6.1.3 Đặc điểm tài nguyên nước dưới đất Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam có thể chia thành 26 đơn vị chứa nước dưới đất, có đặc điểm phân bố, chất lượng, số lượng và khả năng khai thác, sử dụ
Trang 1Chương 6
Tài nguyên nước Việt Nam
6.1 Tổng quan chung
6.1.1 Đặc điểm chung tài nguyên nước Việt Nam
Việt Nam có nguồn nước mưa dồi dào hơn so với các vùng cùng vĩ độ địa lý Lượng mưa
trung bình năm toàn lãnh thổ 1960 mm, gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình lục địa, cung cấp
640 tỷ m3/năm, từ đó tạo ra một lượng dòng chảy khoảng 320 tỷ m3, hệ số dòng chảy là 0,5
Lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian do bị đặc điểm địa lý,
địa hình và loại hình thời tiết gây mưa chi phối Chênh lệch lượng mưa giữa các vùng lên tới
10 lần Những vùng có lượng mưa lớn đều nằm trên các sườn và đỉnh núi đón gió, địa hình dạng phễu hội tụ như Bắc Quang, Móng Cái - Tiên Yên (>5.000mm), Hoàng Liên Sơn, Pusilung, Ngàn Sâu, đèo Ngang, đèo Hải Vân, bắc đèo Cả, Trà Mi - Ba Tơ, trung lưu s.Đồng Nai, Plâycu (3.000 - 4.000 mm) Tâm mưa nhỏ nằm trong những vùng khuất gió như thung lũng Mường Xén, Phan Rang (500 - 600mm), thung lũng Yên Châu, Lục Bình, sông Ba (<1.200mm) Mưa phân bố không đều theo thời gian, 20 - 30 % tổng mưa rơi trong một tháng cao điểm, 70 - 90 % mưa rơi trong mùa mưa, còn lượng mưa ba tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 5 - 8% tổng mưa và lượng mưa tháng ít mưa nhất chỉ có 1- 2%
Hình 6.1
Sơ đồ cấu trúc cân bằng nước Việt Nam
Lượng bốc hơi lớn, > 900 mm/năm Bốc hơi nhỏ nhất 400 - 500 mm/năm quan sát thấy ở
vùng núi cao Tây Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ do bị hạn chế bởi trường nhiệt và ở ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận, do bị hạn chế bởi trường ẩm Tây Nam Bộ có lượng bốc hơi lớn nhất, > 1.300 mm/năm do cả hai trường nhiệt ẩm đều phong phú Lãnh thổ Trung Bộ bốc hơi năm trung bình là 900 - 1.200 mm, phần còn lại của lãnh thổ 800 - 1.000 mm
Trang 26.1.2 Đặc điểm tài nguyên nước sông Việt Nam
Hệ thống sông suối của Việt Nam khá phát triển, nhưng phân bố không đều Mật độ trung
bình 0,6 km/km2, lớn nhất 2 - 4 km/km2 ở châu thổ sông Hồng - Thái Bình và Cửu Long, do nhu cầu tiêu thoát nước lớn trong khi địa hình bằng phẳng, biên độ triều lớn và khả năng can thiệp của con người cao Những vùng mưa nhiều, địa hình thuận lợi cho sinh dòng mặt như Móng Cái, Hoàng Liên Sơn, Đèo Ngang, Hải Vân, thượng nguồn Đồng Nai có mật độ sông suối lớn, 1,5 - 2 km/km2 Vùng mưa vừa, độ cao trung bình như Quảng Ninh, Ngân Sơn (Bắc Cạn), trung lưu Đồng Nai, Thu Bồn, thượng nguồn các sông Tây Nguyên, một số sông ở Đông Trường Sơn mật độ sông suối 1 - 1,5 km/km2 Vùng mưa nhỏ, bốc hơi lớn, thấm tốt, như Trùng Khánh (Cao Bằng), Quản Bạ (Hà Giang), Bắc Sơn (Lạng Sơn), Trà Lĩnh, Mộc Châu (Sơn La), Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bắc và trung Tây Nguyên, Ninh Thuận, Bình Thuận
có mạng lưới sông suối kém phát triển, chỉ đạt <0,3 - 0,5 km/km2 Đặc biệt vùng sông Phan, sông Dinh mật độ chỉ đạt 0,12 - 0,15 km/km2 Mật độ sông suối lớn tạo ra những thuận lợi cho đối tượng trực tiếp dùng nước, tạo điều kiện phát triển giao thông thủy
Đa phần sông ngòi thuộc loại vừa và nhỏ, chảy theo hướng chủ đạo Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biển Đông Trong 2.360 sông dài >10 km thường xuyên có nước chảy có 17 lưu
vực độc lập diện tích >1.000 km2, 173 lưu vực 500 - 1.000 km2, 614 lưu vực 100 - 500 km2 và 1.556 lưu vực <100 km2
Việt Nam có 9 lưu vực sông lớn diện tích >10.000 km2, tổng diện tích 258.800 km2, chiếm 74% diện tích toàn quốc, có số dân là 60 triệu, bằng 85% dân số Việt Nam và tạo ra 91% GDP cả nước, cung cấp 771 tỷ m3, tương ứng 88% tài nguyên nước Việt Nam (bảng 6.1) Rõ ràng rằng mọi tiếp cận bền vững trong khai thác tài nguyên và phát triển trên 9 lưu vực sông chính này có vai trò then chốt trong chiến lược phát triển bền vững cả nước
