Ví dụ sau đây sẽ minh hoạ một số nguyên tắc trên, những nguyên tắc này phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của mỗi dự án: Vấn đề kỹ thuật - Kĩ thuật bờ biển, hình thái học ven bờ, thuỷ lực,
Trang 1ĐHTL
Ng−êi thùc hiÖn: TS Lê Xuân Roanh
Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội
Delft – 2002
Trang 3chuẩn bị kế hoạch đầu tư, xây dựng dự án khu vực ven biển Để đưa ra quyết định việc xây dựng một dự án, tư vấn chuẩn bị dự án phải quan tâm đến nhiều lính vực liên quan như các hoạt động kinh tế, quá trình thay đổi tự nhiên về điều kiện vật lý, hoá học, môi trường sinh thái, môi trường chung, chính sách, xã hội Tập bài giảng này nhằm giới thiệu những kiến thức cơ bản trong khi lập quy hoạch và ra quyết định cho việc đầu tư xây dựng dự án trên cơ sở tính toán các yếu tố, so sánh dựa theo điều kiện chung và điều kiện ràng buộc riêng
Phát triển kinh tế vùng ven biển phụ thuộc vào nền sản xuất lâu dài bền vững và những biến đổi của nguồn tài nguyên khu vực Xét ở mặt quản lý mục đích khai thác tốt nhất nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế ta cần nắm chắc được hệ thống vùng ven biển, những tác động giữa các yếu tố tự nhiên và con người, mối quan hệ giữa phát triển đô thị, vùng bãi, cửa sông và chiến lựơc khai thác vùng rộng lớn của thềm lục địa và biển khơi
Công tác quy hoạch là phần việc trong kế hoạch quản lý khai thác, tính toán phát triển cân bằng giữa các hoạt động phát triển đã có từ lâu đời và việc khai thác nguồn tài nguyên theo kế hoạch hiện tại Vì vậy quy hoạch cần đưa ra nhiều phương án để so sánh nhằm phát triển hoàn chỉnh khu vực theo diện rộng và chính xác cụ thể cho mỗi khu vực nhỏ
Việc phân tích kinh tế dự án được coi là yếu tố quan trọng Nó được thực hiện từ khâu chuẩn bị ban đầu nhằm phân tích tác động trước và sâu khi xây dựng dự án Số liệu phân tích này sẽ làm cơ sở cho đánh giá cuối cùng, phương hướng phát triển và các hoạt động quản lý sau này
Vì những lý do trên tập bài giảng này được viết với những mục đích cơ bản sau:
• Phân tích quan hệ tổng hợp giữa các yếu tố tự nhiên và xã hội vùng ven biển
• Tăng cường hiểu biết cho đối tượng nghiên cứu, học tập
• Nắm được việc quyết định đầu tư xây dựng trên cơ sở của các kết quả phân tích cơ bản
• Các bước trong khi ra quyết định quy hoạch và đầu tư xây dựng dự án
• Cung cấp cho nhà tư vấn thiết kế và quản lý những thông tin quan trọng cho việc giải quyết nhiệm vụ của họ
Toàn bộ tập bài giảng gồm hai phần cơ bản:
Phần I : Lập quy hoạch
Phàn II : Ra quyết định
Trong phần thứ nhất gồm những nội dung sau đây :
Trang 4• Quy trình lập quy hoạch
• Phương pháp và kỹ thuật lập quy hoạch
• Lựa chọn vị trí dự án
• Quản lý và điều chỉnh quy hoạch
Phần thứ hai giới thiệu về lý thuyết ra quyết định Đây là công việc ta đã thường làm song chưa được tập hợp cơ sở lý thuyết cho lãnh vực này Để cung cấp và hướng dẫn
kỹ thuật ra quyết định, nội dung của phần này gồm các vấn đề sau:
• Định nghĩa và khái niệm trong lập quyết định
• Quy trình lập quyết định
• Kỹ thuật và phương pháp lập quyết định
• Công cụ trợ giúp trong quá trình ra quyết định
Lời cảm ơn
Cuốn sách này được chuẩn bị và viết tại trường Đại học Công nghệ DELFT dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia, cố vấn chuyên môn thuộc Khoa Công trình, trường Đại học Công nghệ DELFT và Viện thuỷ lực DELFT, Hà Lan
Tác giả xin cảm ơn TS Paul Baan, chuyên gia tại viện thuỷ lực DELFT, TS Robert Verhaeagh, Khoa công trình, trường đại học Công nghệ Delft vì những giúp đỡ quý báu mà hai ông và cộng sự đã giành cho tác giả Đặc biệt tác giả xin cảm ơn ban lãnh đạo và nhân viên của trung tâm CICAT đã tạo điều kiện thuận lợi và quan tâm trong thời gian tác giả làm việc tại Hà Lan
Cuốn bài giảng này được viết lần đầu làm tài liệu học tập và tham khảo cho sinh viên ngành kỹ thuật bờ biển; chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Tác giả xin chân thành đón nhận những ý kiến góp ý của độc giả và đồng nghiệp để bài giảng đựơc hoàn chỉnh hơn cho các lần in ấn tiếp sau
Tác giả bài giảng
TS Lê Xuân Roanh
Trang 5PHẦN I
LẬP QUY HOẠCH
Trang 6Vùng ven bờ được hiểu như nguồn tài nguyên quý giá, đa dạng- nó cung cấp khoảng không gian rộng lớn, các nguồn vô cơ và hữu cơ cho các hoạt động của cuộc sống con người và nhiều chức năng quan trọng về môi trường tự nhiên và nhân tạo Theo cách hiểu hiện nay vùng ven bờ là nguồn tài nguyên đa dạng, có rất nhiều thành phần tham gia khai thác và quản lý nó: canh tác, các hoạt động kinh tế và vui chơi giả trí
Hiện nay do quá trình công nghiệp hoá, phát triển thương mại và sự gia tăng dân số đã gây nên những áp lực lớn đối nhiều vùng như vấn đề xói lở và lũ lụt, giảm nhỏ diện tích vùng trũng, ô nhiễm môi trường và khai thác quá mức nguồn nước và đất đai vùng ven bờ
Chúng ta đã có hiểu biết về sự suy thoái nguồn tài nguyên, sự ảnh hưởng của môi trường và hậu quả của nó đến cuộc sống của chính con người, đã có nhiều công trình nghiên cứu để tìm ra giải pháp hữu hiệu cho khai thác giai đoạn ngắn cũng như kế hoạch lâu dài cả về mặt phát triển sản xuất, hoạt động kinh tế, bảo vệ các yếu tố sống còn và môi trường, sinh thái tự nhiên
Như vậy vấn đề phát triển vùng ven biển cần có sự hiểu biết nhất định về các quá trình diễn biễn, áp dụng những kiến thức khoa học kỹ thuật và kỹ năng để có khai thác hài hoà vốn gía trị giữa kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Từ đó có được một kế hoạch phát triển chủ động của vùng này khi còn tồn tại nhiều mâu thuẫn của người sử dụng, sự tăng mật độ dân số làm gia tăng sử dụng tài nguyên của trái đất, sử dụng nền công nghệ hợp lý Chính vì vậy cần lập kế hoạch và khống chế tiến độ khai thác đảm bảo tính bền vững bảo toàn hệ thống
1.1.2 Quy hoạch vùng bờ
Trang 7thuật, chính sách và các hoạt động xã hội để phát triển dự án phục vụ cho việc phát triển kinh tế của đất nước
Việc lập kế hoạch nguồn tài nguyên ven biển bao gồm việc phân tích các yếu tố như vấn đề kỹ thuật, môi trường và kinh tế, xã hội chúng phải đáp ứng được các nguyên tắc chung Ví dụ sau đây sẽ minh hoạ một số nguyên tắc trên, những nguyên tắc này phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của mỗi dự án:
Vấn đề kỹ thuật - Kĩ thuật bờ biển, hình thái học ven bờ, thuỷ lực, khí tượng, địa chất ;
Vấn đề kinh tế- xã hội- Kinh tế dự án và kinh tế vĩ mô, phát triển dân số, kế hoạch vùng, xã hội học và chuyên gia cho các ngành như thuỷ sản, khai khoáng, giao thông du lịch ;
Vấn đề môi trường- Thực vật, sinh thái học, hoá học
Bên cạnh những yêu cầu trên, trước khi đưa đến quyết định cuối cùng các nhà chuyên môn cần phải phân tích hệ thống, phân tích “chính sách” cung cấp cho người làm quyết định một quá trình phân tích thống nhất chặt chẽ, đưa ra chiến thuật thực hiện
1.2 Phân tích hệ thống phát triển vùng bờ
Vùng ven biển là một ví dụ điển hình về một khu vực mà ở đó thể hiện sinh động các vấn đề tương tác phức tạp, điều này được xem xét khi ta phân tích hệ thống Như thể hiện trên hình 1.1 dưới đây tổng quát hoá về khu vực ven biển có hai nguồn chính tác động qua lại : Điều kiện biên giới tự nhiên (bao gồm các tác động con người) và hạ tầng cơ sở đựơc tổ chức hoặc kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Cũng trong hình biểu diễn này ba hệ thống chính của vùng biển cũng cần được phân biệt trong phân tích
• Hệ thống tự nhiên là phần không gian rộng lớn ở đó chưa có sự can thiệp của con người ( áp suất, khí quyển, thuỷ quyển) bao gồm những tương tác riêng nó, tương tác chung qua quá trình vô cơ, hữu cơ và cơ học Đây là phạm trù nguồn thiên nhiên, không có sự can thiệp của con người
• Chức năng sử dụng để chỉ những sản vật do quá trình tự nhiên tạo hoá dưới mục đích sử dụng
• Hạ tầng vật lý bao gồm các loại cấu trúc hạ tầng có tổ chức vật chất sử dụng kỹ thuật để tạo ra vật liệu theo yêu cầu sử dụng Trong nhiều trường hợp loại hạ tầng này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc dán tiếp đến hệ thống tự nhiên và có thể ảnh hưởng tới chức năng sử dụng khác, tạo ra những trở ngại và mâu thuẫn
Trang 8Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố chính trong vùng ven biển
Ba hệ thống này- hệ thống tự nhiên, chức năng sử dụng và hạ tầng cơ sở tương tác lẫn nhau và dễ ảnh hưởng tới phân tích hoá học mô hình lượng hoá Tất cả các tác động của con người tới hệ thống tự nhiên, một phần qua tác động vật lý trực tiếp, phần do ảnh hưởng của quá trình khai thác, phần do hạ tầng cơ sở và phần nữa là nạn ô nhiễm
do chất thải
Các đường nối chéo trong bộ ba hệ thống trên thể hiện vai trò quan trọng trong quản lý vùng ven biển Vì vậy những mối liên hệ thông tin có vị trí quan trọng giúp chiến lược phát triển vùng một cách bễn vững trên cơ sở sự hiểu biết , hệ thống thông tin và phân
