn rộng)
Dê có thể di chuyển nhanh ở độ dốc cao để khai thác nguồn thức ăn hẻo lánh mà các loài trâu bò cừu không thể tới được (sự phân công tự nhiên lãnh địa thức ăn)
Chính vì tính hiếu động và ăn chồi lộc, nên dê cũng được coi là thủ phạm phá rừng, phá mùa màng nếu không được quản lý tốt
Trang 3Dê ăn tầm cao và địa hình dốc
Trang 4I ĐẶT VẤN ĐỀ (TT)
Câu hỏi đặt ra là khi nuôi dê nhốt trong điều kiện khác tự nhiên con người đặt ra (nuôi nhốt) thì liệu tập tính trên còn được dê lưu giữ hay không?
Nghiên cứu nhằm đưa ra những bằng
chứng thực nghiệm để có thể khuyến cáo cho nông dân nuôi nhốt (carry and cut
systems)
Hạn chế dê thả rông phá rừng và mùa
màng
Trang 5Dê nuôi nhốt ở xã vùng cát Phong Chương Thừa Thiên Huế
Trang 6II MỤC ĐÍCH
Mô phỏng tập tính ăn tầm cao (bipedal stance
behavior) ngoài tự nhiên của dê vào trong
phương thức chăn nuôi dê theo mô hình nuôi
nhốt (carry and cut model) nhằm:
Tăng tần suất thu lượm lá (bite rate)
Tăng lượng ăn vào của dê (intake)
Nâng cao hiệu suất khai thác phần ăn được
(eatable feed part) của thức ăn từ các nguồn lá
cây hoang dại và phế phụ phẩm nông nghiệp để tăng lãi cho người nuôi dê
Khuyến cáo nông dân thiết kế đặt máng thức ăn cho dê với độ cao thích hợp nhằm đạt hiệu quả
khai thác thức ăn tối đa để nâng cao hiệu quả
nuôi dê nhốt
Trang 7III ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được triển khai ở trại dê Phú Bài,
Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế
Số lượng dê được chọn vào nghiên cứu là 30
con
Đồng đều về giới tính cũng như trọng lượng
(khoảng 30 kg), sức khoẻ tốt
Trang 82 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 kg trọng lượng trao đổi), theo độ cao đặt nguồn thức ăn 1.0 mét, 0.5 mét và 0 m (mặt sàn)
phần ăn được của khối thức ăn đưa vào
theo độ cao đặt nguồn thức ăn 1.0 mét, 0.5 mét
và 0 m (mặt sàn) trong 5 phút thử nghiệm
được của dê theo các độ cao đặt nguồn thức ăn khác nhau, 1.0 m, 0.5 m và 0 m ( mặt sàn)
Trang 93 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 103 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU( TT)
Thiết kế giá thí nghiệm
Trang 113 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Thiết kế giá thí nghiệm (tt)
Trang 123 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Nguồn thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
Các loại lá cây sử dụng để thử nghiệm (test) bao gồm 10 loại lá: lá mít, lá mía, lá sầu đông, lá khoai lang, lá khế, lá tre, lá chuối, lá cúc dại hai răng, lá ngái, lá sung
Đây là các phế phụ phẩm nông nghiệp, lá vườn nhà và các lá cây hoang dại sẵn có và phổ biến ở Thừa Thiên Huế
Thức ăn thí nghiệm được chuẩn bị trước khi thí
nghiệm khoảng 30 phút để đảm bảo độ tươi ngon,
bó thành bó gọn gàng, treo sẵn vào trong các ô
Trang 133 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Tập cho dê làm quen với hệ thống thử
nghiệm
và loại trừ hiệu ứng neophobia
Trước khi thí nghiệm 10 ngày dê được tập ăn 10 loại thức ăn kể trên để làm quen với giá thí
nghiệm, các loại thức ăn mới và loại trừ hiệu ứng neôphbia (sợ những cái mới, giá thử nghiệm và thức ăn lạ) ảnh hưởng đến lượng ăn vào (Đàm Văn Tiện, 2003)
Trang 143 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Mô tả tiến trình test
Thí nghiệm được tiến hành vào buổi sáng từ 5h00 đến 8h00 khi dê đang đói (pass situation) sau một đêm không được cho ăn
Dê được đưa từng con một vào ô chuồng được
đánh thứ tự từ ô chuồng 1 đến ô chuồng 5
Đàn dê được phân thành 3 lô, mỗi lô 10 con đều được đánh số thứ tự Mỗi ngày sẽ test cho một lô với 10 loại thức ăn khác nhau và mỗi con dê sẽ sử dụng một loại thức ăn cho một ngày test
Trang 153 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Mô tả tiến trình test (tt)
Thử nghiệm được tiến hành từng con một đối với mỗi ô chuồng và trong thời gian test, gia súc
được test vẫn nhìn thấy các con khác trong đàn
Đơn vị tính lượng ăn vào được quy đổi thành
gam/ 1 phút/ 1 kg trọng lượng trao đổi để loại trừ ảnh hưởng của thể trọng đến lượng ăn vào
Thời gian thử nghiệm được tiến hành từ ngày
10/12/2006 đến 10/03/2007
Trang 163 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Trang 173 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (TT)
Xử lý thống kê
Số liệu thu thập được được xử lý thống kê bằng phần mềm MINITAB chuyên dụng, Version 13.20, ANOVA General Linear Model
Trang 18IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
dê trong
thời gian 5 phút thử nghiệm
Trang 19IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 20IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (TT)
nguồn thức ăn khác nhau
Trang 21IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (TT)
bó lá thức ăn ở các độ cao khác nhau
Trang 22V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1 KẾT LUẬN
Việc nâng cao độ cao đặt nguồn thức ăn cho dê đã làm
tăng lượng thức ăn vào rõ rệt ở các dê thí nghiệm Điều
này cho thấy tập tính ăn tầm cao (bipedal stance behavior) của dê vẫn thể hiện không chỉ ngoài tự nhiên, mà ngay cả trong điều kiện nuôi dưỡng ở chuồng trại do con người tạo ra.
Số miếng ăn ( tần suất lấy thức ăn) cũng tăng dần theo sự tăng độ cao đặt nguồn thức ăn và cho thấy dê dường như thích thú ăn và ăn nhanh hơn khi độ cao đặt nguồn thức ăn tương tự như độ cao nguồn thức ăn ngoài tự nhiên mà nó thường ăn.
Hiệu suất sử dụng phần ăn được của bó lá tăng lên khi nguồn thức ăn được đặt cao hơn và nó cũng đồng biến với lượng ăn vào và tần suất lấy thức ăn.
Trang 23V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (TT)
2 ĐỀ NGHỊ
Chúng tôi khuyến cáo những người chăn nuôi dê nên treo thức ăn lên cao sẽ kích thích dê ăn nhiều
và ăn hết được phần lá cây có thể ăn được
Việc thiết kế chuồng dê, nên quan tâm đến việc thiết kế máng ăn đặt cao hơn mức truyền thống hiện nay nhằm nâng cao lượng ăn vào và hiệu
quả sử dụng thức ăn bổ sung nuôi dê
Trang 24Xin chân thành cảm ơn!