định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán chi phí Ban quản lý dự án trong kiểm toán các Dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước
Trang 1
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG DIEU KIEN THUC HIEN LUAT NSNN SUA ĐỔI
Chủ nhiệm dé tai: GS.TS Vuong Dinh Hué Phó chủ nhiệm đề tài: CN Trần Quyết Thang Thư ký đề tài: Th.s Nguyễn Hữu Phúc
6066 13106
Trang 2CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM TOÁN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN LUẬT
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC SỬA ĐỔI
Chu trình NSNN và vai trò của việc kiểm tra giám sát chu trình ngân sách nhà nước
Chu trình ngân sách nhà nước
Vai trò của việc kiểm tra, giám sát chu trình ngân sách
Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong kiểm toán ngân sách nhà nước
Những vấn đề sửa đổi của Luật ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến công tác kiểm toán
Những quan điểm và nguyên tắc xây dựng Luật ngân sách nhà nước sửa đổi
Những nội dung cơ bản của Luật ngân sách nhà nước Tác động, ảnh hưởng của Luật ngân sách nhà nước sửa đổi
đến công tác kiểm toán ngân sách nhà nước các cấp
THUC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CỦA KIỀM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC NGOÀI
Trang 3Đối tượng của kiểm toán ngân sách nhà nước
Các đơn vị thực hiện kiểm toán ngân sách nhà nước Những quy định về kiểm toán ngân sách nhà nước
Kế hoạch kiểm toán ngân sách nhà nước hàng năm và báo cáo kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
Thực hiện quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước Những bất cập và hạn chế của công tác kiểm toán ngân sách nhà nước hiện nay
Kinh nghiệm kiểm toán NSNN của một số nước trên thế giới
Kiểm toán Nhà nước cộng hoà Liên bang Đức Kiểm toán Nhà nước Malaysia
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIEM
TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC
HIỆN LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC SỬA ĐỔI
Định hướng và yêu cầu đổi mới công tác kiểm toán ngân sách nhà nước
Các giải pháp đổi mới công tác kiểm toán ngân sách nhà nước trong điều kiện thực hiện Luật NSNN sửa đổi Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán
Trang 4Các tiền đề và điều kiện cần thiết để thực hiện các giải
pháp đổi mới công tác kiểm toán ngân sách nhà nước
Trang 5QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
Hội đồng Nhân dân HĐND
Ngân sách trung ương NSTW
Uỷ ban Nhân dân UBND
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là một trong những công cụ kiểm tra, kiếm soát của Nhà nước Thông qua hoạt động kiểm toán ngân sách nhà nước (NSNN), KTNN góp phần ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý tài chính nhà nước, đảm bảo sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực tài chính và tài sản Nhà nước Khi thực hiện nhiệm vụ, cơ quan KTNN có quyền độc lập chỉ tuân thủ theo pháp luật Trong đó, Luật NSNN là căn cứ pháp lý đặc biệt quan trọng chi phối hoạt động kiểm toán của cơ quan KTNN Luật NSNN ban hành năm 1996 quy định về lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán NSNN và
về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước các cấp trong lĩnh vực NSNN Luật NSNN nam 1996 được sửa đổi, có hiệu lực từ năm ngân sách 2004 và được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 2 (tháng 12 năm 2002) với mục tiêu nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước
Qua công tác kiểm toán NSNN, KTNN đã góp phần làm lành mạnh nền tài
chính quốc gia, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành chi tiêu và
sử dụng tiết kiệm hiệu quả các nguồn lực tài chính Nhà nước; phát hiện các yếu kém, bất hợp lý trong quản lý và sử đụng NSNN để kiến nghị các cơ quan chức năng có biện pháp chấn chỉnh và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính Những kết quả kiểm toán trung thực, khách quan của cơ quan KTNN báo cáo lên Chính phủ, Quốc hội không chỉ cho phép đánh giá thực trạng NSNN mà còn cung cấp thông tin làm căn cứ cho việc hoạch định các chính sách, các giải pháp quản lý, khắc phục những yếu kém trong quản lý thu - chí NSNN, đưa công tác quản lý NSNN lên trình độ cao hơn và đặc biệt là tăng cường hiệu quả sử dụng NSNN
Đáp ứng yêu cầu của Luật NSNN sửa đổi, KTNN phải bám sát vào các quy định của Luật NSNN sửa đổi để thực hiện hoạt động kiểm toán cho phù hợp, góp
Trang 7phần tích cực vào việc làm lành mạnh nền tài chính quốc gia, cung cấp những thông tin cần thiết, chính xác và là căn cứ tin cậy giúp các cơ quan chức năng phê
chuẩn báo cáo quyết toán NSNN
Luật NSNN sửa đổi yêu cầu ngày càng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của cơ quan KTNN, đặc biệt là vai trò của KTNN trong việc hỗ trợ Quốc hội và Hội đồng Nhân dân (HĐND) nâng cao năng lực giám sát NSNN đòi hỏi công tác
kiểm toán NSNN phải đổi mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra
Trong điều kiện thực hiện Luật NSNN sửa đổi, hoạt động kiểm toán của KTNN phải đổi mới cả về yêu cầu, nội dung và trình tự, thời gian tiến hành kiểm toán và thời hạn hoàn thành kiểm toán Chính vì vậy việc định hướng và đưa ra
các giải pháp đổi mới công tác kiểm toán NSNN trong điều kiện Luật NSNN sửa
đổi có ý nghĩa hết sức quan trọng và là yêu cầu cấp thiết đối với KTNN
2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Đề tài “Định hướng và giải pháp đổi mới công tác Kiểm toán NSNN trong điều kiện thực biện Luật NSNN sửa đổi” với mục tiêu chủ yếu là:
- Hệ thống hoá và phân tích cơ sở lý luận về đổi mới công tác kiểm toán NSNN, phân tích những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động kiểm toán NSNN trong điều kiện Luật NSNN sửa đổi
- Phân tích và đánh giá thực tiễn công tác kiểm toán NSNN của KTNN Việt Nam hiện nay
- Định hướng và để xuất những giải pháp đổi mới công tác kiểm toán NSNN trong điều kiện Luật NSNN sửa đổi
3 Đối tượng, phạm vỉ nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Trước những quy định mới về quản lý NSNN và công tác kiểm toán NSNN của KTNN theo quy định của Luật NSNN sửa đổi, Đề tài đi sâu nghiên cứu những định hướng và giải pháp đổi mới công tác kiểm toán NSNN Đề tài tập trung dé
2
Trang 8xuất các giải pháp cụ thể tăng cường chất lượng hoạt động kiểm toán NSNN, thực hiện tốt vai trò của KTNN trong đó có việc hỗ trợ Quốc hội và HĐND nâng cao năng lực giám sát NSNN
Phạm vị nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu và đánh giá vẻ đổi mới công tác kiểm toán NSNN
của KTNN Việt Nam trong điều kiện thực hiện Luật NSNN sửa đổi Dé tài căn
cứ vào những nội dung sửa đổi trong Luật NSNN 2002 có liên quan đến hoạt động kiểm toán NSNN của cơ quan KTNN để định hướng và để xuất các giải pháp đổi mới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin về kinh tế, quản lý nói chung và về kiểm tra-kiểm soát nói riêng
Đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá Từ đó để ra những định hướng và đổi mới công tác kiểm toán NSNN trong điều kiện thực hiện Luật NSNN sửa đổi, phù hợp hoạt động của KTNN Việt Nam hiện nay
kiến đẻ xuất, nhằm đổi mới công tác kiểm toán NSNN xuyên suốt các giai đoạn
trong quy trình kiểm toán.
