1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tình hình chung của giáo dục đại học, giáo dục đại học ngoài công lập hãy phân tích tổ chức, quản lý

40 839 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 416,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mình; ý thức ham học hỏi và tinh thần vượt khó của các thế hệ học sinh, sinh viên; sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội đối với sự nghiệp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC

TIỂU LUẬN

Môn: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Đề tài 1: Nội dung:

A Tình hình chung của giáo dục đại học

B Giáo dục đại học ngoài công lập

Hãy phân tích: Tổ chức, quản lý?

Chương trình đào tạo: Nghiệp vụ sư phạm đại học

Giảng viên: PGS TS Phạm Lan Hương

LỚP NVSP Đại học K 19

NHÓM 6

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/2013

Trang 2

NCL Ngoài công lập

Trang 4

1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

1.1 Những thành tựu, k ết quả

Nhìn tổng quát, trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp rất quan trọng vào thành tựu của đất nước: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả [2] Những thành tựu, kết quả chính của giáo dục là:

 Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động

 Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, lao động nông thôn, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn Bình đẳng giới trong giáo dục được bảo đảm

 Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Học sinh, s inh viên Việt Nam đạt kết quả cao trong các kỳ thi quốc tế và khu vực Nhân lực nước ta đã làm chủ được một số công nghệ hiện đại

 Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực

 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục

 Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng cường và từng bước hiện đại hóa

 Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng

Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu, kết quả:

Những thành tựu, kết quả quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự ưu tiên đầu tư của các gia đình cho việc học tập của con em

Trang 5

mình; ý thức ham học hỏi và tinh thần vượt khó của các thế hệ học sinh, sinh viên; sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội đối với sự nghiệp giáo dục; ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng đổi mới trong chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, bước đầu đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế [19]

1.2 Những hạn chế, yếu kém

 Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, là một trong những nguyên nhân làm hạn chế chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Giáo dục còn nặng bệnh thành tích; đánh giá kết quả ở nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu thực chất

 Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức; phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá lạc hậu, nhiều bất cập Thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh

 Hệ thống giáo dục còn cứng nhắc, thiếu tính liên thông giữa các trình độ đào tạo

và các phương thức giáo dục, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Chưa gắn kết đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường lao động

 Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Một số hiện tượng tiêu cực kéo dài trong giáo dục, chậm được khắc phục, có việc còn trầm trọng hơn, gây bức xúc xã hội Chưa coi trọng đúng mức đánh giá hiệu quả quản lý và hiệu quả đầu

tư cho giáo dục

 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; thiếu động lực tự học và đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục

Trang 6

 Nhiều chính sách và cơ chế tài chính lạc hậu, phân bổ tài chính mang tính bình quân, dàn trải Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu và lạc hậu, chưa đạt chuẩn quy định, thiếu quỹ đất dành cho phát triển giáo dục Ngoài ra, những mặt hạn chế và yếu kém của nền giáo dục đại học Việt Nam còn được chỉ ra ở nhiều khía cạnh khác nhau [3]:

1.2.1 Công tác giảng dạy và học tập ở bậc đại học:

 Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình

và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực (như giao bài tập về nhà có chấm điểm, thảo luận trong lớp), kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trong và ngoài lớp học Nhiều giảng viên không định ra lịch để tiếp sinh viên

 Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnh vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu

 Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại những thông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi)

 Đa số sĩ số ở các lớp đại học quá đông

 Quá nhiều sinh viên không đến lớp

 Sinh viên mất quá nhiều thời gian học ở lớp mỗi ngày và học quá nhiều môn trong một học kỳ mà không có thời gian để tiếp thu tài liệu (không có học và hiểu sâu)

 Sau giờ học, hầu hết sinh viên đi làm thêm, do đó họ không có thời gian để làm bài tập có thể được cho về nhà làm

 Thiếu hiểu biết về sự khác biệt giữa giáo dục (sự chuẩn bị chung cho việc học cá nhân và nghề nghiệp lâu dài) và đào tạo (sự chuẩn bị cụ thể để hoàn tất công việc)

 Thiếu nhấn mạnh đến sự phát triển các kỹ năng thông thường và nghề nghiệp, chẳng hạn như làm việc theo nhóm, khả năng giao tiếp hoặc viết bằng tiếng

Trang 7

Anh, quản lý dự án, các phương pháp giải quyết vấn đề, sáng kiến, học lâu dài, v.v

 Thiếu hiểu biết về mối tương quan giữa việc sử dụng phương pháp dạy hiện tại với chất lượng và mức độ tiếp thu của sinh viên

 Thiếu sự chuẩn bị cho các giảng viên trong các lĩnh vực: phương pháp sư phạm (như phương pháp, tài liệu giảng dạy và học tập); thiết kế và phát triển giảng dạy nhằm hướng đến cải tiến các môn học và chương trình đào tạo; phát triển chuyên môn nghiệp vụ (như đào tạo sau đại học)

 Không có nhiều nguồn tài liệu viết hoặc nguồn tài liệu điện tử, cũng như các cán

bộ hỗ trợ chuyên nghiệp để giúp đào tạo các phương pháp giảng dạy và học tập mới nhất

