1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Triệu chứng học bệnh động mạch ngoại vi (Kỳ 2) ppt

5 291 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triệu chứng học bệnh động mạch ngoại vi (Kỳ 2)
Trường học Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài giảng
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 217,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triệu chứng cận lâm sàng: + Các phương pháp đo biến đổi thể tích, siêu âm mạch máu, chụp động mạch cộng hưởng từ… có thể thấy: giảm huyết áp tâm thu, giảm lưu lượng và tốc độ dòng máu đ

Trang 1

Triệu chứng học bệnh động mạch ngoại vi

(Kỳ 2)

2.2.1.2 Triệu chứng cận lâm sàng:

+ Các phương pháp đo biến đổi thể tích, siêu âm mạch máu, chụp động

mạch cộng hưởng từ… có thể thấy: giảm huyết áp tâm thu, giảm lưu lượng và tốc

độ dòng máu động mạch, có thể xác định được vị trí và hình thái động mạch bị tắc

+ Chụp động mạch cản quang: xác định chính xác vị trí và hình thái tắc của

động mạch, hơn nữa còn đánh giá được hệ thống tuần hoàn bên để giúp cho việc

tiên lượng và lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp

2.2.2 Tắc động mạch chi mãn tính:

Nguyên nhân thường là do bệnh xơ vữa động mạch: thành động mạch bị

tổn thương tạo thành các cục nghẽn gây hẹp dần lòng động mạch (cục nghẽn cơ

thể vỡ đi theo dòng máu gây tắc động mạch cấp tính phía ngoại vi) Hệ tuần hoàn

bên được hình thành thông qua các động mạch cơ nhưng lượng máu đến nuôi chi

vẫn ngày một giảm đi

2.2.2.1 Triệu chứng lâm sàng:

Trang 2

Chủ yếu khám ở chi bị tổn thương, thường là ở chi dưới

+ Đau: biểu hiện bằng triệu chứng “đi lặc cách hồi”, càng về sau mức độ

càng nặng hơn, đau cả khi nằm nghỉ

+ Có các biểu hiện thiểu dưỡng: da nhợt, lạnh, khô, lông thưa và dễ gãy,

móng dày… Có thể thấy các vết thương hoặc vết loét lâu liền, các vết loét này

thường có bờ rõ, lõm xuống và rất đau, nằm ở vùng ngoại vi như mu bàn chân và

các ngón chân

+ Mạch ngoại vi yếu hơn bên lành Thời gian đổ đầy mao mạch (khám ở

đầu ngón của chi) kéo dài (bình thường không quá 2 giây) Khi giơ cao chi ở tư

thế bệnh nhân nằm rồi đặt thấp trở lại có thể nhận thấy thời gian đầy trở lại của các

tĩnh mạch nông ở mu chân bị kéo dài ra (bình thường dưới 15 giây), thời gian để

chi hồng trở lại cũng lâu hơn (có thể mất 2 - 4 phút)

2.2.2.2 Triệu chứng cận lâm sàng:

+ Đo thay đổi thể tích, siêu âm doppler liên tục, chụp siêu âm kép:

- Đo được chính xác huyết áp tâm thu ở từng phần của chi, nhờ đó xác định

được vị trí động mạch bị tắc vì huyết áp phần dưới chỗ tắc sẽ bị giảm đi rất nhiều