Trang 9Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM TOÁN NSNN
TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN LUẬT NSNN SỬA ĐỔI
1.1 Chu trình NSNN và vai trò của việc kiểm tra, giám sát chu trình NSNN
1.1.1 Chu trình NSNN
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Hoạt động của NSNN luôn gắn với từng năm cụ thể và được gọi là năm ngân sách (hay còn gọi là năm tài chính, năm tài khoá)
Chu trình NSNN là khoảng thời gian cần thiết để tổ chức các hoạt động của NSNN theo một trình tự khoa học nhất định Trình tự các bước của các chu trình NSNN kế tiếp nhau, luôn có sự lặp lại nhưng ở mức độ cao hơn Chu trình NSNN bao gồm 3 khâu: Lập dự toán NSNN, Chấp hành NSNN và Kế toán, quyết toán NSNN
1.1.1.1 Lập dự toán NSNN
Lập đự toán NSNN là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách nhằm xác định các chỉ tiêu thu, chi, bội chỉ (nếu có) NSNN cần phải thực hiện cho năm ngân sách kế tiếp
Dự toán NSNN hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu có liên quan và các quy định của pháp luật vẻ thu ngân sách Các khoản chỉ trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Đối với chỉ đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào
4
Trang 10quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư đã có quyết định của cấp có thẩm quyền Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định Đối với chỉ trả nợ, phải căn cứ vào các nghĩa vụ trả nợ của năm dự toán
Khâu lập dự toán NSNN chỉ được coi là hoàn thành khi dự toán đó đã được các cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua Do vậy, thời gian tiến hành lập dự toán NSNN cho một chu trình NSNN kế tiếp phải được thực hiện ngay trong thời gian điễn ra việc chấp hành ngân sách của chu trình ngân sách hiện tại
1.1.1.2 Chấp hành NSNN
Trọng tâm của một chu trình ngân sách là việc tổ chức thực hiện dự toán NSNN (khâu này được gọi là chấp hành NSNN) Thời gian để chấp hành NSNN trùng với thời gian của năm ngân sách Việc tổ chức chấp hành ngân sách là trách nhiệm thuộc về cơ quan hành pháp Ngoài việc phân bổ, giao dự toán, tổ chức thực hiện dự toán thu, chỉ NSNN, khâu chấp hành ngân sách còn bao gồm cả việc điều chỉnh dự toán thu, chỉ ngân sách theo quy định của pháp luật
1.1.1.3 Quyết toán NSNN
Kết thúc một năm ngân sách phải thực hiện quyết toán NSNN nhằm đánh giá lại những gì đã làm được hoặc chưa làm được sau một năm chấp hành và xác định tính đúng dắn, hợp lý, hợp lệ của các số liệu thu, chỉ NSNN một năm đã qua Thời gian để thực biện quyết toán NSNN của năm đã qua phải tiến hành trong thời gian của năm ngân sách hiện tại Thảo luận, đánh giá và phê chuẩn quyết toán NSNN thuộc thẩm quyền của cơ quan quyền lực Nhà nước
Dé thực hiện được 3 khâu trong một chu trình NSNN như trên rất cần phải
có thời gian hợp lý cho mỗi khâu trong chu trình Độ đài về thời gian của một chu trình ngân sách có liên quan đến 3 năm ngân sách kế tiếp nhau, trong đó thời
Trang 11gian của khâu chấp hành ngân sách trùng với thời gian của năm ngân sách, còn thời gian của khâu lập dự toán và quyết toán ngân sách lại phải tiến hành ở năm ngân sách trước và năm ngân sách sau Nói cách khác, thời gian của một chu trình ngân sách kéo dài hơn nhiều so với thời gian của một năm ngân sách
1.1.2.Vai trò của việc kiểm tra, giám sát chu trình ngân sách
Kiểm tra, giám sát chu trình ngân sách là những nội dung quan trọng của quản lý chu trình ngân sách Việc kiểm tra, giám sát chu trình NSNN có rất nhiều chủ thể cùng tham gia, để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau trong suốt chu trình ngân sách Cụ thể là:
- Cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội, HĐND) chịu trách nhiệm quyết định dự toán, giám sát quá trình chấp hành ngân sách và phê chuẩn quyết toán NSNN;
- Chính phủ, UBND các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, diều hành hoạt động của NSNN trên cơ sở dự toán NSNN đã được cơ quan quyền lực Nhà nước thông qua và các văn bản pháp quy khác về quản lý NSNN hiện đang có hiệu lực thi hành;
- Các cơ quan chức năng (Tài chính, Thuế, KBNN, Hải quan ) được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý từng mặt hoạt động của NSNN có trách nhiệm thực thi tốt các việc đã được phân công trong thực hiện chu trình NSNN;
- Các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc UBND các cấp về nghĩa vụ thu nộp, quản lý, sử dụng NSNN và các yêu cầu cụ thể trong quá trình quản lý NSNN;
- KTNN thực hiện nhiệm vụ kiểm toán NSNN các cấp, và có trách nhiệm báo cáo với Quốc hội, Chính phủ
Việc quản lý, kiểm tra, giám sát NSNN đòi hỏi phải quản lý theo chu trình NSNN, gồm cả 3 khâu nói trên Mỗi khâu của chu trình NSNN có ý nghĩa, tác
6
Trang 12dụng riêng đối với quản lý NSNN, đồng thời các khâu này lại có tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ nhau trong quản lý, đảm bảo quản lý NSNN một cách hữu hiệu
và có hiệu quả cao Kiểm tra, giám sát NSNN là một hoạt động quan trọng, bảo đảm cho NSNN được quản lý chặt chế, tuân theo các quy định của pháp luật, đúng mục đích và có hiệu quả Mặt khác, công tác kiểm tra, giám sát NSNN sẽ góp phần kiểm nghiệm tính phù hợp của pháp luật về tài chính, ngân sách, phát hiện những bất cập, lạc hậu hoặc sở hở trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bổ sung, sửa đổi kịp thời và sát với thực tiễn, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu quản lý NSNN
Kiểm tra, giám sát chu trình NSNN bao trùm tất cả các khâu của chu trình NSNN Rất nhiều công cụ được sử dụng trong kiểm tra, giám sát như kế toán, thanh tra, kiểm toán Mỗi công cụ thực hiện chức năng riêng và có thế mạnh riêng trong quản lý, đồng thời các công cụ kiểm tra, giấm sát có tác dụng bổ sung cho nhau nhằm quản lý NSNN được tốt hơn
1.2.Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của KTNN trong kiểm toán NSNN
Đa số các nước trên thế giới đã hình thành và phát triển KTNN hàng trăm năm nay để thực hiện chức năng kiểm tra tài chính nhà nước, mà trọng tâm là NSNN Các quốc gia đù có thể chế chính trị khác nhau nhưng đều sử dụng KTNN như một công cụ quan trọng trong kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính của Nhà nước Mọi hoạt động liên quan đến tài chính nhà nước và tài sản nhà nước đều chịu sự kiểm tra của cơ quan KTNN Đối tượng kiểm toán của KTNN là mọi các cơ quan, tổ chức, đơn vị có quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính Nhà nước và tài sản nhà nước Ngoài việc kiểm tra xác nhận tính đúng đán, hợp pháp của số liệu báo cáo quyết toán ngân sách, cơ quan KTNN còn thực hiện kiểm toán tính tuân thủ, tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả việc quản lý,
sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản nhà nước Các cơ quan KTNN trên thế giới dù trực thuộc Quốc hội, Chính phủ hay tổ chức theo mô hình
Trang 13nào cũng đều được pháp luật đảm bảo tính độc lập, đây là đặc trưng cơ bản của hoạt động kiểm toán Cơ quan kiểm toán chỉ có thể thực hiện được nhiệm vụ một cách khách quan và thật sự hiệu quả khi có vị trí độc lập với cơ quan bị kiểm tra
và được bảo vệ trước những tác động ảnh hưởng từ bên ngoài
Qua hoạt động thực tiễn của KTNN hơn 10 năm qua và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, KTNN có thể thực hiện vai trò của mình trong quản lý NSNN, giúp Quốc hội và HĐND các cấp thực hiện chức năng giám sát về tài chính, ngân sách thông qua những số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, KTNN thực hiện kiểm toán và cung cấp thông tin cho Quốc hội,
HĐND để xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN Đây là công việc kiểm toán sau