 Sách, tài liệu thuyết giảng, phần mềm lạc hậu

 Trang thiết bị phòng học nghèo nàn (quá nhiều tiếng ồn và không tiện nghi), trang thiết bị phòng thí nghiệm và thiết bị để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu không tương xứng hoặc không có

 Trang thiết bị thư viện và các nguồn lực không phù hợp (như thiếu không gian, thiếu các sách báo, tạp chí chuyên ngành dưới dạng ấn phẩm và điện tử, sử dụng Internet băng thông rộng còn hạn chế, và quá ít máy vi tính)

 Thiếu tôn trọng tài sản trí tuệ thể hiện rõ đối với các ấn phẩm tài liệu và phần mềm

1.2.2 Chương trình đào tạo và các môn học ở bậc đại học

 Chương trình đào tạo đại học yêu cầu quá nhiều môn học (6-8) và số tín chỉ (khoảng 25) trong một học kỳ, kết quả là sinh viên không có kiến thức sâu Đây

là khối lượng công việc khá nặng cho giáo viên và sinh viên Sinh viên không thể hấp thụ được hết khái niệm và nội dung, không tiếp thu được các nguyên tắc, và không thể hoàn tất bài tập về nhà Giáo viên không có thời gian cho môn học và chuẩn bị lên lớp, hoặc phản hồi cho sinh viên

Trang 8

 Thông thường, các trường đại học hàng đầu trên thế giới đều yêu cầu ít hơn 200 tín chỉ, chỉ vào khoảng 120 tín chỉ để tốt nghiệp Bộ Giáo dục và Đào tạo nắm quyền kiểm soát quá nhiều về mặt nội dung trong hai năm học đầu, ví dụ, “hình hoạ” là môn bắt buộc đối với sinh viên ngành kỹ thuật Đây là kỹ năng yêu cầu phải có trước khi đăng ký học đại học hoặc thông qua các môn học khác, sẽ tốt hơn nếu môn học này không được xem là một môn học trong chương trình đào tạo

 Thường không có sự liên kết giữa các môn học có liên quan Ngoài ra trình tự sắp xếp chưa rõ trong toàn bộ chương trình đào tạo đại học (ví dụ các môn học

kỹ thuật được dạy quá trễ)

 Nhiều môn học trong chương trình đào tạo không liên quan đến ngành học và chuyên ngành

 Nội dung của từng môn học và toàn bộ chương trình đào tạo lạc hậu và không ngang tầm với các trường đại học hàng đầu thế giới Đặc biệt, ít dạy các khái niệm và nguyên lý và quá nhấn mạnh vào kỹ năng và lý thuyết

 Các ứng dụng thực tiễn tập trung vào các bài tập mức độ thấp như lập trình và giải bài tập để tìm câu trả lời đúng, hơn là các khả năng tư duy như phân tích, tổng hợp, đánh giá và giải quyết vấn đề

 Không có đủ các bài thực tập tại phòng thí nghiệm do tỉ lệ chương trình đào tạo dành cho phòng thí nghiệm không thích hợp và trang thiết bị còn thiếu Có sự mất cân đối giữa các môn học lý thuyết và các môn học thực hành

 Các chương trình đào tạo đại học chưa trang bị đủ về tiếng Anh (gồm các kỹ năng viết đọc, nghe, nói), và điều này rất quan trọng bởi vì tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quốc tế và hầu hết các tài liệu nghiên cứu đều bằng tiếng Anh

 Thiếu sự chuẩn bị cho các kỹ năng thông thường và nghề nghiệp như giao tiếp nói và viết, các kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, quản lý

dự án, tư duy phê phán, và sự tự tin

Trang 9

 Tính chất duy nhất của chương trình đào tạo trong mỗi chuyên ngành đã làm cho sinh viên không thể chuyển qua ngành khác sau khi đã đăng ký học một chương trình đào tạo

 Các môn học và toàn bộ chương trình đào tạo không được định hướng bằng những kỳ vọng về kết quả học tập của sinh viên

 Sinh viên không có cơ hội thường xuyên đánh giá các môn học và toàn bộ chương trình đào tạo có liên quan đến thành tích học tập đạt được

1.2.3 Giảng viên

 Đội ngũ giảng viên được trang bị ít ỏi về mặt học thuật do chỉ tập trung vào việc học thuộc lòng các dữ kiện (lý thuyết) trong giáo dục đại học và thiếu các trang thiết bị nghiên cứu hiện đại cho các học viên cao học vàng hiên cứu sinh Các vấn đề cụ thể bao gồm:

Giảng viên có bằng cử nhân chịu trách nhiệm phụ trách phòng thí nghiệm (Họ

có ít hoặc không có kinh nghiệm nghiên cứu) Ban giám hiệu nhà trường có thể xem xét đặt các phòng thí nghiệm dưới s ự giám sát của các giảng viên trong khoa có học vị cao hơn

Giảng viên, có hạn chế về đào tạo sau đại học như chỉ xong chương trình thạc sĩ, chịu trách nhiệm lên lớp phần lý thuyết về những kiến thức mang tính dữ kiện, kết quả là phần bài giảng của họ là không s âu