Sông ngòi có tính đa quốc gia 7/9 hệ thống sông chính của Việt Nam chảy qua từ 2 - 5
nước, tỷ lệ diện tích lưu vực thuộc Việt Nam 9 - 87% và tỷ lệ dòng chảy ngoại nhập từ 5 - 90% (không kể Kỳ Cùng Bằng Giang) Chỉ có lưu vực Thu Bồn và sông Ba nằm trọn vẹn ở Việt Nam Dòng chảy ngoại nhập là yếu tố khó kiểm soát, điều tiết, phân phối cả về mặt lượng và chất, đòi hỏi quản lý sử dụng trên tinh thần hợp tác đa quốc gia
Bảng 6.1
Lưu vực và dòng chảy của các hệ thống sông lớn ở Việt Nam [11]
Diện tích Dòng chảy Lưu vực sông
Dân số triệu người
% GDP
795
11,22 86,66 17,81 17,73 10,5 13,9 36,26
Lượng dòng chảy sông ngòi thuộc loại dồi dào, gần 880 tỷ m3, trong đó trên 550 tỷ m3 là
nguồn nước ngoại lai; Mô đun dòng chảy 31 l/s.km2, lớp dòng chảy 980 mm/năm, lớn gấp 3 lần trung bình lục địa và 4,6 lần trung bình châu Á Độ phong phú nước nội địa là 921.000
Trang 3m3/km2.năm và 2,7triệu m3/km2.năm nếu tính cả nguồn ngoại lai Các tâm dòng chảy lớn (nhỏ) đều trùng với các trung tâm mưa lớn (nhỏ) Nơi có dòng chảy lớn nhất là Bắc Quang,
Móng Cái, mô đun dòng chảy >100 l/s.km2, lớp dòng chảy >3.000 mm Vùng Hoàng Liên Sơn, Ngàn Sâu, đèo Ngang, Hải Vân, Trà Mi - Ba Tơ mô đun dòng chảy khoảng 70 - 100
l/s.km2 Vùng ven biển Bắc và Trung Ninh Thuận, Bình Thuận có mô đun dòng chảy nhỏ
nhất, không vượt quá 5 - 10 l/s.km2
Mặc dù có tài nguyên nước dồi dào nhưng do bị phụ thuộc vào các nước ở vùng thượng lưu và tình trạng phân bố không đồng đều, nên tài nguyên nước Việt Nam vẫn bị xếp vào loại thấp trong khu vực Đông Nam Á Chỉ số tài nguyên nước tính theo đầu người là 4.170m3, trong khi trung bình khu vực Đông Nam Á là 4.900m3 và trung bình châu Á 3.300m3
Sông ngòi Việt Nam có tiềm năng thuỷ điện lớn Tiềm năng thuỷ điện lí thuyết của các
sông ngòi Việt Nam là 28,27 triệu kW, tương ứng 248,5 tỷ kWh/năm, tức 94 kWh/ km2, gấp 3,6 lần trung bình thế giới Trữ năng thuỷ điện kỹ thuật của Việt Nam là 91,4 tỷ kWh, bằng 33,7% tiềm năng lí thuyết; Trữ năng khai thác kinh tế là 55 - 60tỷ kWh, bằng 20 - 22% tiềm năng lí thuyết, tương đương với khoảng 14.000 - 17.000 MW công suất lắp máy (gấp >6 lần công suất nhà máy thuỷ điện Hoà Bình)
Sông Đà có tiềm năng thuỷ điện phong phú nhất, 50 tỷ kWh/năm, chiếm 19% tiềm năng toàn quốc Sông Đồng Nai xếp thứ hai với 40 tỷ kWh/năm; Các sông Sesan, Krong Pôcô, 26
tỷ kWh/năm, sông Thao - 15,66 tỷ kWh/năm, sông Ea Krông - 14,15 tỷ kWh/năm, Srepôc -
14 tỷ kWh/năm, sông Cả 13,27 tỷ kWh/năm, sông Trà Khúc 12,48 tỷ kWh/năm, sông Lô 10,24 tỷ kWh/năm, sông Mã 9,2 tỷ kWh/năm, sông Ba 8 tỷ kWh/năm
Bảng 6.2:
Trữ năng thuỷ điện sông ngòi Việt Nam [ 8 ]
Trữ năng lý thuyết Trữ năng kỹ thuật
Hệ thống sông Công suất
167,5
121,9 14,6 14 17
61,7
44,9 5,4 5,2 6,2
12.600
10.822 850 630 298
56,45
49,5 2,8
2 2,15
61,8
54,2 3,1 2,2 2,3
103,7
27,3 16,5 16, 12,1 31,9
38,3
10,1 6,1 5,9 4,5 11,7
8.100
3.795 1.175 1.670 757 703
34,95
16,77 5,6 8,2 3,2 1,1
38,2
18,3 6,3 9 3,5 1,2
Toàn quốc 30.970 271,3 100 20.700 91,4 100
Hiện chúng ta đã xây dựng trên 500 nhà máy thuỷ điện lớn nhỏ, sản xuất khoảng 3,6 MW
và 800MW đang trong quá trình xây dựng Sản lượng thuỷ điện hiện chiếm 55% tổng công suất phát điện toàn bộ hệ thống điện lưới quốc gia đã xây dựng Các đập thuỷ điện lớn nhất là Hoà Bình, Thác Bà, Đa Nhim, Trị An, Thác Mơ và Yaly Theo chiến lược thuỷ điện quốc gia, Việt Nam sẽ xây dựng thêm các hệ thống sản xuất điện tương đương 5.045 MW tại các sông
Sê San, Srêpôc, sông Đà, Đồng Nai
Phân phối dòng chảy theo tháng trong năm phân hoá sâu sắc theo không gian và cực đoan theo thời gian do sự không ổn định của chế độ mưa và sự phân hoá sâu sắc của điều kiện
địa hình Trên đường quá trình nước nhiều sông thấy thể hiện dạng hình răng cưa rất không đồng đều
Trang 4Chất lượng nước sông Việt Nam tốt, phần lớn thuộc loại Bicacbonat Canxi kiểu I, độ khoáng hoá thấp <1 g/l, độ cứng nhỏ, 3me/l, độ kiềm nhỏ, 4 me/l, pH gần trung tính, khá phù