Chức năng
sử dụng
Hạ tầng
hệ thống tự nhiên
Trang 9• Trầm tích (Thạch quyển học) chỉ các loại vật chất thông qua các đặc tính vật
lý, hoá học, khoáng học và đặc tính thuỷ động, địa vật lý, ví dụ như vận tốc bồi lắng, ứng suất tới hạn
• Cuộc sống loài vật trên đất và trong biển bao gồm các dạng và số lượng các loài khác nhau
Trong hệ thống vùng biển luôn xảy ra sự tương tác giữa khí quyển thuỷ quyển và thạch quyển Để mô tả chi tiết tương tác này cần có một mô hình số Trong việc mô tả cần tóm tắt các hệ thống quan trọng, và các tương tác vật lý của nó, tiếp theo là lập nên sự cân bằng chủ động về quá trình tương tác giữa các yếu tố này
Một vấn đề quan trọng khác là định nghĩa về biên giới của phạm vi nghiên cứu Không
có định nghĩa giới hạn chung chung về một vùng biển Năm 1982 Liên Hiệp Quốc đã
có tổ chức hội nghị về luật biển và đã hoạch định vùng pháp lý khác nhau Tại hội nghị này các nhà kỹ thuật và các nhà khoa học đã xác định ra các loại nước lãnh thổ Để áp dụng thực tế, cũng cần có những nghiên cứu và chi tiết hơn về các điều khoản dựa trên những mô tả về điều kiện sinh thái và vật lý Sau khi được xem xét, đường biên giới,
độ chính xác mô tả của các quá trình liên quan được hợp lý hơn Các nghiên cứu được tiến hành tại các mức khác nhau về không gian và thời gian Trong phạm vi định nghĩa đường bờ này chỉ ra: Đường bờ biển của lãnh thổ được tính từ đất liền ra đến phần nước sâu mà trong phạm vi này các hoạt động sinh thái tồn tại và ảnh hưởng chính trong hệ thống, không gây tác động ra ngoài vùng
Nếu vấn đề ảnh hưởng của chất lượng nước và môi trường sinh thái được nghiên cứu thì phạm vi giới hạn phân tích hệ thống cũng nên mở rộng ra Trong trường hợp này, phạm vi nghiên cứu vượt ra khỏi khái niệm nước lãnh hải, phạm vi quốc tế
Ví dụ về phạm vi đường biên giới nước ven bờ hệ thống được quy định chiều sâu tham gia quá trình trầm tích là nhỏ, lượng vận chuyển theo hai chiều không gian nhỏ Chiều sâu cho các loại này khoảng 25-30m Tất nhiên, điều kiện biên giới thuỷ lực phải được xem xét ở phạm vi lãnh hải để tính toán ảnh hưởng của sóng và dòng chảy, các tác động trong hệ thống bờ biển rộng hơn
Quá trình biến đổi vật lý vùng biển rất phức tạp Các tương tác giưã các yếu tố cần được tính toán đầy đủ Tổng quan, các quá trình sau đây cần được xem xét:
• Quá trình khí động học, ví dụ như tương tác giữa biển và không khí hoặc gió trong vận chuyển trầm tích;
• Quá trình thuỷ động học, ví dụ như sóng, thuỷ triều, cao trình mực nước và dòng chảy;
Trang 10• Quá trình hình thái học, ví dụ như tương tác tự nhiên giữa quá trình trầm tích bồi lắng và thay đổi liên quan về độ sâu và hình dáng đường bờ;
• Quá trình địa chất học sự hình thành cấu trúc địa tầng như lớp mặt, động đất, hoá lỏng, trượt sạt
• Quá trình sinh thái: mô tả quá trình biến đổi sinh thái nguyên do quá trình thay đổi nêu trên
kề cũng bị ảnh hưởng kéo theo
Hiện nay chưa có một tài liệu hưỡng dẫn kỹ thuật phân định rõ ràng vùng hệ thống kinh tế xã hội Điều này cũng nên xuất phát từ những phân tích các hoạt động kinh tế
xã hội hiện tại và tương lai trong vùng nghiên cứu bao gồm phần bãi và phần đất sau bãi và chúng phải đựơc mô tả trên những bản kế hoạch phát triển của vùng và phạm vi quốc gia rộng hơn
Trên cơ sở của nhiệm vụ sử dụng khác nhau, các điểm chính sau hay các hạng mục sử dụng được quy định là:
• Nhiệm vụ cơ bản: Sản xuất lương thực, cung cấp nước và cung cấp năng lượng;
• Nhiệm vụ xã hội: Vấn đề nhà ở, nơi vui chơi giải trí;
• Nhiệm vụ kinh tế: Giao thông, khai khoáng và phát triển công nghiệp
• Nhiệm vụ công cộng: Quốc phòng, xử lí chất thải nước thải;
Hiện trạng và tương lai về khả năng khai thác bãi biển cho các hoạt động khác nhau, sản xuất hàng hoá, dịch vụ và sự tăng trưởng giá trị kinh tế xã hội cần được mô tả rõ ràng Sử dụng hệ thống số liệu hiện tại để mô tả
1.2.3 Hạ tầng cơ sở
Hạ tầng là một khái niệm rộng, nó chỉ các vật thể như đường phố, cầu, đê biển, kè và cho cả các công sở Cơ sở hạ tầng đã đóng vai trò trợ lực rất lớn cho các hoạt động như đã nêu ở các phần trước Chính do những áp lực tơí hệ thống tự nhiên và giá thành của nó, kiến trúc hạ tầng là yếu tố quan trọng trong nhiều nghiên cứu quản lí vùng biển Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến hệ thống vùng biển, ba yếu tố sau đây cần được xem xét đánh giá:
Trang 11công trình này như đụn cát, bãi cát ngầm nhân tạo và bãi đọng cát Các loại công trình này ít tương tác với quá trình tự nhiên hoặc tác dụng ở phạm vi hẹp
• Công trình bảo vệ: Chỉ các công trình được làm bằng đất sét, đá hoặc vật liệu nhân tạo như bê tông Loại vật liệu sử dụng cho các công trình thường rất bền
và chắc, chịu đựng được tác động của sóng gió và thuỷ triều Có thể kể tên như các đê biển, kết cấu lớp bảo vệ bề mặt các đụn cát Các công trình này không gây trở ngại cho các quá trình tự nhiên kể cả trường hợp rất cá biệt khi xảy ra Khi này chức năng bảo vệ được thể hiện và có tác dụng tốt cho các quá trình bờ biển
• Các công trình lấn biển để chỉ loại công trình có tác động trực tiếp tới quá trình hình thành bờ để cải thiện một hay nhiều hoạt động vùng bờ: đó là các con đê biển, công trình Chính vì thế các công trình này thường được xây dựng từ các loại vật liệu nhân tạo, chúng có thể ổn định làm việc dưới tác động của các ngoại lực tự nhiên Ví dụ như các đê quai lấn biển, đê biển Tất nhiên các công trình này có tác động lớn đến hệ thống ven bờ
1.2.4 Phân tích lý luận giải quyết vấn đề
Phân tích lý luận giải quyết vấn đề có thể hiểu là một quá trình mang tính hệ thống,
nó giúp cho người làm quyết định nhận biết, ước lượng và lựa chọn tiến trình phù hợp của các công việc qua nhiều phương án để thu được mục đích quản lý Đây chính là phương pháp hệ thống và logic, khi các giả thiết, mục tiêu và tiêu chuẩn đã được xác định và phân loại, nó trợ giúp đắc lực cho người làm quyết định qua việc thu nhận nhiều nguồn thông tin cơ bản, hiểu biết thêm về hệ thống, và tiên đoán về kết quả của nhiều phương án lựa chọn Phân tích luận vấn đề chính là giải quyết một vấn đề đặt ra bằng sử dụng những kiến thức và khoa học kỹ thuật tiên tiến kết hợp với các khái niệm công bằng và mục tiêu xã hội, phán đoán các tình thế và nhìn nhận bao quát tổng hợp những vấn đề ngẫu nhiên Trong quá trình làm quyết định, ba giai đoạn chính cần được xem xét cụ thể:
• Phát hiện và phân tích vấn đề;
• Xây dựng các phương án khả thi;
• Tính toán và lựa chọn phương án tối ưu
Thực tế cho thấy đây là quá trình tự nhiên mang tính chu kỳ Có nhiều học giả cho rằng có thể thêm hoặc bớt đi trong tuần tự những bước sau trong chu kỳ phân tích luận vấn đề (Policy):
1- Đề xuất vấn đề
2- Xác định mục tiêu
3- Đưa ra các tiêu chí lựa chọn
4- Xác định phạm vi mâu thuẫn vấn đề, gồm tất cả các bộ phận trong giai đoạn hình thành
5- Xác định, thiết kế và sàng lọc các phương án, phần của giai đoạn nghiên cứu
Trang 126- Tính toán và ước lượng các phương án
7- So sánh và phân cấp các phương án
8- Biểu diễn kết quả
Quá trình phân tích vấn đề không phải là một việc đơn thuần mà nó bao gồm nhiều phân tích khác nhau Từ cách nhìn nhận này thì quá trình phân tích không nên giữ trong một khuôn mẫu cứng nhắc Đây chỉ là những bước cơ bản trong quá trình phân tích Để chia nhỏ các bước này trong khi phân tích có thể cũng cần đưa ra tài liệu hưỡng dẫn ban đầu thể hiện cấu trúc phân tích
Mô hình phân tích định lượng thông thường có thể bao gồm bốn giai đoạn chính (theo tác giả Hoozemans)
1-Giai đoạn hình thành khái niệm;
2- Giai đoạn thu thập và phân tích số liệu;
3- Giai đoạn mô hình;
4- Giai đoạn thiết kế chính sách
Đối người làm quyết định, bước 1 và 4 được coi là rất quan trọng Ở bước 1, giai đoạn hình thành khái niệm, các mục tiêu và thủ tục của quá trình phân tích phải được làm
rõ Chính giai đoạn này làm ra kế hoạch công việc cho các giai đoạn tiếp theo Giai đoạn 2 thu thập và phân tích số liệu, giai đoạn 3 mô hình cần những số liệu cho đưa vào để phân tích Đặc điểm cá biệt của giai đoạn 2 là sự vận dụng các kiến thức chuyên sâu, điều này có thể tham khảo ở phần các công cụ trợ giúp trong phân tích quyết định Chính hệ thống sẽ được thực hiện ở giai đoạn 3 khi dùng chương trình máy tính trợ lực Đối giai đoạn cuối cùng việc lựa chọn “chính sách” thì được thực hiện, ước lượng và phân cấp Kết quả của giai đoạn sẽ cho một hoặc nhiều chính sách hoặc chiến thuật mong muốn khác nhau Chính vì vậy khi tiến hành có thể thực hiện sự chuyển giao từ từ giữa các bước, sự phân biệt giữa chúng để hoàn thành có hiệu quả quá trình phân tích
Để làm ra một bản quy hoạch quản lý vùng ven biển hiệu quả, cần có nhiều công cụ và