 Giảng viên thiếu các kiến thức cập nhật trong chuyên ngành liên quan đến chương trình đào tạo, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu

Do đó, thiếu các giảng viên đạt trình độ có thể hiện đại hoá phương pháp giảng dạy đại học, chương trình đào tạo, cũng như giáo dục và nghiên cứu sau đại học

 Tuyển dụng học thuật còn mang tính chất nội bộ đã cản trở sự trao đổi kiến thức chéo vì các trường tiến hành tuyển trợ lý phòng thí nghiệm, học viên cao học, nghiên cứu sinh, giảng viên và giáo sư từ chính trong nội bộ của các trường

Trang 10

 Giảng viên dạy quá nhiều nhưng lương thì thấp (dạy trên 20 giờ một tuần và làm việc thêm ngoài giờ để kiếm sống), do đó, khối lượng giảng dạy rất nặng Họ thiếu thời gian cần thiết để nâng cao kỹ năng giảng dạy, nội dung môn học, chương trình đào tạo, và khả năng nghiên cứu Thêm vào đó, không có khen thưởng để khuyến khích họ cải tiến Ngoài ra, vì khối lượng giảng dạy nhiều nên các giảng viên không có thời gian gặp gỡ sinh viên ngoài phạm vi lớp học

 Giảng viên thụ động và không muốn thay đổi hoặc cải tiến vì điều này mất nhiều thời gian và công s ức

 Giảng viên thuộc biên chế thiếu sự hỗ trợ trong các lĩnh vực sau: có ít hoặc không có sự hỗ trợ phát triển về mặt chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên với

tư cách là một người đứng lớp hay là một học giả;

 Thiếu nguồn nhân lực hỗ trợ cho giảng viên như trợ giảng và hoặc trợ lý nghiên cứu, thư ký, chuyên gia phát triển về cách thức giảng dạy; và trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu phục vụ cho việc giảng dạy (phòng học) và nghiên cứu (phòng thí nghiệm)

 Thư viện thiếu tiện nghi và nguồn tài liệu ít ỏi như sách giáo khoa, tạp chí chuyên ngành điện tử, tạp chí chuyên ngành quốc tế, các cơ sở dữ liệu điện tử

 Thăng tiến và mức lương phụ thuộc vào thâm niên, không căn cứ theo thành tích

 Giảng viên được nhận tiền thưởng dựa trên thời lượng giảng dạy, chứ không phải việc thực hiện nghiên cứu

 Một số giảng viên từ nước ngoài về bất mãn trước sự thay đổi chậm chạp

Trang 11

 Giảng viên khôn g nhận biết được viễn cảnh của các cấp lãnh đạo cao hơn đ ể cải tiến nhà trường và giáo dục đại học

 Giảng viên không tham gia vào các quyết định quan trọng về chương trình đào tạo và các vấn đề liên quan khác

 Không có tiến hành đánh giá giảng viên; do đó, không có phản hồi về công tác giảng dạy của họ

 Giảng viên khôn g nhận thức được hết các thủ tục và các bước của hệ thống khen thưởng (như thăng tiến, khen thưởng, bổ nhiệm) hoặc hậu quả của côn g tác giảng dạy của họ

1.2.4 Giáo dục và nghiên cứu s au đại học

 Việc thiếu chuẩn bị của giảng viên và s inh viên bậc s au đại học liên quan đến

sự quá n hấn mạnh cách học thuộc lòng kiến thức dữ kiện (lý thuyết) trong giáo dục đại học

 Giảng viên sau đại học dường như thiếu kiến thức cập nhật trong ngành của

họ cũn g như chương trình đào tạo mới nhất và nội dung môn học, thực hành giảng dạy và nghiên cứu Do đó, có s ự thiếu hụt rõ ràng về các giáo s ư đạt trình độ để hiện đại hóa chương trình giáo dục và nghiên cứu của bậc đại học

và sau đại học

Bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007

ĐH tổng hợp Quốc gia Seoul Hàn Quốc 5.060

ĐH tổng hợp Quốc gia Singapo re Singapore 3.598

ĐH tổng hợp Bắc Kinh Trung Quốc 3.219

ĐH tổng hợp Ph úc Đan Trung Quốc 2.343

ĐH tổng hợp M ahidol Thái Lan 950

ĐH tổng hợp Chulalongkorn Thái Lan 822

ĐH tổng hợp M alaya Malaysia 504

Trang 12

ĐH tổng hợp Ph ilippines Philippines 220

Đ H Q uốc gia Việt Nam (Hà Nội

và thành phố H CM)

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Việt Nam 44

Nguồn: Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters (2007)

 Thiếu các trang thiết bị nghiên cứu hiện đại trong phòng thí nghiệm dành cho giảng viên, sinh viên sau đại học Trang thiết bị sẵn có hầu như đã lỗi thời và nghèo nàn

 Giảng viên s au đại học có ít hoặc không có trợ lý phòng thí nghiệm nghiên cứu hoặc nhân viên hỗ trợ kỹ thuật và công việc văn phòng

 Các thư viện dành cho học viên cao học và nghiên cứu s inh không đủ và có

ít, nếu có, cơ hội truy cập các nguồn học thu ật khoa học như sách giáo khoa, tạp chí điện tử, và cơ s ở dữ liệu điện tử