hợp với các mục tiêu dùng nước khác nhau Nước sông miền Bắc có pH trung bình 7,06 Những đoạn sông có pH lệch khỏi trung tính thường là vùng ô nhiễm do nhận nước thải công nghiệp: Lâm Thao pH 3,8 - 4,1; Việt Trì pH 8,0 - 8,9 Nước sông miền Nam có độ pH trung bình 7,6 Nước sông Mê Công thường hơi kiềm, vùng Đồng Tháp Mười pH =3,0; sông Đồng Nai pH < 6,0
Chất hữu cơ trong nước sông tự nhiên thường thấp, <3 mg/l, dao động từ 0,4 - 10,9 mg/l
ở miền Bắc, 0,85 - 18,32 ở miền Nam Trung bình ôxy hoà tan trong nước sông miền Bắc 4,4
mg/l, miền Trung 6 - 7 mg/l, miền Nam 6,9 mg/l; Những đoạn sông bị ô nhiễm nặng nồng độ
ôxy hoà tan rất thấp Hàm lượng chất hoà tan trong nước biến động ít theo mùa và thành phần hoá học nước mặt và nước dưới đất khác nhau không nhiều Ô nhiễm nước do nước thải công nghiệp, đô thị mang tính khu vực, ô nhiễm do nông nghiệp và các nguồn diện khác khó xác định, nhưng đã có những dấu hiệu cần lưu ý
Nitrat ở một số sông lớn miền Bắc dao động từ vết đến 1,9mg/l; trung bình 0,25 mg/l, cao
nhất thường gặp tại những đoạn sông nhận nước thải công nghiệp; Lượng Amôn từ vết đến
12,53 mg/l Nước sông miền Nam có nitrat từ 0,007 - 1,185 mg/l, trung bình 0,161 mg/l; Amôn từ 0,006 - 0,383 mg/l, trung bình 0,161 mg/l
Nước sông miền Bắc có hàm lượng sắt tổng từ 0,04 - 1,0 mg/l, trung bình 0,75 mg/l; Những nơi có sắt cao là Lâm Thao 4mg/l, Phả Lại 2,88 mg/l; Những nơi sắt thấp là Việt Trì 0,08 - 0,16 mg/l, Dừa 0,075 mg/l Nước sông miền Nam có hàm lượng sắt tổng từ 0,317 - 8,656 mg/l, trung bình 2,53 mg/l; Những nơi có sắt cao thường là vùng nhiễm phèn nặng Khi Fe2+ từ
0 - 2mg/l cá phát triển bình thường, 4 - 5 mg/l cá bị ảnh hưởng, 15 - 100 mg/l cá chết;
Tiêu chuẩn nước sinh hoạt quy định Fe2+ <1mg/l
Lượng silic trong nước sông miền Bắc từ 8 - 18,2 mg/l, trung bình 13,7 mg/l; trong đó
những nơi có silic cao là Cẩm Thuỷ - sông Mã, Dừa - sông Lam, Nam Định - sông Đào, thấp nhất tại Lạng Sơn - sông Kỳ Cùng Hàm lượng silic trong nước sông miền Nam từ 0,915 -
Xâm nhập triều phụ thuộc vào cường độ dòng triều và lưu lượng nước sông Chế độ triều dọc bờ biển Việt Nam phân hoá: nhật triều ở Hòn Gai, Hòn Dáu, nhật triều không đều ở Cửa Hội, bán nhật triều không đều ở Quy Nhơn, Sài Gòn, Vũng Tàu Xâm nhập triều trên sông Hồng và Mê Công thuộc vào loại sâu so với thế giới Trên sông Hồng biên độ triều 1m vào sâu 70 km và cách cửa sông 180 km vẫn còn quan sát được dấu hiệu của triều, tuy không rõ nét Trên sông Mê Công xâm nhập triều có thể vào sâu 400 km, đến tận Kông Pông Chàm, còn tại Tân Châu, cách biển 200km, biên độ triều đạt đến 1 m Đặc biệt là hạ lưu sông Mê Công chịu sự chi phối của hai chế độ triều khác nhau cả về chu kỳ, mực nước triều và biên độ triều là nhật triều ở vịnh Thái Lan và bán nhật triều không đều ở Biển Đông
Độ mặn theo phương truyền triều xác định theo công thức
Sx = So exp (KX) (6.1)
Trang 5trong đó X - khoảng cách tính từ cửa sông, So- độ mặn tại cửa sông, K- hệ số khuếch tán thực nghiệm của sông
Khi độ mặn > 0,1% thì năng suất lúa bắt đầu giảm, khi độ mặn > 0,4% thì cây lúa không phát triển hoặc chết Xâm nhập mặn cũng thúc đẩy quá trình bồi lấp luồng lạch, cửa sông
6.1.3 Đặc điểm tài nguyên nước dưới đất Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam có thể chia thành 26 đơn vị chứa nước dưới đất, có đặc điểm phân
bố, chất lượng, số lượng và khả năng khai thác, sử dụng khác nhau, tuỳ thuộc vào sự hiện diện của chúng ở các miền và phụ miền địa chất thuỷ văn khác nhau
Kết quả tính toán cho thấy tiềm năng nước dưới đất của nước ta rất lớn Tổng trữ lượng động tự nhiên trên toàn lãnh thổ (chưa kể phần hải đảo) được đánh giá vào khoảng 1828 m3/s, tương ứng với môđun dòng ngầm là 4,5 l/s.km2 và phân bố theo các vùng như trong bảng 6.3 Tuy nhiên, trữ lượng động tự nhiên của nước dưới đất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện địa chất nên các con số trên chưa nói lên mức độ giàu nghèo nước và khả năng khai thác nước dưới đất của các miền địa chất thuỷ văn