(hậu kiểm) - một chức năng vốn có và mang tính truyền thống của các cơ quan KTNN Tất cả các cơ quan KTNN trên thế giới đều thực hiện chức năng này và đây là nhiệm vụ không thể thiếu trong việc trợ giúp Quốc hội, HĐND phê chuẩn quyết toán NSNN hàng năm Vấn dé này đã được khẳng định trong Tuyên bố
Lima của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao - INTOSAI rằng:
"kiểm toán sau là một nhiệm vụ không thể thiếu được của co quan KTNN, không lệ thuộc vào việc nó có được kiểm toán trước (tiên kiểm) hay không" Kiểm tra sau của KTNN không chỉ dừng lại ở việc xem xét độ tin cậy của các thông tin, các chỉ tiêu trong báo cáo quyết toán ngân sách, tính tuân thủ trong quản lý điều hành NSNN mà còn xem xét các khía cạnh về tính hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả của công tác quản lý và điều hành của Chính phủ; xem xét tính hiệu lực
và hiệu quả trong các khoản chỉ của NSNN Tuyên bố Lima nêu 1õ: ” Kiểm toán sau do cơ quan KTNN thực hiện chỉ rõ trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ báo cáo, có thể dẫn tới bôi hoàn thiệt hại đã xảy ra và là việc làm thích hợp để ngăn chặn những tái phạm sau này" Một số nước còn quy định báo cáo quyết toán NSNN trình Quốc hội, HĐND có ý kiến xác nhận của Tổng KTNN rằng báo cáo
đã được kiểm toán và đảm bảo tính trung thực; kèm theo báo cáo quyết toán trình Quốc hội, HĐND là báo cáo của KTNN về công tác quản lý, điều hành NSNN Đây một trong các nguồn thông tin và căn cứ để Quốc hội, HĐND thảo luận và
8
Trang 14phê chuẩn quyết toán NSNN, giải toả trách nhiệm cho Chính phủ, UBND về năm ngân sách đã qua
Việc kiểm toán báo cáo quyết toán NSNN các cấp và báo cáo quyết toán NSNN theo thông lệ quốc tế được thực hiện theo 5 tiêu chí:
(1) Tính trung thực và hợp lý của báo cáo quyết toán;
(2) Tính tuân thủ pháp luật trong các khâu của chu trình NSNN;
(3) Tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng NSNN;
(4) Tính hiệu lực thể hiện việc sử dụng NSNN theo các mục tiêu của dự toán NSNN được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
(5) Tính hiệu quả trong quản lý, sử dụng NSNN
Trong các tiêu chí trên, tiêu chí (1) thuộc về loại hình kiểm toán báo cáo
tài chính; tiêư chí (2) thuộc kiểm toán tuân thủ; các tiêu chí (3), (4) và (5) thuộc
laọi hình kiểm toán hoạt động
Thứ hai, KTNN góp phần quan trọng trong việc lập, quyết định dự toán NSNN hàng năm Chúng ta có thể thấy rằng, tài liệu về dự toán NSNN không chỉ chứa đựng những vấn đẻ chính trị, kinh tế chủ yếu của một quốc gia mà còn là những tài liệu mang tính nghiệp vụ cao đòi hỏi phải được kiểm tra, xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định Nguồn lực NSNN đòi hỏi phải được phân bổ để đáp ứng những mục tiêu đã đẻ ra, hạn chế tình trạng lạm dụng trong việc phân bổ ngân sách Vì vậy cần phải có một cơ quan độc lập, có kiến thức và nghiệp vụ chuyên môn cân thiết đánh giá toàn bộ diễn biến của quá trình lập dự toán Cơ quan KTNN có thể chỉ ra những sai lệch của dự toán NSNN so với các nguyên
tắc của tính tuân thủ, tính hợp lý, khả thi và tiết kiệm Đây là hình thức ziên kiểm
của KTNN, đảm bảo các nguồn lực được động viên và phân bổ vào những mục tiêu mà quốc gia theo đuổi cũng như tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các khoản chỉ NSNN; tránh được những sai phạm ngay từ khi lập và phân bổ dự
toán Hình thức kiểm toán trước của KTNN cũng đã được khẳng định trong
Trang 15tuyên bố Lima: “Kiểm toán trước một cách có hiệu quả là điêu không thể thiếu được đối với một nên kinh tế công cộng lành mạnh với tư cách là một nền kinh tế thác quản - phân cấp và uỷ quyên - lời tác giả"
Kinh nghiệm cho thấy, nhiều nước trên thế giới đều sử dụng cơ quan KTNN trong việc kiểm toán dự toán NSNN hàng năm trước khi trình Quốc hội quyết định Việc tham gia của cơ quan KTNN trong việc lập dự toán ở mỗi nước
có hình thức và mức độ khác nhau nhưng nhìn chung đều là đưa ra ý kiến phản biện về dự toán NSNN do Chính phủ trình làm cơ sở cho Quốc hội thảo luận và quyết định
Thứ ba, KTNN trợ giúp Chính phủ, Quốc hội trong việc xem xét quyết định các phương án đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm của quốc gia Việc đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia không chỉ tiêu tốn một lượng lớn tiền của mà còn liên quan đến chiến lược phát triển quốc gia Điều đó đòi hỏi không chỉ được xem xét về mặt kỹ thuật mà còn phải xem xét các khía cạnh về kinh tế, xã hội Trong điều kiện đó nếu không có một cơ quan độc lập với cơ quan soạn thảo, có đủ năng lực về chuyên môn, tuân theo các chuẩn mực nghề nghiệp xem xét, đánh giá trước khi Chính phủ, Quốc hội, HĐND thảo luận
và quyết định có thể sẽ gây những rủi ro cho các quyết định đầu tư Kinh nghiệm của nhiều nước, nhất là những nước có lịnh sử phát triển KTNN lâu đời đều giao cho cơ quan KTNN thực hiện nhiệm vụ này
Thứ tư, KTNN tham gia với Quốc hội trong việc quyết định các chính sách
về tài chính ngân sách, trong việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến tài chính, ngân sách Đây chính là hoạt động tư vấn của cơ quan KTNN với Quốc hội Bằng thực tiễn kiểm toán, KTNN có thể phát hiện kịp thời những hạn chế, bất cập trong bản thân các văn bản pháp luật, nhất là những trường hợp luật pháp
và chính sách đã lạc hậu, xa rời thực tiễn Trên cơ sở đó, KTNN kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành và địa phương hoàn thiện hệ thống pháp luật,
10
Trang 16các chính sách và chế độ quản lý Các ý kiến tham gia của KTNN sẽ tạo nên luồng thông tin đa chiều, làm cơ sở cho việc thảo luận và quyết định
Thứ năm, KTNN cung cấp các thông tin dữ liệu cho các cơ quan quản lý phục vụ tốt hơn công tác quản lý NSNN Thông qua kết quá kiểm toán, ngoài việc cung cấp thông tin cho Quốc hội, Chính phủ, KTNN còn cung cấp cho các
cơ quan quản lý những yếu kém bất cập trong quản lý NSNN; những đơn vị vi phạm chính sách, chế độ quản lý NSNN Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý đề ra các biện pháp quản lý thích hợp nhằm quản lý NSNN tốt hơn Đối với những trường hợp vi phạm chính sách, chế độ quản lý NSNN mà KTNN đã phát hiện, các cơ quan quản lý có biện pháp thu hồi cho NSNN như thu hồi các khoản thuế gian lận, thu hồi các khoản chi sai chế độ, duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý NSNN
Việc cung cấp thông tin cho Quốc hội, Chính phủ, HĐND và các cơ quan Nhà nước khác cũng như các hoạt động tư vấn thông qua nghĩa vụ báo cáo của cơ quan KTNN Dù cơ quan KTNN trực thuộc Quốc hội, Chính phủ, hay độc lập với các cơ quan này đều có nghĩa vụ báo cáo trước Quốc hội, Chính phủ về các vấn
đề liên quan đến công tác quản lý tài chính ngân sách và tài sản công Các báo cáo của KTNN có thể dưới dạng báo cáo thường niên hoặc báo cáo đặc biệt theo sáng kiến của cơ quan KTNN, cũng có thể là báo cáo theo yêu cầu của Quốc hội,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, HĐND Luật NSNN sửa đổi đã quy định nghĩa vụ báo cáo của cơ quan KTNN trước Quốc hội,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ, đây là điều kiện quan trọng để hoàn thiện và phát triển hoạt động KTNN ở Việt Nam nhằm quản lý NSNN một cách hiệu quả, tiết kiệm hơn
Trang 171.3 Những vấn đề sửa đổi của Luật NSNN ảnh hưởng đến công tác kiểm toán
1.3.1 Những quan điểm và nguyên tắc xây dựng Luật NSNN sửa đổi
(Luật NSNN năm 2002)
1.3.1.1 Quan điểm xây dựng Luật NSNN năm 2002
Luật NSNN (sửa đổi) quán triệt các quan điểm cơ bản dưới đây:
a, Sửa đổi, bổ sung các quy định về NSNN phù hợp với những quy định
có liên quan của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 (tháng 11,12 năm 2001) thông qua