 Dường như không có được s ự hỗ trợ cần thiết để tham dự các hội thảo quốc

1.2.5 Đánh giá k ết quả học tập của sinh viên và hiệu quả

nhà trường:

 Ở cấp độ môn học, hiện khôn g có cơ chế phản hồi về giảng dạy và học tập cho mục đích cải tiến Thiếu hẳn cách th ức đán h giá thường kỳ Ít khi có b ài tập về nhà và, nếu có th ì cũng không tính điểm hoặc không ghi nhận xét cho sinh viên Dường như còn phụ thuộc q uá nhiều vào các kỳ thi cuối để tính

Trang 13

điểm Sinh viên không biết được thành tích học cho đến cuối khoá học Đặc biệt, không áp dụng đánh giá khoá học để thu thập phản hồi từ sinh viên về giảng dạy và học tập Các bài thi và kiểm tra không được thường xuyên s ử dụng để đánh giá s ự lĩnh hội của s inh viên, hoặc để chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu của công tác giảng dạy Giảng viên dường như không phải chịu trách n hiệm đến chất lượng giảng dạy và học tập, cũng như cải tiến ch ất lượng giáo dục Thiếu bằng chứng liên quan đến chất luợng giảng dạy và học tập Giảng viên dường như thiếu kiến thức và kỹ năng liên quan đến công tác đánh giá giảng dạy và học tập

 Ở cấp độ khoa, rõ ràng là không có nhiều cô ng tác đánh giá, dựa trên các d ữ liệu đánh giá, chất lượng các môn học trong chương trình đào tạo và nhữn g thành tích của các s inh viên chuyên ngành Chương trình đào tạo và môn học thường không được điều chỉnh hoặc cập nhật dựa trên các phản hồi về giảng dạy và học tập Bằng ch ứng trực tiếp về học tập của s inh viên rõ ràng khôn g được s ử dụng trong việc đán h giá các môn học hoặc chương trình đào tạo Thành tích học tập hay những thành công của s inh viên tốt nghiệp không được giám s át kỹ lưỡng Các chương trình học dường như không được xem xét thường kỳ để liên tục nâng cao chất lượng, dựa vào các tiêu chuẩn thường được áp dụng tại các trường đại học hàng đầu trên thế giới

 Rõ ràng thiếu cơ sở hạ tầng nghiên cứu ở cấp trường Điều này muốn nói đến nghiên cứu các thô ng tin về trường, ch ứ không phải các dự án nghiên cứu trong các ngành học Các giải pháp tiềm năng bao gồm tổ ch ức đào tạo ch o các nhà quản lý giáo dục phụ trách công tác đào tạo; thành lập các văn phòng nghiên cứu của trường; và cung cấp nguồn tư liệu điện tử để theo d õi, phân tích và báo cáo số liệu v ề s inh viên, bao gồm đăng ký ghi dan h, tiến triển của quá trình học, tốt nghiệp và kết quả học tập

 Hiệu quả trường không được đán h giá dựa trên kết quả học tập sinh viên v à hiệu quả nghiên cứu Các phạm vi quản lý dường như không chịu trách nhiệm đóng góp vào chất luợng giảng dạy và học tập Các khoa dường như không ch ịu trách nhiệm về chất luợng giảng dạy, v ề việc đạt được các kết

Trang 14

quả học tập của sinh viên đ ã xác định trước, và hiệu quả n ghiên cứu Không

có nhiều kỳ vọng đối với việc không ngừng cải tiến dựa trên bằng chứng học tập củ a s inh viên và hiệu quả trường Không có nhiều các nguồn lực hỗ trợ cho qui trình đánh giá

 Kiểm định cấp nhà nước (như đánh giá cuối kỳ) còn đan g ở trong giai đoạn đầu của quá trình thiết lập với một số tiềm năng phát triển Các tiêu chuẩn hiện hành dường như mang tính tuân th ủ hơn là đánh giá việc học của s inh viên và s ự liên tục cải tiến Dường như thiếu hụt nguồn nhân lực để trợ giúp cho các trường và các khoa khác nhau Tốt nhất là các cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và văn phòng trung tâm của đại học quốc gia tổ chức đào tạo

và hỗ trợ cho công tác kiểm định và đánh giá

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

Chưa nhận thức sâu sắc và chậm đổi mới tư duy về phát triển giáo dục trong

cơ chế thị trường định hướng xã h ội chủ nghĩa Nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương còn lún g túng trong việc cụ thể hóa q uan điểm “giáo dục là quốc s ách hàng đầu” và xử lý các vấn đề của giáo dục trong thực tiễn; chưa thể ch ế h óa kịp thời, phù hợp các chủ trương, ch ính s ách của Đảng về giáo dục Chưa có s ự phối hợp tốt giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã h ội trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển g iáo dục Việc xác định nhiều mục tiêu phát triển giáo dục chưa tính to án đầy đủ đến các điều kiện thực hiện Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của ngành giáo dục Không kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách về giáo dục Các chế độ, chính s ách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏa đáng

