Tiền sản giật - nguy cơ của nhiều thai phụ Với tiền sản giật nặng, đôi khi bác sĩ phải cho đo huyết áp với khoảng cách... Nguy cơ tiền sản giật cũng tăng ở phụ nữ bị tiểu đường, thai trứ
Trang 1Tiền sản giật - nguy cơ của nhiều thai phụ
Với tiền sản giật nặng, đôi
khi bác sĩ phải cho đo
huyết áp với khoảng cách
Trang 2Tiền sản giật là tình trạng cao huyết áp do thai kỳ đi kèm với đạm niệu Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần lễ thứ
20 của thai kỳ và biến mất hoàn toàn sau sanh Tuy nhiên, tiền sản giật có thể xuất hiện sớm hơn, trước tuần thứ 20 của thai kỳ, trong những
trường hợp đa thai và thai trứng
- Diễn tiến của tiền sản giật thường lũy tiến, tuy nhiên đôi khi cũng thấy bệnh tự phục hồi hoặc diễn tiến
từng đợt Nói chung, tiền sản giật xảy ra trước tuần thứ 28 thường diễn tiến nặng hơn là các rối loạn xảy
ra sau tuổi thai này
- Tiền sản giật thường gặp ở con so, nhất là dưới 20 tuổi và trên 40 tuổi Tuy nhiên, xuất độ này thay đổi theo môi trường sống (tình trạng kinh tế xã hội kém), ảnh hưởng di truyền (chị em gái, con gái, cháu gái)
Có sự tương quan giữa trọng lượng của mẹ (béo phì) ngắn hơn nhiều (5 – 30
phút)
Trang 3và nguy cơ bị tiền sản giật Đa thai tỷ lệ tiền sản giật tăng (song thai tỷ lệ tiền sản giật là 13% trong khi đơn thai là 5%)
Nguy cơ tiền sản giật cũng tăng ở phụ nữ bị tiểu
đường, thai trứng, có bệnh lý mạch máu từ trước…
- Tiền sản giật là nguyên nhân chính gây tử vong mẹ,
tử vong thai nhi, thai chậm phát triển trong tử cung Nếu thai sống cũng có thể chậm phát triển tâm thần sau này
Nguyên nhân và sinh bệnh học:
* Nguyên nhân gây nên tiền sản giật chưa được biết chính xác Các yếu tố sau có thể góp phần trong sự xuất hiện của tiền sản giật:
- Yếu tố miễn nhiễm - di truyền
- Yếu tố dinh dưỡng
Trang 4- Rối loạn chức năng nội tiết
- Biểu hiện nhiễm độc
- Thay đổi về huyết động học
- Phản xạ dãn tử cung gây nên sự thiếu máu tử cung
- nhau
Tiến trình sinh lý bệnh của tiền sản giật có thể đã bắt đầu từ 3 – 4 tháng trước khi bắt đầu có sự gia tăng huyết áp quan sát được trên lâm sàng Các yếu tố làm cơ sở để giải thích sinh bệnh học của tiền sản giật là:
- Sự thiếu máu tử cung - nhau làm hoạt hóa hệ thống rénine - angiotensine của tử cung
- Có sự mất quân bình giữa hai loại Prostaglandine
do nhau sinh ra là prostacycline và thromboxane
Trang 5- Sự không có hoặc giảm nồng độ NO có thể đóng một vai trò trong bệnh nguyên của tiền sản giật
- Endotheline trong máu cao hơn ở phụ nữ bị tiền sản giật
- Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) gia tăng cùng với sự gia tăng của kháng lực mạch máu
tử cung nhau ở phụ nữ bị tiền sản giật
- Những sang thương nội mô và co thắt mạch máu toàn thân trong tiền sản giật dẫn đến những thay đổi
cơ quan đáng kể bao gồm những tổn thương không hồi phục của hệ thần kinh trung ương, thận và gan:
+ Hệ thần kinh trung ương: phù não mô kẽ với vi xuất huyết dạng tử ban có thể gây rối loạn thị giác (sợ ánh sáng, nhìn đôi, ám điểm) và nhức đầu
Những tổn thương não chủ yếu sau khi khám nghiệm
Trang 6tử thi là: phù, sung huyết, thiếu máu khu trú, huyết khối và xuất huyết
+ Thay đổi đáy mắt: phản ánh mức độ lan rộng co thắt tiểu động mạch (soi đáy mắt có thể cho thấy
những thay đổi cấp tính và mãn tính)
+ Thận: tổn thương nội mô cầu thận đưa đến đạm niệu không chọn lọc và sự phá vỡ chức năng ống thận Bài tiết acid uric, calci, kallikrein bị giảm Acid uric trong máu tăng
