1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông

13 4,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 459,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một quy trình quy hoạch giao thông thì một khâu quan trọng nhất đó là phân tích dự báo nhu cầu đi lại Travel demand forecasting, nó sử dụng dữ liệu thu thập được về giao thông hiện

Trang 1

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH 4 BƯỚC PHÂN TÍCH,

DỰ BÁO NHU CẦU ĐI LẠI TRONG QUY HOẠCH GIAO THÔNG

PGS TS BÙI XUÂN CẬY ThS ĐẶNG MINH TÂN

Bộ môn Đường bộ Khoa Công trình Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Bài báo trình bày về một quy trình dự báo nhu cầu đi lại phục vụ cho công tác

quy hoạch giao thong được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển Đặc biệt mô hình này đã

và đang được cơ quan hợp tác Nhật Bản (JICA) áp dụng ở một số dự án phát triển giao thông tổng thể ở một số nước trong đó có Việt Nam

Summary: This article presents travel demand process, a state-of-the-art analysis tool

widely used in developing countries, in transportation planning process This model has been used by Japan International Co-operation Agency (JICA) in some transport planning general development for several countries including Vietnam

CT 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Quy hoạch giao thông là sử dụng có hiệu quả mạng lưới giao thông và hạ tầng đất đai sẵn

có, xây dựng phát triển hệ thống giao thông vận tải mới, để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và của quốc gia Nó tạo nên hệ thống giao thông có chất lượng phục vụ cao với một chi phí hợp lý nhất và giảm thiểu tác động môi trường

Nếu quy hoạch giao thông thất bại sẽ dẫn đến ách tắc giao thông, đi lại mất an toàn giao thông, và sử dụng đất bất hợp lý, phản diện tác động môi trường và lãng phí tiền bạc và tài nguyên

Trong một quy trình quy hoạch giao thông thì một khâu quan trọng nhất đó là phân tích dự báo nhu cầu đi lại (Travel demand forecasting), nó sử dụng dữ liệu thu thập được về giao thông hiện tại, để dự báo nhu cầu đi lại và nhu cầu sử dụng hệ thống giao thông vận tải (hệ thống đường bộ, đường sắt, phương tiện GT cá nhân, phương tiện GTCC…) trong tương lai như thế nào?

Trong bài báo này, tác giả đề cập đến một mô hình 4 bước là mô hình tiên tiến nhất dùng

để phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong tương lai đã được áp dụng ở nhiều nước phát triển trên thế giới Đặc biệt mô hình này đã và đang được cơ quan hợp tác Nhật Bản (JICA) áp dụng ở một số dự án phát triển giao thông tổng thể ở một số nước trong đó có Việt Nam

Trang 2

II PHÂN TÍCH, DỰ BÁO NHU CẦU ĐI (Travel demand forecast)

Mô hình phân tích nhu cầu đi lại đầu tiên phát triển vào những năm 1950 như là một công

cụ tiên tiến của quy hoạch giao thông

Phân tích, dự báo nhu cầu đi lại được sử dụng để phát triển thông tin trợ giúp việc ra quyết

định để phát triển và quản lý hệ thống giao thông, đặc biệt là giao thông đô thị

Quy trình này bao gồm bốn bước:

1 Phát sinh hành trình (Trip generation – Hành trình xuất phát ở đâu?)

2 Phân phối hành trình, (Trip distribution - Hành trình đi đến đâu)

3 Phương thức phân chia (Modal split – Loại mô hình nào được sử dụng, phương tiện giao

thông cá nhân hoặc phương tiện giao thông công cộng)

4 Ấn định mạng lưới (Traffic assignment – Tuyến đường nào được sử dụng với mỗi loại

mô hình)

Dân số Kinh tế - Xã hội

Sử dụng đất

CT 2

Phân phối hành trình Phương thức phân chia

Ấn định tuyến đường

Quy trình bốn bước này sử dụng những mô hình toán học độc lập khác nhau cho mỗi hợp phần

của quy trình Kết quả của bước này thường là dữ liệu đầu vào để giải quyết các bước tiếp theo

Sau đây trình bày từng bước cụ thể:

Hình 1 Quy trình, dự báo phân tích nhu cầu đi lại

Giao thông thuận lợi

Trang 3

Bước 1 Phát sinh hành trình (Trip generation)