Tư tưởng và thó i quen bao cấp trong giáo dục còn nặng nề Chưa nhận thức đầy đủ về v ai trò quyết định chất lượng giáo dục của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Những nhận thức lệch lạc về giáo dục, bệnh hình thức, sính bằn g cấp và những tiêu cực xã h ội đã để lại nhiều hậu quả khó khắc phục trong giáo dục

Yếu kém trong công tác q uản lý, chỉ đạo của ngành giáo dục, bao gồm cả quản lý ngành và q uản lý các cơ s ở giáo dục, là nguyên nhân của nhiều yếu kém

Trang 15

khác Quản lý, chỉ đạo còn nặng về đ iều hành s ự vụ; chưa chủ động th am mưu các chính sách, giải pháp bảo đảm điều kiện phát triển giáo dục; chưa coi trọng đúng mức công tác q uản lý chất lượng , thanh tra, kiểm tra, giám sát; chưa kịp thời tổng kết, nhân rộng các điển hình tiên tiến, chưa tạo được đ ộng lực đổi mới từ trong ngành Các nguyên lý giáo dục chưa được quán triệt và thực hiện tốt Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng Chưa có cơ ch ế s àng lọc, đưa những nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp

vụ và phẩm chất, đạo đức ra khỏi ngành giáo dục

Nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của phần đông gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng các hoạt động giáo dục Mức chi cho mỗi người học chưa tương xứng với yêu cầu về chất lượng, chưa phù hợp ngành nghề và trình độ đào tạo

1.3 Đánh giá chung

Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp, được

sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, với những nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, xây dựn g và b ảo vệ Tổ quốc: thực hiện giáo dục toàn dân, nân g cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; góp phần giáo dục ý thức công dân , phẩm chất chính trị, lý tưởng cách mạng cho các thế

hệ con người Việt Nam; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; các điều kiện đảm bảo chất lượng được tăng cường ; chất lượng và hiệu quả giáo dục ở các cấp học, trình độ đào tạo có tiến bộ; hợp tác quốc tế được mở rộng; lực lượng lao động qua đào tạo tăng khá nhanh Những thành tựu trên và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới cho phép và đòi hỏi giáo dục Việt Nam chuyển từ phát triển thực tế chủ yếu theo mục tiêu s ố lượng s ang mục tiêu coi trọng cả chất lượng, hiệu quả v à s ố lượng theo nhu cầu xã hội [8] Tuy nhiên, s o với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế

và phát triển bền vững, giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập Giáo dục vẫn chưa thực s ự là quốc s ách hàng đầu, chưa được ưu tiên nhất trong các chương trình phát

Trang 16

triển kinh tế - xã hội, chưa được coi là nhân tố quyết định của phát triển đất nước Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục đã được n êu từ Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII vẫn chậm được khắc p hục, có mặt còn nặng nề hơn Khoa học giáo dục còn lạc h ậu Chất lượng giáo dục chưa đáp ứn g yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; chưa tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về nhân lực của nước ta s o với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa tích cực chủ động góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Quản lý giáo dục còn nhiều bất cập; kinh phí đầu tư cho giáo dục còn hạn chế Th iếu dự báo n hu cầu nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu học tập của nhân dân để làm cơ

sở cho công tác quy hoạch phát triển giáo dục [20]

2 TỔ CHỨC, QUẢN LÝ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Trong những năm qua, khả n ăng tổ chức và quản lý v ẫn là một điểm yếu lớn của khá n hiều trường đại học, phổ biến trong khối đại học dân lập, liên quan đến việc thiết kế bộ máy và hệ thống văn bản pháp chế s ao cho khoa học, đồng bộ và có hiệu quả Do đó, đối với những trường đại học đ a ngành và đa lĩnh vực, vấn đề tổ chức quản lý nhà trường càng trở nên bức thiết Trong khi đó, với những trường có nhiều

dự án hợp tác quốc tế, khả năng bố trí cán bộ quản lý dự án thường không đáp ứn g được Đây cũng là lý do vì sao trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển khả năng tổ chức và quản lý của từng trường đại học đã trở thành một yêu cầu bức thiết [12]

2.1 TỔ CHỨC TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Công tác tổ chức là những việc làm để tập hợp nhiều người lại với nhau; xây dựn g

cơ cấu bộ máy làm việc; định rõ nhiệm vụ, quyền h ạn, trách nhiệm của từng người, từn g bộ phận trong tổ chức; đưa ra khỏi tổ chức những người không phù hợp, bổ sung thêm người mới hay còn thiếu; đề ra ch ương trình , kế hoạch và cách thức hành động của các thành viên, để tổ chức hoạt động được nhịp nhàng , ăn khớp với nhau

và đạt hiệu quả

Công tác tổ chức trong GDĐH nhiều năm nay cũng đạt được nhiều thành quả nhất định; tuy nhiên, so ng song với những thuận lợi đó cũng còn nhiều thách thức:

Trang 17

2.1.1 Thuận lợi

- Đất nước ổn định về ch ính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm qua, Chiến lược p hát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực giai đo ạn 2011 - 2020 là những tiền đề cơ bản để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam;

- Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục

và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội phát triển đất nước trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" và h ội nhập quốc tế mạnh mẽ;

- Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truy ền thông phát triển mạnh làm biến đổi s âu sắc các lĩnh vực củ a đ ời s ống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới giáo dục;