kỹ thuật trợ giúp, ví dụ:
• Quy trình hình thành nội dung tóm tắt
• Thu thấp số liệu và kỹ thuật tiến hành
• Quy trình xây dựng và sàng lọc các phương án
• Mô hình hệ thống
• Phân loại và kỹ thuật ước lượng
• Kỹ thuật thể hiện và trình bày
Mô hình hệ thống chỉ trở nên hiệu quả khi các thông số hệ thống đã được làm rõ và điều kiện đầu vào đã được xác định Hiệu quả của mô hình tương tự có thể nhân lên nếu dữ liệu đầu vào phù hợp Việc áp dụng thực tế của chương trình máy tính sẽ mang lại hiệu ích khi những người sử dụng nó cũng chưa thật quen Mô hình GIS kỹ thuật
Trang 13thống trợ giúp khi làm quyết định để có hiệu quả hơn
1.3 Khuynh hướng hiện nay trong quản lí và xây dựng vùng biển
1.3.1 Sự thay đổi mang tính toàn cầu và công tác quản lí các công trình ven biển
Quản lí vùng ven biển phải thật phù hợp để giải quyết những vấn đề liên quan đến kế hoạch phát triển lâu dài với một quy mô rộng lớn, mang tính toàn cầu Các chương trình phát triển ở diện rộng và thời gian dài thường phải đương đầu những thách thức với sự thay đổi toàn cầu như khuynh hướng tăng dân số, phát triển kinh tế, cũng như các hoạt động của con người với hệ thống môi trường trái đất, ví dụ như khí hậu
Vấn đề nhức nhối hiện nay trên vùng bờ biển đang phải đương đầu với quy mô toàn cầu là sự tích tụ các chất ô nhiễm, xói mòn và đặc biệt là sự suy giảm nhanh môi trường sống và các nguồn tài nguyên thiên thiên Mâu thuấn trong việc sử dụng tài nguyên được bắt đầu từ những những vấn đề này và đã gây hậu quả đến việc sử dụng không bền vững và phát triển không đinh hướng của vùng biển và các nguồn tài nguyên Qúa trình tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội đã đè nặng lên vùng biển và nguồn tài nguyên một áp lực do chính những yêu cầu truyền thống, đe doạ đến vấn đề
ổn định của vùng này Mâu thuấn trong việc sử dụng tài nguyên, gia tăng dân số phát triển kinh tế thiếu cân đối đã gây ra sự giảm dần hệ thống tự nhiên biển, môi trường, sinh thái của nhiều loài và lương thực cho con người và có thể mang đến những rủi ro lớn tới sức khoẻ cộng đồng
Ngoài ra việc phát triển không bền vũng, vùng bờ biển có thể bị ảnh hưởng của những
áp lực từ điều kiện khí hậu thay đổi chính do con người tạo ra Một trong những ảnh hưởng thấy được là sự gia tăng của mực nước biển Năm 1990 Hội nghị Quốc tế về khí hậu đã tiên đoán rằng sang cuối thế kỷ tới mực nước biển sẽ tăng lên khoảng 31 ÷ 110
cm vào năm 2100 Như vậy sẽ tạo ra nhiều khó khăn đối vùng biển và các nguốn tài nguyên của biển Trong thời gian ngắn, ảnh hưởng từ sự thay đổi khí hậu sẽ có thể xảy ra và sẽ thay đổi tần suất, cường độ và diễn biến của các loại hình như bão giông, mưa lớn, ngập lụt Đặc biệt một số vùng chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều trận bão xoáy và mưa dài hoành hành nguyên do từ sự thay đổi khí hậu này
Vùng biển toàn cầu đang phải đương đầu với những thách thức trực diện và những thách thức này luôn xảy ra ngẫu nhiên trong thời gian dài Kết quả chương trình tính toán phần mền về thiệt hại của vùng biển do sự thay đổi khí hậu và sự nâng cao của mực nước biển chỉ rõ: khi tính toán các phương án lựa chọn tác động của khí hậu thay đổi và các hoạt động của con người hiện đã không tách rời nhau Sư thay đổi khí hậu
đã làm trầm trọng thêm áp lực mới lên việc phát triển không bền vững của vùng biển
và các nguồn Hơn nữa áp lực tiềm ẩn này sẽ gây tác động ngược trở lại và gia tăng tổn hại vùng này từ hậu quả của thay đổi khí hậu và sự gia tăng mực nước biển
Từ những phân tích về áp lực lên vùng biển và các nguồn tài nguyên của biển, việc quản lý thống nhất vùng biển là một việc đòi hỏi cấp thiết hiện nay Trong chương này
sẽ trình bày ba vấn đề cấp bách Mỗi dạng trong chúng có thể là điểm xuất phát cho chương trình phát triển trên một vùng hay một quốc gia nào đó Trước nhất là sự tăng
Trang 14dân số hiện nay nó được biểu thị bằng số liệu thống kê và dự đoán, tiếp theo là phát triển kinh tế có thể đưa ra những yêu cầu cạnh tranh gia tăng về mặt bằng và nguồn khu vực bờ biển và cuối cùng là vấn đề áp lực trong tương lai của sự thay đỏi khí hậu toàn cầu
1.3.2 Phát triển kinh tế và cạnh tranh
Từ sự tăng trưởng dân số, rất nhiều vùng biển đang phải đương đầu với những áp lực gia tăng lên việc phát triển kinh tế của khu vực này Nhiều chức năng đã hình thành trên khu vực bờ biển từ sự trợ giúp của các hoạt động kinh tế hình thành Các hoạt động kinh tế quan trọng trên vùng ven biển có thể kể ra như: du lịch và giải trí, khai thác tài nguyên loài vô cơ hoặc hữu cơ (đánh bắt hải sản, nông nghiệp, khai thác nước khoáng, dầu khí), phát triển hạ tầng (cảng, bến cảng, cầu, đường sá, công trình bảo vệ
bờ, đê biển) và bảo vệ thiên nhiên Trong phần này các ngành như du lịch và vui chơi, đánh bắt hải sản, và bảo vệ thiên nhiên được xếp vào vị trí quan trọng
Du lịch và vui chơi giải trí
Du lịch đang là hoạt động có vị trí khá quan trọng và không ngừng tăng trưởng trong nhiều vùng ven biển Thực tế du lịch có thể được xem như là ngành công nghiệp đơn diện lớn nhất thế giới Theo số liệu thống kê cho thấy rất nhiều quốc gia có it nhất 5% thu nhập kinh tế quốc dân lấy từ du lịch Ở Ca Ri Bê du lịch có vai trò rất quan trọng trợ giúp các ngành khác và chiếm tới 43% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân (Miller và Auyong, 1991-Hoozemans, và những người khác 1996) Tại các hòn đảo Galapago du lịch hàng năm mang lại cho mảnh đất này tới 700 nghìn đô la Mỹ mỗi năm và tương lai có thể tới 25 triệu đô mỗi năm
Nhưng ngành nghề giải trí ở khu du lịch cũng có thể gây ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế khác Ví dụ ngành hải sản, nông nghiệp, công nghiệp và khai thác dầu khí có thể cạnh tranh một số mặt do yêu cầu từ du lịch và có thể gây ra sự ô nhiễm biển và bãi bờ Ngoài ra chất thải sinh hoạt có thể tan ra trong nước biển gây nên mối nguy hại cần được quan tâm Sinh vật sống trong nước thải có thể gây ảnh hưởng tới chất lượng của món ăn hải sản và các hoạt động giải trí ở các bãi tắm Khi ta ăn đồ ăn biển không
an toàn có thể gây ra bệnh tật, ảnh hưởng tới sức khoẻ chính ta Bệnh viêm dạ dày rất phổ biến nhưng có thể chủ động ngăn chặn, còn đối với bệnh thương hàn, ỉa chảy lại
có thể phát triển sau khi ăn đồ ăn biển đã nhiễm khuẩn (Goldberg, 1994 Hoozemans,
và những người khác 1996)
Như ta đã biết du lịch ven biển có thể gây tác động xấu đến các hoạt động phát triển khác trong khu vực, và ngay chính nó cũng gây nên những tồn tại nhất định Chính du lịch đã gây ra chất thải và ô nhiễm trong vùng và tác động đến vùng tự nhiên mà bấy lâu nay chưa bị ảnh hưởng Ví dụ như một hợp chất được sử dụng của trong tranh vẽ
để bảo vệ phần đáy của loại hàng thủ công được bán trong khu du lịch Đây là một trong những loại độc hại đối nước biển, gây ra nguy hại đối cơ thể sống của rất nhiều loài như sò (Goldberg, 1994 Hoozemans, và những người khác 1996)
Trang 15trường Điều này đã được chứng minh rõ ràng qua kết quả nghiên cứu của Bird và Nurse (1988) diễn ra ở hòn đảo Ca ri Bê Trước đây vùng bờ biển đã trợ giúp các cảng nhỏ cho tàu địa phương và tầu quốc tế, nghề cá, đóng tầu nhỏ và nông nghiệp Các ngành này đã phải thách thức và trong vài trường hợp nó đã gây ra thiệt hại đối ngành du lịch Phía tây của hòn đảo, với 92 km đường bờ biển đã là nơi lý tưởng cho xây dựng nhà nghỉ khách sạn trong suốt 25 năm qua Điểm hấp dẫn chính là các bãi biển san hô nhân tạo và tự nhiên và chính vùng biển này Số lượng du khách tới thăm ngày một tăng từ 40.000 tới 250.000 trong mỗi năm trong suốt thời gian này
Như vậy một phần phát triển Barbados, một phần khác dọc theo bãi biển đã được cải tạo và đẹp lên nhiều Nhưng đồng thời ngay chính bãi biển lại bị tàn phá và bãi san hô cũng bị thu nhỏ Vấn đề ô nhiễm đã đe doạ đến vùng đá ngầm và các bể bơi Đường vào các bãi tắm công cộng đã bị giảm nhỏ do quá trình tăng trưởng của xây dựng Nghề cá cũng tự tiêu tan, giá đất thì tăng lên, chẳng bao lâu nữa người dân bản xứ cũng chẳng đủ tiền để mua đất xây nhà khi chính họ đã từng là chủ sở hữu của khu này
Chính vì vậy, cần giành mối quan tâm lớn tới việc lập quy hoạch và quản lý du lịch để
có thể tránh được điều mà ta đã biết “giết con ngỗng mà nó đẻ ra trứng vàng” Trong hầu hết các quốc gia có đường bờ biển thì yêu cầu ngày càng cao về vị trí phát triển du lịch Những người làm chính sách thì đang phải đương đầu với những thách thức chính giữa yêu cầu và bảo vệ chất lượng môi trường Nhiều bài học xương máu từ việc sử dụng bãi biển vùng Địa Trung Hải và khu vực châu Á chất lượng môi trường đã bị giảm nghiêm trọng, lợi nhuận du lịch cũng bị giảm theo Danh tiếng khu vực bị mất dần, khó có thể quyến rũ du khách quay trở lại