Trữ lượng khai thác của nước dưới đất là lượng nước tính bằng mét khối trong một ngày đêm có thể thu được bằng các công trình lấy nước một cách hợp lý về mặt kinh tế - kỹ thuật với chế độ khai thác nhất định và chất lượng nước đáp ứng yêu cầu sử dụng suốt trong thời gian tính toán sử dụng nước Trữ lượng có tiềm năng khai thác của Việt Nam khoảng gần 60
tỷ m3/năm Kết quả nghiên cứu được tiến hành ở 144 vùng với tổng diện tích 35000 km2 xác định được trữ lượng khai thác (cấp A + B) là gần 2.000.000 m3/ngày, thăm dò sơ bộ (cấp C)
là 17.500.000 m3/ngày Phần lớn trữ lượng khai thác cấp A + B nằm trong phức hệ chứa nước trầm tích aluvi (71%), tiếp đến là trong thành hệ cacbonat (11%)
Bảng 6.3
Trữ lượng động tự nhiên của nước dưới đất
Vùng Lưu lượng (m 3 /s) Mô đun (l/s.km 2 )
Đông Bắc Tây Bắc Đồng bằng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đồng bằng Nam Bộ Đông Nam Bộ
238,7 214,8 88,9 476,0 318,8 180,5 158,2 163,0
4,5 5,1 3,6 8,0 3,7 3,3 3,4
Chất lượng nước dưới đất được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu: độ khoáng hoá, độ pH, tổng độ cứng, hàm lượng sắt, các hợp chất nitơ, CO2 ăn mòn và vi khuẩn Theo các chỉ tiêu trên có thể đưa ra một số nhận xét và đánh giá sơ bộ về chất lượng nước dưới đất như sau: Nước dưới đất ở miền núi và trung du có chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu sử dụng vào mục đích ăn uống, sinh hoạt Tuy vậy một số nơi nước còn chứa nhiều sắt, độ cứng cao
và tính ăn mòn CO2 lớn, không thuận lợi đối với việc cấp nước cho một số ngành công nghiệp và có tác hại cho các công trình xây dựng, đòi hỏi phải xử lý
Vùng ven biển, nước dưới đất thường nhiễm mặn, hàm lượng clo lớn, không đáp ứng tiêu chuẩn nước sinh hoạt
Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, chất lượng của nước dưới đất thay đổi rất phức tạp do sự xen kẽ giữa nước nhạt và nước mặn theo diện tích cũng như trên mặt cắt của một số vùng Các chỉ tiêu khác cũng biến đổi trong giới hạn rất rộng, nhiều khi không rõ quy luật, đặc biệt
Trang 6là hiện tượng nhiễm mặn, nhiễm sắt, nhiễm phèn khá phổ biến trên nhiều vùng Ở những vùng canh tác có sử dụng phân bón và một số trung tâm dân cư, công nghiệp lớn, nước dưới đất đã
có dấu hiệu nhiễm bẩn ở các mức độ khác nhau
Hàm lượng Cu, Pb, As, Hg đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nước sinh hoạt Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ đã có hàm lượng Hg khá cao Hàm lượng Mn trong nước của các lỗ khoan trong trầm tích Đệ tứ bở rời đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép Trên phạm vi toàn quốc những năm trước đây có 22 nhà máy khai thác nước dưới đất tập trung, trong đó 15 nhà máy lấy nước trong các thành tạo bở rời, cát cuội sỏi, ba nhà máy lấy trong thành tạo cacbonat và bốn nhà máy lấy từ đá phun trào bazan Tính chung cho cả nước thì chỉ có chưa đầy 5% tổng trữ lượng nước được khai thác Việc khai thác nước dưới đất ở các vùng rất khác nhau Ví dụ rất khó khai thác nước dưới đất ở vùng Đông Bắc do các tầng chứa nước nằm phân tán và đa dạng Trong khi đó khai thác nước ngầm ở Tây Nguyên lại dễ dàng, nên đã bị khai thác quá mức để phục vụ tưới cho các loại cây trồng công nghiệp, dẫn đến tình trạng thiếu nước ở một số địa bàn trong vùng Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các vùng phụ cận Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh đã khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún đất, nhiễm mặn
Tài nguyên nước khoáng, nước nóng của Việt Nam phong phú, có chất lượng tốt, đa dạng
về loại hình, có giá trị sử dụng cao cho nhiều mục đích khác nhau như dùng cho thuỷ lý trị liệu, sản xuất nước khoáng đóng chai, khai thác năng lượng địa nhiệt, CO2 Theo số liệu điều tra, cả nước có khoảng 400 nguồn nước khoáng và nước nóng, trong đó nguồn có nhiệt
độ 30 – 70oC và độ khoáng hoá (ĐKH) <1 – 5 g/l chiếm ưu thế (bảng 6.3, 6.4) 287 nguồn đã được khai thác và khảo sát Đã xác định được trên 100 điểm nước khoáng, nước nóng