b, Nhằm quản lý tập trung thống nhất NSNN, đảm bảo quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN; đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW trong việc thực hiện những nhiệm vụ chiến lược, quan trọng quốc gia và những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô; hỗ trợ vùng khó khăn phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo; đồng thời, tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương để giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn; đẩy mạnh huy động các nguồn lực tài chính cho việc phát triển kinh
tế, phát triển các sự nghiệp văn hoá -xã hội
c, Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ giữa NSTW với NSĐP theo hướng tăng nguồn thu cho NSĐP và thúc đẩy địa phương phấn đấu để chủ động cân đối ngân sách và có đóng góp cho NSTW, giảm số địa phương nhận hỗ trợ cân đối từ NSTW và giảm mức bổ sung từ NSTW Đồng thời, quy định rõ và tăng cường tính chủ động, gắn với trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị trong quản lý ngân sách và tài sản Nhà nước; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng ngân sách với trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của Bộ, ngành, địa phương, đơn vị
12
Trang 18d, Đổi mới phương thức quản lý, sử dụng ngân sách; gắn với đầu tư của ngân sách với hiệu quả kinh tế - xã hội Thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, thực hiện và quyết toán ngân sách Thực hiện công khai, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý NSNN Kiểm soát chặt chế hoạt động thu, chỉ NSNN qua các quy định về tăng cường trách nhiệm, thanh tra, kiểm tra, kiếm
toán gắn với xử lý vi phạm
1.3.1.2 Các nguyên tắc cơ bản xây dựng Luật NSNN năm 2002
Các nguyên tắc cơ bản chi phối đến nội dung của Luật NSNN năm 2002
Một là, tăng quyền hạn, trách nhiệm của Quốc hội và HĐND các cấp trong việc quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách
Luật NSNN (sửa đổi) đã cụ thể hoá những sửa đổi, bổ sung có liên quan trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về thẩm quyền của Quốc hội trong lĩnh vực NSNN Điều 15 của Luật quy định: Quốc hội quyết định dự
toán NSNN; phân bổ NSTW, phê chuẩn quyết toán NSNN
So với Luật NSNN hiện hành, Luật sửa đổi quy định Quốc hội không những quyết định tổng thể NSNN theo tổng mức, cơ cấu và một số lĩnh vực, mà còn quyết định cụ thể dự toán chỉ của từng Bộ, cơ quan Ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phú, cơ quan khác ở TW, mức bổ sung từ NSTW cho ngân sách từng Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW (nhiệm vụ này theo Luật NSNN năm
1996, Quốc hội giao Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định) Bên cạnh các nhiệm vụ trên, Quốc hội giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định tỷ lệ
% phân chia các khoản thu phân chia giữa NSTW với NSDP; xem xét có ý kiến
về các định mức phân bổ, chế độ chỉ tiêu quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của
cả nước; xem xét cho ý kiến về phương án sử dụng tăng thu ngân sách
Trang 19Đối với HĐND, ngoài các quyển quyết định dự toán NSĐP; phân bổ NSPP: phân bổ dự toán chỉ ngân sách cho Sở, ban, ngành theo từng lĩnh vực chỉ
cụ thể, quyết định số bổ sung từ ngân sách cấp mình cho từng ngân sách cấp dưới
trực tiếp; phê chuẩn quyết toán NSĐP, Luật NSNN (sửa đổi) quy định thêm các quyền sau đây cho HĐND cấp tỉnh:
- Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ cho từng cấp ngân sách ở địa phương;
- Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyển địa phương đối với phần NSĐP được hưởng từ các khoản thu có phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương;
- Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật;
- Quyết định cụ thể một số định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định của Chính phủ
- Quyết định mức huy động vốn đầu tư - xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm
Với việc tập trung quyền hạn trong lĩnh vực ngân sách về cơ quan Đại biểu nhân đân, Luật NSNN (sửa đổi) đã thể hiện sự đổi mới theo hướng tăng cường
dân chủ, công khai, minh bạch của NSNN
Hai là, đổi mới phân cấp quản lý tài chính, ngân sách trên cơ sở đảm
bảo sự thống nhất của hệ thống tài chính Quốc gia và vai trò chủ đạo của NSNN, đồng thời tăng cường chủ động, phát huy sáng tạo của địa phương, tăng khả năng tự cân đối của NSĐP trong việc đẩm bảo các nhiệm vụ kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh được giao:
Đây là một mục tiêu rất quan trọng được thể hiện ở nội dung trong nhiều Chương, Điều của Luật NSNN (sửa đổi) Trong điều kiện nguồn lực của tài chính
và NSNN còn hạn hẹp và phân tấn, đồng thời điều kiện tự nhiên và xã hội và
14
Trang 20trình độ quản lý ở các vùng, miền rất khác nhau thì việc đẩy mạnh phân cấp được
coi là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năng tiểm tàng, chia sẻ và xử lý kịp thời các nhiệm vụ của Nhà nước rủi ro trên địa bàn Luật NSNN (sửa đổi) thực hiện phân cấp rất mạnh nguồn thu cho NSĐP Dành tối đa các khoản thu cho NSĐP hưởng 100% và phân chia giữa NSTW và NSĐP NSTW hưởng các khoản thu tập trung quan trọng không gắn trực tiếp với công tác quản lý của địa
phương như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu về dầu thô, hoặc không đủ
căn cứ chính xác để phân chia như thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành So với Luật hiện hành, có 2 khoản thu NSTW hưởng 100% được chuyển thành khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP là thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá sản xuất trong nước và phí xăng, dầu
Với quy định phân cấp nguồn thu như trên, dự kiến tính toán theo định mức phân bổ ban hành tại Quyết định số 139/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của
Thủ tướng Chính phủ thì năm 2004 có thêm 9 tỉnh, thành phố trực thuộc TW tự
cân đối được ngân sách và có điều tiết về NSTW (năm 2003 chỉ có 5 tỉnh, thành phố)
Để đảm bảo tăng cường nguồn lực của ngân sách xã và ngân sách đô thị, Luật NSNN (sửa đổi) cũng quy định các nguồn thu về nhà đất phải phân chia không dưới 70% cho ngân sách xã, đối với lệ phí trước bạ (không kể lệ phí trước
bạ, nhà đất) thì phải phân chia không dưới 50% cho ngân sách các thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Ba là, tăng cường quyền chủ động của các Bộ, địa phương, đơn vị sử dụng ngân sách, các tổ chức, cá nhân được ngân sách hỗ trợ trong việc quản
lý, sử dụng ngân sách và tài sẩn đựợc giao, đi đôi với việc chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Luật NSNN (sửa đổi) mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ, địa phương, đơn vị sử dụng ngân sách thể hiện cụ thể qua các quy định về tổ chức lập, tống hợp dự toán ngân sách; phân bổ dự toán được Chính phủ, UBND giao
Trang 21cho các đơn vị trực thuộc và điều chỉnh dự toán khi cần thiết; chí ngân sách theo
dự toán được giao, phù hợp tiến độ thực hiện nhiệm vụ và theo đúng chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn; duyệt quyết toán của các đơn vị trực thuộc Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tài chính các cấp trong việc chủ trì tổng hợp dự
toán ngân sách, tổ chức thực hiện ngân sách
Thủ trưởng các đơn vị, người đứng đầu tổ chức tài chính kế toán phải trách nhiệm đầy đủ trước pháp luật về việc quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản được giao Nếu xảy ra vi phạm trong phạm vi phụ trách, tuỳ theo tính chất và mức độ
vi phạm, phải chịu xử lý ký luật, xử lý phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách, tạo động lực để thúc đẩy tính chủ động, tích cực của địa phương và cơ sử:
Luật NSNN (sửa đổi) đã cải cách mạnh quy trình ngân sách hiện hành từ khâu lập đự toán đến chấp hành, quyết toán, kiểm tra và kiểm toán ngân sách Theo đó, việc tổ chức lập ngân sách ở các địa phương dược phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy định cụ thể cho từng cấp ở địa phương, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và trình độ quản lý; việc thảo luận về dự toán với cơ quan tài chính chỉ thực hiện vào năm đầu của thời kỳ ổn định ngân