- Quá trình hội nhập quốc tế s âu rộng tạo cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục;

- Nhân dân ta v ới truyền thố ng hiếu học và chăm lo cho giáo dục, s ẽ tiếp tục dành s ự quan tâm và đầu tư cao cho giáo dục v à đào tạo

2.1.2 Thách thức

- Nguồn lực N hà nước và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục

và đào tạo, nhất là về tài chính còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo chất lượng giáo dục trong khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao;

- Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đều giữa các địa phương vẫn là nguyên nhân của sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục

và sự chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các đối tượng người học và các vùng miền;

- Tư duy bao cấp, sức ỳ trong nhận t hức, tác phong quan liêu trong ứng xử với giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng

Trang 18

như tư duy bao cấp và tâm lý khoa bảng của người dân còn lớn, không theo kịp s ự phát triển nhanh của kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ;

- Khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ giữa nước

ta và các nước tiên tiến có xu hướng gia tăng Hội nhập quốc tế và hiện tượng thương mại hóa giáo dục đang làm nảy sinh nhiều nguy cơ tiềm ẩn như sự thâm nhập lối sống không lành mạnh, xói mòn bản s ắc văn hoá dân tộc; s ự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục kém chất lượng, chạy trường , ch ạy điểm,…

- Cơ chế tổ chức quản lý trong các trường đại học VN khá phức tạp, chưa có cơ quan hay tổ chức trung gian nào làm việc độc lập, khách quan với các cơ quan quản

lý Nhà nước về GD để có các ý kiến p hản biện, kịp thời chấn chỉnh cũn g như g óp ý cho các d ự thảo hoặc Luật GD Và trong thực tế, hiệu trưởng các trường đại học công cũng được trao nhiều quyền hạn hơn trước Tuy nhiên, ở các trường tư thì cò n phức tạp hơn khi các hiệu trưởng làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cả hội đồng quản trị và của cấp ủy nhà trường

Từ nhiều năm nay, các trường đại học VN đã có mối quan hệ hợp tác về đào tạo với một s ố quốc gia trên th ế giới và gặt hái được một s ố thành quả Tuy nhiên, nếu xét về thực chất thì chúng ta mới chỉ dừng lại ở giai đoạn tiếp nhận và sử dụng các nguồn tài trợ (nguồn vay và viện trợ khôn g hoàn lại) hơn là xây dựng được những trao đổi ngan g bằng về lợi ích kinh tế và các giá trị tinh thần liên quan với các quốc gia khác

Tron g khi đó, với điều kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, Việt Nam

đã bước s ang giai đoạn phải nhanh chó ng nâng cao năng lực nội sinh nếu khôn g muốn ngày càng bị tụt hậu [12]

2.2 QUẢN LÝ

2.1.1 Thực trạng quản lý giáo dục đại học ở Việt Nam

Trong Đề án “Quy hoạch hệ thống mạng lưới các trường đại học và cao đẳng Việt Nam giai đoạn đến năm 2020” của Bộ Giáo dục và Đào tạo s oạn thảo vào tháng 8-1999 có phương án chuyển 39 viện nghiên cứu cơ bản về các trường đại học v à phương án tổ chức lại hai Đại học Quốc gia [10, 11] Những nhà quản lí có

tư tưởng đổi mới đại học Việt Nam lúc đó chủ trương hình thành những đại học đa

Trang 19

lĩnh vực trong đó có s ự liên kết giữa khoa học cơ bản và khoa học công nghệ, giữa khoa học tự nhiên và khoa h ọc xã hội - nhân v ăn, và các đại học đa lĩnh vực được hình thàn h trên nguyên tắc không thể thiếu một trong hai trường Tổng hợp và Sư phạm

Đại học Quốc g ia Hà Nội được thành lập ngày 10-12-1993 trên cơ sở 3 trường đại học: Tổn g hợp, Sư phạm và Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27-01-1995 trên cơ sở các trường đại học: Tổn g hợp, Sư p hạm, Kinh tế - Tài chánh , Bách khoa, Nông Lâm, Sư phạm Kỹ thuật, Kiến trúc, Luật Đại học đ a lĩnh vực cũng được thành lập ở Huế, Đà Nẵng, Thái Nguyên Đến lúc này Trường Đại học Cần Thơ cũng được duy trì cấu trúc của Đại học Cần Thơ như trước năm 1975 Việc s áp nhập các trường đại học để thành lập Đại học Quốc gia ở

Hà Nội và ở TP Hồ Chí Minh hay Đại học Khu vực như ở Huế, Đà Nẵng, Th ái Nguyên cho thấy một nỗ lực cải tổ về tổ chức quản lý với mục đích giải quyết tình trạng phân tán trùng lắp của các trường đại học nhỏ chuyên môn riêng biệt và kém hiệu quả Tuy nhiên khi s o sánh các “Viện” Đại học đa lĩnh vực ở Hà Nội, Huế, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh và các Trường Đại học riêng lẻ ở ngoài thì chú ng cho thấy tình trạng thiếu s ự nhất quán về tổ chức quản lý các “Viện” Đại học và Trường Đại học