so với bên lành cũng như so với trên chỗ tắc

Trang 3

- Chỉ số huyết áp cổ chân/cánh tay (ABI: ankle/brachial index) nhỏ hơn 0,9

(bình thường >1,0) khi bị tắc động mạch ở chi dưới

- Lưu lượng máu đến vùng chi dưới chỗ tắc bị giảm

- Chụp siêu âm kép xác định được chính xác vị trí và hình thái tắc của động

mạch, đồng thời còn đánh giá được mức độ giảm lưu lượng máu của vùng chi

dưới chỗ tắc

+ Chụp động mạch cản quang: xác định chính xác vị trí và hình thái tắc của

động mạch, đồng thời đánh giá được tình trạng tuần hoàn bên

2.3 Phồng động mạch:

Phồng động mạch là tình trạng thành động mạch bị giãn không hồi phục

với đường kính lớn hơn 50% so với đường kính bình thường của đoạn động mạch

đó

2.3.1 Triệu chứng lâm sàng:

+ Khối phồng: nằm ngay trên đường đi của động mạch, thường có hình bầu

dục hoặc tròn ranh giới rõ, có thể thấy khối phồng đập nẩy và co giãn theo nhịp

mạch, nghe trên khối phồng thấy có tiếng thổi tâm thu Khi ép lên đoạn động mạch

ở phần đầu trung tâm của khối phồng thì thấy khối phồng nhỏ lại, hết đập nẩy và

không còn tiếng thổi

Trang 4

+ Phần chi bên dưới túi phồng: thường có các hiện tượng thiếu máu nuôi

dưỡng như: đau, da nhợt nhạt và lạnh, mạch yếu hơn so với bên lành, có cảm giác

dị cảm hay tê chân, vận động chóng mỏi và hay bị chuột rút

2.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng:

+ Chụp X quang thường: có thể thấy hình lắng đọng canxi ở túi phồng động

mạch, có khi thấy được dị vật (mảnh kim khí ) ngay cạnh túi phồng trong phồng

động mạch sau vết thương chột

+ Chụp siêu âm mạch máu: chụp siêu âm kép có thể thấy được hình dáng,

kích thước, độ dày thành túi, tình trạng máu cục… trong lòng túi phồng; đồng thời

xác định được cả kiểu dòng chảy, tốc độ, lưu lượng của dòng máu lưu thông

trong túi phồng

+ Chụp động mạch: xác định chính xác vị trí, hình thái và các liên quan giải

phẫu của túi phồng Hơn nữa còn cho biết rõ tình trạng tuần hoàn bên, hình toàn

bộ động mạch ở trên và dưới túi phồng và cả hệ tĩnh mạch song hành với động

mạch đó

2.4 Thông động-tĩnh mạch:

Thông động-tĩnh mạch là tình trạng có đường lưu thông máu bất thường

trực tiếp giữa động mạch và tĩnh mạch không qua hệ thống đường mao mạch

Trang 5

2.4.1 Triệu chứng lâm sàng:

+ Khối bệnh lý: nằm trên đường đi của mạch máu, ranh giới thường không

rõ ràng, sờ có thể thấy “rung miu” liên tục nhưng mạnh lên ở thì tâm thu, nghe

trên khối đó thấy có tiếng thổi liên tục và cũng mạnh lên ở thì tâm thu Khi ép lên

động mạch phía trên khối bệnh lý đó thì thấy nó nhỏ lại, tiếng thổi và rung miu

đều giảm hoặc mất

+ Vùng chi phía ngoại vi:

- Thường có các hiện tượng thiểu dưỡng nặng hơn so với trong phồng động

mạch (vì có kết hợp cả thiếu máu đến nuôi dưỡng và tình trạng ứ trệ máu tĩnh

mạch trở về): đau, da nhợt tím, lạnh, mạch yếu hơn so với bên lành, có cảm giác tê

và dị cảm, dễ bị chuột rút và giảm khả năng vận động

- Ngoài ra thường thấy các tĩnh mạch nông bị giãn to, ngoằn ngoèo

+ Toàn thân:

- Mạch nhanh thường xuyên Khi ấn vào khối tổn thương để làm mất tạm

thời lỗ thông tĩnh mạch thì thấy mạch chậm lại, nhất là khi lỗ thông

động-tĩnh mạch lớn (dấu hiệu Branham)

- Có thể có các biểu hiện suy thất trái hoặc suy tim toàn bộ

Ngày đăng: 03/07/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w