sách
Đối với phương thức cấp phát ngân sách, có sự thay đổi cơ bản đó là bỏ việc thông báo hạn mức kinh phí của cơ quan tài chính và phân phối hạn mức kinh phí của cơ quan quản lý cấp trên đối với các khoản phí thường xuyên Thay
vào đó là hình thức rút dự toán từ Kho bạc Nhà nước (KBNN), thủ trưởng đơn vị
sử dụng ngân sách, căn cứ vào dự toán năm được cấp có thẩm quyền giao, yêu cầu của nhiệm vụ chuyên môn và nhu cầu chi quý đã đăng ký với cơ quan tài chính và KBNN, lập quyết định chỉ kèm theo các hồ sơ, tài liệu cần thiết theo quy định gửi KBNN KBNN kiểm soát chỉ để đảm bảo đúng với dự toán, đúng với định mức, chế độ, tiêu chuẩn chỉ tiêu; nếu đủ các điều kiện chi theo quy định
16
Trang 22thì xuất quỹ ngân sách để thanh toán trực tiếp cho người hưởng lương, người cung cấp hàng hoá
Luật cũng quy định việc duyệt quyết toán được giao cho cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính chỉ thực hiện thẩm định quyết toán, không duyệt quyết toán (trừ trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách), với các quy định rõ ràng về nội dung, phương pháp cũng như trách nhiệm của người duyệt quyết toán, người thẩm định quyết toán Quy định rõ nội dung, quan hệ công tác của các thanh tra và KTNN đã vừa phát huy tác dụng tích cực của các công cụ này, vừa tránh chồng chéo
Năm là, thực hiện công khai, mình bạch về ngân sách:
Luật NSNN (sửa đổi) quy định rõ NSNN các cấp, các đơn vị dự toán, các
tổ chức, cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách Cơ quan tài chính, KBNN, các cơ quan thu của Nhà nước phải niêm yết công khai quy trình, thủ tục tại nơi giao dịch Các tài liệu trình Quốc hội, HDND
về dự toán và phân bổ ngân sách được quy định đầy đủ, rõ ràng theo Quy chế lập, thẩm tra trình Quốc hội quyết định đự toán NSNN, phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành; Quy chế xem xét, thảo luận quyết định dự toán, phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán NSĐP cho Chính phủ ban hành
Các quy định trên nhằm tăng tính minh bạch của ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy dân chủ cũng như tăng cường giám sát của các cơ quan, tổ chức và nhân dân đối với toàn bộ hoạt động NSNN và quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước
1.3.2 Những nội dung cơ bắn của Luật NSNN (sửa đổi)
Luật NSNN được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách nam 1997 và được sửa đổi,
bổ sung năm 1998 Sau 5 năm thực hiện Luật NSNN đã đạt được nhiều kết quả
Trang 23quan trọng, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiểm lực tài chính đất nước; thực hiện quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia; từng bước xây dựng NSNN lành mạnh; thúc đẩy việc sử dụng vốn và tài sản Nhà nước tiết kiệm và hiệu quả; tăng tích luỹ thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước; đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ và toàn điện kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế thì Luật NSNN hiện hành cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần phải sửa đổi, đặc biệt là cần phải phân định rõ hơn về quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực ngân sách theo hướng đẩy mạnh phân cấp, đẩy mạnh dân chủ, tăng cường tự chủ cho địa phương và đơn vị
cơ sở để từ đó đẩy mạnh khai thác nội lực, thắt chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính,
sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực tài chính Bên cạnh đó, quy trình ngân sách cũng đòi hỏi phải được cải tiến mạnh mẽ để giảm đầu mối, giảm thủ tục hành chính, tăng hiệu quả quản lý Nhà nước nói chung và hiệu quả quan lý
tài chính Nhà nước nói riêng
Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật NSNN (sửa đổi) và
ngày 27/12/2002 Chủ tịch nước ký Lệnh ban hành Luật, thay thế Luật NSNN
năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NSNN năm 1998 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004
1.3.2.1 Về kết cấu của Luật NSNN (sửa đổi)
Luật NSNN (sửa đổi) gồm 8 chương (như Luật NSNN năm 1996), 77 Điều (giảm 5 Điều so với Luật năm 1996), cụ thể:
Chương I: Những quy định chung (gồm 14 Điều)
Chương II: Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan khác của Nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về NSNN (gồm 15 Điều)
Chương II: Nguồn thu, nhiệm vụ chỉ của ngân sách các cấp (gồm 7 Điều)
18
Trang 24Chương IV: Lập dự toán NSNN (gồm 13 Điều)
Chương V: Chấp hành NSNN (gồm 11 Điều)
Chương VI: Kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN (gồm § Điều)
Chương VII: Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng và xử lý vi phạm (gồm 6 Điều)
Chương VI: Điều khoản thi hành (gồm 3 Điều)
1.3.2.2 Những nội dung sửa đổi của Luật NSNN năm 2002
Luật NSNN (sửa đổi) là Luật quan trọng, phạm vi điều chỉnh rộng, có liên quan mật thiết đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tất cả các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân
Khi xem xét những nội dung sửa đổi của Luật NSNN năm 2002, ngoài bản thân văn bản luật này, cần xem xét, nghiên cứu các văn bản sau đây:
- Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chỉ
tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN
- Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN
- Nghị quyết số 387/2003/NQ/UBTVQHII của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phương án phân bổ ngan sách trung ương và phê chuẩn quyết toán
Trang 25Định mức phân bổ ngân sách là căn cứ để xây dựng và phân bổ ngân sách
cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương; còn định mức chỉ tiêu là những chế độ, tiêu chuẩn làm căn cứ để thực hiện và kiểm soát chỉ tiêu ngân sách
Về thẩm quyền quyết định định mức phân bổ và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chỉ tiêu ngân sách:
- Đối với định mức phân bổ ngân sách:
+ Thủ tướng Chính phủ quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn
cứ xây dựng đự toán, phân bổ ngân sách cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở TW, các địa phương; nhưng trước khi ban hành Thủ tướng Chính phủ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến bằng văn bản
+ HĐND cấp tỉnh căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng
Chính phủ ban hành, khả năng tài chính- ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa phương, quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn cứ xây dựng đự toán và phân bổ ngân sách ở địa phương
- Đối với các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chỉ tiêu ngân sách:
Các cơ quan có thẩm quyền quyết định gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, HĐND cấp tỉnh và Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp có thu Cụ thể:
+ Chính phủ căn cứ vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước,
Quốc hội, quyết định những chế độ chỉ ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước như: chế
độ tiền lương, trợ cấp xã hội, chế độ đối với người có công với cách mạng, tỷ trọng chi ngân sách thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ trong tổng chỉ NSNN; trước khi ban hành, Chính phủ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến bằng văn bản
20
Trang 26+ Chính phủ giao Thủ tướng Chính phủ quyết định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước Đối với một số chế độ, tiêu
chuẩn, định mức chỉ tiêu để phù hợp đặc điểm của địa phương, Thủ tướng Chính
phủ quy định khung và giao HĐND cấp tỉnh quyết định cụ thể
+ Chính phủ giao cho Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách đối với ngành, lĩnh vực sau khi thống nhất với các
Bộ quản lý ngành, lĩnh vực; trường hợp không thống nhất, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến trước khi quyết định