Ở Huế thì trường Đại học Y Dược ở trong “Viện” Đại học đa lĩnh vực, còn ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì trường Đại học Y Dược lại ở ngoài “Viện” Đại học Quốc gia” Ở Hà Nội còn có quá nhiều trường đại học chu yên ngành riêng lẻ tồn tại ngoài “Viện” Đại học Quốc g ia Hà Nội” Ngoại trừ Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cần th iết có trường đào tạo sĩ quan và chuyên môn riêng, việc trường Đại học Luật trực thuộc Bộ Tư pháp , trường Đại học Y Dược trực thuộc Bộ Y tế, Học viện Hàng không trực th uộc Bộ Giao thông Vận tải, và các trường Đại học Ngân hàng , Đại học Hàng hải, trường Hành chính Trung ương không nằm trong hệ thố ng quản lý của

Bộ Giáo dục và Đào tạo là không hợp lý

Tuy nhiên s au khi các đại học được thu học phí và gia tăng ào ạt về số lượng s inh viên trong ba năm học từ 1995 đến 1998, “Viện” Đại học Quốc gia Hà Nội có tới 60.000 s inh viên và “Viện” Đại học Quốc gia Th ành phố Hồ Chí Minh trở nên

Trang 20

khổng lồ với 150.000 s inh viên trong khi bộ máy quản lý mô hình “v iện đại học” chưa được ổn định Một cuộc vận động ly khai đã thàn h công trong việc tách trường Đại học Sư phạm Hà Nội ra khỏi “Viện” Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1999 và tách các trường Đại họ c Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế, Đại học Nông lâm, Đại học Sư phạm Kỹ thu ật, Đại học Kiến trúc, Đại học Luật ra khỏi “Viện” Đại họ c Quốc gia TP Hồ Chí Minh v ào n ăm 2000

Quá trình cải tổ tổ chức quản lý n ày còn tiếp tục bị đảo ngược Chẳng hạn Khoa Nha Y Dược được tách ra khỏi “Viện” Đại Học Cần Thơ để thành lập Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2002, trực thuộc Bộ Y tế Trường Đại học Y khoa Huế được tách ra từ Viện Đại học Huế n ăm 1976, rồi được s áp nhập trực thuộc trở lại

“Viện” Đại học Huế năm 1994 theo tư tưởng đổi mới giáo dục đại học đầu thập niên 1990 nói trên, nhưng đến năm 2007 trường lại được tách ra khỏi “Viện” Đại học Huế và có tên mới là Trường Đại học Y Dược Huế, trực thu ộc Bộ Y tế [10, 11] “Việc chia cắt các nhiệm vụ quản lý n hà n ước v ề giáo dục giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ ngành khác đã làm cho việc quản lý nhà nước đối với hệ thố ng giáo dục chồng chéo , phân tán, thiếu thống nhất Việc tách rời quản lý nhà nước về chuyên môn với quản lý nhân s ự, tài chính đã làm giảm tính th ống nhất trong chỉ đạo, điều hành đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân và làm cho bộ máy quản lý giáo dục trở nên cồng kềnh , nặng nề Năng lực của các cơ quan quản lý giáo dục chưa đáp ứng được nhiệm vụ quản lý trong tình hình mới.”

“Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020” cũng nêu giải pháp v ề đổi mới quản

lý giáo dục, trong đó cần “Thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục Việc quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo đảm nhận Thực hiện dần việc bỏ cơ chế Bộ chủ quản đối với các cơ s ở giáo dục đại họ c Trong thời gian trước mắt, các Bộ, các địa phương còn quản lý các trường đại học, cao đẳng phải phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy chế quản

lý trường đại học, cao đẳng"

Tuy nhiên Chính phủ vẫn chưa thành lập một ủy ban liên bộ có thẩm quyền để điều phối toàn bộ hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học trên toàn quốc cũng như để tản quyền cho tỉnh thành địa phương khi cơ chế bộ chủ quản được bải bỏ