Bảng 6 4
Phân loại nước khoáng Việt Nam theo độ khoáng hoá
Loại nước Độ khoáng hoá
g/l Tỷ lệ số nguồn so với tổng số %
ĐKH rất thấp ĐKH thấp ĐKH trung bình ĐKH cao
<1,0 1,0 – 5,0 5,0 – 10,0 10,0 – 35,0
48,13 37,98 2,32 11,57
Bảng 6.5
Phân loại nước khoáng Việt Nam
Loại nước Nhiệt độ nước
6.1.4 Hồ đầm Việt Nam
Hồ đầm tự nhiên
Việt Nam không có các hồ đầm tự nhiên cỡ lớn vì trong giai đoạn tân kiến tạo vận động nâng là chủ yếu, mạnh mẽ, liên tục, không có những đứt gãy kiến tạo và vùng sụt võng sâu Mặt khác khả năng bồi tích của sông ngòi rất lớn, nhanh chóng lấp đầy các địa hình trũng
Trang 7Hồ nguồn gốc từ sông thường gặp rất nhiều trong vùng đồng bằng châu thổ các con sông lớn Do đó các đô thị đồng bằng, gồm cả Hà Nội có rất nhiều hồ nhỏ tạo nên nhiều giá trị cảnh quan sinh thái và môi trường
Trong các vùng núi đá vôi có những hồ tiềm thực do hoà tan ngầm và sụt đổ, như Nậm Soi - Sơn La, Ba Bể - Bắc Cạn Hồ Ba Bể gồm ba bể thông nhau, kích thước 4 ì 1,5 km, 2 ì 2,2 km và 3 ì 1 km, nằm ở độ cao 145m, giữa một vùng diệp thạch kết tinh xen núi đá vôi, diện tích 450 ha, sâu nhất đến 29 m, dung tích 90 triệu mét khối Sóng do gió trên mặt hồ có thể cao tới 7 - 8 m Hồ là một cảnh quan đẹp giữa vùng rừng nhiệt đới
Hồ miệng núi lửa gặp quanh thị xã PlâyCu, điển hình nhất là Biển Hồ, nằm trên độ cao 800m, diện tích mặt nước 600ha, cấp nước tưới, sinh hoạt và cá cho khu vực
Đầm phá thường gặp dọc bờ biển miền Trung, là sản phẩm của quá trình tương tác biển sông trong đó biển chiếm ưu thế Hệ sinh thái đầm phá có đa dạng sinh học và năng suất cao, đặc biệt có vai trò quan trọng đối với vùng khơi tương tự vai trò của các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở bờ biển miền Bắc và miền Nam Phá Tam Giang - Cầu Hai lớn và nổi tiếng nhất, với diện tích 7.800ha, dài 20km, rộng 0,5 - 3km, sâu khoảng 1m, nhận nước ngọt từ trên 10 con sông, trong đó có sông Hương và thông với biển qua cửa Thuận An
Ven biển miền Trung có một số hồ nước ngọt trên cát, nơi có nền đá gốc bên dưới không bằng phẳng và ít thấm, có vai trò quan trọng trong cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất
Hồ chứa
Việt Nam có khoảng 3.600 hồ chứa kích thước khác nhau, trong đó chỉ có chưa đến 15%
là các hồ cỡ vừa và lớn, dung tích >1 triệu m3 hoặc có độ cao >10m Hồ chứa lớn thường được thiết kế và sử dụng đa mục đích, trước tiên là phát điện, điều tiết dòng chảy (cắt lũ và cấp nước mùa kiệt), ngoài ra còn có các mục đích sử dụng khác như phục vụ giao thông, thuỷ lợi, du lịch Sự tích tụ phù sa đã làm giảm nhiều dung tích các hồ chứa, một số hồ chỉ còn khoảng 30% dung tích ban đầu Hồ chứa nhỏ chỉ phục vụ tưới tại chỗ và khai thác để nuôi trồng thuỷ sản
Bảng 6.6
Các hồ chứa lớn ở Việt Nam
Hồ chứa Dung tích 10 6 m 3 Diện tích tưới
Kẻ Gỗ
9.450 2.940 2.760 1.580 1.370 1.037
414
357
345
72.000 23.000 17.000
Hồ Hoà Bình trên sông Đà [12]
Hồ Hoà Bình khởi công ngày 6/11/1979, chặn dòng 12/1/1983
Hồ có các thông số thiết kế sau:
Đập: cao 123m, dài 734m, rộng 20m
Cao trình đáy Cửa Lưu lượng tối đa
Xả đáy 56 m 6 × 10m 21.900m 3 /s
Xả mặt 102m 15 × 15m 13.500m3/s
Trang 8Đặc trưng Mực nước (m) Diện tích mặt nước (Km 2 ) Dung tích (Km
* Bồi lắng theo thiết kế trong thời gian vận hành là 0,54% dung tích hồ, tương đương 51 tr m3/năm, trong
đó sau 25 năm bồi 60% dung tích chết, sau 50 năm bồi 90% dung tích chết và 3% dung tích hữu ích, sau 60
năm bồi toàn bộ dung tích chết và một phần dung tích hữu ích
* Quản lý mực nước trước lũ: Theo Quy định ngày 30/6/1991 của Ban Phòng chống lụt bão Trung ương
(BPCLBTƯ): Kỳ lũ sớm: (15/6 - 15/7) duy trì mực nước 91 ± 1m Kỳ lũ chính (16/7 - 15/8) duy trì mực nước
89 ± 1m, sau khi đỉnh lũ qua thì nhanh chóng tích nước đến 115 m Mùa kiệt cấp nước đến mực nước trước
lũ, thấp nhất 70,5m
Các vấn đề môi trường hồ chứa sau 8 năm hoạt động
1 Bồi lắng: Trung bình 69,4 triệu m 3 /năm, nhiều hơn thiết kế 5%, làm đáy hồ bị nâng cao trung bình 0,34 m/năm