tấn (Hoozemans, et al 1996) Số lượng của các loài giá trị cao đang có xu thế giảm đi
vì sự khai thác quá mức Từ những nhận xét này nhiều công trình nghiên cứu quốc gia
đã chỉ ra rằng cũng nên giữ mức độ khai thác tăng lên từ từ Năm 2000 yêu cầu về cá biển vượt quá 20 triệu tấn, giá cả tăng lên, giảm đi nguốn dinh dưỡng từ cá đối rất nhiều quốc gia đang phát triển (Burbridge, 1995)
Theo nghiên cứu của Burbridge (1995), hiện nay có 3 khuynh hướng cơ bản phân biệt trong phát triển đánh cá ở cả các nước đang phát triển và nước phát triển Trước tiên,
số lượng người tham gia đánh cá bằng thủ công đã giảm đi ở rất nhiều nước Điều này
Trang 16dẫn đến đầu tư tăng lên để mua sắm những tầu thuyên chuyên dụng trang bị máy móc công suất lớn Hai là khai thác quá tải một số nguồn do nâng cao hiệu quả đánh bắt và khả năng vận tải thiết bị Ba là khuynh hướng chung môi trường sống bị giảm đi sự sinh nở, nuôi dưỡng chăm sóc của một số loài cá không vảy, giáp xác đang bị khai thác hiện nay
Khuynh hướng thứ tư là tổng lượng đánh bắt hải sản trên toàn thế giới giảm Số liệu chưa thật đầy đủ trong tài liệu dẫn này Nhưng theo số liệu của tổ chức FAO có khoảng 13 trong 15 vùng đánh cá chính có trên mức sản lượng khai thác ổn định và bền vững Số lượng của tầu thuyền cập bờ cũng đang bị giảm
Một lý do có thể giải thích cho sự giảm nhỏ nghề đánh bắt hải sản là môi trường sinh thái bị thay đổi theo xu thế giảm dần nguyên do quá trình ô nhiễm biển xảy ra và sự chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản khu vực bãi sát bờ Có rất nhiều nước như Thái Lan, Philipin đã có trên 70% các bãi sú vẹt bị tàn phá sạch, thay thế vào đó là các vụng nuôi tôm Có khá nhiều áp lực kinh tế xã hội do việc nuôi trồng thuỷ sản ven bờ, làm thay đổi khá rõ nét môi trường sinh thái biển vùng này Một loạt các bãi sú vẹt và hệ sinh thái khác bị mất đi, có nhiều tác động tương phản xảy ra, ví như đất ngập nước, cằn cỗi hoá đất đai và ô nhiễm nước vùng cửa sông, nước ngầm và đất nông nghiệp bị nhiễm mặn, kéo theo hậu quả thiên giảm môi trường, kinh tế, dịch vụ vùng này Kết quả là sản lượng nông nghiệp giảm đi, thu nhập người dân giảm theo, nguồn nứơc cung cấp bị ảnh hưởng Thu nhập từ nghề cá, nghề rừng đều bị giảm theo, và ngược lại tai hoạ thiên nhiên thì tăng lên Một trong những vấn đề kinh tế xã hội bắt nguồn từ phát triển nuôi trồng thuỷ sản quy mô lớn là tỉ lệ dịch bệnh tăng lên, kể cả các loài tảo cũng bị ảnh hưởng mà ta hiểu như “thuỷ triều đỏ”, nó làm cho cá bị chết, thu nhập hiển nhiên bị giảm đi và kéo theo tai hoạ cho sức khoẻ cộng đồng
Bảo tồn thiên nhiên
Qua nhiều thế kỷ, quá trình phát triển vùng ven biển đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho người sử dụng và sản xuất Nhưng ngay chính nơi đây người ta thường không nhận ra chức năng của vùng đã cung cấp những điều kiện thiên nhiên quý giá xác định tiềm năng to lớn (sản lượng ổn định tôí đa) cho quá trình sản xuất và sử dụng Nói một cách khác, đặc tính cơ học của hệ thống bờ biển tự nhiên không nhận ra được, trong một giời hạn nhất định, việc khai thác các nguồn từ biển, chúng làm thay đổi cơ bản hệ thống tự nhiên có thể ảnh hưởng ngược trở lại nguồn có sẵn hoặc sự tái tạo từ những nguồn này Như ví dụ mô tả ở trên, sự tàn phá và ô nhiễm vùng đất trũng
đã giảm đi khả năng đồng hoá chất thải của nước biển, dẫn tới điều kiện kém thuận lợi cho cá sinh sản, cũng như nguồn thu từ du lịch
Một trong những lí do chính sự tổn thất của môi trường sống tự nhiên do các hoạt động của con người tạo ra nó có vị trí rất quan trọng đối tự nhiên và sức khoẻ con người Cái gọi là phúc lợi thì chưa được làm rõ trong quy hoạch phát triển kinh tế và làm ra quyết định (Hoozemans và những người khác, 1996) Thật là khó khăn trong
Trang 17chức năng sản xuất và sử dụng Từ kết quả này, giá thành và lợi ích từ việc xây dựng công trình ven bờ phải được đánh giá, hậu quả tiềm năng tổn thất của chức năng thay đổi thường chưa được tính toán Vì vậy những thiệt hại này sẽ giảm đi cơ hội tương lai phát triển nguồn (De Groot 1992) Để làm được điều này công tác ra quyết định phải đựợc phải xem xét kỹ các vấn đề như : bảo tồn và khai thác ổn định bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tự nhiên, giá trị kinh tế của hệ sinh thái tự nhiên, các loài động thực vật hoang dã, kế hoạch sử dụng đất
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giá trị kinh tế của vùng đất trũng ven bờ và chỉ ra rằng: Giá trị này thay đổi từ 1,5 triệu đô la / km2 đến 13 triệu đô la/ km2 Nhưng trung bình nó vào khoảng 2-5 triệu đô la/ km2 trong khối OECD (tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế), và khoảng 1,25 triệu đô la/km2 đối các nước đang phát triển (Fankhauser, 1995-Hoozemans, và nnk 1996)
Chính vì thế nhận thức về tầm quan trọng trong việc bảo vệ hệ thống tự nhiên ven biển
đã được nâng lên, đặc biệt là sự thay đổi mang tính toàn cầu Khi hệ thống tự nhiên ven biển đưa ra chức năng thay đổi quyết định Ví dụ như bảo vệ chống lại xói mòn và
sự phân huỷ chất thải phải được thể hiện chi tiết Những đặc điểm này có liên quan trực tiếp đến vấn đề mực nước biển dâng lên và ô nhiễm Có thể đưa ra đây ví dụ điển hìng về một công trình ở Boston (Mỹ) Qua kết quả tính toán cho thấy nếu giữ nguyên phần đất trũng gần vùng Boston thì có thể tiết kiệm được 17 triệu đô la hàng năm cho công trình chống lũ, trong đó các lợi ích kinh tế khác ví như giảm bớt quá trình bồi lắng còn chưa kể vào đây (Hoozemans, và nnk 1996)
1.4 Chiến lược phát triển kinh tế vùng ven bờ ở Viêt Nam
1.4.1 Phạm vi và định nghĩa biên giới đường bờ
Căn cứ vào tuyên bố 12/5/ 1977, nước ta có các vùng biển: nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Hệ thống đường trên được định vị
từ đường cơ sở
+ Đường cơ sở: Đường cơ sở thường là đường ngấn triều thấp nhất dọc theo đường
bờ biển hoặc hải đảo Đường cơ sở thẳng là đoạn nối liền các đỉnh nhô ra xa nhất của đảo tính với điểm nước triều thấp nhất khi có các chuỗi đảo
+ Vùng nội thuỷ: Vùng biển nằm phía trong đường cơ sở và bờ gọi là vùng nội thuỷ + Vùng lãnh hải: Chủ quyền của Việt Nam được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội
thuỷ đến một vùng biển tiếp liền gọi là lãnh hải Tuyên bố của Chính phủ quy định lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường
cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ Việt Nam tính từ ngấn nước triều thấp nhất trở ra
+ Đường biên giới quốc gia trên biển: Phạm vi ngoài đường lãnh hải
Trang 18+ Vùng tiếp giáp: Là vùng biển tiếp liền với lãnh hải và có bề rộng 12 hải lý tính từ
ranh giới ngoài của lãnh hải Trong vùng biển này nước ta có hai quyền là ngăn ngừa và trừng trị đối với các vi phạm trong ba lãnh vực nhập cư, thuế khoá, y tế xảy ra trong lãnh hải của mình Đồng thời nước ta có quyền chủ quyền đối tài nguyên và các hoạt động kinh tế cũng như quyền tài phán đối hoạt động lắp đặt thiết bị và đảo nhân tạo, bảo vệ môi trường và nghiên cứu khoa học biển trong vùng tiếp giáp
+ Vùng đặc quyền kinh tế: Đường tính từ đường cơ sở ra 200 hải lý là đường biên
của vùng đặc quyền kinh tế quốc gia Việt Nam có quyền chủ quyền đối việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật, ở vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy, đối với mọi hành vi thăm
dò khai thác vì mục đích kinh tế vùng ĐQKT Trên vùng ĐQKT các quốc gia khác được hưởng quyền tự do hàng hải, tự do bay, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm nhưng không làm ảnh hưởng đến các quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta như đã được công ước quy định
+ Thềm lục địa: Là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy thuộc phần kéo dài tự nhiên
của lục địa Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa Nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục địa được mở rộng ra đến 200 hải lý Việt Nam có toàn quyền trên thềm lục địa của mình
1.4.2 Xây dựng các địa bàn và trung tâm kinh tế biển
Quy hoạch để hình thành từng bước các trung tâm kinh tế
Khu vực phía bắc: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, trong đó thành phố cảng Hải Phòng và Hạ Long là đô thị trung tâm kinh tế biển
Khu vực phía nam: Vùng trọng điểm thành phố Hồ Chí Minh- Biên Hoà- Vũng Tầu Thành phố tiền duyên hải Bà Rịa – Vũng Tầu
Miền Trung: Cụm Huế- Đà Nẵng- Quy Nhơn và Nha Trang – Cam Ranh đóng vai trò cửa ngõ ra biển đông đối miền Trung, Tây Nguyên, đối với Thái Lan và Căm Pu Chia
Nâng cấp xây dựng mới theo hướng hiện đại hoá cảng biển trong một quy hoạch hợp
lý liên kết với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông
Cụm cảng phía bắc trọng tâm là cảng Cái Lân, cảng Hải Phòng
