1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ

67 513 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học và Khoa học Xã hội
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 337 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ. G.W.F. Hegel từng cho rằng, triết học là “thời đại phát triển đến trình độ của tư tưởng” sẽ đóng vai trò như một khoa học khái quát hoá ở tầm cao và hoạch định tinh thần của thời đại mình. Với tính cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, triết học sẽ “tri thức hoá” tính đa biến, đa chiều của tồn tại xã hội.

Trang 1

MỞ DẦU

1 Lý do chọn đề tài

G.W.F Hegel từng cho rằng, triết học là “thời đại phát triển đến trìnhđộ của tư tưởng” sẽ đóng vai trò như một khoa học khái quát hoá ở tầm caovà hoạch định tinh thần của thời đại mình Với tính cách là một trongnhững hình thái ý thức xã hội, triết học sẽ “tri thức hoá” tính đa biến, đachiều của tồn tại xã hội

Chủ nghĩa thực dụng giống như một “tấm gương phản chiếu” hiện thựchuy hoàng của nước Mỹ tư bản chủ nghĩa vào nửa sau thế kỷ XIX đang sảibước thần tốc vươn lên vị thế số một thế giới Nó vừa khắc hoạ cuộc sốnghiện thực, vừa hướng đến xây dựng hệ chuẩn lý luận về cuộc sống đó, và hơnthế, chủ nghĩa là một lý thuyết định hướng hành động của con người Mỹ Tônchỉ hành động của người theo chủ nghĩa thực dụng là lấy hiệu quả làm thước

đo, hữu dụng là chân lý

Chủ nghĩa thực dụng có nội dung vô cùng phong phú với rất nhiều trắcdiện khác nhau Dựa vào tính đa nguyên tri thức ấy, người ta đã ví von chủnghĩa thực dụng đã giống như một phiên bản thu nhỏ của triết học Mỹ vậy.Trong số rất nhiều chủ đề lý luận của chủ nghĩa thực dụng, con người tự lậpthân nổi lên như một điểm nhấn quan trọng mà nhìn vào đó nhiều người đãthừa nhận chủ nghĩa thực dụng như là người dẫn đường đáng tin cậy cho sựnghiệp lập thân trên miền đất hứa nhưng cũng đầy bất trắc

Ở Mỹ, đã có một huyền thoại hấp dẫn lâu đời về “con người tự lập thân”(self -made-man) Nhân vật ấy không chỉ được xây dựng ở những nghiên cứulịch sử mà còn ở những tiểu thuyết của Horatio Alger nói về những con ngườilàm giàu bằng hai bàn tay trắng của mình Cho đến nay, trải qua nhiều thế kỷtồn tại và phát triển, hình ảnh con người tự lập thân đã trở thành một ý niệm

Trang 2

mang tính truyền thống vững bền của nước Mỹ, đồng thời là hình mẫu lýtưởng của mỗi con người Mỹ Nhưng con người Mỹ phải tự lập thân nhưthế nào và bằng cách nào? Chúng tôi nghĩ rằng, có thể tìm thấy lời giải đáphợp lý cho những câu hỏi đó khi khám phá di sản lý luận của chủ nghĩathực dụng Mỹ.

Ở Việt Nam hiện nay, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước

ta luôn xem trọng vấn đề phát triển và nâng cao nguồn nhân lực, nhất lànguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá chiến lược, là yếu tố quyếtđịnh (Nghị quyết XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.130) Thiếtnghĩ, muốn phát triển nguồn nhân lực vững mạnh đủ sức gánh vác nhiệm vụtrọng đại của quốc gia thì một việc làm cần thiết là phải phát huy tinh thần tựlực, tự cường, và tự lập trong mỗi con người Việt Nam Ở khía cạnh này,chúng tôi nghĩ rằng, việc nghiên cứu về con người tự lập thân trong chủ nghĩathực dụng Mỹ sẽ cung cấp những gợi mở hữu ích

Từ những lý do trên đây, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu về “Vấn đề

con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ” với mong muốn làm

sáng tỏ một trong những khía cạnh lý luận quan trọng của chủ nghĩa thựcdụng Mỹ nói riêng, của triết học Mỹ nói chung

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chủ nghĩa thực dụng nói chung và vấn đề con người tự lập thân nói riêng

đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, được trình bày thành sách hoặc làcác bài đăng trên các tạp chí khoa học Có thể kể đến với những công trìnhtiêu biểu sau:

- “Lịch sử triết học phương Tây hiện đại” của Bùi Đăng Duy và NguyễnTiến Dũng (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005) Trong quyển sáchnày hai tác giả đã dành một phần để bàn về chủ nghĩa thực dụng với bối cảnh

ra đời, những triết gia tiêu biểu của trào lưu này Qua cuốn sách cũng đã trình

Trang 3

bày một số nét cơ bản của vấn đề con người tự lập thân như vấn đề niềm tin,kinh nghiệm Tuy nhiên, do nội dung trình bày có hạn nên những vấn đề nàychỉ được bàn đến một cách sơ qua, không rõ ý.

- Trong cuốn “Triết học Mỹ” của Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng,(Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005), hai tác giả đã bàn đến chủnghĩa thực dụng như là một đặc sản tinh thần của người Mỹ, là một “triết họctung bay ở ngoài trời” Các tác giả đã đi sâu và khái quát tư tưởng của các nhàthực dụng Mỹ như S Peirce, William James, John Dewey; bàn đến bối cảnhhình thành nước Mỹ, để từ đó cho thấy chính bối cảnh Mỹ lúc bấy giờ đã gópphần hình thành nên tính cách và triết học Mỹ như thế nào Cuốn sách đã bànđến nhiều khía cạnh, trường phái chủ yếu của triết học Mỹ, tuy nhiên vấn đềcon người tự lập thân chỉ được bàn đến một cách sơ lược và đan xen với cácvấn đề khác

Ngoài ra còn một số sách bàn đến nội dung này như “Lịch sử triết học”của Nguyễn Hữu Vui, Nxb Chính trị quốc gia; “Phong cách Mỹ” của GaryAlthen (do Phạm Thị Thiên Tứ dịch) của NXB Văn nghệ thành phố Hồ ChíMinh; “Văn hóa và tính cách người Mỹ” của Robert H Bella chủ biên, doChu Tiến Ánh và Phạm Khiêm Ích Biên dịch và giới thiệu; “UylliamGiêmxơ” của Vương Ngọc Bình (Quang Lâm dịch)…

Một số vấn đề có liên quan đến đề tài còn được đặt ra và giải quyết ởmức độ nhất định trong những công trình nghiên cứu ở cấp độ luận vănthạc sỹ

- Công trình “Vấn đề con người trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ” (Luậnvăn thạc sỹ triết học, 2011) của Lữ Hồng Anh Qua luận văn này, ở chương 1tác giả đã khái quát những tiền đề cơ bản hình thành nên chủ nghĩa thực dụng

Mỹ gồm tiền đề lịch sử - xã hội, tiền đề tư tưởng và tiền đề khoa học Ởchương 2 tác giả bàn đến những nội dung cơ bản của chủ nghĩa thực dụng làvấn đề con người tự lập thân và con người hành động Nhìn chung, đóng góp

Trang 4

chính của luận văn là đã khái quát những nét cơ bản của vấn đề con ngườitrong chủ nghĩa thực dụng Mỹ, những giá trị cũng như ý nghĩa của nó.

- Trong “Vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ” (Luận vănthạc sỹ triết học, 2011) của Phan Văn Thám Ở luận văn này, tác giả tập trungvào vấn đề kinh nghiệm Điểm mới và hay của tác giả là đã cho thấy mộttrong những tiền đề ra đời của chủ nghĩa thực dụng nói chung và vấn đề kinhnghiệm nói riêng là sự đối chọn giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy lýcủa nước Mỹ

- “Chủ nghĩa thực dụng và cuộc đấu tranh chống lối sống thực dụng ởnước ta hiện nay”, (Luận văn thạc sỹ triết học, 2004) của Lê Thị Hương;

“Những chủ đề của triết học nhân sinh Mỹ”, Luận văn thạc sỹ triết học, 2009)của Lê Văn Tùng; “Triết học của John Dewey”, (Luận văn thạc sỹ triết học,2006) của Trần Thị Hoa

- Nguyễn Tiến Dũng với “Một số khía cạnh về văn hóa và con ngườitrong triết học phương Tây hiện đại” và “Triết học Mỹ với việc thiết lập nềntảng triết học cho khoa học” được công bố trên Tạp chí Triết học

Trong bài báo thứ nhất tác giả khẳng định con người luôn là trung tâmcủa sự phát triển văn hóa, vấn đề con người cần được chú trọng và được xâydựng như một bộ môn khoa học Thời đại ngày nay không chỉ có sự thống trịcủa công nghệ, của trí năng nhân tạo, mà còn có con người đối thoại với nhaubằng lý trí lạnh lùng, vừa bằng sự tưởng tượng cảm giác Văn hóa màn hìnhquả thực đã làm cho chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy lý xích lại gầnnhau, nhưng bản tính của nó là tính kỹ thuật, tính duy lý, cho nên thân phậncủa con người trong thời đại công nghệ vẫn còn đó, con người vẫn cần có vaitrò của triết học và văn hóa

Trong bài báo thứ hai, bằng việc điểm qua một số trào lưu của triết học

Mỹ, tác giả cho thấy các nhà triết học Mỹ đã sớm hoặc đồng thời với sự ra đờicủa khoa học hiện đại, góp phần xây dựng khoa học hiện đại Tất cả họ đều

Trang 5

nhất trí chống lại chủ nghĩa thực chứng logic thuần túy, đều nhất trí đòi phụchồi triết học, siêu hình học, đòi xác lập một thế giới mới Triết học đó lànhững giá trị nhân văn, là cái tôi chủ thể, cái bất biến ở con người.