Ngày đăng: 03/07/2014, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuy ên giáo Trung ương, Ban cán sự Đảng Bộ GD-ĐT (2013) - Báo cáo tóm tắt Đề án đổi mới toàn diện giáo dục.http://vov.vn/Xa-hoi/Giao-duc/Bao-cao-tom-tat-De-an-doi-moi-toan -dien-giao- duc/281636.vov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt Đề án đổi mới toàn diện giáo dục
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET). (2006a). Số liệu thống kê giáo dục. http://www.edu .net.vn/Data/ThongKe/v ào ngày 20 tháng 8 năm 2006, tr 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê giáo dục
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET). (2006b). Hỗ trợ kỹ thuật để chuẩn bị cho D ự án giáo dục đại học số 2: Tiền khả thi, tr 33-40http://www.tahep2.edu.vn/Default.asp?catid=25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ kỹ thuật để chuẩn bị cho D ự án giáo dục đại học số 2: Tiền khả thi
4. Hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục đại học các ban g miền Trun g Mỹ (02/2013), Đ ánh giá cao chương trình liên kết đào tạo khoa Quốc tế-ĐHQ GH N . http://dan tri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/dan h-gia-cao-chu ong-trinh-lien-ket- dao-tao-khoa-quoc-tedhqghn-701472.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ ánh giá cao chương trình liên kết đào tạo khoa Quốc tế-ĐHQ GH N
5. Hoài Nam (2012), Chuyên gia người Úc tìm lối cho G DĐ H Việt Nam "ra biển". http://dan tri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/chu yen -gia-nguoi-uc-tim-loi-cho- gddh-viet-nam-ra-bien-662335.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ra biển
Tác giả: Hoài Nam
Năm: 2012
6. Hiên Kiều (2013), Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học: "Nặng" đào tạo, "nhẹ" nghiên cứu.http://www.gdtd .vn/chann el/2741/201311/nghien-cuu-khoa-hoc-trong-cac-truong-dai-hoc-nan g-dao-tao-nhe-nghien-cuu-1975286/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nặng" đào tạo, "nhẹ
Tác giả: Hiên Kiều
Năm: 2013
7. Hiên Kiều (2013), Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học: Gắn nhà trường với doanh nghiệp.http://www.gdtd.vn/channel/2741/201311/nghien-cuu -khoa-hoc-trong-truong- dh-gan-nha-truong-voi-doanh -nghiep-1975260/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiên Kiều (2013)", Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học: Gắn nhà trường với doanh nghiệp
Tác giả: Hiên Kiều
Năm: 2013
8. Nguyễn, P. N. và McDonald,J. J. (2001). Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam. Bài tham luận tại Hội ng hị chuyên đề QHE lần thứ 6: “The End of Quality?” tổ chức tại Birmingham, ngày 25-26 thán g 5 năm 2001, tr 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam. "Bài tham luận tại Hội ng hị chuyên đề QHE lần thứ 6: “The End of Quality
Tác giả: Nguyễn, P. N. và McDonald,J. J
Năm: 2001
11. Nguyễn Thiện Tốn g (2013), Cải tổ lại hệ thống giáo dục đại học Việt Nam ra saohttp://news.go.vn/giao-duc/tin-1486201/cai-to-lai-he-thong-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-ra-s ao.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tổ lại hệ thống giáo dục đại học Việt Nam ra sao
Tác giả: Nguyễn Thiện Tốn g
Năm: 2013
12. Phạm Chí Dũng (2007), Hội nhập và chuyện tổ chức, quản lý trường đại học - Thời báo kinh tế Sài Gòn.http://vietbao.vn/Giao-duc/Hoi-nhap-va-chuyen-to-chuc-quan-ly-truong-dai-hoc/55155925/202/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập và chuyện tổ chức, quản lý trường đại học
Tác giả: Phạm Chí Dũng
Năm: 2007
13. Phạm Thị Ly (2008) - Xây dựng một hệ thống quản trị ĐH hiệu quả. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và khả năng vận dụng tại Việt”, trong Đ ổi m ới giáo dục Đ H Việt Nam , hai thời khắc đầu thế kỉ. NXB Văn hoá Sài G òn và ĐH Hoa Sen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một hệ thống quản trị ĐH hiệu quả. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và khả năng vận dụng tại Việt
Nhà XB: NXB Văn hoá Sài G òn và ĐH Hoa Sen
16. Phạm Thị Ly (dịch) (2009), Không ai có thể làm thay ta... . Trích tham luận tại Hội thảo Hợp tác quốc tế trong GD&ĐT ĐH .http://tias ang .com.vn/Default.as px?tabid=108&CategoryID=40&News =3088 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không ai có thể làm thay ta
Tác giả: Phạm Thị Ly (dịch)
Năm: 2009
18. PGS.TS Lê Đức Ngọc (2009), Bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học. Trích từ Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳn g Việt Nam" do Ban liên lạc các trường đại học và cao đ ẳng Việt Nam (VUN) tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳn g Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Lê Đức Ngọc
Năm: 2009
19. The National Academies (2006), Những quan sát về giáo dục đại học tại m ột số trường đại học Việt Nam, tr 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan sát về giáo dục đại học tại m ột số trường đại học Việt Nam
Tác giả: The National Academies
Năm: 2006
20. Vụ Hợp tác Quố c tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET). (2004). Danh bạ giáo dục và đào tạo ở Việt Nam (Xuất bản lần 3), tr 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh bạ giáo dục và đào tạo ở Việt Nam
Tác giả: Vụ Hợp tác Quố c tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET)
Năm: 2004
21. Vũ Ngọc Hải (2008) - Đổi mới quản lý giáo dục ĐH – Tạp ch í Đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam, hai thời khắc đ ầu thế kỉ, NXB Văn hoá Sài Gòn và ĐH Hoa Sen.(tr257-271) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý giáo dục ĐH –
Nhà XB: NXB Văn hoá Sài Gòn và ĐH Hoa Sen. (tr257-271)
15. Phạm Thị Ly (dịch), Toàn cầu hóa trong Giáo dục Đại học ở Việt Nam: xây dựng một cơ sở tri thức. Báo cáo của TS. Carolyn Bishop, Chủ tịch, Consortium for Global Education tại Hội thảo Giáo dục So sánh Lần thứ hai: "Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa' do Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu Văn hóa Giáo dục Quốc tế tổ chức tại TPHCM ngày 23 tháng 5 năm 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w