Những nguyên nhân làm tăng bồi lắng lòng hồ so với thiết kế là do xói lở vùng bờ và dải bán ngập, rửa trôi xói
mòn từ vùng rừng đầu nguồn không được bảo vệ và tăng mực nước trước lũ Lắng ở phần dung tích chết 78%,
dung tích hữu ích 20%, nguyên nhân là do vùng cửa hồ nằm trong dung tích hữu ích quá dài
2 Hoạt động địa chấn tích cực quan sát thấy trong vùng hồ, dọc đứt gãy sâu Chợ Bờ Động đất kích thích
tăng mạnh những năm đầu tích nước, đặc biệt là ở khu vực quanh đập Tần suất xuất hiện động đất và các
dư chấn địa chất tập trung vào 1991 - 1992 sau đó giảm dần
3 Các hiện tượng thành tạo khe nứt, trượt lở ven hồ, nâng cao mực nước ngầm, thẩm thấu nước, thay đổi
cơ chế và mức độ hoạt động caxtơ quan sát thấy ở một số khu vực
4 Biến động hệ sinh thái thượng du: Ở cạn mất 1.610,8 ha rừng, 10 họ (33%), 92 loài sinh vật (49,7%), số
cá thể nhiều loài cũng giảm Ở nước hệ sinh thái nước hồ chứa thay thế gây biến động mạnh quần xã sinh
vật, mất các động vật ăn đáy, động thực vật phù du phát triển, phì dưỡng xuất hiện ở một số vùng cửa sông
đổ vào hồ trong những năm đầu Trước khi có hồ, khu hệ cá sông Đà có 95 loài, đến 1992 mới điều tra
được 31 loài
5 Diễn biến lòng sông hạ du: Xói sâu cục bộ ngay sau chân đập tạo hố tiêu năng và gây bồi tích vùng kế
tiếp Xói ngang vùng thị xã Hoà Bình năm 1989-1990 do xả mạnh sinh dòng quẩn sau đập tràn phía bờ
phải, làm xói lở mạnh chân đập, phá huỷ đường vào hầm giao thông qua đập tràn; Sạt trượt vùng bờ do hạ
thấp mực nước mạnh sinh dòng thấm đột ngột từ bờ ra phía sông
6 Ảnh hưởng đến vùng hạ lưu và cửa sông: Giảm lượng phù sa trong sông (trung bình 1986 – 19995 còn
77 triệu tấn/năm) dẫn tới giảm 1/2 tốc độ lấn biển vùng cửa sông (chỉ còn 50m/năm), ảnh hưởng tới chất
lượng rừng ngập mặn khiến chim di cư giảm từ 1000 – 2000 con xuống còn 500 – 600 con, mỏ tôm Ba Lạt
và bãi cá giảm 50% sản lượng, hàng năm mất 500 triệu con cá bột sông Hồng
7 Các vấn đề xã hội: Ngập 2.899 ha ruộng, 170 ha rừng trồng, 840 ha cây ăn quả, 107.308 m2 nhà, trường,
trạm xá, kho tàng, 406 km đường dân sinh, 42 hồ đập thuỷ lợi, 63 phai đập thuỷ lợi, 37 tuyến mương,
35.352 m2 ao cá, di chuyển 11.763 mồ mả, 53.033 người
6.1.5 Tai biến rủi ro liên quan đến nước ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề của bão, áp
thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, trượt lở đất, xâm nhập mặn…
Các hình thế thời tiết gây mưa lũ ở Việt Nam rất đa dạng và thường cùng đồng thời xuất
hiện: Mưa lũ trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình do các hình thế thời tiết cơ bản sau gây nên:
xoáy thấp Bắc Bộ, bão, xoáy thấp lạnh, dải áp thấp Nam Trung Quốc, rãnh thấp nóng phía
Tây, dải hội tụ nhiệt đới, xoáy thuận kết hợp với không khí lạnh hay các hình thế thời tiết
khác Miền Trung chịu ảnh hưởng của các loại hình thời tiết gây mưa như bão, không khí
lạnh, thấp, dải hội tụ nhiệt đới, hoặc các hình thế thời tiết khác kết hợp phức tạp với nhau
Mưa lớn trên lưu vực sông Mê Công có nguyên nhân từ dải hội tụ nhiệt đới kết hợp với gió
mùa tây nam, bão hoặc áp thấp nhiệt đới
Bão là một loại hình thế thời tiết đặc biệt gây gió từ 120 km/giờ (cấp 1) - 250 km/giờ (cấp
5), sóng lớn tròn đầu cao 10 - 12 m do áp thấp ở tâm bão hút nước lên và mưa lớn Trận bão
năm 1902 ở Việt Nam đã bẻ gẫy cầu Tràng Tiền (Huế) Hàng năm nước ta phải nhận hoặc
Trang 9chịu ảnh hưởng trực tiếp của trung bình 4 - 6 trận bão, nhiều nhất là 11 - 12 trận, tập trung từ tháng 5 - 12 Bão cung cấp 12% lượng mưa ở đồng bằng Bắc Bộ và Đông Trường Sơn, 6 - 12% lượng mưa cho khu Tây Bắc, 5 - 10% lượng mưa cho Tây Nguyên và gần 5% lượng mưa cho Nam Bộ Trong nhiều năm bão đổ bộ vào Việt Nam tuân theo quy luật chung là chậm dần
từ Bắc vào Nam và hầu như hiếm gặp ở cực Nam Việt Nam Những năm gần đây đã xuất hiện bất thường trong thời gian xuất hiện, đường đi và điểm đổ bộ của bão, gia tăng mạnh mẽ thiệt hại do bão gây ra