- Nguyễn Hào Hải với bài báo “Chủ nghĩa thực dụng Mỹ qua một số đạibiểu của nó” trong Tạp chí triết học số 4 Qua bài bào này, tác giả đã kháiquát lại chủ nghĩa thực dụng qua 3 đại biểu cả nó với lý luận về lòng tin củaC.S Peirce, học thuyết về chân lý của William James và thuyết công cụ củaJohn Dewey Với ba nội dung cơ bản đó khẳng định chủ nghĩa thực dụng đãchiếm vị trí nổi bật, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Mỹ

Ngoài ra, còn một số bài báo khác như: “William James với quan niệmvề đạo đức” (Tạp chí Triết học) của Nguyễn Văn Dũng; Bài báo “Nước Mỹvà sự hình thành tính cách Mỹ” (Tạp chí Triết học số 3, 2012) của Trịnh SơnHoan; “Quan điểm nhân học trong triết học Socrates” (Tạp chí Triết học) ĐỗMinh Hợp; “Charles Sander Peirce (1839 - 1914) - người sáng lập ra chủnghĩa thực dụng Mỹ” (Tạp chí Triết học) của Nguyễn Văn Hùng

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập ở mức độ nhất định đến nhữngkhía cạnh khác nhau của chủ nghĩa thực dụng Mỹ Tuy nhiên, vấn đề conngười tự lập thân vẫn chưa được đi sâu bàn luận một cách kỹ lưỡng

Tóm lại, mỗi cuốn sách, mỗi bài báo hay công trình nghiên cứu, mặc dùnghiên cứu những mảng khác nhau, nhưng đều đã đóng góp, phát hiện một sốvấn đề nhất định, góp phần làm giàu thêm những nội dung của chủ nghĩa thựcdụng Mỹ Những tài liệu này là cơ sở quý giá, hỗ trợ cho chúng tôi khi nghiêncứu về vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung căn bản của vấn đềcon người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Trang 6

- Phân tích những tiền đề hình thành vấn đề con người tự lập thân trongchủ nghĩa thực dụng Mỹ.

- Luận giải nội dung căn bản của vấn đề con người tự lập thân trong chủnghĩa thực dụng Mỹ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là vấn đề con người tự lập thân trong chủnghĩa thực dụng Mỹ

Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề con người tự lập thân đã được đặt ra và bànluận trong một số trường phái triết học, tuy nhiên khóa luận chỉ bàn đến nộidung vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó nhấn mạnh hai quan điểm khách quan vàbiện chứng

Đề tài sử dụng nhất quán và có hệ thống các phương pháp nghiên cứuphổ biến trong nghiên cứu khoa học, nhất là các khoa học xã hội và nhân vănnhư phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa vàtrừu tượng hóa, lôgíc và lịch sử

6 Đóng góp của đề tài

- Đề tài đã hệ thống, trình bày những tiền đề hình thành vấn đề con người

tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ Qua đó thấy được cơ sở, nguyênnhân của sự hình thành của vấn đề này nói riêng và của chủ nghĩa thực dụng

Mỹ nói chung

- Đề tài đã phân tích, chỉ rõ những nội dung mà vấn đề con người tự lậpthân bàn đến trong con người tự chủ, con người có niềm tin và con ngườihành động Trên cơ sở những nội dung tìm hiểu sẽ là cơ sở giúp cho ngườiđọc hiểu rõ hơn về chủ nghĩa thực dụng, chống lại hay bác bỏ những quan

Trang 7

niệm sai lầm về chủ nghĩa thực dụng như chủ nghĩa thực dụng là triết học củacon buôn, là triết học chỉ mang tính thương mại

- Đề tài đã gợi mở nhiều hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiêncứu sau này về chủ nghĩa thực dụng, về nội dung của vấn đề con người tựlập thân

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồmcó 2 chương (6 tiết)

Trang 8

CHƯƠNG 1:

NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TỰ LẬP

THÂN TRONG CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG MỸ

Chủ nghĩa thực dụng là một chủ thuyết phi duy lý trong triết học phươngTây hiện đại, nó ra đời ở nước Mỹ nhiều màu sắc và trưởng thành cũng chủyếu ở đó Chủ nghĩa thực dụng là một chủ thuyết triết học hướng về conngười, đề cao vai trò con người là trung tâm của mọi tồn tại; chủ nghĩa thựcdụng nhấn mạnh đến con người cá nhân cả về bản thể lẫn nhận thức Triết họcnày xây dựng con người cá nhân với tư cách là một chủ thể toàn quyền, điềunày làm cho màu sắc con người trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ có những nétriêng làm cho nó nổi bật giữa đám đông các chủ thuyết triết học hiện đại Chủnghĩa thực dụng bàn đến nhiều nội dung, và một trong những nội dung đó làvấn đề con người tự lập thân Cũng như những trường phái, trào lưu hay vấnđề triết học nào, vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ

ra đời dựa trên những tiền đề nhất định, đó là tiền đề lịch sử - xã hội, tiền đề

tư tưởng và tiền đề khoa học

1.1 Tiền đề lịch sử - xã hội

Bất kỳ một nền triết học nào, không phải tự nhiên mà nảy sinh, hìnhthành mà không có những điều kiện về kinh tế - xã hội đó quyết định Đối vớichủ nghĩa thực dụng Mỹ cũng vậy, nó ra đời trên cơ sở những điều kiện vềkinh tế - xã hội Mỹ Nước Mỹ hình thành từ làn sóng di dân “tứ chiếng” dântộc, từ nhiều nước trên thế giới Mỗi nhóm di dân đến Mỹ đều mang theotruyền thống, trong đó có triết học của mình Ở đây, họ không phải đương đầuvới chủ nghĩa phong kiến và ý thức hệ của nó khi còn ở đất nước của họ Từtình hình đó, một thể chế chính trị về dân chủ, tự do, về quyền con người

Trang 9

cũng được phát triển thuận lợi đẩy đà cho sự phát triển Mảnh đất màu mỡchưa khai phá này cho phép người ta không phải khốc liệt “đấu tranh sinhtồn” như ở nhiều nơi khác Một ý thức hệ của một cộng đồng mới cần hìnhthành, không thể lấy món ăn tinh thần xa lạ, cũ kỹ của châu Âu (như chủnghĩa duy linh, chủ nghĩa thực chứng ) Trước sức hút của ý thức hệ đó, các

ý thức hệ cũ của nhóm di dân cũng nhanh chóng phai mờ để tất cả hợp lưutrong một dòng chảy mới là chủ nghĩa thực dụng Như vậy chủ nghĩa thựcdụng đã được xác lập trên đất Mỹ

Trên cơ sở sự ra đời của chủ nghĩa thực dụng Mỹ thì vấn đề con người tựlập thân cũng được xác lập Khi chủ nghĩa tư bản ở châu Âu lục địa ra đời vàphát triển, thì nước Mỹ đang là mảnh đất của những người thổ dân da đỏ màkết cấu xã hội của nó có thể nói là đang ở thời kỳ Cộng sản nguyên thủy Sựbành trướng của chủ nghĩa tư bản nhằm mở rộng thị trường tìm kiếm lợinhuận và khai thác tài nguyên khoáng sản quý hiếm đã biến vùng đất nàythành nơi thử nghiệm mục đích trên Đến mảnh đất mới này, chủ nghĩa tư bảntha hồ khai thác tài nguyên, mở rộng thị trường buôn bán, xâm chiếm biếnvùng đất màu mỡ này thành của riêng mình Sự “định cư” của chủ nghĩa tưbản đã làm cho lịch sử nước Mỹ bước sang một thời kỳ mới, làm thay đổi tậngốc rễ nền sản xuất xã hội Nền sản xuất xã hội trước đó vốn dựa trên tính tựcung tự cấp, không có trao đổi, mua bán, sản phẩm làm ra được chia đều chotất cả các thành viên trong xã hội Và giờ đây thay vào đó là sự ra đời cáccông trường lao động, các xí nghiệp khai thác khoáng sản có hàng ngàn, hàngvạn công nhân lao động sản xuất trong các công trường, xí nghiệp, hầm mỏ.Điều này tạo nên sự hình thành một xã hội hoàn toàn mới, trong hoàn cảnhnày con người cũng phải có sự thay đổi tâm lý, tính cách, đó là tính hay làm,thân lập thân, cần cù, chịu thương chịu khó, sáng tạo trong lao động, tự dotheo đuổi mục đích, theo đuổi thành công của mình Những phẩm chất đó đãtrở thành nét độc đáo của con người “mới” ở Mỹ

Trang 10

Sự ra đời của con người tự lập thân Mỹ còn được lý giải bởi bối cảnhhỗn mang của nền công nghiệp Mỹ vào nửa đầu thế kỷ XVIII Tốc độ côngnghiệp hóa ngày càng đồng nghĩa với việc người lao động đi vào lối chuyênmôn hóa Thị trường rộng lớn, tài nguyên phong phú và đặc biệt là hệ tưtưởng dân chủ, bình đẳng trong xã hội rất được đề cao Môi trường vô cùngthuận lợi đã tạo điều kiện cho những con người can đảm, không sợ thất bạitham gia thử nghiệm những lĩnh vực kinh doanh mới Sự cạnh tranh tự dođược chú trọng và nó thúc đẩy tính cơ động của xã hội Mỹ Bởi thế, đã tạođiều kiện cho nhiều người thử nghiệm những ngành nghề kinh doanh mới Sựchạy đua đi tìm những cái “khổng lồ” lan rộng trong lĩnh vực sản xuất, phânphối, dịch vụ , các ông vua lần lượt tranh ngôi bá chủ Và họ được người Mỹxem là những tấm gương đầu trong lập thân, lập nghiệp, như: Henry Ford(1863 - 1946) là người sáng lập ra công ty Ford Motor, đi đầu trong lĩnh vựcsản xuất ô tô giá rẻ và là một trong những người giàu nhất thế giới; Carnegie(1835 - 1919) ông vua gang thép Mỹ; Adward Boke (1863 - 1930) vua xuấtbản Mỹ; Rockerfeller (1839 - 1937) vua dầu lửa của Mỹ; Duke (1856 - 1925)vua thuốc lá Mỹ; William Hearst (1863 - 1951) vua báo chí Mỹ; FrederickSmith - ông trùm của tập đoàn dịch vụ vận tải Fedex; Raymond Kroc - ôngchủ của tập đoàn McDonal’s

Như vậy với một ý thức hệ mới mẻ cùng với sự phát triển mạnh mẽ củakinh tế tư bản chủ nghĩa đã làm cơ sở cho sự hình thành và phát triển của conngười tự lập thân Mỹ Trên cơ sở hệ tư tưởng dân chủ, bình đẳng trong xã hộiđược đề cao, môi trường kinh tế thì vô cùng thuận lợi đã tạo điều kiện chonhững con người can đảm, không sợ thất bại tham gia những thử nghiệm,khẳng định bản lĩnh của cá nhân

Không chỉ nảy sinh từ những điều kiện về lịch sử, kinh tế, vấn đề conngười tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng còn là kết quả của sự đối chọngiữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phu duy lý của nước Mỹ

Trang 11

Cho đến khi có sự xuất hiện của các trào lưu triết học phi duy lý thì trướcđó là cả một sự thống trị lâu dài trong lịch sử triết học của chủ nghĩa duy lý.Với chủ nghĩa duy lý, người phương Tây đã tự hào xem đó là công cụ vạnnăng để đi vào khám phá những bí ẩn của vũ trụ và tạo ra cho xã hội loàingười nền văn minh được xem là đã phát triển đến đỉnh điểm của nó.