+ Ngoài ra các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, đối với một số nhiệm vụ chi
có tính chất đặc thù ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trân địa bàn, trên cở sở nguồn NSĐP bảo đảm, HĐND cấp tỉnh được quyết đỉnh chế độ chỉ ngân sách, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương Riêng những chế độ chỉ có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực
UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính việc ban hành các chế độ chi ngân sách ở địa phương để tổng hợp và giám sát việc thực hiện
+ Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp có thu căn cứ vào yêu cầu, nội dung và hiệu quả công việc, trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng, quyết định các mức chi quản lý, chi nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu thực tế và khả năng tài chính của đơn vị theo quy định của Chính phủ vẻ chế độ tài chính đối vói các đơn vị sự nghiệp có thu sau khi có ý kiến của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên; các chế
độ này phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp và KBNN nơi giao dịch để phối hợp
và giám sát thực hiện Trường hợp các mức chỉ đó không phù hợp với quy định của Chính phủ thì cơ quan tài chính có ý kiến để điều chỉnh cho phù hợp
b, Về mối quan hệ giữa Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch - Đầu tư trong việc tổng hợp, lập dự toán NSNN
Trang 27Luật NSNN (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật quy định: giữa Bộ Tài chính và Bộ hoạch và Đầu tư có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình
lập và tổng hợp dự toán NSNN, cụ thể như sau:
- Bộ Tài chính:
+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức làm việc với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, đơn vị cùng cấp vềdự toán ngân sách năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, chỉ làm việc trong trường hợp có đề nghị của UBND cấp cấp tỉnh được làm việc về đự toán
Trong quá trình làm việc, lập dự toán ngân sách và xây dựng phương án phân bổ ngân sách, nếu còn có ý kiến khác nhau giữa Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định
+ Chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan cùng cấp trong việc tổng hợp, lập dự toán thu, chỉ NSNN, lập phương án phân bổ NSTW trình Chính phủ trên cơ sở dự toán thu, chingân sách có các bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo; dự toán chỉ NSNN theo lĩnh vực (đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ); nhu cầu trả nợ và khả
năng vay
- Tổng hợp dự toán và phương án phân bổ dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia (phần dự toán chi thường xuyên) do các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc ga lập;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tự:
+ Trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
và các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có cân đối tài chính, tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, làm cơ sở cho việc xây đựng kế hoạch tài chính, ngân sách
2
Trang 28+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán chỉ đầu tư phát triển, lập
phương án phân bổ chi đầu tư xây dung co ban, chi bổ sung dự trữ nhà nước, chi
hỗ trợ tín đụng nhà nước và chi góp vốn cổ phần, liên doanh theo quy định hiện hành của Pháp luật
+ Tổng hợp dự toán và phương án phân bổ dự toán chỉ chương trình mục tiêu quốc gia (phần chi xây dựng đầu tư cơ bản) do các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia lập và tổng hợp chung dự toán và phương án phân bổ chỉ chương trình mục tiêu quốc gia gửi Bộ Tài chính trước ngày 10 tháng 9 năm trước để tổng hợp chung vào dự toán chỉ NSNN
c, Mối quan hệ giữa Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia trong việc lập dự toán chỉ các chương trình mục tiêu quốc gia
- Các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia chủ trì, phối hợp với
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập dự toán và phương án phân bổ chỉ chương trình mục tiêu quốc gia cho các đơn vị, địa phương gửi Bộ Tài chính chỉ chương trình mục tiêu quốc gia cho các đơn vị, địa phương gửi Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (trước ngày 30 tháng 7 năm trước) để tổng hợp vào dự toán ngân sách và phương án phân bổ dự toán ngân sách trình cấp có thẩm quyển quyết định
- Bộ Tài chính tổng hợp dự toán và phương án phân bổ dự toán chỉ chương trình mục tiêu quốc gia (phần dự toán chi thường xuyên) do các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia lập;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp dự toán và phương án phân bổ đự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia (phần chỉ dự toán chỉ đầu tư xây dựng cơ bản)
do các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia lập và tổng hợp chung dự toán và phương án phân bổ chi chương trình mục tiêu quốc gia gửi Bộ Tài chính (trước ngày 10 tháng 9 năm trước) để tổng hợp chung vào dự toán chỉ NSNN
Trang 29- Trường hợp ý kiến của cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia gửi chưa thống nhất với ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
d, Về quy định chỉ ngân sách bằng hình thức rút dự toán từ KBNN
- Đối tượng áp dụng: Luật NSNN (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật quy định: từ năm 2004 việc chỉ trả, thanh toán các khoản chỉ thường xuyên trong dự toán giao cho các cơ quan hành chính; các đơn vị sự nghiệp; các
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội nghề nghiệp thường xuyên được NSNN hỗ trợ kinh phí; các tổng công ty nhà nước được hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ thường xuyên theo quy định của pháp luật; được thực hiện theo hình thức rút dự toán ngân sách KBNN Thực hiện quy trình chỉ mới này đã bỏ hình thức báo cáo và cấp phát hạn mức kinh phí
- Quy trình chỉ trả, thanh toán theo hình thức rút dự toán từ KBNN như: + Căn cứ vào phương án điều hành ngân sách quý do cơ quan tài chính thông báo, nhu cầu thanh toán, chi trả hàng quý của các đơn vị sử dụng ngân sách, KBNN chủ động lập kế hoạch nguồn vốn; kế hoạch chỉ trả, thanh toán; kế hoạch tiền mặt, đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu chỉ của các đơn vị sử dụng ngân sách
+ Căn cứ vào nhu cầu chi quý đã gửi KBNN và theo yêu cầu nhiệm vụ chỉ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách lập giấy rút dự toán ngân sách, kèm theo hồ
sơ thanh toán gửi KBNN nơi giao dịch
Trường hợp được cơ quan có thấm quyển thông báo điều chỉnh nhu cầu nhiệm vụ chỉ quý thì đơn vị chỉ được chỉ giới hạn điêu chỉnh
+ KBNN nơi giao dịch kiểm tra hồ sơ thanh toán, các điều kiện chỉ quy định tại Điều 51 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của
24
Trang 30Chính phủ và giấy rút dự toán dự toán ngân sách của Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc của người được uỷ quyền, thực hiện việc chỉ trả, thanh toán
+ Trường hợp chưa có đủ điều kiện thực hiện thanh toán trực tiếp qua KBNN ở tất cả các khoản chỉ thì được phép cấp tạm ứng đối với một số khoản
ch theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Sau khi hoàn thành công việc và
có đủ chứng từ thanh toán thì chuyển từ tạm ứng sang thực chi
Khi rút dự toán để chi tiêu, đơn vị sử dụng ngân sách và KBNN hạch toán đúng mục chỉ theo Mục lục NSNN, trong phạm vi tổng mức của nhóm mục chỉ ghi trong dự toán đã giao (các nhóm mục chỉ theo quy định gồm: chi thanh toán
cá nhân, bao gồm các mục từ 100 đến mục 108; chi nghiệp vụ chuyên môn, gồm các mục từ mục 109 đến mục 117 và mục 119; chi mua sắm, sửa chữa, gồm các mục còn lại không kể các mục từ 147 đến mục 150) Trường hợp cần phải điều chỉnh dự toán giữa các nhóm mục, đơn vị sử dụng ngân sách phải báo cáo cơ quan quản lý cấp trên quyết định sau khi thống nhất với cơ quan tài chính cùng Cấp