Cụm cảng phía nam: trọng tâm là Vũng Tầu, Thị Vải, Sài Gòn Xem xét cảng Cần Thơ
và Hòn Châu ở miền Tây Nam Bộ
Cụm cảng miền Trung: Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh Cùng Lào và Thái Lan nghiên cứu để có chủ trương về cảng Hòn La
Tổ chức đưa dân cư ra đảo
Đưa dân ra các đảo như : Bạch Long Vĩ, Trường Sa, Thổ Chu, Hòn Khoai
Trang 19Cồn Cỏ, Hòn Mê, Cát Bà, Hạ Long – Cô Tô
1.4.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển
• Dầu khí
Đẩy mạnh công tác thăm dò và khai thác dầu khí, đây là thế mạnh trong phát triển kinh
tế của đất nước Bên cạnh với công tác khai thác, chúng ta cần xây dựng các nhà máy lọc dầu để nâng cao thu nhập của ngành này Hiện nay ta đang xây dựng khu nhà máy lọc dầu Dung Quất lớn nhất tại Quảng Ngãi Bên cạnh Dung Quất ta sẽ xây dựng một
số nhà máy lọc dầu khác nhằm khai triệt để nguồn tài nguyên và sức lao động của nhân dân Khai thác dầu khí cần một lượng vốn đầu tư lớn, chúng ta đang tranh thủ sự đầu tư của nước ngoài vào ngành kinh tế này Việc khai thác và vận chuyển dầu khí cần tuân thủ nghiêm ngặt luật bảo vệ môi trường Có biện pháp ngăn ngừa và xử lý sự
cố tràn ngập dầu gây ô nhiễm biển ở nơi khai thác và trên đường vận chuyển sản phẩm
• Thuỷ sản
Thuỷ sản cần phát triển thành một ngành kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn, có sức
cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường khu vực Phát triển năng lực đánh bắt
cá và các loại hải sản khác, nâng dần tỷ trọng đánh bắt xa bờ Có biện pháp bảo vệ làm giầu nguồn hải sản Nghiêm cấm các hình thức đánh bắt mang tính chất phá hoại ngư trường Mở rộng nuôi trồng thuỷ sản đi dần vào chiều sâu với công nghệ mới Phát triển cân đối khai thác, nuôi trồng với chế biến thuỷ sản và dịch vụ trên bờ Tăng nhanh đầu tư phát triển bằng nguồn vốn trong nước đi đôi với mở rộn g hợp tác liên doanh với nước ngoài
• Vận tải
Vận tải biển cần phát triển đồng bộ về cảng, đội tầu, dịch vụ hàng hải, công nghiệp sửa chữa và đóng tầu Nâng cấp và xây mới các cảng biển lớn để phát huy thế mạnh Hiện nay ta đang xây dựng các cảng biển phía Bắc phía Nam và khu vực miền Trung Tổ chức lại hợp lý việc quản lý các cảng biển, phân biệt với hoạt động kinh doanh của các hãng vận tải biển
Phát triển các đội tầu viễn dương và cận dương, kể cả tầu biển pha sông Tăng tỷ lệ vận chuyển hàng nhập khẩu cho đội tầu Việt Nam Phát triển dịch vụ hàng hải, hợp tác với nước ngoài mở thêm các tuyến và hình thức vận tải biển, tăng việc chở thuê cho nước ngoài Ngoài ra cần đầu tư chiều sâu để cải tạo và nâng cao năng lực sửa chữa và đóng tầu
• Du lịch
Trang 20Du lịch biển cần có quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển đồng bộ, hợp tác liên doanh với nước ngoài, hình thành các quần thể du lịch kết hợp nhiều mặt: nghỉ ngơi giải trí, tham quan, điều dưỡng Chú trọng các địa bàn có điều kiện đầu tư chiều sâu sớm đem lại hiệu quả như vùng Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Lăng Cô, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Long Hải Phát triển các loại hình du lịch hỗn hợp biển và đất liền,
tổ chức các hành trình du lịch liên kết nhiều nước
• Quai đê lấn biển
Đẩy mạnh công tác lấn biển ở những nơi có điều kiện mở thêm diện tích đất nông, lâm nghiệp ven biển Việc này cần tiến hành trên cơ sở khoa học phù hợp với điều kiện sinh thái biển, tránh các hình thức khai thác bất lợi cho sự phát triển ngập mặn tự nhiên, kiên quyết đình chỉ những hoạt động khai thác bừa bãi gây hại cho sinh thái môi trường Việc nuôi trồng hải sản ở vùng ngập mặn phải có quy hoạch bảo đảm cân bằng sinh thái cho sự phát triển lâu dài
• Khai thác chế biến khoáng sản ven bờ
Thế mạnh của vùng ven bờ là ngoài thuỷ hải sản khai thác từ biển ta còn có nguồn tài nguyên khoáng sản thiên nhiên rất quý giá Nhưng việc khai thác chưa thật có quy hoạch và hiệu quả còn thấp Cần có kế hoạch nâng cao chất lượng chế biến nguồn xuất khẩu này khi hiện nay ta còn còn tạm thời xuất thô Đề phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ đó các ngành sẽ tiến hành xây dựng các loại công trình kỹ thuật như:
- Đê biển để lấn đất và chống xói mòn;
- Bến cảng và các công trình giao thông thuỷ, bộ kèm theo các công trình bảo vệ công trình chính;
- Công trình khai thác du lịch như bảo vệ tôn tạo bờ, bồi cát nhân tạo cho các bãi tắm
- Nhà ở và các công trình phục vụ các khu dân cư;
- Công sự, trạm gác, và công trình quân sự quốc phòng khác;
- Công trình ngăn mặn vùng cửa sông ra biển;
- Các công trình khai thác nguồn năng lượng ven biển như triều, gió
Đó là những điểm cơ bản trong kế hoạch phát triển kinh tế ven biển của nhà nước ta
Trang 21- Lập Quy Hoạch là một môn học giới thiệu về các phương pháp, kỹ thuật, thủ
tục và các bước trong quá trình xây dựng quy hoạch hoặc xây dựng dự án Ngoài ra ta có thể hiểu một cách đơn giản theo cách nói khác nó là phương tiện
để thể hiện các công việc
- Lập quy hoạch là phần việc tổng hợp nó phụ thuộc nhiều vào các yếu tố cơ sở liên quan, hệ thống luật pháp hiện hành, loại dự án, chính sách quy định của nhà nước và chính phủ, công ước quốc tế liên quan và cơ cấu tổ chức hành chính
- Phân loại quy hoạch, theo khuynh hướng sử dụng hiện nay các quốc gia trên thế giới quy hoạch nói chung có thể phân ra thành các loại chính sau:
Phân theo lãnh thổ, hành chính:
a) Cấp quốc gia
b) Cấp tỉnh, thành, khu vực, đặc khu
Phân theo thời gian :
a) Quy hoạch dài hạn,
b) Quy hoạch ngắn hạn
Phân loại Quy hoạch theo các quá trình lập :
Quy hoạch chính: Quy hoạch được lập ra cho một vùng cụ thể nào đó để việc xây
dựng được thực hiện trên cơ sở giá thành thấp, hiệu quả cao
Quy hoạch cấp trung: Quy hoạch được lập với quy mô nhỏ hơn quy hoạch chính
và chi tiết hoá một số điểm dựa trên quy hoạch chính( tổng)
Quy hoạch dự án: Quy hoạch lập cho xây dựng một (hoặc nhiều nhóm dự án) cho
một khu vực cụ thể theo mục tiêu cụ thể
Trang 22Quy hoạch phối hợp hoạt động: Quy hoạch được lập với sự tham gia của nhiều
nhóm, tổ chức khi có chung một mục tiêu
Quy hoạch bộ phận: Quy hoạch được lập cho một bộ phận chuyên môn chuyên
ngành nào đó ví dụ như hệ thống cấp thoát nước hoặc vệ sinh
2.2 Các bước lập Quy hoạch
2.2.1 Giới thiệu chung
Quy hoạch được hiểu như một công cụ nhằm thể hiện sắp xếp và chuẩn bị các hoạt động sẽ diễn ra Khái niệm hoạt động được sử dụng ở đây có hàm ý chỉ các công việc
sẽ diến ra trong tương lai theo yêu cầu và tất nhiên nó cũng sẽ có thể được hiệu chỉnh Quy hoạch được lập theo một quy trình chung, toàn bộ các thông tin liên quan được phân tích xem xét đánh giá, các phương án được nêu ra, tính toán phân tích và cuối cùng phương án điển hình được lựa chọn Như vậy Quy hoạch được xác lập cho một tình huống cụ thể, sáu câu hỏi sau đây cần được giải quyết khi lập Quy hoạch cho phương án chọn:
(1) Có bao nhiêu bước trong quá trình lập Quy hoạch ?
(2) Quy mô và tầm cỡ Quy hoạch ở mức nào?
(3) Phương pháp luận của Quy hoạch là như thế nào?
(4) Kế hoach lựa chọn như thế nào, kết quả của nó?
(5) Ai lập ?
(6) Thời gian thực hiện là bao lâu?
2.2.2 Các bước lập Quy hoạch
Vấn đề quan trọng ở đây cần quan tâm trứơc khi lập quy hoạch là phương pháp luận tiến hành Phương pháp luận tốt sẽ mang lại hai điều sau: Chất lượng của phương án khả thi sẽ được nâng lên và việc lựa chọn Quy hoạch là hoàn toàn chuẩn xác Lý do quan trọng nhất về phương pháp luận thể hiện ở quá trình lập Quy hoạch là:
• Phương pháp luận đưa ra một cách nhìn tổng quan về tất cả công việc và mối liên hệ của nó liên quan trong quá trình lập
• Cung cấp một bộ các tiêu chuẩn, nguyên tắc để làm cơ sở đánh giá chung, các giả thiết của người lập trong quá trình thực thi Quy hoạch Từ cách làm này các sửa đổi của quyết định sẽ được làm rõ đối tất cả các thành phần tham gia lập
• Nâng cao hiệu quả của người điều hành Quy hoạch
• Chuẩn mực các báo cáo, tạo thuận lợi cho người quản lý Quy hoạch
Mỗi Quy hoạch đều có tính đặc thù riêng trong những điều kiện ràng buộc của nó, vì vậy người lập Quy hoạch trước tiên phải nắm được các bước chung trong quá trình lập Lập quy hoạch phải đi qua nhiều bước, các bước này sẽ được giới thiệu và được
Trang 23Các bước chính trong khi lập quy hoạch
Bước 1: Phát hiện vấn đề và các yêu cầu hiện tại
Bước 2: Thu thập và phân tích số liệu
Hình 2.1 :Mô hình tổng quan các bước lập quy hoạch
Bước 3: Xác định mục tiêu và mục đích
Phát hiện vấn đề và yêu cầu
Thu thập số liệu, tài liệu cơ bản Đưa ra mục tiêu chuính và mục đích
Các vấn đề khó khăn trở Phân loại đối tượng
Đề xuất các phương án
Phân tích ưu nhược điểm các phương án đưa ra,
đánh gía tác động chung
Lựa chọn phương án
Kế hoạch thực hiện phương án lựa chọn
Quản lý vận hành và đánh giá hiệu quả dự án
Duy tu bảo dưỡng