Tư duy duy lý là lối tư duy đề cao lý trí hay còn cách gọi khác là lýtính, là lối tư duy dựa trên lý trí, lấy lý trí tư duy về sự vật, hiện tượngtrong thế giới khách quan Các nhà duy lý xem việc lấy tư duy duy lý nhậnthức về thế giới là cách tư duy duy nhất đúng, còn ngoài lối tư duy duy lýthì không có cách tư duy nào khác có thể khám phá được bản chất của thếgiới Trong lịch sử triết học, các nhà triết học theo chủ nghĩa duy lý đã sửdụng lối tư duy duy lý làm công cụ nhận thức để khám phá ra bản chất của

tự nhiên, xã hội và tư duy

Người khởi xướng lối tư duy duy lý trong lịch sử triết học là nhà triết

học Hy Lạp cổ đại Parmenide1 và người đưa lối tư duy này trở thành hệ thốnglà Plato Trong quan điểm triết học của mình, Plato2 đã tạo ra một “thế giới ýniệm” xem đó là cái toàn thể, là cái duy nhất tồn tại thực Bằng lối giải thíchhết sức tư biện, Plato đã xem các sự vật hữu hình trong thế giới khách quan làbản sao, hình bóng của một bản thể tối cao (thế giới ý niệm) Ông đã chia ralàm hai thế giới, thế giới duy lý và thế giới hữu hình Trong đó thế giới duy lýcó cấp độ cao hơn thế giới hữu hình và tương tự như thế, thực tại và chân lýtrong thế giới hữu hình thấp hơn cấp độ của chính chúng trong thế giới duy lý.Sau Plato, tư duy duy lý phát triển mạnh đến nỗi không ít trường pháitriết học và các chính khách dùng nó làm phương tiện phục vụ cho ý đồ triếthọc hay mục đích chính trị của họ

Đến thời kỳ cận đại, chủ nghĩa duy lý đã phát triển đầy đủ nhất trở thànhhệ thống triết học hoàn chỉnh Người đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa duy lý

thời kỳ này là Descartes3 Có thể khẳng định một điều chắc chắn rằng,

Trang 12

Descartes là cha đẻ của chủ nghĩa duy lý thời cận đại Các nguyên tắc vàphương pháp triết học của ông khai mở cho một hệ thống triết học thuần lý rõràng và tổ chức chúng thành một hệ thống các chân lý từ đó có thể rút ranhững thông tinh chính xác về thế giới Trên cơ sở đề cao lý tính của conngười, Descartes đã đưa ra lý thuyết về trí tuệ bẩm sinh cho rằng: con ngườingay từ khi mới sinh ra đã có tri thức, có tư tưởng và chân lý rồi, mà chân lýcủa chúng lại rất xác thực Tất cả những tri thức bẩm sinh đó cấu tạo thành trítuệ của cá nhân và chỉ cần nó hoạt động theo phương pháp thích hợp thì nó cóthể khám phá ra bản chất của vũ trụ Và những điều gì được suy nghĩ mộtcách rõ ràng trong trí tuệ thì tồn tại hiện thực trong thế giới bên ngoài Nhưvậy, lý trí giống như một chiếc chìa khóa để cho chúng ta mở toang cánh cửa

đi vào khám phá thế giới khách quan tìm ra được những tri thức đích thực về

sự vật và hiểu được bản chất của chúng

Đến Hegel4 thì chủ nghĩa duy lý đã phát triển đến đỉnh cao và trở thànhmột hệ thống hoàn chỉnh Hegel đã xây dựng một hệ thống triết học đồ sộ vàlớn nhất trong lịch sử triết học, toàn bộ hệ thống đó được trình bày theo mộtlogic chặt chẽ với công thức tam đoạn luận Chính đề - Phản đề - Hợp đề Ông

đã tạo ra một vũ trụ ý niệm (ý niệm tuyệt đối) xem chúng là bản thể của thếgiới Bản thể đó là tuyệt đối, là cái toàn thể sinh ra mọi sự vật hiện tượngtrong thế giới khách quan Với Hegel, “Ý niệm tuyệt đối” phải hiện hình ranhững sự vật cụ thể (cái toàn thể hiện ra cái bộ phận), cái mà Kant5 gọi là thếgiới hiện tượng được Hegel xem là cái hiện hình của thế giới ý niệm Thế giới

ý niệm là bản chất của thế giới, và ý niệm tuyệt đối muốn tồn tại thì phải hiệnhình ra bằng hiện tượng và phải triển khai thế giới ý niệm tuyệt đối Vì vậy,muốn nhận thức bản chất thì phải nhận thức thông qua hiện tượng của sự vật.Không có cái gì là không nhận thức được, chỉ có những sự vật hiện tượngchưa hiện hình ra nên chúng ta chưa nhận thức được Không có bản chất nàomà không có hiện tượng, không có hiện tượng nào mà không có bản chất

Trang 13

Nhưng ý niệm tuyệt đối là cái tinh thần mà không ở đâu trong thế giới này cócái tinh thần tồn tại ngoài vật chất cả “Ý niệm tuyệt đối” dường như nó tồntại tuyệt đối vì chỉ có nó duy nhất tồn tại Nhưng nó cũng hư vô tuyệt đối vìkhông chỉ ra được một thuộc tính nào gắn với nó cả Nhưng chính ý niệmtuyệt đối hiện ra tất cả, những sự vật, hiện tượng là sự hiện hình của ý niệmtuyệt đối, vì thế con người là sự hiện hình trong quá trình vận động của ýniệm tuyệt đối, cho nên sức mạnh của con người là ở ý niệm tuyệt đối mà ýniệm tuyệt đối là toàn thể vũ trụ vì vậy con người phải đặt sức mạnh của mìnhvào sức mạnh của vũ trụ và hòa hợp cùng với sức mạnh của vũ trụ Vì vậy,con người hay nói cách khác chính con người lý trí là chủ thể của toàn bộ vũtrụ Con người là trung tâm và dùng lý trí của mình thống trị muôn loài trong

vũ trụ Bằng sự giải thích theo lối tư duy tư biện nhưng mang tính biện chứngsâu sắc, Hegel đã tuyệt đối hóa lý trí xem vạn vật là do sự tổng hợp của lý trí.Ông đã đưa ra tuyên bố sau đây như là sự khẳng định cho lập trường triết họcduy lý của mình: “tất cả cái gì hiện thực đều là duy lý và tất cả những gì duy

lý đều là hiện thực” [dẫn theo 27, tr.39-40]

Từ sự trình bày trên đây có thể khẳng định một điều rằng, tư duy duy lýcó một vị trí và vai trò mang một “sức nặng” rất lớn trong quá trình con người

đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi được đặt ra là: Con người là gì? Conngười có từ khi nào? Con người được sinh ra từ đâu? Con người sẽ đi vềđâu? Vũ trụ bao la và đầy bí ẩn này từ đâu mà có? Trí tuệ con người có thểnhận thức được bản chất của vũ trụ không? Có bao nhiêu câu hỏi thì có bấynhiêu câu trả lời Chính con người - chủ thể của lịch sử đã dùng lý trí củamình lần lượt trả lời cho các câu hỏi trên Tuy nhiên, không phải lúc nào conngười dùng lý trí của mình cũng có thể giải đáp một cách tường minh cho cácvấn đề được đặt ra trong đời sống lịch sử xã hội của nhân loại Nhưng có mộtđiều chắc chắn rằng, nhờ lý tính mà con người nhận thức được bản chất của

sự vật hiện tượng, để từ đó con người ngày càng chinh phục tự nhiên với một

Trang 14

trình độ từ thấp đến cao, cải tạo tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ nhu cầucuộc sống ngày càng cao của con người Và cũng chính trong quá trình đó,con người làm nên lịch sử vẻ vang của mình, cải tạo xã hội đưa xã hội bướcvào nền văn minh đỉnh cao của loài người Trong xã hội phương Tây người taxem lý tính như là công cụ vạn năng có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đềtrong đời sống, trong tất cả các lĩnh vực từ tự nhiên đến xã hội và tư duy.

Sự phát triển của khoa học đã ngày càng đóng góp vào sự phát triển của

xã hội Tuy nhiên thực tiễn xã hội phương Tây nói chung và nước Mỹ nóiriêng cho thấy, sự sùng bái lý tính, đặc biệt là việc đề cao vai trò của chủnghĩa duy lý đã dẫn con người đến bờ vực thẳm của sự suy đồi về mặt nhânphẩm, cá tính,… tước mất ở con người những gì làm cho con người xứngđáng là người nhất Mặt khác, sự bất lực của lý tính trong việc giải quyết mọivấn đề tâm linh và thế giới nội tâm của con người Nhu cầu này đòi hỏi conngười phải đi tìm lối thoát cho mình mà không thể dựa vào tư duy lý tính.Vào thế kỷ trước, phong trào triết học phi duy lý xuất hiện chính là sự phảnứng lại những mặt trái mà chủ nghĩa duy lý đã gây ra và đáp ứng nhu cầu bứcthiết đó của con người

Sự ra đời của các trào lưu triết học phi duy lý là sự phản ứng một cáchquyết liệt chủ nghĩa duy lý, phá bỏ mọi nguyên tắc truyền thống, nghi ngờtính xác tín của các quy luật khoa học, phá bỏ mọi trật tự mà sự duy lý vềkhoa học đã đặt ra Cái tất nhiên không còn là sự phổ biến của mọi biến đổitrong đời sống mà xuất hiện sự thừa nhận có tính hệ thống của cái ngẫu nhiên,tính tương đối cũng được đề cao, không một quy luật, một chân lý nào đượccoi là tồn tại vĩnh viễn cả mà cái được gọi là chân lý tồn tại thực sự khi nóđem lại sự có ích, có hiệu quả đối với đời sống con người Nằm trong chùmtriết học phi duy lý, chủ nghĩa thực dụng ra đời cũng nhằm phản ứng lại sựtuyệt đối hóa của chủ nghĩa duy lý, mà quan tâm, coi trọng đến vấn đề conngười, xem con người là chủ nhân của chính cuộc sống mình Con người

Trang 15

được xem xét ở nhiều khía cạnh, phương diện, kể cả phương diện vật chất vàtinh thần, trong đó con người khẳng định được sự tồn tại của mình.

