1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thuốc điều trị tại chỗ, vật liệu che phủ tạm thời vết bỏng (Kỳ 2) pdf

6 377 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 267,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một axit yếu, thuốc được sử dụng dưới dạng dung dịch 3% hoặc dạng bột tinh thể màu trắng , đóng gói 10 gam Axit boric có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn mủ xanh.. Ch

Trang 1

Thuốc điều trị tại chỗ, vật liệu che

phủ tạm thời vết bỏng

(Kỳ 2) 1.2 Axit Boric

Đây là một axit yếu, thuốc được sử dụng dưới dạng dung dịch 3% hoặc dạng bột tinh thể màu trắng , đóng gói 10 gam

Axit boric có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn mủ xanh

Chỉ định

- Điều trị vết thương nhiễm trực khuẩn mủ xanh

- Sử dụng để trung hoà vết bỏng do vôi tôi nóng

Chống chỉ định: Các loại bỏng khác

Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc đắp lên những vùng vết thương có nhiễm

trực khuẩn mủ xanh, tẩm thuốc vào gạc đắp lên vết thương bỏng vôi, chỉ đắp diện tích khoảng 10%

Trang 2

Chú ý khi sử dụng: Không dùng ở diện tích quá rộng vì có nguy cơ

thuốc gây nhiễm toan chuyển hoá

1.3 Dung dịch Nitrat bạc (AgNO3)

Đặc tính: Thuốc có tác dụng diệt trực khuẩn mủ xanh, thuốc ít gây dị ứng

Chỉ định: Những vết bỏng nhiễm trực khuẩn mủ xanh

Chống chỉ định: Những vết bỏng khác

Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc, đắp vào những vùng nhiễm trực khuẩn mủ

xanh

Dạng thuốc: Dung dịch 0,5%; 0,25% đóng trong chai màu Nhược điểm

của thuốc là đắp tốn gạc, gây đen đồ vải

Chú ý khi sử dụng: Chỉ đắp với diện tích dưới 10% diện tích cơ thể vì thuốc

gây hạ natri và clo máu, gây kiềm chuyển hoá và methemoglobin

1.4 Mỡ Maduxin

Đặc điểm và tác dụng: Maduxin (Madhuxin) là thuốc dạng mỡ màu nâu

đen được nấu từ lá của cây sến (Madhuca pasquieri – Dubard H Sapotaceae) Maduxin oil là cao của lá sến , dầu hạt sến và vaselin Maduxin được nghiên cứu bào chế từ 1990-1995 (Lê Thế Trung, Nguyễn Liêm, Trần Xuân Vận) Đây là

Trang 3

thuốc chữa nhiễm khuẩn vết bỏng có hiệu quả Thuốc có tác dụng với tụ cầu vàng,

trực khuẩn mủ xanh E.coli, Proteus

Gạc tẩm thuốc đắp vào vết thương làm giảm tiết dịch, giảm mùi hôi Thuốc kích thích biểu mô hóa ở bỏng nông và tạo mô hạt ở bỏng sâu Thuốc có tác dụng tốt với bỏng vôi

Chỉ định: điều trị vết bỏng nông, bỏng sâu và bỏng vôi;

Chống chỉ định: Sau mổ ghép da

Cách dùng: Sau khi làm sạch vết thương, tẩm thuốc vào gạc, đắp lên vết

thương, thay băng ngày một lần hoặc ngày hai lần

Nhược điểm: Thuốc thường gây đau cho bệnh nhân và làm đen vải trải

II.2 Thuốc làm rụng hoại tử bỏng :

Có bản chất là các men tiêu huỷ protein có nguồn gốc từ hoá chất,động

vật, thực vật và vi sinh vật

· Từ hoá chất (các axit yếu):

mỡ Axit salyxilic 40%

Chỉ định và cách dùng:

Trang 4

- Dùng ở hoại tử khô từ tuần thứ hai sau bỏng

- Diện tích dùng một lần dưới 10% diện tích cơ thể

- Đắp thuốc trực tiếp lên hoại tử, dùng thuốc cách ngày (Bôi thuốc dày khoảng 1mm)

Chống chỉ định

Hoại tử ướt

Trạng thái toàn thân nặng (Suy tim mach, suy hô hấp ) vì dùng thuốc thời gian kéo dài có thể gây nhiễm toan chuyển hoá

· Nguồn gốc động vật: Các men Trypsin, pepsin, chymotrypsin

· Từ thực vật: men papain (từ

mủ quả đu đủ), bromelain (từ quả dứa) có tác dụng làm tiêu sợi tơ huyết và ức chế đông vón tiểu cầu

Từ vi sinh vật: các men do vi khuẩn tiết ra như Streptokinaza (do liên cầu

khuẩn tiết ra), Subtilain (do Bacillus subtilis tiết ra) Chế phẩm Travase đã từng

được áp dụng trên lâm sàng có kết quả tốt

Trang 5

II 3 Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng (kích thích biểu mô và tạo mô hạt)

Trong nhóm thuốc này có nhiều loại thuốc như:

- Các thuốc mỡ: Dầu gan cá thu, dầu gấc (Bản chất là các vitamin A,D)

- Thuốc mỡ chế từ rau má, madecasol

- Thuốc kem nghệ

- Thuốc Dampommade (mỡ cao

vàng) , đây là bài thuốc thừa kế của sư cụ Đàm Lương ở Chùa Trắng Thành phần gồm có: Hồng đơn, sáp ong, mật đà tăng, dầu luyn

Chỉ định: - Sau mổ ghép da 5-7 ngày

- Vết bỏng chậm liền, vết loét lâu liền diện tích hẹp

Chống chỉ định: Diện tích rộng (vì trong thành phần có chì), mỗi lần chỉ

đắp dưới 5% diện tích cơ thể

Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc đắp vào vết thương có tác dụng kích thích

biểu mô hoá ở những vùng có mô hạt diện tích hẹp và được sử dụng ở những vết loét lâu liền Thay băng ngày một lần , hoặc thay băng cách ngày

Ngày đăng: 03/07/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w