Trang 24Bước 4: Phân loại và nắm vấn đề
Bước 5: Xây dựng các phương án
Bước 6: Phân tích các phương án
Bước 7: Lựa chọn phương án tối ưu
Bước 8: Triển khai quy hoạch
Bước 9: đánh giá dự án
Để hiểu được các bước lập, ví dụ sau đây sẽ minh hoạ cho lý thuyết trên
Ví dụ : Các bước lập quy hoạch
Khu vực Foxton cần đầu tư xây dựng dự án để phát triển sản xuất nâng cao đời sống người dân Số liệu cơ bản khu vực được khảo sát như sau :
Dân số: Tốc độ tăng dân số khu vực đang ở mức cao, hiện nay có khoảng 300.000
người sinh sống trong phạm vi dự án Do tốc độ tăng dân số quá nhanh nên việc nâng cấp và xây dựng công trình chưa thể đáp ứng được
Tình hình chung : Hiện tại còn có rất nhiều hộ đói nghèo phân bố dọc theo đường biên
của vùng dự án này Trong vùng của người nghèo chất lượng nước cho sinh hoạt còn rất thấp, công trình vệ sinh thiếu nhiều và không đảm bảo sức khoẻ cho người dân
Hình 2.2 : Mặt bằng khu vực Forxton
Bước 1: Phát hiện vấn đề và các yêu cầu hiện tại
Quá trình lập quy hoạch thường được bắt đầu khi một hoặc nhóm người đã phát hiện được các yêu cầu hoặc các vấn đề gay cấn, bức xúc xảy ra Vấn đề quan trọng ở giai đoạn này là những vấn đề cần giải quyết lại có thể là những nguyên nhân sâu xa không liên quan đến cơ sở của việc lập Chính vì lẽ đó điều quan trọng là phải mô tả chính xác vấn đề càng chi tiết bao nhiêu thì càng tốt cho công việc tiến hành sau này bấy nhiêu Mỗi một vấn đề đều là bộ phận quan trọng của vấn đề lớn hơn xét quy mô cao hơn Vấn đề càng lớn thì tầm quan trọng càng cao Điều quan trọng là người lập quy hoạch phải phát hiện được vấn đề, tổng hợp yêu cầu thì mới chủ động trong giải quyết về nội dung yêu cầu quy hoạch
Rừng
Đường
Khu công nghiệp
Sông Nông nghiệp
Trang 25Các vấn đề sau đây có liên quan đến lập quy hoạch:
• Các khiếm khuyết kỹ thuật
• Phạm vi của vấn đề
• Chất lượng sử dụng không đáp ứng
• Không đảm bảo an toàn
• Ảnh hưởng xấu đến môi trường
có thể có nguyên nhân nào khác ? Người lập quy hoạch phải nắm được nội dung vấn
đề để từ đây các khái niệm của quá trình lập mới thực hiện được Vấn đề mấu chốt có
thể là: “ sự thiếu nhà ở tại khu vực Foxton” Ta cần hiểu rộng thêm khái niệm nhà ở
trong hoàn cảnh này là tổng hợp các yếu tố cấu thành bao gồm chỗ ở và hạ tầng cơ sở tốt
Bước 2: Thu thập và phân tích số liệu
Trên cơ sở của việc phát hiện vấn đề, việc thu thập và phân tích số liệu có tác dụng làm rõ hơn phạm vi vấn đề cần giải quyết Trong bước này kĩ thuật thu thập số liệu được sử dụng trong tính toán: Số liệu thống kê, phỏng vấn với một số người quan trọng, sử dụng câu hỏi có mẫu in sẵn, số liệu kinh nghiệm, chỉ số kinh tế, quy hoạch hiện tại v.v Phương pháp ngoại suy và kỹ thuật dự báo có thể áp dụng trong tính toán ở giai đoạn này Ví dụ vấn đề có thể trở nên phức tạp hơn nguyên do từ vấn đề tăng số dân Kỹ thuật dự báo dân số được trình bày chi tiết và cụ thể ở chương 3
Bước 3: Mục tiêu và mục đích
Điều quan trọng là phân biệt mục tiêu của mục đích và mục đích từ các mục tiêu tương ứng Mục tiêu là cái tổng quan nhất trong tự nhiên, ví dụ: “phương tiện nhà ở tốt hơn cho người dân thành thị” Mục đích thì chi tiết cụ thể hơn và mong muốn đạt được Những vấn đề này phải được kiểm tra cẩn thận, quy hoạch sẽ được lập để thu được mục đích Mục tiêu cũng có thể chi tiết, nó thể hiện tất cả các yêu cầu định lượng Việc xây dựng mục tiêu và mục đích nên dựa trên các thảo luận rộng rãi, thông qua các nhóm thảo luận, có thể xuất hiện các yêu cầu trái ngược nhau qua các nhóm thảo luận Để nắm được khái niệm này ta đi vào ví dụ cụ thể sau
Mục tiêu: Xây dựng một khu dân cư mới nằm trong thành phố hay ngoại ô với cơ sở
hạ tầng có đủ đường sá và công trình vệ sinh
Trang 26Mục đích: Giành 50000 m2 đất cho xây dựng nhà ở và bố trí hạ tầng cơ sở kèm theo
Tiêu chí: Xây dựng 20 km đường mới, đặt X m đường ống cấp nước trong vòng 3 năm
và trao thầu Y m2 cho các nhà thầu tư nhân
Bước 4: Phân loại và nắm vấn đề
Sau khi tiêu chí đã xác định vấn đề và nội dung vấn đề cần được phân loại và hiểu biết tường tận Ví dụ: Việc giảm ảnh hưởng độc hại qua việc điều chỉnh giá ( và tất nhiên giảm yêu cầu của sản xuất) hoặc có hệ thống quản lý chất thải rắn tốt hơn Đó là hai giải pháp khác nhau cho vấn đề trên Nói cách khác, tính phức tạp của vấn đề cần được phân tích trên tất cả các phương diện, các mối liên quan có thể giữa các hoạt động, mối quan hệ nhân quả và cơ sở căn bản của vấn đề
Trong ví dụ Foxton, vấn đề tiếp tục nghiên cứu là làm sao công trình vệ sinh và hệ thống cấp nứơc được chấp thuận khi xây dựng một khu dân cư mới Trong bước này
có thể có các câu hỏi đưa ra ví thử: Mức độ ô nhiễm liên quan như thế nào đến bệnh dịch? Nước thải nên đựơc thu gom tập trung hay cho thải tự do?
Bước 5: Xây dựng các phương án
Việc nắm chắc vấn đề sẽ là cơ sở căn bản cho việc đưa ra phương án xử lý hợp lý Sự sáng tạo, sử dụng hỗn hợp của các phương án mang tính thực tế, kỹ thuật công nghệ mới – chúng phải được đưa ra và tập hợp lại Việc loại bỏ các lựa chọn cụ thể là một một sai lầm nghiêm trọng Nếu một phương án đưa ra chưa được rõ ràng cũng có thể gây lãng phí thời gian, ngược lại nó có thể dẫn tới việc bỏ qua một phương án qua việc tranh luận chung mà đây lại là phương án có thể là tốt nhất
Vấn đề xây dụng nhà ở cho vùng Foxton đã có nhiều phương án đưa ra và đặt ở nhiều nơi khác nhau, hoặc đặt ngay chính vùng đô thị hoặc đưa ra xa hơn Có một phương án đưa ra là xây dựng khu nhà ở cần diện tích mặt bằng nhỏ bằng cách xây nhà cao tầng trong đó có các căn hộ độc lập Phương án khác đã đề cập đến vấn đề tiêu tháo nước vùng trũng bao quanh đô thị phù hợp cho việc xây dựng khu đô thị mới
Bước 6: Phân tích các phương án
Phân tích các phương án là quá trình căn bản xác định các mặt ảnh hưởng, các tác động từ việc xây dựng dự án và kết quả hoặc hậu quả từ mỗi phương án đưa ra, ưu nhược điểm của nó và càng lượng hoá bao nhiêu thì càng chính xác bấy nhiêu Gía thành và các thông tin toán học khác sử dụng trong lập trình sẽ được sử dụng tính giai đoạn này Vấn đề tác động môi trường và xã hội sẽ được bổ xung tiếp Cũng trong giai đoạn này việc phân tích kinh tế và đánh giá tác động môi trường được thực hiện bởi lẽ thông qua các tính toán này sẽ chỉ ra quy hoạch và các chính sách có tính thực tế hay
Trang 27quanh
Giá thành của việc xây dựng hệ thống thoát nước thải phục vụ khu nhà ở cũng được xác định ở bước này Ngoài ra các yếu tố khác như ảnh hưởng tới công trình xung quanh, tác động môi trường và hệ thống giao thông cũng được phân tích đánh giá
Bước 7: Lựa chọn phương án tối ưu
Ở bước này phương án tối ưu sẽ được tìm ra Phương pháp lựa chọn được đánh gía
và so sánh giữa các phương án nêu ra Để làm việc này người ta phải sử dụng phương pháp đa tiêu để so sánh đánh giá, mặt khác các phương án sẽ so sánh trên cơ sở khối lượng ví như giá thành và tác động môi trường (định lượng)
Những ưu điểm và nhược điểm của các phương án tiêu nước khu đất trũng thuộc vùng Foxton và phương án bồi trúc để xây dựng các toà nhà cao tầng gồm nhiều căn hộ được đưa ra để so sánh Giá thành, tác động môi trường ảnh hưởng xung quanh đã được lượng hoá và nó đã có vai trò rất quan trọng trong so sánh Các thành viên tham gia vào công tác đánh gía dựa trên các thông số tính toán kinh tế cho thấy rằng việc tiêu nước vùng trũng để xây dựng là phương án phù hợp nhất
Bước 8 và 9: Triển khai và đánh gía dự án
Triển khai dự án, vận hành và duy tu bảo dưỡng và giai đoạn cuối cùng là đánh giá hiệu quả của dự án đã kết thúc chu kỳ lập quy hoạch xây dựng dự án Sau khi xác định những vấn đề cũ và mới, kết quả ước lượng quy hoạch và dự án, qua các công việc này đã giải thích một điều là vì sao quy hoạch thường luôn phải điều chỉnh sau một chu kỳ nhất định
2.2.3 Quy mô của quy hoạch
Quy hoạch chính là sự thể hiện của công tác chuẩn bị, sắp xếp bố trí cho các công việc diễn ra trong tương lai Khái niệm công việc ở đây hàm chỉ kết quả của quy hoạch nó vừa là hiện tại vừa là những vấn đề và mong muốn đạt được Để có thể áp dụng đựơc tốt quá trình lập quy hoạch như đã mô tả ở trên điều quan trọng là phải giới hạn cho được khái niệm phạm vi công việc và mục tiêu trong khi lập Nói một cách khác, người lập quy hoạch phải xác định rõ phạm vi gianh giới của vùng dự án, phải nắm chắc các thành phần tham gia Ngoài ra vấn đề cần được trao đổi trong phạm vi hẹp hoặc rộng có vị trí quan trọng vì có thể đây là cốt lõi của nhiều vấn đề liên quan tới tính địa phương Có thể người lập quy hoạch quy mô nhỏ không hoàn thành nhiệm vụ, trong trường hợp này thông tin phải hồi tới nhà chức trách, mở rộng cuộc trao đổi hoặc tìm kiếm đối tác khác có thể là tốt hơn Thứ ba là vì sao quy mô của quy hoạch phải được xác định rõ giới hạn nghiên cứu về các số liệu Giai đoạn này thường tiến hành khá lâu có thể nguyên do thu thập thông tin không đủ, không chuẩn, và nhiều lỗi có thể mắc phải do tiêu chí chưa thật rõ ràng Hay nói cách khác giai đoạn 3 của quá trình