1.2 Tiền đề tư tưởng

Đối với bất cứ một trào lưu triết học nào, dù hình thành một cách độc lập

ra sao thì với tư cách là một triết học, nó không thể không bắt nguồn từ nhữngtài liệu trong quá khứ Đó chính là tiền đề tư tưởng Đối với chủ nghĩa thựcdụng nói chung và với vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thựcdụng Mỹ nói riêng, nó ra đời cũng dựa trên cơ sở sự kế thừa những tư tưởngtrong các nền triết học có trước, trong lịch sử triết học nhân loại Đó là di sản

tư tưởng của triết học lục địa, tư tưởng của chủ nghĩa nhân vị Mỹ, tư tưởngcủa chủ nghĩa cá nhân Mỹ và nó còn ra đời dựa trên sự ảnh hưởng từ lối sống,cá tính và quan điểm của con người Mỹ

1.2.1 Di sản tư tưởng của triết học lục địa

Vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ được ra đờidựa trên sự kế thừa những tư tưởng, di sản của nền triết học châu Âu cổ, màđiển hình là các nền triết học với các triết gia: thời đại Hy Lạp - La Mã cổ đạivới các triết gia như Socrates, Protagoras; thời kỳ triết học Tây Âu phục hưngvà cận đại; thời kỳ triết học cổ điển Đức

Trước hết, trong nền triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại, nhiều nhà triết học

đã sớm xác nhận được vai trò của con người như là chủ thể của đời sống xãhội Ta có thể bắt gặp điều này qua tư tưởng của nhà triết học Socrates6 Ônglà người đầu tiên hiểu rằng triết học không phải là cái gì khác hơn là sự nhậnthức của con người về chính bản thân mình [21, tr.182] Socrates đã đưa ramột luận điểm hết sức nổi tiếng “Con người, hãy nhận thức chính mình”, nó

đã trở thành câu cửa miệng trong các buổi đàm thoại triết học của ông Đốivới Socrates nhận thức chính mình - tức là nhận thức bản thân mình khôngchỉ như một nhân cách mà còn như một con người nói chung Hay như tưtưởng của nhà triết học Protagoras7 với luận điểm “Con người là thước đo tất

Trang 16

thảy mọi vật” - luận diểm đặc biệt đề cao vai trò, vị trí của con người trongthế giới hiện thực Theo Protagoras, đặc tính cơ bản của sự vật không phải làtính khách quan mà là sự biến đổi không ngừng của nó Phát triển luận điểmnổi tiếng của Hêraclít “người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông”,Protagoras khẳng định rằng không chỉ mọi sự vật mà ngay cả con người nhậnthức chúng cũng biến đổi không ngừng Ông còn nhận thấy không có gì liênquan trên thế giới có thể hoàn toàn tồn tại độc lập được cả Mọi sự vật đều cómối liên hệ chặt chẽ với nhau, thậm chí trong quá trình vận động, mỗi sự vậtđều có thể trở thành cái đối lập với chính nó Vì vậy, trong nhận thức về cùngmột sự vật, có thể có những ý kiến trái ngược nhau là chuyện bình thường Từđó, Protagoras đi đến khẳng định rằng mọi ý kiến trái ngược nhau đó đềuđúng cả, ngay khi chúng là kết quả của sự tưởng tượng cũng không sai, miễnlà chúng có lợi cho người này hay người khác Dưới con mắt của ông, nhữnggì đem lại cho con người sự hài lòng, thú vị thì được coi là tốt Còn cái gì làmcho người ta phiền muộn là xấu Tiêu chuẩn để cảm nhận phân biệt cái tốt, cáixấu đó là sự nhìn nhận, quan niệm riêng biệt của mỗi người Theo Protagorasđể có một lập trường nhất quán, con người buộc phải lựa chọn giữa các ý kiếntrái ngược nhau, lấy một trong số chúng Họ được hoàn toàn tự do lựa chọn.Chính cái lợi cho con người là chuẩn mực để đánh giá và phán xét mọi cái, kểcả tri thức và các chuẩn mực đạo đức Những tư tưởng này của các nhà triếthọc Hy Lạp - La Mã cổ đại đã được chủ nghĩa thực dụng Mỹ kế thừa và pháttriển, làm sâu sắc thêm vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thựcdụng Mỹ.

Tiếp theo, trong thời kỳ triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại đãquan tâm sâu sắc đến vấn đề con người và giải phóng con người Chính sự pháttriển to lớn của sản xuất và khoa học đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của conngười Thời kỳ này, ở Italia đã dấy lên khẩu hiệu “con người hãy thờ phụngchính bản thân mình chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình” [21, tr.246] Hình

Trang 17

ảnh trừu tượng “Người khổng lồ” (David) của nhà điêu khắc Michel Angelo

đã trở thành biểu tượng của con người thời phục hưng và cận đại Đó là conngười tràn đầy sức sống và hoài bão tự do Giờ đây vấn đề mà người ta quantâm không phải là quan hệ giữa chúa và thế giới (như trong thời kỳ triết họcTây Âu trung cổ) mà chính là vấn đề quan hệ giữa con người và thế giới trởthành trung tâm của các quan niệm triết học Nhiều nhà tư tưởng đã ý thứcđược sự cần thiết phải xây dựng một triết học thực tiễn, nhờ đó con ngườihiểu hết sức mạnh của tất cả các sự vật khác xung quanh ta cũng thấu đáo nhưnhững công việc của người thợ thủ công, bằng cách đó chúng ta có thể sửdụng chúng trong các hoạt động của mình, đồng thời biến mình thành nhữngchủ nhân và chúa tể của giới tự nhiên [21, tr.247] Chúng ta có thể bắt gặpnhững tư tưởng này trong triết học Nicolai Kuzan8, ông coi con người là sảnphẩm tối cao và tinh túy nhất trong sự sáng tạo của thượng đế, con ngườichính là thế giới con người bao quát dưới dạng tiềm tàng toàn bộ thượng đếvà thế giới, nội tâm triển vọng của con người đó là tất cả Hay trong triết họcthời kỳ phục hưng ở Italia, họ ca ngợi sức mạnh và vẻ đẹp của con người Conngười không phải lấy thượng đế, mà phải lấy chính mình làm trung tâm vàthước đo tất thảy mọi vật Các giá trị hiện thực của con người được đề cao.Hình tượng con người cường tráng ngẩng cao đầu đòi tự do và công lý, khôngkhuất phục trước mọi trở ngại,… trở thành phương châm tư tưởng và văn hóathời kỳ này Như nhà danh họa Leonardo de Vinci (1452 - 1519) đã khẳngđịnh con người là vũ khí vĩ đại nhất của tạo hóa Dựa trên các sự vật tự nhiên,con người sáng tạo ra các sự vật mới phục vụ cho cuộc sống của mình và nhàtriết học, nhà khoa học tự nhiên Bruno9 đã đặc biệt đề cao đến khả năng nhậnthức trí tuệ của con người

Trong triết học cận đại, tính chủ thể của con người lại được chủ nghĩaduy lý của Francis Bacon10, Descartes thổi vào một màu sắc mới của cái “Tôisuy nghĩ, vậy tôi tồn tại” (Cogito, ergo sum)

Trang 18

Tiếp tục kế thừa những tư tưởng của các nền triết học thời kỳ trước, chủnghĩa thực dụng Mỹ khi bàn đến vấn đề con người tự lập thân còn kế thừa tưtưởng của nền triết học cổ điển Đức là việc đặc biệt đề cao vai trò tích cực củahoạt động con người, coi con người như là một chủ thể hoạt động, là nền tảngvà điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học Trước những thành tựu khổng lồvề kinh tế - xã hội và văn hóa mà nhân loại đạt được trong thời kì bình minhđầy tính cách mạng của chủ nghĩa tư bản, các nhà triết học cổ điển Đức từKant đến Hegel đều đề cao sức mạnh trí tuệ và hoạt động con người tới mứccực đoan Họ thần thánh hóa con người tới mức coi con người là chúa tể của

tự nhiên, bản thân giới tự nhiên cũng chỉ là kết quả hoạt động của con người.Kế tục tư tưởng của Socrates thời kì triết học cố đại hiểu triết học là tự ý thứccủa con người về chính bản thân mình và khuynh hướng đề cao con người từthời phục hưng, Imanuen Kant, nhà sáng lập ra triết học cổ điển Đức, lần đầutiên hiểu con người là chủ thể, đồng thời là kết quả quá trình hoạt động củamình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn hoạt động lý luận Bản thânlịch sử là phương thức tồn tại của con người Kant coi nhiệm vụ hàng đầu củamình là phải xác định bản chất của con người Ông cho rằng sở dĩ hiện naycác nhà khoa học vẫn chưa có được một nền tảng phát triển vững chắc bởi vì

“khoa học về con người” vẫn chưa được chú trọng và phát triển Do đó, toànbộ các vấn đề triết học phải được hướng vào việc giải quyết những vấn đề củacuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người Triết học cần đem lại chocon người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc

cơ bản của cuộc sống con người, vì những lý tưởng nhân đạo

Như vậy trong lịch sử triết học Châu Âu cổ từ triết học Hy Lạp - La Mãcổ đến triết học cổ điển Đức đã để lại cho chủ nghĩa thực dụng Mỹ những tưtưởng quý giá về con người Trên cơ sở những tư tưởng của thời đại trước,đặc biệt là những tư tưởng như: con người hãy nhận thức chính mình củaSocrates; con người là thước đo của tất thảy mọi vật của Protagoras hay con