Theo thống kê sơ bộ, trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước, trung bình mỗi năm Việt Nam có trên 800 người chết do các loại thiên tai khác nhau, trong đó tổn thất do lũ lụt đồng bằng sông Cửu Long thường chiếm trên dưới một nửa Đặc biệt cơn bão số 5 LINDA vào Cà Mau ngày 2/11/1997 đã làm khoảng 3.000 người thiệt mạng, 3008 tàu thuyền
bị đắm Nước dâng do bão gây hư hại nghiêm trọng các tuyến đê biển và tổn thất tài nguyên, tài sản các loại
Lũ lụt trên các sông Việt Nam
Dòng chảy sông ngòi Việt Nam phân hoá thành hai mùa: mùa lũ và mùa kiệt Mùa lũ từ 3
- 5 tháng Từ Bắc vào Nam mùa lũ bắt đầu và kết thúc chậm dần Mùa lũ ở Bắc Bộ từ tháng 6 đến tháng 9, 10 Nam Thanh Hoá - Nghệ An: tháng 7 - 11, Hà Tĩnh - Bắc đèo Hải Vân: tháng
9 - 12, Nam đèo Hải Vân – Ninh Thuận: tháng 10 - 12, Tây Nguyên: tháng 7, 8 - 11, 12, Nam Bộ: tháng 7 - 11 Phần còn lại trong năm là mùa kiệt Dòng chảy phân bố cực đoan theo mùa: Mùa lũ chiếm 60 - 90% dòng chảy toàn năm, trong đó tháng lũ lớn nhất có dòng chảy lên tới
20 - 30 % tổng lượng toàn năm; Mùa kiệt chỉ có 10 - 40% tổng lượng dòng chảy Ngoài lũ chính vụ, sông ngòi các tỉnh ven biển miền Trung còn có mùa lũ tiểu mãn, thường xảy ra vào tháng 4 - 5 Lũ tiểu mãn thường không lớn nhưng có vai trò cấp nước và phù sa đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp trong khu vực Trên các sông có lũ tiểu mãn, tỷ phần dòng chảy do lũ chính vụ cấp trong tổng dòng chảy năm thiên giảm, có thể gây nên những đánh giá sai lầm về mức độ cực đoan của phân phối dòng chảy
Trung bình hàng năm sông suối có 3 trận lũ, biên độ lũ sông nhỏ 3 - 5 m, sông vừa và lớn từ 5 - 10 m đến 15 - 20 m, cường suất lũ lên nhanh nhất ở các sông miền núi, trung bình
từ vài cm đến 1 m/giờ, cực đại 3 m/giờ (Bình Liêu, sông Tiên Yên) Riêng sông Cửu Long cường suất lũ lên không lớn, cao nhất là 20 - 25 cm/ngày Tốc độ lũ lớn nhất trên 6 - 7 m/s tại các sông miền núi: 7,6 m/s tại Bản Điệp, sông Ngòi Thia, 7,4 m/s tại Tài Chi - sông Hà Cối, 6,42 m/s tại Bản Củng - sông Nậm Mu
Lũ trên hệ thống sông Hồng và Thái Bình có tác động chi phối nhau do được nối thông với nhau bằng sông Đuống và sông Luộc Vùng cửa sông chịu ảnh hưởng đáng kể của triều cản trở thoát lũ Trong gần 600 năm qua, trung bình 5 năm có một trận lũ lớn để lại dấu ấn trong lịch sử Nếu xét mức báo động cấp 3 tại Hà Nội (11,5m) thì từ năm 1902 đến 1998 đã
có 26 trận lũ vượt qua, trung bình mỗi năm là 0,27 trận, tức khoảng 4 năm một lần Lũ lịch sử trên sông Hồng xảy ra năm 1971 với mức nước đỉnh lũ tại Hà Nội là 14,67 m (mức hoàn nguyên) và lưu lượng tại Sơn Tây đạt 37.800m3/s Trong thế kỷ XIX đã có 188 trận lụt làm
vỡ đê sông Hồng Ngoài lũ lớn trong sông, mưa lớn gây úng nội đồng cũng là một dạng thiên tai gây thiệt hại đáng kể Đê là công trình phòng lũ chính trên hệ thống sông Hồng, việc tiêu nước mưa nội đồng chủ yếu dựa vào các trạm bơm tiêu
Các sông miền Trung ngắn và dốc, đồng bằng thấp, hẹp, cửa tiêu thoát hẹp, mưa tập trung theo từng đợt trên diện rộng, cường độ lớn, sinh lũ lớn tập trung nhanh, cường suất lũ lên rất lớn, nước rút chậm, các tuyến đường sắt bộ chạy dọc đất nước gây ra sự cản trở thoát nước mặt, gây ngập úng sâu vùng đồng bằng hẹp và các khu dân cư Ví dụ tháng 9/1993,
Trang 10lượng mưa ngày lớn nhất tại Tuy Hoà (Phú Yên) là 600mm, kết hợp với lũ lớn ở thượng nguồn sông Đà Rằng và triều cường ven biển đã làm cho thị xã ngập úng trầm trọng, có nơi sâu 2 m, mọi hoạt động kinh tế và giao thông tê liệt, thiệt ước tính hàng trăm tỷ đồng Lũ lớn liên tiếp tháng 11 và 12 năm 1999 ở miền Trung làm chết trên 700 người, nhiều người khác bị thương hoặc bệnh, 10.000 người phải sơ tán, nhiều gia đình mất hết nhà cửa, tài sản và kế sinh nhai, thiệt hại ước tính trên 340 triệu USD