e, Về quy trình cấp phát bằng lệnh chỉ tiên
- Các nhiệm vụ chi được chi trả, thanh toán theo hình thức lệnh chi tiền: + Chỉ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội không có quan hệ thường xuyên với ngân sách,
+ Chỉ trả nợ, viện trợ,
+ Chi bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới và một số khoản chi khác theo quyết định của thủ trưởng cơ quan tài chính
- Quy trình chỉ trả, thanh toán như sau:
+ Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi,
cơ quan tài chính xem xét, kiểm tra từng yêu cầu chi và nếu đảm bảo đủ các điều kiện thanh toán quy định tại Điều 51 của Nghị định số 60/2003/NĐ ngày 6 tháng
Trang 316 năm 2003 Chính phủ thì ra lệnh chỉ trả cho tổ chức, cá nhân được hưởng ngân sách
+ KBNN thực hiện xuất quỹ ngân sách, chuyển tiền vào tài khoản hoặc cấp tiền mặt cho tổ chức, cá nhân được hưởng ngân sách
- Thực hiện kiểm soát chỉ đối với các khoản chỉ trả, thanh toán theo hình thức lệnh chỉ tiền:
Việc kiểm soát chỉ được thực hiện tại cơ quan tài chính, bảo đảm đúng các điều kiên chi theo quy định của Luật NSNN (sửa đổi) và Nghị định số 60/2003/NĐ- CP của chính phủ Cơ quan tài chính căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, thực hiện kiểm tra từng yêu cầu chỉ trước khi ra lệnh chỉ trả cho tổ chức, cá nhân được hưởng ngân sách Khi thực hiện xuất quỹ, nếu KBNN phát hiện có khoản chỉ không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chỉ tiêu thì có quyền đề nghị cơ quan tài chính xem xét điều chỉnh
, Về chỉ chuyển nguồn năm trước sang ngân sách năm sau
- Chi chuyển nguồn là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền để tiếp tục thực hiện các nhiệm
vụ chi của ngân sách năm trước nhưng đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán chưa thực hiện được
- Ngân sách các cấp đều có khoản chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau Chi chuyển nguồn năm trước được hạch toán thu chuyển nguồn ngân sách từ năm trước sang năm sau
- Thẩm quyên quyết định chỉ chuyển nguồn:
+ Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chi chuyển nguồn của NSTW;
+ Chủ tịch UBND (hoặc uỷ quyền cho Thủ trưởng cơ quan tài chính đồng cấp) quyết định chỉ chuyển nguồn của NSĐP
26
Trang 32- Chi chuyển nguồn được thực hiện bằng hình thức lệnh chi tiền, hạch toán vào chỉ ngân sách năm nay (Mục 134, Tiểu mục 07) và hoạch toán thu NSNN năm sau (Mục 062, Tiểu mục 06)
Khi thực hiện chi, các đơn vị dự toán và ngân sách các cấp hạch toán, quyết toán vào ngân sách năm sau theo đúng Mục lục NSNN
ø, Về xác định kết dự ngân sách các cấp
- Khái niệm:
+ Kết dư NSTW là số chênh lệch lớn hơn giữa tổng số thu NSTW và vay
bù đắp bội chỉ với tổng số chi NSTW;
+ Kết dư NSĐP là số chênh lệch giữa tổng số thu NSĐP lớn hơn tổng chỉ NSĐP (gồm cả số thu, chi từ nguồn huy động theo khoản 3 Điều 8 của Luật
NSNN);
Chi ngân sách bao gồm cả những khoản thanh toán trong thời gian chỉnh
lý quyết toán, các khoản chi chuyển nguồn sang năm sau (bao gồm cả số dư tạm ứng kinh phí hết thời gian chỉnh lý quyết toán chưa đue chứng từ thanh toán, được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển năm sau thanh toán)
Kết dư NSTW = Tổng số thu + Vay bù đắp - Tổng số chỉ
Trang 33+ Kết dư ngân sách cấp huyện và ngân sách xã được chuyển toàn bộ vào thu ngân sách năm sau
b, Phân biệt duyệt quyết toán và thẩm định quyết toắn
Duyệt quyết toán Thẩm định quyết toán
- Đơn vị dự toán cấp II duyệt quyết
toán của đơn vị dự toán cấp III (đơn
vị sử dụng ngân sách)
- Đơn vị dự toán cấp I duyệt quyết
toán của các đơn vị dự toán cấp II
va các đơn vị dự toán cấp IIT trực thuộc
- Cơ quan tài chính các cấp duyệt
quyết toán của các đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng
đơn vị dự toán cấp I đồng thời
- Kiểm tra báo cáo quyết toán của
đơn vị dự toán cấp dưới theo các nội dung công việc quy định;
- Kiểm tra báo cáo quyết toán ngân sách của đơn vị sử dụng kinh phí uỷ quyền
- Kiểm tra báo cáo quyết toán của
các đơn vị cấp I đồng thời là đơn vị
sử dụng ngân sách
- Kiểm tra báo cáo quyết toán của các đơn vị dự kiếm cấp I (trừ đơn vị dự toán cấp I đồng
thời là đơn vị sử dụng ngân sách; báo cáo quyết toán của
ngân sách các cấp chính quyền
địa phương và báo cáo quyết
toán kinh phí uỷ quyền của cơ quan tài chính nhận uỷ quyền
3 | của cơ quan
có thẩm
- Có trách nhiệm thông báo kết quả
xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự
quả thẩm định quyết toán cho các đơn vị được thẩm định
28
Trang 34
quyền thực
hiện
- Có trách nhiệm xử lý hoặc kiến |- Có trách nhiệm xử lý hoặc
nghị xử lý các sai phạm kiến nghị xử lý các sai phạm
- Chịu trách nhiệm về kết quả xét
duyệt quyết toán, nếu có vi phạm
mà không phát hiện hoặc đã phát
hiện mà không xử lý sẽ bị xử lý
¡, Các hành vị vi phạm pháp luật về ngân sách
Theo quy định của Luật NSNN (sửa đổi) thì các hành vi sau đây là hành vi
vi phạm pháp luật về ngân sách :
- Che dấu nguồn thu, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN;
- Cho miễn, giảm, nộp chậm các khoản nộp ngân sách và sử dụng nguồn thu trái quy định hoặc không đúng thẩm quyên;
- Lợi đụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, làm hại đến nguồn thu ngân sách và tài sản của Nhà nước;
~ Thu sai quy định của pháp luật;
- Chi sai chế độ, không đúng mục đích, không đúng dự toán ngân sách
được giao;
- Duyệt quyết toán sai quy định của pháp luật;
- Hạch toán sai chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục NSNN gây thiệt hai cho NSNN;
- Tổ chức, cá nhân được phép tự kê khai, tự nộp thuế hoặc đề nghị hoàn
thuế mà kê khai sai, nộp sai;
- Quản lý hoá đơn, chứng từ sai chế độ; mua bán, sửa chữa, làm giả hoá đơn, chứng từ; sử dụng hoá đơn, chứng từ không hợp pháp;
~ Trì hoãn việc chỉ ngân sách, quyết toán ngân sách;
Trang 35- Các hành vi khác trái với quy định của Luật NSNN (sửa đổi) và những văn bản pháp luật có liên quan
Như vậy, so với Luật NSNN hiện hành, Luật NSNN (sửa đổi) đã quy định
cụ thể hơn về các hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách; ngoài ra bổ sung thêm các trường hợp như: duyệt quyết toán sai quy định; kê khai sai, nộp sai các khoản thuế phải nộp hoặc để hoàn thuế; quản lý hoá đơn, chứng từ sai chế độ, mua bán, sửa chữa hoá đơn, làm giả hoá đơn, chứng từ, sử dụng hoá đơn, chứng từ không hợp pháp; và hành vi trì hoãn chỉ ngân sách, quyết toán ngân sách
Có hai điểm đáng chú ý:
Một là, việc hạch toán sai chế độ kế toán nhà nước, sai Mục lục NSNN chỉ
bị coi là vi phạm pháp luât về ngân sách trong trường hợp gây thiệt hại cho ngân sách
Hai là, khi đã đảm bảo các điều kiện chỉ ngân sách, nếu KBNN (hoặc cơ quan tài chính trong trường hợp chi bằng lệnh chỉ tiền) từ chối không trả, thanh toán thì cơ quan KBNN (hoặc cơ quan tài chính) bị coi là “trì hoãn chi ngân sách” và bị xử lý theo quy định của pháp luật
k, Về tạm chỉ ngân sách trong trường hợp vào đầu năm ngân sách đơn vị chưa nhận được bản giao dự toán của cơ quan chú quản
Theo quy định của Luật kiểm NSNN (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thì việc phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử đụng ngân sách phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm trước Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phươn án phân bổ ngân sách chưa được cơ quan thẩm quyền quyết định, thì cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước tạm cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chỉ không thể trì hoãn được cho tới khi
dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách dược quyết định Cụ thể tạm cấp co các nghiệm vụ sau:
- Chỉ lương và các khoản có tính chất tiền lương;
30
Trang 36- Chi nghiệp vụ phí và công vụ phí;
~- Một số khoản chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy, trừ các khoản mua sắm trang thiết bị, sửa chữa;
- Chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình quốc gia;
- Chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới
Mức tạm cấp hàng tháng tối đa không quá mức chi bình quân 01 tháng của năm trước
Khi thực hiện chi tạm ứng, Kho bạc Nhà nước (đối với 4 nhiệm vu chi đầu), cơ quan tài chính (đối với nhiệm vụ chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới), thực hiện trên cơ sở yêu cầu của đơn vị và trong phạm vi mức khống chế nêu trên, không cần văn bản tạm giao dự toán
1, Về chỉ ứng trước dự toán ngân sách năm sau
- Theo quy định của Luật NSNN (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thực
hiện Luật thì các trường hợp sau đây được chi ứng trước dự toán ngân sách năm
sau trong phạm vi khả năng cho phép của quỹ ngân sách:
+ Các dự án, công trình quốc gia và công trình xây dựng cơ bản thuộc nhóm A, đủ điều kiện thực hiện theo quy định của Quy định về quản lý đầu tư và xây đựng, đang thực hiện và cần phải đẩy nhanh tiến độ,
+ Các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách được xác định thuộc dự toán năm sau, nhưng phải thực hiện ngay trong năm, chưa được bố trí trong dự toán và nguồn dự phòng không đáp ứng được
- Về thẩm quyền quyết định chi ứng trước dự toán ngân sách năm sau: + Đối với việc chỉ ứng trước dự án NSTW cho các nhiệm vụ tại điểm a khoản 1 nêu trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thống nhất với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, đối với các nhiệm vụ tai điểm b khoản 1,
do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định
Trang 37+ Việc chỉ ứng trước dự toán ngân sách các cấp chính quyền địa phương
do Chủ tịch ƯBND quyêt định
Việc chi ứng trước dự toán không được ảnh hưởng đến việc bố trí dự toán năm sau Tổng số chỉ ứng trước dự toán chi ngân sách năm sau cho các cơ quan, đơn vị không vượt quá 20% dự toán chi ngân sách theo từng lĩnh vực tương ứng năm hiện hành đã giao hoặc số kiểm tra dự toán chỉ ngân sách năm sau đã thông báo cho cơ quan, đơn vị đó
- Để đảm bảo việc thu hồi các khoản chi ứng trước, phân bổ dự toán ngân sách cho năm sau, cơ quan phân bổ dự toán ngân sách phải đảm bảo bố trí dự toán cho các công trình, nhiệm vụ được chỉ ứng trước dự toán đủ nguồn hoàn trả mức đã ứng trước theo đúng thời gian quy định
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thu hồi các khoản chỉ ứng trước dự toán NSTW Chủ tịch UBND các cấp ở địa phương chịu trách nhiệm thu hồi các khoản chi ứng trước ngân sách cấp mình
n, Phân biệt dự phòng ngân sách và dự trữ tài chính
1 Dự phòng là khoản chỉ bố trí trong 1 Quỹ dự trữ tài chính là quỹ tài chính
của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, độc lập tương đối với quỹ NSNN
dự toán ngân sách đầu năm nhưng chưa
phân bố cụ thể cho các nhiệm vụ chi cụ
thể
Ngân sách các cấp đều được bố trí > Là
khoản dự phòng từ 2% đến 5% tổng số
chi của ngân sách mỗi cấp
2 Nguồn hình thành: bố trí trong dự
toán ngân sách hàng năm
3 Sử dụng: Chi cho các nhiệm vụ phòng
thành lập quỹ dự trữ tài chính
2 Nguồn hình thành: trích lập trong dự toán, nguồn kết dư và các nguồn khác
theo quy định pháp luật
3 Sử dụng: Quỹ dự trữ tài chính được
32
Trang 38chống, khác phục hậu quả thiên tai, hoa
hoan, nhiệm vụ quan trọng vé quốc
tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài
chính (quỹ dự trữ tài chính trung ương)
và UBND cấp tỉnh (quỹ dự trữ tài chính
tỉnh)
phòng NSĐP)
n, Về kế toán, quyết toán NSNN
Ngoài các quy định tương tự như Luật NSNN năm 1996 và bổ sung sửa đổi năm 1998, Luật NSNN năm 2002 có một số quy định mới về kế toán và quyết toán NSNN như sau:
- Các khoản chi ngân sách thuộc dự toán năm trước nếu chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện hết được chuyển năm sau chỉ tiếp nếu được Bộ trưởng Bộ Tài chính (đối với NSTW) và Chủ tịch UBND (đối với NSĐP) quyết định và được hạch toán, quyết toán như sau:
+ Nếu thực hiện trong thời gian chỉnh lý quyết toán, thì dùng tồn quỹ ngân sách năm trước để xử lý và hạch toán, quyết toán vào chỉ ngân sách năm trước;
+ Nếu được quyết định thực hiện trong năm sau thì cơ quan Tài chính làm thủ tục chỉ chuyển nguồn sang năm sau để chỉ tiếp Các đơn vị thực hiện hạch
Trang 39toán và quyết toán vào ngân sách năm sau; ngân sách các cấp thực hiện quyết toán số chỉ chuyển nguồn năm trước sang năm sau vào chỉ ngân sách năm trước
- Về thời hạn nộp báo cáo kế toán tháng, quý và báo cáo quyết toán năm: Khoản 1 Điều 75 Nghị định số 60/2003/NĐ - CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN quy định như sau:
+ Báo cáo kê toán tháng, quý của đơn vị dự toán các cấp và ngân sách các cấp thực hiện theo chế độ kế toán do Bộ Trưởng Bộ Tài chính ban hành;
+ Quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp II và cấp IIT do đơn vị dự toán cấp I quy định nhưng phải bảo đảm thời gian dé đơn vị dự toán cấp I xét duyệt, tổng hợp, lập gửi cơ quan tài chính cùng cấp theo quy định; đối với đơn vị dự toán cấp I của NSTW, phải gửi trước ngày l tháng 10 năm sau; đối với các đơn vị
dự toán cấp Ï của ngân sách các cấp ở địa phương, thời hạn nộp do UBND cấp tỉnh quyết định;
+ Quyết toán năm của ngân sách các cấp chính quyền dịa phương do cơ quan tài chính lập gửi UBND cùng cấp xem xét; đối với ngân sách cấp tỉnh phải gửi trước ngày 1 tháng 10 năm sau; UBND tỉnh quy định cụ thể thời hạn nộp báo cáo đối với ngân sách cấp đưới;
+ Bộ Tài chính tổng hợp, lập tổng quyết toán thu, chỉ NSNN gửi Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội chậm nhất 14 tháng sau khi năm ngân sách kết thúc
Khoản 2 Điều 75 của Nghị định trên đề cập việc gửi quyết toán năm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, của các địa phương cho cơ quan KĨINN thực hiện theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, do Luật KTNN chưa được ban hành nên vấn để này hiẹn còn là khoảng trống đối với pháp luật, gây rất nhiều trở ngại và khó khăn cho công tác kiểm toán NSNN nói chung, đặc biệt là đối với NSĐP và Tổng quyết toán NSNN
34
Trang 40o, Về kiểm toán NSNN
Điều 66 Luật NSNN đã quy định:
- Co quan KTNN thực hiện việc kiểm toán, xác định tinh đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp, cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật
- Khi thực hiện nhiệm vụ, cơ quan KTNN có quyền độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm toán của mình; trong trường hợp cần thiết, cơ quan KTNN được đề nghị các cơ quan chức năng phối hợp công tác để thực hiện nhiệm vụ được giao
- Cơ quan KTNN có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm toán với Quốc hội,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và cơ quan khác theo quy định của pháp luật; thực hiện kiểm toán khi Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ
có yêu cầu
- Việc kiểm toán quyết toán ngân sách được thực hiện trước khi Quốc hội, HĐND phê chuẩn quyết toán; trường hợp kiểm toán sau khi Quốc hội, HĐND phê chuẩn quyết toán thì thực hiện theo quy định của pháp luật
Khoản 2 Điều 67 về phê chuẩn quyết toán NSNN cũng đã chỉ rõ: Trong trường hợp quyết toán ngân sách chưa được Quốc hội, HĐND phê chuẩn thì Chính phủ, UBND trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và cơ quan KTNN để kiểm toán phải tiếp tục làm rõ những vấn đẻ Quốc hội, HĐND yêu cầu
để trình Quốc hội, HĐND vào thời gian do Quốc hội, HĐND quyết định
Ngoài ra, Luật NSNN 2002 còn có một số quy định liên quan đến công
khai kết quả kiểm toán NSNN (Khoản 1 Điều 13); Nhiệm vụ kiểm toán các dự án
có quy mô lớn của KTNN (Mục c Khoản 4, Điều 64)