Trang 19

người không phải lấy thượng đế, mà phải lấy chính mình làm trung tâm thời

kỳ phục hưng, chủ nghĩa thực dụng đã xây dựng nên học thuyết của mình màthấp thoáng chúng ta thấy xuất hiện những tư tưởng nỗi bật về con người như

đã nêu trên trong những vấn đề của chủ nghĩa thực dụng

1.2.2 Chủ nghĩa nhân vị Mỹ

Chủ nghĩa nhân vị Mỹ được cho là do Borden Parker Bowne11 - giáo sưtrường Đại học Boston sáng lập Điều này được chứng minh bằng những tácphẩm của ông bàn về chủ nghĩa nhân vị, đặc biệt nhất là cuốn “Chủ nghĩanhân vị” đã đặt nền tảng lý luận cho một tư trào đúng với tư cách triết học.Khái niệm trung tâm mà chủ nghĩa nhân vị bàn đến là nhân vị TheoBowne, nhân vị là tôi (je) ý thức về “cái tôi”, nó là một sự “bột phát hồnnhiên”, là chủ thể mang những khả thể như tình cảm, ý chí, sự tự ý thức.Cũng theo Bowne, nhân vị là sự thống nhất tính hoạt động ý thức (tìnhcảm, ý chí của con người) với tính đồng nhất tự thân, do vậy chỉ có nhân vịmới có ý nghĩa Nhân vị là tính thứ nhất trong nhận thức của con người.Bowne cũng chỉ ra nguồn sức mạnh của nhân vị là đưa lại cho cái tôi mộtyá chí tự do sáng tạo Bowne chú trọng nhân vị đến nỗi tuyệt đối hóa sự tồntại của nhân vị, cho nó là sự tồn tại chân thật nhất, thậm chí duy nhất củathế giới Nó là loại chủ thể có các cơ năng, như khả năng tự ý thức khốngchế, cảm giác, tình cảm và ý chí

Tiếp tục những tư tưởng này, nhà triết học Brightman12 đã đề xuất kháiniệm “chủ nghĩa nhân vị thời gian”, cho rằng tự đồng nhất cái tôi không cốđịnh, bất biến mà có tính thời gian Nhân vị như một bản thể biến đổi khôngngừng, là chiếc chìa khóa mở ra một tầm nhìn mang tính thống nhất và tínhliên tục của thực tại, của thế giới Ông còn khẳng định bản chất phải do cái tôisinh ra thì mới có sáng tạo Đại biểu Hocking13 cũng nêu quan điểm của mìnhcho rằng, cá nhân là đơn vị cuối cùng của cơ cấu xã hội, mọi phúc lợi xã hộiphải được thực hiện thông qua cá nhân Mục đích xã hội là sự tiếp tục của

Trang 20

mục đích cá nhân và chỉ có ở sức sống cá nhân Ông đi đến kết luận cá nhân

so với nhà nước vẫn là tính thứ nhất, và nguyên tắc của mỗi nhà nước trongtương lai là mỗi con người, là con người của tính thống nhất

Như vậy, chủ nghĩa nhân vị cùng các đại biểu tiêu biểu của nó đều ra sứcđề cao nhân vị - tôi, cái được xem như là bộ mặt đặc hữu của mỗi cá nhân conngười Nhân vị là cái quan trọng nhất, quyết định nhất, hay nói một cáchkhác, trong đời sống con người là tính thứ nhất của tồn tại xã hội Qua chủnghĩa nhân vị, con người - cá nhân được đề cao bậc nhất Chính những tưtưởng này đã ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề con người nói chung và vấn đềcon người tự lập thân nói riêng trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ

1.2.3 Chủ nghĩa cá nhân Mỹ

Vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ còn ra đờidựa trên chủ nghĩa cá nhân Mỹ Đây được xem là tiền đề tư tưởng trực tiếp.Chủ nghĩa cá nhân ra đời và phát triển ở châu Âu, đặc biệt nó xuất hiện mạnhmẽ từ thời Phục hưng, là cội nguồn của chủ nghĩa cá nhân Mỹ và ngày nay thìbiên giới của nó được mở rộng ra nhiều nền văn minh khác nhau Có thể tìmthấy chủ nghĩa cá nhân trong tư tưởng của Thomas Hobbes Tư tưởng của ôngđược xem là một trong những tiền đề lý luận xây dựng nên vấn đề con ngườitrong chủ nghĩa thực dụng, mà đặc biệt là vấn đề con người tự lập thân.Hobbes cho rằng mỗi cá nhân có một quyền lực tối cao đối với tất cả những gìthuộc về quyền lực của mình, nói khác đi quyền của mỗi người mở rộng đếnnơi quyền lực nhất định thuộc về của anh ta Mỗi cá nhân đều có quyền tốicao là duy trì trong trạng thái của mình, nghĩa là tồn tại và có những hành vitheo quyết định của anh ta

Chủ nghĩa cá nhân Mỹ là nền tảng của văn hóa Mỹ Chủ nghĩa thực dụng

Mỹ chỉ là một biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân Mỹ Ở Mỹ, chủ nghĩacá nhân luôn hướng đến “sự khẳng định mạnh mẽ quyền lợi của cá nhân”; “sựbảo vệ những thực thể văn hóa nhỏ chống lại thực thể văn hóa lớn” Cá nhân

Trang 21

được quan niệm như là kẻ mang trọng trách đẩy cả xã hội lên bằng nhữngthành công của mình.

Franklin14 là người đề xướng rất rõ chủ nghĩa cá nhân Trong cuốn “Tựtruyện”, ông đã chỉ cho người di cư thấy được viễn cảnh, khi đặt chân tớivùng đất mới thì mọi người đều có thể trở nên khá giả và sung túc Đây chínhlà tự bạch của một cậu bé nghèo khổ đã vươn lên thành người từ nghề thủcông tầm thường Thông qua những suy nghĩ của cậu bé, chủ nghĩa cá nhânhiện ra một cách gần gũi và bộc bạch nhất, đó chính là châm ngôn hành độngcủa một con người Có thể kể ra đây một số câu như sau: “Thượng đế sẽ cứugiúp những người biết tự chủ”, “Ngủ sớm, dậy sớm đó là khôn ngoan, là sứckhỏe, là kiếm sống tốt” Tuy nhiên Franklin cũng cho rằng tự do chỉ có thểthực hiện được trong một xã hội với một giới hạn nào đó tùy thuộc vào thóiquen của những “con người thuộc tầng lớp giữa”

Vào giữa thế kỷ XIX, “chủ nghĩa cá nhân vị lợi” chỉ lo cho riêng mìnhthống lĩnh khắp nơi Và dường như ngay lập tức nó đã bị phản kháng lại bởimột chủ nghĩa cá nhân biểu hiện cuộc sống nội tâm, sự tự thực hiện cái tôicao quý của mỗi người Chủ nghĩa cá nhân này do C.Melville, R Emerson,C.Toro, W Whitman mở đầu

Whitman cho rằng, thành đạt không đồng nghĩa với sự giàu có về vậtchất Một cuộc đời thành đạt phải là cuộc đời phong phú về những tình cảmđẹp đẽ, trước hết là tình yêu Tự do chính là tự do thể hiện bản thân, không bịràng buộc bởi chuẩn mực lâu đời Người Mỹ sử dụng quyền tự chủ của mìnhđể nuôi dưỡng “cái tôi”, để tìm thấy bản thân ngay trong các mục tiêu xã hộivà thế giới, họ khác hẳn người châu Âu ở tự do và sáng kiến cá nhân Ngườichâu Âu sang Mỹ đã từ thân phận hèn kém trở thành một nhân cách, từ mộttên đầy tớ trở thành ông chủ, từ tên nô lệ của một lãnh chúa tàn bạo trở thànhngười chủ có quyền sở hữu ruộng đất, của cải của một xã hội tự quản lý, mộtcuộc đổi đời

Trang 22

“Con người mới” của Mỹ dường như có nét tương đồng với con ngườiduy lý ở thời đại khai sáng Pháp Đó là những con người trẻ trung được giảiphóng, biết sử dụng ý chí và nghị lực để chinh phục và cải tạo thiên nhiên,quản lý xã hội nhằm mang lại hạnh phúc cho mình Nhưng hình nhưCrèvecoeur chỉ chú ý đến các cơ sở do bản thân con người tạo ra mà quên mất

sự ảnh hưởng của những truyền thống khác ở Mỹ như: truyền thống tôn giáo,nền văn hóa mang tính chính trị sâu sắc

Nếu Crèvecoeur tiếp cận nhanh và không chút ngỡ ngàng với chủ nghĩacá nhân thì A.Tocquevillel15 lại trở nên khá bối rối trước sự phát triển khôngthể nào kìm hãm được của chủ nghĩa cá nhân Tiếp cận với Mỹ, Tocquevillekhông khỏi băn khoăn khi thấy chủ nghĩa cá nhân vụ lợi ở ai đó có thể táchrời con người với xã hội Mặc dù những con người đó chưa quá giàu có, chưanhiều thế lực tới mức thống trị người khác nhưng đã đủ tự tin để lo cho mìnhvà nhận thấy cuộc đời mình nằm trong khả năng tự định đoạt và không phụthuộc vào ai