Sự phá vỡ nặng nề chức năng thận được chứng
minh bởi tăng mức kallikrein và urea trong huyết
tương cũng như bởi thiểu niệu hay vô niệu Những thay đổi điển hình cho tiền sản giật như giảm thể tích huyết tương với cô đặc máu tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của suy thận cấp và kết quả là cần phải chạy thận nhân tạo
+ Gan: trong tiền sản giật nặng, xét nghiệm chức
Trang 7năng gan có thể thay đổi, nồng độ SGOT, SGPT tăng cao, có thể tăng Bilirubin trong máu nhưng ít gặp
hơn
Tổn thương giải phẫu bệnh thường gặp nhất là hoại
tử xuất huyết quanh khoảng cửa ở ngoại vi tiểu thuỳ gan Những tổn thương này hiếm khi lan rộng nhưng
sự chảy máu từ những tổn thương này có thể gây vỡ gan hoặc hình thành bướu máu dưới bao gan
(trường hợp xuất huyết gan, tỷ lệ tử vong khoảng 30%, cần được can thiệp phẫu thuật ngay lập tức để
có thể cứu sống người bệnh)
+ Hình thành phù: báng bụng, tràn dịch màng phổi, màng tim do tăng tính thấm thành mạch và giảm áp lực thấm keo
+ Tổn thương phổi: phụ nữ bị tiền sản giật tử vong thường luôn có phù phổi và viêm phổi xuất huyết lan rộng
Trang 8+ Tim mạch: hậu tải gia tăng do cao huyết áp, tiền tải cũng bị ảnh hưởng nhiều Ở giai đoạn tiền lâm sàng thì phụ nữ bị tiền sản giật có sự gia tăng cung lượng tim đáng kể nhưng kháng lực ngoại biên thì bình
thường Khi có biểu hiện thì cung lượng tim giảm
đáng kể và gia tăng kháng lực ngoại biên
Phụ nữ bị tiền sản giật tử vong có xuất huyết dưới nội tâm mạc, huyết khối và hoại tử
+ Thay đổi đông máu: tiền sản giật đi kèm với tăng tính đông máu trong 5 – 10% người bệnh Giảm tiểu cầu do tiêu thụ tiểu cầu tại các mạch máu tận cùng Đông đặc huyết tương cũng gia tăng Tăng D-dimer, fibropeptide A, phức hợp thrombin-antithrombin III huyết tương Những chất ức chế đông máu như
antithrombin III và protein C giảm
+ Bánh nhau: xơ vữa động mạch cấp (đoạn cuối của những động mạch xoắn trở nên bị bít tắc do sự tích tụ các bọt bào nhiễm mỡ, fibrin, tiểu cầu)
Trang 9Sự tưới máu tử cung giảm gây nên nhiều vùng nhồi máu có thể dẫn đến suy thoái bánh nhau và làm cho thai chậm phát triển
Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng:
* Tiền sản giật nhẹ:
- Huyết áp ≥ 140/90mmHg hoặc huyết áp tâm trương
≥ 90mmHg sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ (đo 2 lần cách nhau 4 – 6 giờ và phải đo sau khi nằm nghỉ 15 phút)
- Protein niệu vết, + hoặc có thể tới ++
- Có thể có phù ở mặt, chân tay; phù trắng, mềm, ấn lõm
- Không có các triệu chứng khác
Trang 10* Tiền sản giật nặng:
Triệu
chứng
lâm sàng:
- Tăng cân nhanh, phát triển phù toàn thân
- Rối loạn não hay tri giác (thay đổi nhận thức, nhức đầu, nhìn có ám điểm, nhìn mờ)
- Đau thượng vị hoặc đau 1/4 trên phải bụng
- Phù phổi hay xanh tím
- Soi đáy mắt có co mạch
Huyết áp: - Tâm thu ≥ 160 mmHg
Trang 11- Tâm trương ≥ 110 mmHg
- Gián đoạn nhịp sinh lý với đỉnh điểm vào ban đêm
Chức
năng
thận:
- Thiểu niệu: thể tích nước tiểu < 400 ml/24 giờ
- Đạm niệu ≥ 2g trong nước tiểu tích tụ 24 giờ hoặc
3+ đến 4+ trên test bán định lượng
- Creatinin máu > 1,2 mg/dL
- Acid uric máu > 3,6 mg/dL (cho đến tuần thứ 32 của thai kỳ)
- Acid uric máu > 5 mg/dL (sau tuần thứ 32 của thai kỳ)
Trang 12Chức
năng gan:
- SGOT, SGPT gấp 3 lần bình thường
- Bilirubin > 1,2 mg/dL
Tình trạng
đông
máu:
- Giảm tiểu cầu: < 100.000/ mm3
- Antiprothrombin III giảm, D-dimer tăng
Tán
huyết:
- LDH tăng
- Haptoglobin giảm
Tình trạng
thai:
- Siêu âm thai chậm phát triển và/hoặc thiểu ối