Mô hình phát sinh hành trình dự báo và xác định số lượng lượt đi lại xuất phát trong vùng phân tích (mức độ tổng thể), lượt đi lại của hộ gia đình (mức độ cá thể) hoặc những nhóm tương đương

CT 2

Sự phát sinh hành trình của mỗi vùng được tính toán như là một hàm số về kinh tế - xã hội, địa điểm, và đặc điểm sử dụng đất trong mỗi vùng

Hai phương pháp truyền thống là phân tích phân loại chéo và phân tích hồi quy

- Phương pháp phân tích phân loại chéo (Cross-classification analysis): là một kỹ thuật

thông dụng để tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến số được sử dụng trong việc xác số hành trình phát sinh của hộ gia đình

Phương pháp này dựa vào một hoặc nhiều thuộc tính xác định được trong cơ sở dữ liệu khảo sát số hành trình phát sinh và phân chia thành những nhóm có đặc trưng giống nhau, ví dụ

số thành viên trong gia đình, số lượng phương tiện sở hữu, thu nhập Mỗi một loại cấu thành một nhóm mà tỷ lệ phát sinh hành trình có thể xác định được hoặc dự báo được bằng phương pháp thống kê

Ví dụ: số lượt đi lại phát sinh từ một vùng nghiên cứu điều tra được như sau:

Số phương tiện sở hữu

Như vậy ta có tỷ lệ đi lại trung bình là:

Số phương tiện sở hữu

2 2.40 2.80 3.41

Hình 2 Phát sinh và hấp thu hành trình

Trang 4

Tính số hành trình phát sinh ra trong một khu vực nằm trong vùng nghiên cứu có số hộ gia

đình (theo số lượng phương tiện sử hữu và số thành viên) như sau:

Số phương tiện sở hữu

Kết quả:

Số phương tiện sở hữu

- Phương pháp phân tích hồi quy (Regression analysis):

Phân tích hồi qui là phương pháp thống kê mà giá trị trung bình (mean) của một hay nhiều

biến ngẫu nhiên là được dự đoán dựa vào điều kiện của các biến ngẫu nhiên (đã tính toán) khác

Cụ thể, có hồi qui tuyến tình, hồi qui lôgic, hồi qui Poisson và học có giám sát Phân tích hồi qui

không chỉ là trùng khớp đường cong (lựa chọn một đường cong mà vừa khớp nhất với một tập

điểm dữ liệu); nó còn phải trùng khớp với một mô hình với các thành phần ngẫu nhiên và xác

định (deterministic and stochastic components) Thành phần xác định được gọi là bộ dự đoán

(predictor) và thành phần ngẫu nhiên được gọi là phần sai số (error term)

CT 2

Một hàm hồi quy tổng quát như sau:

Yi = ai + β1X1 + β2X2 + … + βnXn + εi (1) Trong đó:

- Y i = là số hành trình phát sinh ra trong vùng i

- a i = số thực

- β 1 … β n : = hệ số hồi quy

- X 1 …X n = biến số ngẫu nhiên (các biến số đại diện cho một yếu tố ảnh hưởng đến số lượt

đi lại ví dụ như dân số, hộ gia đình…

- ε i = hệ số hiệu chỉnh (số dư)

Các giá trị a o , β 1 , β 2 ,… β k , ε i được xác định bằng phương pháp hồi quy

Trang 5

Ví dụ về một bài toán hồi quy tuyến tính:

Một thành phố X có 10 khu vực như ở hình sau:

Có kết quả điều tra dân số và hành trình phát sinh như sau:

CT 2

Sử dụng công cụ Excel dễ dàng vẽ được biểu đồ và xác định được hàm hồi quy như ở hình dưới đây:

Hình 3 Sử dụng công cụ Excel để xác định hàm hồi quy

Trang 6

Như vậy ta có hàm số:

Bước 2 Phân phối hành trình (Trip distribution)

Sau khi dự báo được nhu cầu đi lại phát sinh ra trong vùng phân tích, mục tiêu tiếp theo là

phải xác định được những hành trình này đi đâu trong số các hành trình xuất phát từ một điểm

đi và đến nhiều điểm đến

CT 2

100

30

25

Hình 4 Sự phân phối hành trình

Có ba yếu ảnh hưởng tới sự phân chia này:

+ Số lượng hành trình phát sinh từ điểm xuất phát

+ Sự hấp dẫn của vùng đến

+ Trở kháng (Chi phí, thời gian đi lại)

Phương pháp thông dụng để xác định sự phân phối hành trình là dùng mô hình phân phối

hấp dẫn (Gravity mode), phương pháp này xác định rõ số hành trình đi lại giữa điểm xuất phát

và điểm đến như là một hàm số về thuộc tính đi và đến (thuộc tính OD) và chi phí đi lại giữa

chúng:

=

ij ij j i ij

K F A

K F A P

trong đó:

Tij = Hành trình từ vùng i đến vùng j

Pi = Tổng số hành trình phát sinh từ vùng i

Aj = Số hành trình hấp thu vào vùng j

Fij = Hệ số trở kháng, thông thường là hàm số tỷ lệ nghịch với thời gian di chuyển giữa i và j

Trang 7

Kij = Hệ số hiệu chỉnh về mặt kinh tế xã hội cho những hành trình xuất phát từ i và đến vùng j, thường lấy bằng 1

Ta đã biết Ps và As được xác định được từ quá trình phát sinh hành trình, tổng hành trình phát sinh ra phải bằng tổng hành trình hấp thu

ΣPi = ΣAj

Ví dụ: Một vùng nghiên cứu có 3 khu vực, dữ liệu điều tra về hành trình đi và đến mỗi khu vực được thể hiện ở bảng dưới Giả thiết Kij = 1

Thời gian đi lại từ khu vực này đến khu vực khác như sau:

Hệ số trở kháng theo thời gian như sau:

CT 2

Hệ số trở kháng theo thời gian giữa các vùng:

Fij theo thời gian

Dùng công thức (3):

Và lập các giá trị A*F*K thành bảng

Trang 8

A j F ij K ij 1 2 3 Tổng

Khi các giá trị A*F*K cho mỗi cặp đi đến được lập bảng, bạn có thể chèn những giái trị

này vào công thức trọng lực và xác định số lượng hành trình mỗi một cặp đi - đến Như vậy ta

tính được các giá trị Tij thể hiện ở bảng dưới này

Khi tổng số hành trình hấp thu cho mỗi vùng không bằng tổng số hành trình hấp thu ban đầu,

ta cần điều chỉnh lại nhân tố hấp thu Ta phải tính toán lại nhân tố hấp thu theo công thức sau:

) 4 ( A

C

A

) 1 k (

j

= Trong đó:

- Ajk = Aj khi k=1

- Cjk = Tổng giá trị hấp thu (cột) thực tế cho vùng j lần thứ k

- Aj = tổng số hấp thu mong muốn thuộc vùng hấp thu (cột) j

- j = số thứ tự khu vực hấp thu

- n = số lượng khu vực

- k = số lần lặp

Ví dụ: với khu vực 1 ta có:

237 300 380

300 A

C

A

11

1

A cho trước 300 270 180

Trang 9

Tiếp tục tính lại các giá trị A*F*K:

Kết quả tính lặp lần 2:

Tính lặp cho đến khi sai số tổng giá trị hấp thu A gần bằng giá trị A cho trước (sai số không quá 5%) là kết quả chấp nhận được như ở bảng dưới đây:

CT 2

Bước 3 Phương thức phân chia

Sau khi hoàn thành công tác phân phối hành trình, công việc tiếp theo là phải xác định được phương thức đi lại bằng phương tiện nào sẽ được sử dụng Giai đoạn này dự báo có bao nhiêu người sử dụng phương tiện giao thông công cộng và bao nhiêu người sử dụng phương tiện giao thông cá nhân Phương pháp thông thường nhất được sử dụng là mô hình Logit

Tất cả hành trình phát sinh

Phương tiện GT

Hình 5 Phương thức phân chia

Trang 10

Kết quả của quá trình phân tích này phụ thuộc vào các đặc điểm của từng loại hành trình từ

điểm đi đến một điểm đến được ấn định, như là loại hành trình ( đi mua sắm, đi làm, đi học…),

địa điểm đi và địa điểm đến, thời gian đi lại, chi phí đi lại, thời gian chờ đợi và chuyển đổi

phương tiện, các nhân tố kinh tế xã hội và các biến tố khác có liên quan đến mức độ hấp dẫn của

các mô hình khác nhau

Công thức tổng quát là:

) 6 ( e

e P

j U

U

i

=

trong đó:

Pi: khả năng lựa chọn phương thức i

Ui = Hàm tiện ích của phương thức i, hàm số có dạng Ui = α + β1 X1 + β2 X2 +… + βn Xn

Với: X1, X2,…, Xn, là các biến số thuộc tính tùy thuộc vào mô hình i (ví dụ như thời gian đi

lại, chi phí đi lại, thu nhập…)

α = Hằng số, β1, β2,…, βn là các hệ số đại diện cho các hợp phần mà nó kết hợp trong Hàm

tiện ích Hằng số, hệ số này có thể được xác định bằng phương pháp hồi quy

Kết quả: Xác định được số lượng hành trình từ mỗi vùng đến vùng khác được tổ chức bởi

các mô hình giao thông khác nhau

CT 2

Ví dụ:

Hàm số U cho trước như sau:

UK= AK - 0.05 Ta - 0.04Tw - 0.02 Tr - 0.01 C

Ta = Thời gian lên xe

TW = Thời gian chờ đợi

Tr = Thời gian hành trình

C = Chi phí đi lại

a Sử dụng mô hình Logit để tính toán tỷ lệ sử dụng giữa hai loại phương tiện giao thông cá

nhân (AK = -0.005) và phương tiện giao thông công cộng (AK = -0.05)

Sử dụng dữ liệu dưới đây để phân tích:

PTGTCN 5 0 30 100

Trang 11

Kết quả:

Như vậy 62% người sẽ sử dụng phương tiện giao thông cá nhân và 38% sử dụng phương tiện giao thông công cộng

Bước 4 Ấn định tuyến đường (Traffic assignment)

Đây là giai đoạn cuối cùng sau khi xác định phương thức phân chia, mục đích là phải xác định được tuyến đường nào (cho mỗi phương thức) được sử dụng cho những hành trình từ điểm

đi đến điểm đến

Tuyến đường nào?

Thời gian

Số lượng kết nối

CT 2

Hình 6 Tuyến đường nào sẽ được lựa chọn cho hành trình?

Quá trình ấn định tuyến đường bao gồm sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp 1: Tất cả hoặc không có gì

Hầu hết hành trình được chỉ định cho những tuyến tuyến đường ngắn nhất

100

0

Hình 7 Tất cả hoặc không có gì (All or nothing)

Phương pháp 2: (Phương pháp cân bằng), phương pháp này bao gồm các bước sau:

1 Áp dụng một phương pháp 1 (tất cả hoặc không có gì)

2 Tính toán thời gian hành trình mới (liên quan đến lưu lượng và ách tắc giao thông)

3 Tính toán lại hành trình ngắn nhất với sự tăng trưởng giao thông

4 Kiểm tra lại tất cả các tuyến xem có thời gian đi lại là tương đương hay không, nếu không, lặp lại bước 1, ngược lại, kết thúc quá trình

Trang 12

Ví dụ :

Hành trình đi lại giữa các vùng

CT 2

Hình 8 Thời gian đi lại giữa các điểm

Kỹ thuật “tất cả hoặc không có gì” đơn giản giả thuyết rằng tất cả các phương tiện từ một

điểm đi đến một điểm đến sẽ chọn hành trình ngắn nhất (với thời gian ngắn nhất) Ví dụ tất cả

200 xe đi từ điểm 1 đến 4 sẽ đi theo hành trình 1-5-4

Bảng dưới đây thể hiện tất cả các tuyến đường được chọn giữa mỗi cặp điểm đi và đến

Từ đó tính ra hành trình ngắn nhất giữa hai cặp điểm tương đương

1 2 1-2 8 100

3 1-2,2-3 11 100

4 1-5,5-4 11 200

5 1-5 5 150

2 1 2-1 8 400

3 2-3 3 200

4 2-4 5 100

5 2-4,4-5 11 500

2 3-2 3 100

4 3-3 7 100

5 3-4,4-5 13 150

2 4-2 5 150

3 4-3 7 300

5 4-5 6 400

5 1 5-1 5 200

2 5-4,4-2 11 100

3 5-4,4-3 13 50

4 5-4 6 350

4

5

7 phút

5 phút

6 phút

12 phút

5 phút

Trang 13

Kết quả:

Liên kết Lưu lượng Liên kết Lưu lượng

III KẾT LUẬN

Việc phân tích, dự báo nhu cầu đi lại có tầm quan trọng rất lớn đối với quy hoạch giao thông Nhờ kết quả của mô hình phân tích, dự báo nói trên mà các nhà quản lý, chuyên gia đưa

ra được các quyết định quy hoạch đúng đắn cho công tác quy hoạch hệ thống giao thông vận tải Các mô hình phân tích, dự báo nhu cầu đi lại dễ dàng áp dụng công nghệ tự động hóa trong phân tích Các mô hình này được tích hợp trong một số phần mềm phân tích giao thông cùng với công nghệ GIS Một số phần mềm nổi tiếng trên thế giới dùng để phân tích, dự báo nhu cầu

đi lại như TransCAD, EMME/2, Cube… Đặc biệt là phần mềm STRADA của Nhật Bản đã được cơ quan hợp tác Nhật Bản (JICA) áp dụng trong một số dự án quy hoạch ở Việt Nam là một chương trình rất mạnh, gồm 17 hợp phần, có thể giải bài toán với 50.000 tuyến đường, 40.000 điểm nút, và 3.000 vùng

CT 2

Hiện nay ở Việt Nam đã bắt đầu áp dụng mô hình phân tích này trong một số các dự án quy hoạch giao thông tổng thể của TPHCM, Hà Nội… nhưng các dự án này đều do các tổ chức nước ngoài thực hiện Trong nước chưa có nhiều nghiên cứu phát triển các lý thuyết quy hoạch giao thông, các tư vấn trong nước chưa thể đảm nhiệm được công việc nói trên bởi vì chưa có nhân lực và công cụ thực hiện về lĩnh vực này

Do vậy cần thiết phải nghiên cứu để xây dựng các mô hình dự báo thực sự phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam Đưa nhiều cán bộ đi nước ngoài học tập, nghiên cứu và đầu tư xây dựng các phần mềm phân tích, dự báo nhu cầu đi lại là một hướng đi phù hợp

Tài liệu tham khảo

[1] Ths Đặng Minh Tân, 2007 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS nhằm nâng cao năng lực quy hoạch

và quản lý giao thông Luận văn thạc sĩ khoa học kỹ thuật – ĐHGTVT Hà Nội

[2] Harvey J.Miller, Shih-Lung Shaw, 2001 Geographic information systems for transportation Oxford

University Press

[3] JICA Training, 2007 Urban Transportation Survey & Analysis (Module III)

[4] Transportation engineering online lab manual Chapter: Travel Demand Forecasting Oregon State University, Portland State University, University of Idaho

[5] Thomas A Domenich and Daniel McFadden, 1975 Urban travel demand North Holland Publishing

company – Amsterdam Oxford American Elsevier Publishing Company, Inc – Newyork.♦

Ngày đăng: 02/07/2014, 22:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Quy trình, dự báo phân tích nhu cầu đi lại - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Hình 1. Quy trình, dự báo phân tích nhu cầu đi lại (Trang 2)
Hình 4. Sự phân phối hành trình - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Hình 4. Sự phân phối hành trình (Trang 6)
Hình 5. Phương thức phân chia - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Hình 5. Phương thức phân chia (Trang 9)
Hình 6. Tuyến đường nào sẽ được lựa chọn cho hành trình? - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Hình 6. Tuyến đường nào sẽ được lựa chọn cho hành trình? (Trang 11)
Hình 7. Tất cả hoặc không có gì (All or nothing)  Phương pháp 2: (Phương pháp cân bằng), phương pháp này bao gồm các bước sau: - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Hình 7. Tất cả hoặc không có gì (All or nothing) Phương pháp 2: (Phương pháp cân bằng), phương pháp này bao gồm các bước sau: (Trang 11)
Hình 8 . Thời gian đi lại giữa các điểm - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Hình 8 Thời gian đi lại giữa các điểm (Trang 12)
Bảng dưới đây thể hiện tất cả các tuyến đường được chọn giữa mỗi cặp điểm đi và đến. - nghiên cứu ứng dụng mô hình 4 bước phân tích, dự báo nhu cầu đi lại trong quy hoạch giao thông
Bảng d ưới đây thể hiện tất cả các tuyến đường được chọn giữa mỗi cặp điểm đi và đến (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w