Những người Mỹ sống bằng “làm công ăn lương” thì lao động của họkhông chỉ đơn thuần là nuôi sống bản thân mà đó còn là sự tự khẳng định bảnthân mình, là lòng tự trọng và trên hết là sự tự đánh giá “Tự đánh giá” có vaitrò quan trọng trong việc đi tìm “cái tôi đích thực”, hình như điều đó lý giảicho sự đau khổ của con người khi rơi vào tình trạng thất nghiệp Điều đó cũngđồng nghĩa với day dứt trong nội tâm vì họ cho rằng bản thân chẳng còn giátrị gì đặc biệt nữa Những con người theo chủ nghĩa cá nhân gắn bó với nhaubởi phong cách sống “Phong cách sống” theo cách hiểu của nhiều người là:

sự riêng tư, sự nghỉ ngơi, là những điều ít hoặc không liên quan đến côngviệc Họ chỉ có thể chia sẻ phong cách sống với nhau một khi tìm được nhữngđiểm đồng đều, tương ứng như: giống nhau về địa vị xã hội, giống nhau vềcủa cải, giống nhau về trình độ học vấn… Mặc dù tôn trọng sở thích cá nhân,mỗi người có thể hành động do “cái tôi” chỉ dẫn, nhưng không phải vì thế mà

Trang 23

vi phạm đến sự riêng tư của người khác bởi vì điều đó cũng đồng nghĩa vớiviệc đánh mất “cái tôi của mình”, đồng nghĩa với việc vá nhân mất luônquyền tự thể hiện Ở Mỹ, người ta không dừng lại ở đạo lý thiện ác mang tính

tự nhiên mà còn muốn vươn tới những giá trị cụ thể hơn Đó chính là tính

hiệu quả của công việc, cái gì có hiệu quả là thiện, là tốt và ngược lại, không

có hiệu quả là ác, là xấu Đây chính là cơ sở để các nhà sáng lập của chủnghĩa thực dụng đưa tính hiệu quả của công việc trở thành tiêu chí để xác lậpchân lý trong sự phát triển nhận thức của con người

Chủ nghĩa cá nhân Mỹ được bắt rễ ngay trong nền tảng gia đình Người

Mỹ có suy nghĩ hết sức độc đáo về mối quan hệ giữa cá nhân với cha mẹ vàgia đình Thậm chí còn bị người của các dân tộc khác “lên án” vì cho rằng họ

đã cắt đứt với mọi tư tưởng thuộc về truyền thống, đoạn tuyệt mối liên hệ vớigia đình với cộng đồng Dường như họ bị hiểu nhầm là những con người chưakịp lớn mà đã chối bỏ gốc gác của bản thân Ở Mỹ, xuất thân “con ông cháucha” không phải là điều khiến họ khoe khoang, nếu một khi nó cản trở “conngười tự lập thân” Họ chỉ thực sự tự hào khi sự nghiệp mình có, gia tài mìnhsở hữu là do “self made man” Đó là mẫu người thực sự điển hình cho “tinhthần Mỹ”, đại diện cho một “thế giới mới” “Con người tự mình làm nênmình” là kết tinh của: chủ nghĩa cá nhân, kinh phúc âm và ý thức công dâncủa nền cộng hòa

Chủ nghĩa tự do (liberalism) là một hệ tư tưởng, quan điểm triết học Nóvốn là nền tảng ý thức hệ của chủ nghĩa tư bản nói chung và có nguồn gốc từphong trào khai sáng ở phương Tây Có thể thấy tư tưởng về chủ nghĩa tự dođược thể hiện trong các công trình nghiên cứu của A.Smith, D.Ricardo, JohnLocke, J.J Rousseau, Thomas Jefferson, Jeremy Bentham, J.Stuart Mill, HillGreen, L.T.Hobhouse, John Rawls, R.Nozick… Tuy nhiên, chủ nghĩa tự do lạimang nhiều nghĩa khác nhau trong những giai đoạn khác nhau, không gian khác

Trang 24

nhau; ở Mỹ thì nó có một diện mạo mới - chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism).Chủ nghĩa tự do mới với chủ trương: tự do hóa, tư hữu hóa và thị trường hóa.Chủ nghĩa tự do lấy cơ sở là quyền tự nhiên của con người và theo đónhà nước xuất hiện Ngay từ khi đặt chân tới bờ biển Mỹ, những người Anh

di cư đã ký với nhau Khế ước Hoa tháng năm (Mayflower Compact) Văn

kiện được ký kết thể hiện sự trung thành đối với vua và với các luật lệ địaphương, đồng thời chính nó cũng hàm chứa những ý tưởng về một quốc gia tựtrị nằm dưới sự che chở của Chúa, phôi thai nên Hiến pháp của nước Mỹ vềsau “Và hơn một trăm năm mươi năm, nó mang trong lòng nó mầm mốngnền độc lập của Hiến Pháp liên bang và của nước cộng hòa Mỹ”

Tuyên ngôn độc lập (1776) và Hiến pháp liên bang (1787) của Mỹ là sự

khẳng định rõ ràng nhất cho tư tưởng chủ nghĩa tự do của Mỹ Chủ nghĩa tự

do là một trong những tiền đề lý luận quan trọng của vấn đề con người tự lậpthân trong chủ nghĩa thực dụng, với lý do đơn giản là bởi nó chính là ý thứchệ của chủ nghĩa tư bản Mỹ mà con người thì lại nảy sinh trên cái nền hiệnthực xã hội ấy

Tuyên ngôn độc lập chính là điểm dựa tinh thần về ý thức hệ của dân tộc

Mỹ, nó trở thành nơi xuất phát của tất cả lý thuyết về giá trị học hay đạo đứchọc Tuyên ngôn độc lập của Mỹ là một văn bản chính trị tuyên bố ly khaikhỏi Anh của 13 thuộc địa Bắc Mỹ, các thuộc địa đã đồng thuận nguyên tắc

cơ bản về quyền làm người Nguyên tắc này được ghi rõ trong bản Tuyênngôn như sau: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi ngườisinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bấtkhả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầuhạnh phúc…” Quan trọng không kém, Tuyên ngôn độc lập còn khẳng định

quyền của người dân được xóa bỏ những ràng buộc chính trị áp bức: “…Để

đảm bảo những quyền này, các chính phủ phải do dân bầu ra, quyền lực làquyền lực của nhân dân Nếu chính phủ nào hủy hoại những mục tiêu này thì

Trang 25

người dân có quyền thay đổi hoặc lật đổ chính phủ và hình thành nên chínhphủ mới, dựa trên những nguyên tắc và tổ chức quyền lực theo hình thức màngười dân cho là chắc chắn sẽ đảm bảo được sự an toàn và hạnh phúc củahọ…”.

Với Tuyên ngôn độc lập, thế giới lần đầu tiên chứng kiến sự thử nghiệmtrên thực tế việc xây dựng một chính phủ mà sự vận hành của nó được đánhgiá dựa trên mức độ tôn trọng và bảo vệ các quyền của người dân Lần đầutiên trong lịch sử loài người, những giá trị cơ bản của con người đã được côngbố bởi một dân tộc hoàn toàn mới mẻ, mở ra thời kỳ cách mạng và hướng đến

sự tự do trên toàn thế giới Có thể khẳng định rằng, đây là một văn bản thừanhận về quyền tự nhiên của con người thông qua những đề cương mang tínhnhân văn sâu sắc

Chính vì thế, Tuyên ngôn độc lập có sức sống bền bỉ, trở thành một trụcột tinh thần của dân tộc Mỹ, nó chứa đựng “khởi đầu vĩnh cửu”, cho mọi sựphát triển về mặt tinh thần sau này ở nước Mỹ

Cùng với Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp liên bang Mỹ thể hiện tinh thần

tiến bộ, khoa học và nhân bản của người Mỹ trong việc xây dựng một nhànước cộng hòa đầu tiên trên thế giới trong lịch sử cận đại Thủ tướng AnhWilliam Ewart Gladstone đã thốt lên đây là “tác phẩm tuyệt vời nhất từngđược sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của conngười” khi miêu tả về Hiến pháp này Hiến pháp liên bang đã có một quátrình sửa đổi lâu dài, tới 26 lần để trở thành bộ luật tối cao của nước Mỹ

Lời mở đầu của Hiến pháp đã nêu lên lý do lập hiến: “Chúng tôi, nhân

dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảohơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủchung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bảnthân và con cháu chúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợpchúng quốc Hoa Kỳ” Với những lời tuyên bố hùng hồn như vậy thì thật sự

Trang 26

như lời nhận xét của J.Boorstin - nhà sử học người Mỹ, đây là một tác phẩmcông nghệ chính trị hơn là một tác phẩm triết học chính trị “Nó là một sảnphẩm của một nỗ lực nhằm tìm ra những phương cách để cho những người từkhắp mọi nơi đến đây, thuộc những nền văn hóa khác nhau, những tôn giáokhác nhau, có thể chung sống với nhau bằng cách lập ra những cộng đồngriêng của mình Hệ thống liên bang được xây dựng trên tác động qua lại giữacác cộng đồng ấy chứ không phải trên một triết học chính trị”.

Vấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ ngoài sự kế

thừa những di sản tư tưởng của quá khứ để lại, còn ảnh hưởng rất lớn từ lối

sống, cá tính và quan điểm của con người Mỹ Điều này được thể hiện rất rõ.

Ở Mỹ yếu tố cá nhân luôn được đề cao hơn cả trong văn hóa, chính điềunày làm nổi bật “cá tính Mỹ” Người Mỹ luôn chống lại quan điểm cho rằng

“tất cả mọi người đều giống nhau” Họ nêu khẩu hiệu: “Hãy là chính mình.Và không có lí do gì phải thay đổi cách ứng xử để phù hợp với số đông”

“Nếu muốn một việc gì đó được thực hiện tốt, phải tự tay mình làm lấy” hoặc

“Về lâu dài, người duy nhất mà bạn có thể tin cậy, đó là chính mình”

Người Mỹ quan niệm, con người phải được đảm bảo để có thể tự cai trịlấy mình, hoạt động nhằm đưa lại hiệu quả hàng đầu Xã hội Mỹ rất đề caonhững con người sớm từ bỏ gia đình, tự bứt phá và hăng say cạnh tranh

Xu hướng tìm kiếm “cái tôi đích thực” – đó chính là thuộc tính của nềnvăn hóa Mỹ Cái dấu ấn đặc thù đã định hình ngay từ khi những người Mỹ hội

tụ với nhau ở những khu định cư đặc biệt Tại nơi đó, mọi người đã thấy rõphải dựa vào sức mạnh của chính bản thân mình, phải có tính độc lập Nhưvậy, ngay từ thuở sơ khai, tính cách của người Mỹ đã thể hiện những nét riêngbiệt Và công việc đi tìm “cái tôi đích thực” được bắt đầu không chậm trễ màngay từ thuở thiếu thời Với người Mỹ, hành động một thanh niên từ giã máinhà của mình để xác lập giá trị của bản thân, bắt đầu cuộc sống tự lập có ý

Trang 27

nghĩa đặc biệt đối với bố mẹ anh ta Bởi đấy là điểm đánh dấu sự trưởngthành và là điềm báo đầy hứa hẹn về cuộc sống của thanh niên đó.