Trang 28lập quy hoạch nên chỉ ra phạm vi cụ thể của quy hoạch để nó làm cơ sở xuất phát ban đầu chuẩn mực hơn
2.2.4 Mô phỏng quy hoạch
Những người làm quy hoạch bắt đầu công việc của họ với phương pháp luận cơ bản trong suy nghĩ về lý do và tiêu chí mà quy hoạch cần phải đạt được Khái niệm phương pháp luận cơ bản này được gọi là mô phỏng Điều này không chỉ bao hàm tính riêng biệt mà còn thể hiện tính văn hoá, chính trị và các đặc trưng khác của cộng đồng Ví
dụ việc lập quy hoạch có thể bắt đầu bằng nhiều lý do khác nhau
• Khống chế bởi các điều kiện phát triển khu vực;
• Lí do kinh tế thuần tuý- hiệu quả quy hoạch đầu tư;
• Yêu cầu của đối tượng ( cho nhóm người có thu nhập thấp) hoặc cho khu vực rộng hơn nâng cao mức sống cho nhóm cá biệt
• Dịch vụ cho khu vực công cộng hay tư nhân
Ví dụ trên cho ta hiểu rằng người lập quy hoạch chuẩn bị quy hoạch phát triển vùng dân cư nào đó thì toàn bộ khảo sát hiện trạng phải được làm rõ, nhà ở, hệ thống cấp nước, hệ thống đường v.v là những hạng mục trong quy hoạch
2.2.5 Người lập quy hoạch
Như trên đã nêu người lập quy hoạch có vai trò rất quan trọng trong quá trình lập quy hoạch Ví dụ : Nếu có sự tham gia của người dân địa phương, nhưng những người này không liên quan tới quá trình hình thành vấn đề và mục đích của họ có thể rất khó khăn trong khâu quản lý vận hành và khai thác công trình chất thaỉ rắn trong khu vực
dự án Nhưng nếu họ được tham gia vào việc lựa chọn giải pháp xử lí có thể họ sẽ có tác dụng tích cực cho sự tồn tại và hoạt động của dự án và ngay cả quá trình triển khai
dự án Vấn đề này đã xảy ra nhiều cấp quản lý Nếu trung ương muốn các tỉnh thực hiện quy hoạch thì kết quả cho thấy rằng hiệu quả sẽ tốt hơn nếu người dân địa phương được tham gia vào quá trình xây dựng và quản lý dự án (quy hoạch) đặc biệt là ngay từ thời điểm xuất phát của quá trình lập quy hoạch
Một thực tế hiện nay là các dự án đầu tư vào Việt Nam bằng nguồn vốn của nước ngoài (vốn ODA, vốn vay của ADB, WOLDBANK) thì một trong những điều kiện bắt buộc là phải có sự tham gia đóng góp của người hưởng lợi Ví dụ như dự án Hạ tầng
cơ sở nông thôn sử dụng vốn vay của 2 cơ quan: Ngân hàng phát triển Châu Á và Quỹ
hỗ trợ phát triển Pháp ( ADB & AFD) Tỉ lệ quy định phân bổ nguồn vốn như sau:
Trang 29trách nhiệm với chủ công trình, chủ đầu tư và như vậy hiệu quả dự án tốt hơn, tuổi thọ công trình được keó dài hơn
2.2.6 Thời gian của quy hoạch thực hiện
Điểm nhấn mạnh ở đây là trước khi triển khai quy hoạch thì người điều hành phải nắm được quy hoạch sẽ được thực hiện trong thời gian bao lâu Vấn đề này phụ thuộc vào chính sách, phạm vi của quy hoạch, loại quy hoạch, số lượng người tham gia v.v Dù
ở mức nào thì thời gian tối đa của quy hoạch và thời gian cho phép của mỗi giai đoạn, thủ tục và trình tự trong điều hành chỉ đạo phải được nêu đầy đủ và rõ ràng trong mỗi bước của quy hoạch Nếu vấn đề trên không được thực hiện hoàn chỉnh vướng mắc sẽ xảy ra và có thể đổ bể quy hoạch Ngoài ra thông tin ban đầu nếu bị lạc hậu so thời gian thực hiện quy hoạch, trong hoàn cảnh này quá trình thực hiện cũng nên được thay đổi theo một thể thức mới Vì vậy giải pháp và thiết kế đề nghị cần phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới
2.2.7 Những điểm chú ý trong quá trình lập quy hoạch
Quy hoạch là một khái niệm rộng lớn và mang đặc tính kinh tế, thành viên tổ chức hoặc tổ chức phi chính phủ (NGO) sẽ sử dụng khái niệm ngôn ngữ quy hoạch cũng rất khác nhau Như vậy quá trình được trình bày trên là rất đa dạng và rộng, dạng quy
hoạch không phức tạp, có như vậy quy hoạch mới có thể thực thi
Cho tới nay cũng chưa có một bộ tài liệu nào có thể đưa ra chính xác, cụ thể giải pháp lựa chọn tốt nhất cũng như vì sao nó được lựa chọn khi áp dụng các bược lập quy hoạch chung Hơn nữa, việc áp dụng thành công các bước lập quy hoạch chung nên đưa ra một hệ thống tiêu chuẩn - làm công cụ trong đánh giá quy hoạch Quyết định này rất có tác dụng khi quy hoạch đã được thông qua thảo luận rộng rãi với sự tham gia của tất cả các thành viên, thành phần liên quan tới quy hoạch
Chính vì vậy quá trình lập quy hoạch mô tả trên là một quá trình khoa học và hợp ly, mục tiêu quan trọng nhất không phải là thiết kế phương án lí thuyết tốt nhất, nhưng để
có kết quả thì những mục tiêu này phải là khả dĩ Quy hoạch trong trường hợp này được hiểu là giải pháp đề nghị là hoàn toàn hợp lý Xét ở góc độ này thì người lập quy hoạch có vị trí rất quan trọng, là chìa khoá giữa thiết kế kỹ thuật, quyết định và áp dụng thực tế
2.3 Phân cấp quy hoạch
Hiện nay có nhiều cách phân cấp quy hoạch chung Nếu ta dựa trên cơ sở quản lý hành chính thì quy hoạch có thể chia ra làm 3 cấp như sau:
- Quy hoạch nhà nước (trung ương)
- Quy hoạch cấp tỉnh, thành phố, đặc khu, vùng
- Quy hoạch khu vực hành chính dưới tỉnh thành phố
Trang 30Nhưng nếu ta phân chia theo thời gian quy hoạch được phân cấp như sau:
- Quy hoạch dài hạn (quy hoạch phát triển dài hơi, ví dụ quy hoạch 10 năm, quy hoạch từ nay cho đến 2020);
- Quy hoạch ngắn hạn (dựa theo quy hoạch dài hạn, quy hoạch loại này được thiết lập cho các giai đoạn phù hợp với quản lý hành chính và điều hành)
Nếu phân chuyên môn nghành nghề quy hoạch có thể bao gồm các lĩnh vực như:
- Quy hoạch khai thác công trình thuỷ lợi, nguồn nước, hệ thống sông ngòi;
- Quy hoạch phát triển đô thị, dân cư;
- Quy hoạch rừng
Theo Luật Xây Dựng được Quốc hội khoá 11 thômg qua ngày 23 tháng 11 năm 2003,
có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2004, quy hoạch được phân loại như sau:
2.3.1 Quy hoạch Trung ương ( nhà nước)
Xét ở cấp trung ương có nhiều loại quy hoạch và phân chia như sau:
• Quy hoạch phát triển kinh tế quốc dân: Quy hoạch 5 năm, 10 năm hoặc dài hạn hơn, cơ quan thẩm quyền để hoạch định chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời hạn của quy hoạch
Để đảm bảo việc chuyển giao các quy hoạch xuống cấp thấp hơn cần phải có nhiều các quy định tiêu chuẩn
• Công tác tư vấn của các mức quản lý hành chính khác nhau rất quan trọng, để tránh tình trạng “bị lãng quên” cần có hệ thống luật pháp đảm bảo Chỉ dẫn và hưỡng dẫn rõ ràng của quy hoạch cấp quốc gia là rất cần thiết để đảm bảo thành công của kết quả quy hoạch Nếu các cấp trung gian không thực hiện quy hoạch quốc gia hoàn chỉnh thì trong trường hợp này chính phủ cần phải can thiệp trong chỉ đạo
Trong những trường hợp nhất định nhà nước có thể đưa ra những quy định sửa đổi và chức năng như đã được chỉ ra trong các quy hoạch trước đây
• Trường hợp thiên tai, lũ lụt, chiến tranh v.v nhà nước sẽ có quy hoạch điều chỉnh;
• Trong trường hợp đặc biệt bộ Kế hoạch và Đầu tư, bộ Tài chính, bộ Khoa học công nghệ và các bộ liên quan chịu trách nhiệm trong việc bãi bỏ quyết định của cấp dưới theo chỉ đạo ngành dọc
2.3.2 Quy hoạch tỉnh, thành, đặc khu
Quy hoạch vùng do các nhà chức trách vùng thiết lập Trong quy hoạch này vấn đề phát triển của toàn vùng hoặc một bộ phận được thể hiện ra Phương hướng phát triển được chi tiết hoá, bản vẽ và báo cáo kèm theo để làm rõ nội dung quy hoạch
Trang 31Nhà nước đưa ra những quy định về quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh, thành trong quá trình chuẩn bị và thực hiện quy hoạch trong phạm vi quyền hạn của cấp này Quy hoạch tổng thể đưa ra những tiêu chí, mục tiêu yêu cầu và hưỡng dẫn, quy hoạch cấp dưới sẽ triển khai thực hiện mà không có chức năng đưa ra quy định luật pháp
Trang 32Chương 3: KỸ THUẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH
3.1 Giới thiệu chung
Như đã giới thiệu trong các chương trước việc lập quy hoạch là một quá trình, nó ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, vì vậy người làm quy hoạch cần phải có đủ kinh nghiệm
và kiến thức, biết được kỹ thuật và phương pháp lập dự án Kỹ thuật lập dự án gồm có nhiều vấn đề ở đây cần nêu lên những điểm chính đó là kỹ thuật dự báo, thu thập và xử
lý số liệu, lựa chọn vị trí xây dựng dự án, phân tích kinh tế đầu tư và đánh giá tác động môi trường sua khi xây dựng dự án vấn đề phát triển hạ tầng cơ sở sẽ được nghiên cứu
Đối với một thành phố, thị xã sẽ có rất nhiều yêu cầu chức năng riêng về không gian như công trình vui chơi giải trí, khu dân cư Chương này tập trung nghiên cứu về kỹ thuật tính toán nhằm xác định yêu cầu không gian cho các thành phố có chức năng khác nhau
Câu hỏi đầu tiên cần được làm rõ là quy hoạch được thực hiện với khoảng thời gian bao lâu?