- Siêu âm Doppler: kiểu lưu lượng bệnh lý của động mạch tử cung, động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tĩnh mạch
Trang 13Diễn tiến:
- Tiền sản giật có thể biến thành sản giật trong bao lâu và lúc nào khó đoán trước được
- Tiền sản giật cũng có thể trở nặng sớm và nhanh khi có hội chứng HELLP (tán huyết, tăng men gan, giảm tiểu cầu)
Những diễn tiến nặng này làm gia tăng các nguy cơ như nhau bong non, suy thận, các biến chứng tim mạch hay mạch máu não… và thậm chí dẫn đến tử vong
Tiên lượng mẹ và con:
Tuỳ thuộc vào tuổi thai, sự đáp ứng với điều trị và cách chấm dứt cuộc sanh
Tiền sản giật có thể gây tử vong:
Trang 14- Cho thai do:
+ Thai kém phát triển rồi suy thai
+ Thai non tháng vì chuyển dạ tự nhiên hay do chủ động chấm dứt thai kỳ
- Cho mẹ do:
+ Tai biến mạch não
+ Suy tim
+ Suy hô hấp
+ Suy thận cấp
Điều trị:
* Tiền sản giật nhẹ:
Trang 15- Nếu thai dưới 37 tuần:
+ Sản phụ được khuyên nghỉ ngơi
+ Huyết áp thường được đo 2 – 3 lần mỗi ngày, các xét nghiệm cơ bản thường được thực hiện 2 lần mỗi tuần
Nếu các dấu hiệu không tiến triển hoặc trở lại bình thường, sản phụ sẽ được theo dõi mỗi tuần 2 lần
(huyết áp, số lượng nước tiểu, protein niệu, tình trạng thai) đến khi đủ tháng
+ Sản phụ và gia đình được tư vấn về sự nguy hiểm của tiền sản giật nặng và sản giật, về chế độ ăn
- Trong trường hợp thai trên 37 tuần:
+ Nếu cổ tử cung mở, bác sĩ sẽ bấm ối cho sinh
Trang 16+ Nếu cổ tử cung chưa mở, bác sĩ có thể gây chuyển
dạ hoặc mổ lấy thai
* Tiền sản giật nặng:
Đôi khi đòi hỏi bác sĩ phải cho đo huyết áp với
khoảng cách ngắn hơn nhiều (5 – 30 phút) bằng cách dùng thiết bị tự động
Các xét nghiệm cơ bản thường được thực hiện 1
hoặc 2 lần mỗi ngày
Phương thức điều trị nội khoa:
- Ổn định lâm sàng và ngăn chặn diễn tiến đến sản giật:
+ Sản phụ phải nghỉ ngơi tại giường
+ Magnesium sulfate được cho dùng để ngăn chặn cơn co giật trong những trường hợp có xu hướng
Trang 17tăng co giật não bộ
- Điều trị hạ áp:
Trong giờ đầu, bác sĩ chỉ giảm tối đa 20% huyết áp
để tránh tình trạng giảm tưới máu thai cấp tính Sản phụ luôn được giám sát với CTG monitoring khi được cho dùng thuốc hạ áp: Dihydralazine, Labetalol,
Urapidil, Nifedipine
- Bù dịch để duy trì lượng nước tiểu: Lactate Ringer, dịch keo (HAES 10%)
- Điều chỉnh rối loạn huyết động học:
+ Bác sĩ sẽ không dùng Heparin khi nào còn xuất
huyết hoặc còn khả năng xuất huyết
+ Nếu giảm khả năng đông máu xác đáng về mặt
cầm máu sẽ được bác sĩ điều chỉnh bằng huyết
tương tươi đông lạnh
Trang 18+ Giảm tiểu cầu sẽ được điều chỉnh bằng tiểu cầu đậm đặc
- Để giảm nguy cơ phù phổi ở sản phụ bị tiền sản giật bác sĩ cho dùng ß-mimetics đôi khi cho kèm
corticosteroids để làm phổi thai nhi trưởng thành
Xử trí sản khoa:
Nguyên tắc xử trí: “Ưu tiên cho mẹ có chiếu cố đến con”
Biện pháp xử trí của bác sĩ tùy theo mức độ nặng của bệnh, diễn tiến của bệnh, mức độ trưởng thành của thai, chức năng nhau và sự oxy hóa của thai:
- Nếu diễn tiến bệnh nhẹ, đáp ứng tốt với điều trị, tuổi thai >34 tuần, biểu đồ nhịp tim thai bình thường trên Non-stress test hoặc Stress test thì mục tiêu là tiến đến sanh tự nhiên (khởi phát chuyển dạ với
Trang 19Prostaglandins)
- Nếu diễn tiến bệnh nặng, tiền sản giật không đáp ứng điều trị, có dấu hiệu thai ngạt trong tử cung (biểu
đồ nhịp tim thai bất thường) thì mục tiêu là sanh
nhanh bằng mổ lấy thai (có thể giúp cho phổi thai nhi trưởng thành trước khi mổ lấy thai nếu được)