Người Mỹ quan niệm “hãy tự làm nên chính mình”, và muốn làm nênmình thì phải làm việc, phải lao động Người Mỹ quan niệm “hãy tự mình làmnên mình”, và muốn làm nên mình thì phải làm việc, phải lao động Lao độngbên cạnh ích lợi đầu tiên là nuôi sống bản thân con người thì nó cũng chính làviệc củng cố “cái tôi” dựa trên sự thành đạt về mặt kinh tế Các phúc lợi thuđược từ làm việc trước hết được tính bằng tiền, nhưng rộng hơn thì đấy là mộtphương tiện có hiệu lực để giành được địa vị nhất định trong xã hội, là uy tín,thế lực, quyền hành, thậm chí còn là sự tự trọng của con người Quan trọngnhất đó là thông qua làm việc cũng là cách thực hiện sự “đánh giá” của mỗicon người, nên việc làm thể hiện tính tích cực của mỗi cá nhân và qua đó bộclộ bản chất, tính cách của con người Với nhận thức như trên đã vun trồng giátrị tự thân về lao động

Từ những nội dung trên, không chỉ những tư tưởng đã được kế thừatrong quà khứ, mà chính ngay trong lối sống, cách suy nghĩ và hành động củangười Mỹ đã phản ánh tính cách tự lập thân của họ

1.3 Tiền đề khoa học

Cùng với những điều kiện về lịch sử - xã hội, những tiền đề tư tưởng thìkhoa học và sự phát triển của nó cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự ra đời vàphát triển của chủ nghĩa thực dụng Mỹ

Chủ nghĩa thực dụng phát triển huy hoàng ở Mỹ có liên quan chặt chẽđến việc phát triển các khoa học tự nhiên hiện đại và sự “ưu đãi” của giai cấp

tư sản Mỹ đối với khoa học tự nhiên từ nửa cuối thể kỷ XIX đến nay Từ cuốithế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trào lưu tư tưởng của thuyết tiến hóa Darwincó ảnh hưởng to lớn đến khoa học Mỹ và chủ nghĩa thực dụng Mỹ là một loạitriết học nhân danh học thuyết tiến hóa làm căn cứ khoa học

Trang 28

Không có gì lạ lùng khi mà chủ nghĩa thực dụng nảy sinh ngay trên đất

Mỹ - mảnh đất tôn thờ những hiệu quả thực dụng, còn tiêu chuẩn của mọi giátrị là sự thành công Nước Mỹ có một đặc thù là không trải qua chế độ phongkiến, nên sớm có sự bứt phá về khoa học và kỹ thuật, bởi vì chỉ có nơi nàytính hiệu quả của hành động được xác lập một cách nhanh chóng nhất Tínhhiệu quả đó trước hết giành cho những hoạt động nghiên cứu, tiếp đó là đưavào áp dụng và sản xuất hàng loạt để phục vụ cho tiêu dùng đại chúng

Ngày nay, Mỹ là quốc gia có nền khoa học phát triển nhất thế giới, điềunày không chỉ được minh chứng bằng những giải thưởng lớn trong khoa họchọ đã và đang sở hữu, mà còn được minh chứng bằng một thực tiễn khoa họcsinh động Khoa học ở Mỹ được xem là một thứ văn hóa đại chúng Bởi vậy,có thể khẳng định rằng khoa học là một trong những chất liệu cấu thành nêntriết học Mỹ, chủ nghĩa thực dụng nói chung và là nền tảng nảy sinh conngười đặc thù của Mỹ

Người ta đã cố công đi tìm những lý do để giải thích cho việc phát triểnthần kỳ của khoa học - kỹ thuật Mỹ Và lý do xác đáng nhất được quy về bốn

sự đầu tư hào phóng cho khoa học công nghệ sau đây: chính phủ liêng bang,các trường đại học, công nghiệp tư nhân và các quỹ hỗ trợ

Người Mỹ, rõ ràng đã kế thừa từ châu Âu tinh thần nhấn mạnh tư duyhợp lý, tư duy khoa học và tư duy hiệu quả Hector St John Crèveoer còn chorằng, tình trạng hiếm về nhân công và tình trạng đắt đỏ đã buộc người Mỹphải tìm ra nhiều cách để tăng hiệu quả lao động

Người Mỹ xem khoa học là chìa khoa dẫn tới sự tiến bộ, vì vậy rất chútrọng đến việc phát triển nguồn nhân lực khoa học hùng hậu, dẫn đầu vàokhoa học cơ bản Mỹ đã thu hút một số lượng lớn các chuyên gia giỏi, các nhàkhoa học tới làm việc và định cư Tất cả điều đó là nhờ vào những ưu thế vềkinh tế, điều kiện làm việc, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ và việc bảo vệbản quyền phát minh chặt chẽ

Trang 29

Đặc biệt từ những năm 1930 trở đi, khi mà chủ nghĩa phát xít lan rộngtrên lãnh thổ nhiều nước, nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới chuẩn bịnổ ra, nhiều nhà khoa học châu Âu đã di cư tới Mỹ để lẩn tránh sự truy sát vàkhủng bố Nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng với sự hợp tác của các trườngđại học Mỹ và nhà nước liên bang là nguyên nhân làm cho Mỹ dẫn đầu vềkhoa học hiện đại Dự án Mahatthan đã thu hút hàng vạn nhà khoa học trongsuốt thời gian xảy ra Chiến tranh thế giới lần thứ hai Năm 1944, Mỹ đã chếtạo thành công bom nguyên tử và nó được đưa vào sử dụng, người Mỹ chorằng nó đã “thúc đẩy quá trình kết thúc chiến tranh”.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mỹ chiếm ưu thế về công nghệmới, đi đầu trong các lĩnh vực như: máy tính, linh kiện điện tử, máy nông cụ,công nghiệp ô tô, công nghiệp hàng không Đặc biệt trong lĩnh vực khoa họckhông gian, nếu Liên Xô tự hào với việc là nước đầu tiên đưa con người vào

vũ trụ thì cũng thời gian đó tổng thống Kennedy đã trịnh trọng tuyên bố Mỹsẽ là nước đầu tiên đưa con người lên mặt trăng Và quả thật, 8 năm sau vớichương trình Apollo, hai phi hành gia người Mỹ đã đặt chân lên mặt trăng

Mỹ đã có những bước tiến dài chưa từng thấy, bứt phá để vươn lên vị trí dẫnđầu và ngày nay vị trí ấy vẫn tiếp tục được duy trì

Từ thập niên 1990 trở lại đây, Mỹ không còn độc tôn về khoa học hiệnđại và nhiều lĩnh vực nữa Nhật Bản và Tây Âu cũng có sự vươn lên vô cùngmạnh mẽ Và gần đây, Trung Quốc mỗi năm tổng sản lượng gia tăng như vũbão và lần lượt vượt qua các cường quốc kinh tế Đức, Nhật để chiếm vị trí thứhai, chỉ sau nước Mỹ Và Trung Quốc những năm qua đã dần dần là chủ nợlớn nhất của nhân dân Mỹ Mới đây nhất Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào tuyên bốTrung Quốc đang trên đường thay thế đồng US dollars là ngoại tệ chính củathế giới bằng đồng Nhân Dân Tệ

Tuy nhiên, để làm được điều đó thì còn cả một chặng đường trước mặt.Thế giới sẽ đảo lộn khi nền kinh tế Trung Quốc trở thành lớn nhất thế giới và

Trang 30

văn hóa kỹ thuật Trung Quốc thành khuôn vàng thước ngọc như văn hóa kỹthuật Mỹ ngày nay Chính vì vậy, Mỹ càng tăng cường hơn nữa những đầu

tư vào khoa học và đặt chân vào những địa hạt mới mẻ chưa được khám phá.Cả hai lĩnh vực mà Mỹ đang nắm ưu thế nhất là: động cơ máy bay và cơ sở

dữ liệu Ở một số lĩnh vực khác như máy tính, vật liệu compodit, vệ tinhviễn thông, dụng cụ gia đình, bộ vi xử lý, in laser, photocopy, robot, CAD-Cam… Nhật Bản đã vươn lên ngang bằng Mỹ Thậm chí Nhật Bản còn vượt

Mỹ ở một số lĩnh vực như: công nghệ bán dẫn, máy nghe nhìn, quang điệnvà gốm sứ

Về lâu dài chúng ta thấy rằng Mỹ vẫn còn những tiềm năng để củng cố

vị thế của mình Tiềm năng quan trọng nhất đó là nhân lực khoa học Các sốliệu thống kê được cho hay, năm 1989, Mỹ đã chi 126 tỷ đô la cho nghiên cứucủa 3,6 triệu nhà khoa học và kỹ thuật - trong khi Nhật Bản chỉ chi 64,5 tỷ đô

la cho nghiên cứu của 1,5 triệu nhà khoa học Và mức đầu tư ấy cũng khôngcó chiều hướng giảm sút hay chịu sự tác động của khủng hoảng kinh tế, hiệnnay Mỹ vẫn duy trì mức chi 70 tỷ đô là Mỹ cho nghiên cứu và phát triểnnhững ngành khoa học mũi nhọn như: nguyên tử, nghiên cứu trái đất và mặttrời, các nguồn năng lượng mới, di truyền học và hàng loạt các nghiên cứuphục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe con người Và vẫn có quyền tin tưởngvào vị trí dẫn đầu của Mỹ còn bởi lý do, Mỹ là nơi hình thành những phươngpháp quản lý kinh tế hiệu quả, có tới 891 cơ sở đào tạo chuyên viên quản lý

Sự phát triển về khoa học kỹ thuật đã đưa lại những thành tựu to lớn thúcđẩy nền kinh tế Mỹ phát triển Nó sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới tấtcả các mặt của đời sống xã hội Mỹ Và đối tượng của sự biến đổi đó là conngười Ví như việc phát triển công nghệ tự động hóa và tập trung cho sản xuấtmáy móc, dụng cụ gia đình đã tạo cho quỹ thời gian của con người có nhiềuhơn giành cho học tập, vui chơi, nghỉ ngơi, tham gia hoạt động xã hội…

Trang 31

Khoa học ở Mỹ rất được tạo điều kiện để phát triển Theo nhận định củaEsther Wanning, “một trong những triết lý nhân sinh của người Mỹ là luônchống lại định kiến” Điều đó thể hiện rõ nét trong nền giáo dục Mỹ, học sinhluôn luôn được nhắc nhở phải có bản lĩnh táo bạo, sáng tạo Bản lĩnh sáng tạođó rất phù hợp với nghiên cứu khoa học, nhiều phát minh đã được thực hiện.Jen Heffer cho rằng, óc thực dụng của người Mỹ biểu hiện ở năng lực của họchuyển từ phát minh sang cách tân, từ phát hiện những sản phẩm và cách thứcmới sang áp dụng ở quy mô công nghiệp.