Người lập quy hoạch cần xác định rõ những yêu cầu của quy hoạch Yêu cầu của quy hoạch phụ thuộc vào 3 dạng khác nhau của việc phát triển:
• Phát triển Văn hoá- Xã hội
- Phát triển kinh tế
- Phát triển dân số Phát triển hiện nay có thể không bị ảnh hưởng của một quy hoạch Ví dụ như tăng trưởng kinh tế hoặc khuynh hướng văn hoá xã hội tự do hoá Nhưng có loại phát triển khác lại có thể bị ảnh hưởng của quy hoạch như quá trình di cư, nhập cư Dữ liệu có thể thu thập từ phòng quy hoạch văn hoá xã hội hoặc các phòng chức năng khác Trong chương này những vấn đề sau sẽ được xem xét thảo luận :
- Dự báo dân số
- Dự báo yêu cầu nhà ở cho đến năm nào đó
- Tính toán yêu cầu không gian bố trí và diện tích xây dựng nhà ở yêu
Trang 33- Dự báo yêu cầu việc làm cho đến năm tính toán thiết kế
- Tính toán không gian bố trí khi yêu cầu việc làm thực hiện theo quy hoạch
3.2.1.2 Dự báo dân số
Phát triển dân số có quan hệ tới việc lập quy hoạch Sự phát triển dân số theo độ tuổi,
tỉ lệ nam nữ có ảnh hưởng rát lớn đến việc lập quy hoạch Hiện nay có rất nhiều phương pháp tính toán dự báo sẽ được giới thiệu sau đây
a Các phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo theo khuynh hướng ngoại suy
Để xác định các thông số về dân số vào năm nào đó con đường tốt nhất là sử dụng phương pháp ngoại suy về dân số trong quá khứ Tính toán theo nguyên tắc này có rất nhiều phương pháp Sau đây sẽ giới thiệu cách tính thông qua các ví dụ điển hình
- Ngoại suy tuyến tính
- Ngoại suy phi tuyến
sơ bộ nó phụ thuộc trực tiếp số liệu thống kế trong quá khứ Các thông số về dân số tương lai ( tuổi, giống, việc làm ) có thể cao hơn hoặc thâp hơn nếu số liệu cũ không áp dụng Điều này được thể hiện ở ví dụ 3.1 sau Lưu ý điều này chỉ đúng khi dùng phương pháp ngoại suy tuyến tính
Ví dụ 3.1 Phương pháp ngoaị suy tuyến tính
Thông số về dân số của thành phố được thống kê trong bảng sau
Cơ quan địa phương rất quan tâm về vấn đề việc chọn ví trí xây dựng khu nhà ở cho người dân trong vòng 15 năm tới Để làm được việc này cần dự báo dân số đến năm
2010 Hình 3.1 biểu diến khuynh hướng gia tăng dân số dựa theo tài liệu thống kê trong bảng 3.1 sau
Trang 34Bảng 3.1 Dân số thống kê từ năm 1970 đến 1995
là đủ
60000 65000 70000 75000 80000 85000 90000 95000 100000
Hình 3.1 Đường biểu diễn dân số theo phương pháp ngoại suy đoạn thẳng dựa theo số năm thống kê khác nhau
( Ghi chú: Nét liền đậm là đường nội suy theo liệt thống kê đầy đủ, đường chấm đậm là dựa theo số liệu 1985 – 1990, đường chấm gạch là dựa theo số liệu 1990 – 1995)
(ii) Hồi quy tuyến tính
Hiện nay có nhiều phương pháp bảng tính và phương pháp khác sử dụng máy tính để
vẽ đồ thị ngoại suy đường quan hệ trên Sử dụng phương pháp ô lưới máy tính có thể
Trang 35báo có thể nhận thấy từ hình biểu diễn hoặc tính toán đặc biệt, phụ thuộc vào phần mềm sử dụng Hình 3.2 biểu diễn 2 đường ngoại suy
Ngoại suy phi tuyến
Ngoài việc ngoại suy hàm tuyến tính, nhiều chương trình máy tính cùng với dữ liệu có thể xác định hàm phy tuyến để nội suy khuynh hướng dữ liệu Một trong những hàm quan hệ là đa thức ngược lại bậc của đa thức có thể lựa chọn cho phù hợp
Ví dụ 3.2 Phép nội suy phy tuyến
Sử dụng số liệu ví dụ 3.1, áp dụng hàm đa thức để dự báo dân số đến năm 2010 Trong trường hợp này có thể sử dụng phương trình bậc hai ( đường Parabol) để biểu thị Nếu
sử dụng máy tính thì máy có thể biểu diễn hoàn hảo kết quả tính toán trên cơ sở dữ liệu đầu vào Theo kết quả tính toán dân số năm 2010 sẽ cao hơn năm 1995 là 5000 người Nhìn vào dạng đường biểu diễn ta thấy từ 1990 đến 1995 có xu thế giảm từ từ, nhưng không có nghiã là nó sẽ tiếp tục giữ độ giảm như vậy trong vòng 15 năm tới Khi này sử dụng hàm bậc hai hay bậc cao hơn không đưa lại kết quả đáng tin cậy
70000 72000 74000 76000 78000 80000 82000 84000 86000 88000
1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010
Hình 3.2 Phép nội suy phy tuyến sử dụng hàm biểu diễn đường cong bậc hai
Phương pháp kéo dài trung bình
Phương pháp kéo dài trung bình thực hiện qua nhiều bước mỗi điểm trong đồ thị kéo dài được xác lập từ những số liệu trước đó Số liệu mới xác định sẽ thay thế số liệu cũ Hiện nay có nhiều cách xác định dạng đường kéo dài theo phương pháp này Ví dụ 3.3 và 3.4 là hai trong nhiều phương pháp thể hiện theo cách vẽ này
Ví dụ 3.3 Phương pháp kéo dài trung trình 1
Sử dụng số liệu trong ví dụ 3.1 trên, kết quả dự báo dân số năm 2010 được thể hiện
Trang 36trên hình 3.3 sau
Hình 3.3: Phương pháp dịch chuyển trung bình 1
Bước đầu tiên: ba số liệu các năm hiện tại 1985, 1990 và 1995 được vẽ trên hệ trục Ta đặt tên các điểm tương ứng các năm là điểm 1, 2, và 3 Đường thẳng nối hai điểm 1 và
3 kéo dài cho ta điểm 4 Đây chính là dân số đến năm 2000 Dựa trên các điểm đã xác định trên hệ trục 2, 3 và 4 qua các điểm 2 và 4 ta xác định điểm số 5 đó là số dân vào năm 2005 Cuối cùng dựa vào các điểm 3 và 5 ta vẽ đường thẳng để tìm được số dân vào năm 2010, đó là dân số dự báo cho năm 2010 là 87500 người
Ví dụ 3.4 Phương pháp kéo dài trung trình 2
Phương pháp 2 căn bản giống phương pháp 1 nhưng đường quan hệ không phải đi qua tất cả các điểm từ điểm đầu tiên đến điểm cuối cùng như phương pháp 1 mà sẽ sử dụng đường quan hệ có tính phù hợp nhất để thể hiện
Dự báo dựa theo số liệu sinh và tử
Số liệu dân số có thể dựa vào tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết hàng năm trên 1000 để xác định Giả thiết rằng hai loại tỉ lệ này không thay đổi theo thời gian Thông số chung về dân số có thể tính toán qua công thức sau:
Trang 37Dự báo theo tỉ lệ sinh, tử, nhập và di dư
Nhập cư và di cư cùng với các tỉ lệ sinh và tử có vị trí quan trọng trong tính toán số dân trong tương lai Nếu hai yếu tố này được xem xét thì công thức 3.1 trở thành:
B(t) =B(o)*(1 + g – s + i - e) t (3.2)
Các thông số t, o, g, s đã nêu ở trên, ngoài ra i và e được xác định như sau
i = Số lượng nhập cư trên tỉ lệ tính toán
e = Số lượng di cư trên tỉ lệ tính toán
Giả thiết thêm i và e không đổi trong khoảng thời gian tính toán
Ví dụ 3.6 về sử dụng công thức 3.2
Dữ liệu
Trang 38b Biểu diễn dân số
Phần trên mới chỉ xét số dân vào năm tính toán và số lượng ứơc tính trong tương lai Đây mới chỉ là số tròn, thực ra có rất nhiều thông số cần được làm rõ như giới tính, tuổi, nguồn gốc, việc làm, thu nhập cần chỉ rõ trong tài liệu thống kê
Phương pháp phân đoạn
• Phương pháp này chia độ tuổi ra thành các nhóm mà chúng có tên là nhóm tuổi Thang bậc trong bước chia lấy theo cấp 5, cụ thể là 0-4 tuổi, 5-9 tuổi
- Sử dụng số liệu kinh nghiệm, điều kiện sinh tồn của các nhóm tuổi được xác định Điều kiện sinh tồn ở đây là để chỉ người đang sống có tuổi trong nhóm điều tra và có khả năng sống tiếp ở độ tuổi nhóm trên
- Ngoài ra lượng nhập cư hàng năm cũng phải được xác định trong mỗi nhóm tuổi
Giả thiết rằng nhóm tuổi trong 5 năm việc tính toán dân số về nhóm tuổi tiếp theo được xác định qua công thức sau:
1 Lấy nhóm tuổi i tại thời điểm t
2 Nhân nhóm tuổi i với cơ hội sống sót trong nhóm i-
3 Cộng thêm 5 lần nhóm nhập cư của nhóm i + 1
4 Kết quả chính là nhóm tuổi i + 1 tại thời điểm t + 1
Các bước giới thiệu trên nên được xác định cho mỗi nhóm ở các bước tiếp theo Chiều dài của bước thời gian bằng với số năm trong nhóm tuổi tính Hình 5.5 mô tả quá trình tính toán này
Số người sống trong nhóm 1 tại thời điểm t + 1 phụ thuộc vào số lượng phụ nữ có khả năng sinh sản tại thời điểm t Đó là phụ nữ trong nhóm 4 đến 10 (15 đến 49 tuổi) Trong mỗi nhóm tuổi tỉ lệ khả năng sinh đẻ đã được xác định Tỉ lệ sinh là số lượng
Trang 39Việc tính toán cho nhóm đầu tiên được tiến hành như sau:
1 Lấy số lượng phụ nữ sinh sản của nhóm 4
2 Nhân số lượng trên với tỉ lệ sinh đặc biệt nhóm 4 và chia cho 1000
3 Nhân số lượng trên với số năm trong thang tính
4 Lập lại 3 bước trên cho nhóm tuổi từ 5 đến 10
5 Cộng các kết quả lại
6 Lấy số dân nhập cư của nhóm 1 nhân với số năm của nhóm
7 Cộng kết quả bước 5 và 6 Đây chính là kết quả của số dân nhóm 1 tại thời điểm t+1
Hình 3.5: Mô hình phương pháp phân độ tuổi
So với các phương pháp giới thiệu trên, phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi bật hơn
• Tính toán chính xác hơn bởi vì những thay đổi đã được xác định trong các nhóm tuổi Trên cơ sở của số lượng sinh ra trong nhóm tưởi sinh đẻ 15 – 50 sẽ chính xác hơn nhiều nếu ta nhân tỉ lệ sinh đẻ trong toàn bộ dân số
• Phương pháp phân nhóm tuổi cung cấp nhiều thông tin trong điều tra Số lượng người trong từng nhóm tuổi, số liệu này sẽ giúp ích cho nhiều tính toán khác Ví dụ
Sốlượng Số lượng Số lượng Số lượng
Trang 40những người trong độ tuổi từ 6 đến 20 trong nhóm đối tượng đến các trường học, nhóm 4 đến 13 là số lượng người có thể tham gia lao động được
Ví dụ 3.7 Tính toán dân số sử dụng phương pháp phân đoạn
Số liệu sử dụng trong tính toán
• Thông số độ tuổi ngày 1-1-1995
• Điều kiện sống của mỗi nhóm
• Tỉ lệ sinh đẻ đặc biệt của nhóm
• Số lượng nhập cư ở mỗi nhóm tuổi
Giả thiết rằng 3 điều kiện cuối không đổi trong khoảng thời gian tính toán Thông tin được thể hiện bảng 3.2 và sử dụng nó cho dự báo số dân vào năm 2010
Dân số không phân theo nhóm giới tính và như vậy giả thiết tỉ lệ nan nữ như nhau trong mỗi nhóm tuổi Bước chia nhóm tuổi là 5 năm Kết quả được thể hiện trong bảng 3.3 của hai ví dụ
Ví dụ 1: Dự báo độ tuổi nhóm 6 (25-29 tuổi) vào ngày 1-1-2000 thì bằng với độ tuổi
nhóm 5 vào ngày 1-1-1995 nhân với cơ hội sống sót nhóm 5 Số liệu này đựơc cộng thêm 5 lần số nhập cư của nhóm 6:
6828 0.99828 + 5 * 213 = 7881
Ví dụ 2: Dự báo độ tuổi nhóm 1 (0-4 tuổi) vào ngày 1-1-2010 thì bằng 5 lần số lượng
sinh hàng năm trong nhóm 4 đến 10 của bước trước đây nhân với số lượng nhập cư trong 5 năm nhóm 1
Trong nhóm 4: 3789*0.5 (số lượng phụ nữ nhóm 4 thời điểm 1-1-2005, xem
bảng 3.3) *0.0043 (số lượng sinh nhóm phụ nữ nhóm 4/ năm)
*5 (Số năm trong / bước thời gian tính) Nhóm 5: 4367 * 0.5 * 0.0446 * 5 = 487
Nhóm 6: 6020 * 0.5 * 0.1094 * 5 = 1646
Nhóm 7: 8382 * 0.5 * 0.0753 * 5 = 381
Nhóm 8: 8020 * 0.5 * 0.0190 * 5 = 42 Nhóm 9: 4981 * 0.5 * 0.0034 * 5 = 5
Tổng số sinh : 4180 người
Cộng thêm số nhập cư:
44 (Số nhập cư nhóm 1/năm) *5 (số năm tính trong một bước) = 220