Người Mỹ thích phiêu lưu mạo hiểm, yêu cái mới vì thế họ tôn trọngkhoa học và tính duy lý Tính duy lý đó đối lập với tinh thần Thanh giáo củahọ, nhưng chúng không triệt tiêu nhau mà dung hòa tạo nên nét đặc sắc củacon người Mỹ

Một nét đặc biệt nữa trong tính cách người Mỹ đó là, nếu như ngườiphương Đông tìm hiểu tự nhiên để sống hài hòa với nó thì người Mỹ (trongtruyền thống) lại tìm hiểu để thống trị nó, thay vì chấp nhận nó Bởi thế, mặttrái của chủ nghĩa duy lý và đầu óc khoa học là đưa lại sự can thiệp thô bạovào thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường sống và lãng phí tài nguyên

Tư duy khoa học của người Mỹ khiến họ luôn đề cao sự chặt chẽ, tính kỷluật, sáng tạo và chính xác… cho nên, những người Mỹ luôn luôn có tácphong công nghiệp Nó là một nguồn gốc làm nên triết lý hiệu quả trong hànhđộng của người Mỹ Trong khi nhiều người lao động Mỹ phải đối mặt với cácthách thức lớn phía trước thì không gì quan trọng hơn là phải tăng cường đầu

tư hơn nữa vào giáo dục và đào tạo, từ đó, có cái nhìn lạc quan rằng nước Mỹsẽ duy trì được vị thế cao nhất trong nền kinh tế toàn cầu nhờ vào sức mạnhtiềm tàng của nó và tính dễ thích ứng với mọi đổi thay Cựu Tổng thống MỹHarry S Truman đã nói: “Chúng ta phải xây dựng một thế giới mới, một thếgiới tốt hơn nhiều - một thế giới trong đó phẩm giá vĩnh cữu của con ngườiđược tôn trọng”

Trang 32

Kết luận chương 1

Trong chương này chúng tôi đã nghiên cứu và khảo sát những tiền đề cơbản tác động đến việc hình thành vấn đề con người tự lập thân trong chủnghĩa thực dụng Mỹ Qua những nội dung đã trình bày, có thể khẳng địnhrằng nếu không có những tiền đề trên đây thì nhân loại sẽ khó có thể có đượcmột trường phái triết học đậm chất Mỹ với những kiến giải thú vị về conngười, sẽ khó có thể có được một hình mẫu con người với những phẩm chất

ưu tú của nó là một con người tự chủ, con người có niềm tin và con ngườihành động Quan điểm của chủ nghĩa thực dụng Mỹ về vấn đề con người tựlập thân, trước hết không thể tách rời khỏi mảnh đất hiện thực, trước hết đó làđặc điểm lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội của nước Mỹ Thêm nữa nhữngthành tựu đạt được trong quan niệm về con người trong lịch sử triết học cũngmang đến những giá trị tham khảo quan trọng để lý giải về vấn đề con ngườinói chung và vấn đề con người tự lập thân nói riêng Và một tiền đề khôngkém phàn quan trọng cần được cân nhắc đến là tiền đề khoa học Một họcthuyết triết học chỉ có thể đứng vững nếu nó được đặt trên cơ sở khoa họcvững chắc Do vậy với sự vận động và phát triển mạnh mẽ cả khoa học Mỹ đãtrở thành nhân tố thúc đẩy con người tự lập thân Mỹ phát triển, hành động.Với mục tiêu hướng đến tính hiệu quả của hành động, vấn đề con người tự lậpthân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ đã làm nên cơ sở cho sự thành công củacon người trên đất Mỹ, vốn rất dễ thành công nhưng cũng không ít thách thức.Như vậy, những tiền đề trên đây phần nào đã cho thấy sự hình thành củavấn đề con người tự lập thân trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ Tiếp theochương sau đây, chúng ta sẽ làm sáng tỏ những nội dung của vấn đề conngười tự lập thân được nó thể hiện trong chủ nghĩa thực dụng là như thế nào

Trang 33

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, tinh thần tự lập thân, lập nghiệp đãtồn tại trong lịch sử Lịch sử các dân tộc còn lưu giữ hình ảnh vể nhiều tấmgương xuất thân từ nghèo khổ và có những nỗ lực phi thường để vượt qua khókhăn của con người, tuy nhiên tinh thần của người Mỹ xuất hiện mang tínhđặc thù riêng của nước Mỹ Con người tự lập thân ở Mỹ là lý tưởng điển hìnhcủa một thứ chủ nghĩa cá nhân đã phát triển đến điểm đỉnh Nhưng con người

tự lập thân này phải tự lập thân như thế nào, bằng cách nào, thì chủ nghĩa thựcdụng Mỹ đó chính là tính thực tế, tính hiệu quả Nếu thiếu công cụ này, conngười đến đất Mỹ khó có thể tồn tại chứ chưa nói gì đến thành công, mặc dùhọ có thể thành công ở Châu Âu hay ở nhiều nơi khác Người Mỹ mới, là kếtquả của “melting pot”, là sự pha trộn về văn hóa của nhiều chủng tộc ngườitrên thế giới Đặt chân tới “vùng đất hứa” - một nơi còn hoang vu và chưađược khai phá, chính điều đó đã khiến những cư dân đầu tiên buộc phảisớm hình thành một tính cách dựa vào mình Và Crevecoeur sau này đã

Ngày đăng: 03/07/2014, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lữ Hồng Anh (2011), Vấn đề con người trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ, Luận văn thạc sỹ triết học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ
Tác giả: Lữ Hồng Anh
Năm: 2011
2. Nguyễn Hoàng Tuệ Anh (2005), “Từ góc độ triết học, bàn về một số vấn đề cơ bản của văn học – nghệ thuật phương Tây hiện đại”, Triết học, số 3, tr.49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ góc độ triết học, bàn về một số vấnđề cơ bản của văn học – nghệ thuật phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hoàng Tuệ Anh
Năm: 2005
3. Lê Thị Bình (2009), Triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm“Dân chủ và giáo dục”, Luận văn thạc sỹ triết học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm"“Dân chủ và giáo dục”
Tác giả: Lê Thị Bình
Năm: 2009
4. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tâyhiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
5. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Triết học Mỹ, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mỹ
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợpthành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
6. Nguyễn Tiến Dũng (1999), “Một số khía cạnh về văn hóa và con người trong triết học phương Tây hiện đại”, Triết học, số 1, tr.36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh về văn hóa và con ngườitrong triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 1999
7. Nguyễn Tiến Dũng (2002), “Triết học Mỹ với việc thiết lập nền tảng triết học cho khoa học”, Triết học, số 2, tr.45-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mỹ với việc thiết lập nền tảng triếthọc cho khoa học”, "Triết học
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2002
8. Nguyễn Văn Dũng (1999), “William James với quan niệm về đạo đức”, Triết học, số 3(109), tr.40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: William James với quan niệm về đạo đức”,"Triết học
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 1999
9. Lưu Phóng Đồng (1994), Triết học phương Tây hiện đại, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1994
10. Lưu Phóng Đồng (1994), Triết học phương Tây hiện đại, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1994
11. Lưu Phóng Đồng (2006), Giáo trình hướng tới thế kỷ 21 - triết học phương Tây hiện đại (Lê Khánh Tường dịch), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hướng tới thế kỷ 21 - triết học phươngTây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
13. Gary Althen (2006), Phong cách Mỹ (Phạm Thị Thiên Tứ dịch), Nxb Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách Mỹ
Tác giả: Gary Althen
Nhà XB: NxbVăn nghệ
Năm: 2006
14. Giáo trình Triết học Mác -Lênin (1997), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác -Lênin
Tác giả: Giáo trình Triết học Mác -Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
15. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (2010), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
16. Nguyễn Hào Hải (1997), “Chủ nghĩa thực dụng Mỹ qua một số đại biểu của nó”, Triết học, số 4, tr.42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa thực dụng Mỹ qua một số đại biểucủa nó”, "Triết học
Tác giả: Nguyễn Hào Hải
Năm: 1997
18. Trần Thị Hoa (2006), Triết học của John Dewey, Luận văn thạc sỹ triết học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học của John Dewey
Tác giả: Trần Thị Hoa
Năm: 2006
19. Trịnh Sơn Hoan (2007), Triết học William James, Luận văn thạc sỹ triết học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học William James
Tác giả: Trịnh Sơn Hoan
Năm: 2007
20. Trịnh Sơn Hoan (2011), “Nước Mỹ và sự hình thành tính cách Mỹ”, Triết học, số 3, tr.82-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước Mỹ và sự hình thành tính cách Mỹ”,"Triết học
Tác giả: Trịnh Sơn Hoan
Năm: 2011
21. Đỗ Minh Hợp (1996), “Vấn đề tính chủ quan trong triết học phương Tây hiện đại”, Triết học, số 1, tr.29-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tính chủ quan trong triết học phương Tâyhiện đại”, "Triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 1996
22. Đỗ Minh Hợp (2004), “Quan điểm nhân học trong triết học Socrates”, Triết học, số 8(159), tr.52-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm nhân học trong triết học Socrates”,"Triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w