Lũ đồng bằng sông Cửu Long có ba mức: Mức lớn khi mực nước >4,5 m (40,6% số năm); mức vừa khi mực nước 4 - 4,5 m (46,2%); mức nhỏ khi mực nước <4 m (13,2%) Trong 40 năm gần đây có 6 năm lũ lớn, với số ngày duy trì mực nước cao >4,5 m tại Tân Châu là 52 ngày (1961), 40 (1966), 60 (1978), 32 (1984), 22 (1991 và 1996) 86% đỉnh lũ đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 Đỉnh lũ lớn nhất là 5,28
m, quan sát thấy năm 1961, 5,27 m (1966) và 4,94 m (1978) Các vùng bị ngập chính là: 1- Đồng Tháp Mười, có độ cao từ 0,5 - 2 m, xung quanh bị bao bọc bởi bờ sông Tiền, bờ biển
Gò Công và thềm đất cũ Đông Nam Bộ; 2- Tứ Giác Long Xuyên, đất thấp và dốc nghiêng từ
bờ sông Hậu sang Vịnh Kiên; 3- Vùng đất thấp chua mặn U Minh - Cà Mau nằm sát biển, không bị ngập bởi nước sông nhưng bị ngập mặn do ảnh hưởng triều
Ngập úng ở một số đô thị lớn đồng bằng
Hà Nội nằm ở cốt cao độ từ 4 - 11m, thấp hơn mực nước lũ trên sông Hồng Đường thoát nước chính của Hà Nội theo trục các sông nội đô, qua cống Thanh Liệt vào sông Nhuệ Khi mực nước Thanh Liệt 5,5m sông Tô Lịch không còn khả năng tự chảy, gây úng ngập diện rộng Ngoài ra, do địa hình không bằng phẳng, những vùng trũng kín cứ mưa xuống là úng ngập cục bộ do không tiêu thoát được nước tại chỗ và phải nhận thêm nước từ các hố ga đùn lên Nhu cầu thoát nước Hà Nội cho trận mưa có chu kỳ lặp 10 năm, là 170 m3/s, trong khi đó sông Tô Lịch chỉ có khả năng thoát 30-35 m3/s Do vậy Hà Nội hàng năm thường xảy ra ngập úng vào mùa mưa, chỉ với lượng mưa 50mm trong 2 - 3 giờ đã có thể làm ngập trên 40 điểm trong nội đô Ngày 9/11/1984 trận mưa 614mm đã làm 45% diện tích thành phố bị ngập từ 30
- 50 cm, có nơi ngập trên 1m, thời gian ngập nhiều nơi đến 7 - 8 ngày, tác động sâu sắc đến các hoạt động đời sống, sản xuất, cấp điện, giao thông… Khu vực Nam và Đông Nam Tp Hồ Chí Minh thấp, cao độ 1 - 2m, trong khi cao độ đáy cống thành phố ra sông Sài Gòn là 1 - 1,8
m, úng ngập lớn trên diện rộng trong thời gian dài xảy ra do tổ hợp tác động của mưa, triều và
xả nước hai hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An
Bảng 6.7
Thiệt hại do lũ lụt ở Việt Nam từ 1971 - 2002
Năm Thiệt hại (USD) (người) Chết Năm Thiệt hại (USD) (người) Chết
237
245 5.122 4.310 2.481 1.915 Hậu quả do mưa lũ, úng ngập lụt thường rất to lớn Chúng gây thiệt hại nặng nề về người, phá huỷ cơ sở vật chất, kỹ thuật, tổn thất tài nguyên gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, làm
Trang 11gián đoạn các hoạt động kinh tế, dân sinh trực tiếp và lâu dài, gây xáo trộn xã hội, gián đoạn phát triển kinh tế tại chỗ và các vùng liên đới quy mô lớn hơn
Theo UNDP, thiệt hại do lũ lụt hàng năm ở đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung lên đến 130 triệu USD
Hạn chế liên quan đến chất lượng nước
Những vấn đề đáng lưu tâm hơn cả trong chất lượng nước sông ngòi Việt Nam hiện nay
là phù sa và nhiễm mặn Lượng cát bùn trong sông nói chung là lớn và tập trung nhiều vào mùa lũ (hơn 90% tổng lượng cát bùn năm) Tổng lượng phù sa lơ lửng do hệ thống sông tải ra biển tới 300 triệu tấn/năm, trong đó riêng sông Hồng cung cấp khoảng 120 triệu tấn (qua Sơn Tây), Cửu Long gần 100 triệu tấn (qua Phnom Pênh) Hàm lượng phù sa cao tạo ra tính phức tạp của biến hình lòng sông, tăng khả năng hình thành bồi tụ trong đồng bằng châu thổ và cửa sông ven biển, giảm hiệu quả sử dụng hệ thống thuỷ lợi và hồ chứa Phù sa cung cấp nguồn dinh dưỡng có giá trị cho các hệ sinh thái nông nghiệp vùng được bồi tụ và hệ thuỷ sinh trong các thuỷ vực Tuy nhiên, phù sa lớn là yếu tố bất lợi cho nhiều đối tượng dùng nước yêu cầu cao, làm tăng giá thành xử lý nước
Xâm nhập mặn phụ thuộc độ dốc mặt nước sông và tương quan giữa hai khối nước mặn, ngọt Các sông miền Trung có độ dốc lớn nên có mức độ ảnh hưởng mặn ít hơn cả Tại đồng bằng sông Cửu Long diện tích vùng bị nhiễm mặn (mức 4 g/l) chiếm tới trên 1 triệu km2, bao trùm toàn bộ bán đảo Cà Mau, vùng Hà Tiên, Cửu Long, Bến Tre, Mỹ Tho Xâm nhập mặn gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất cho lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trong mùa kiệt và là tác nhân đáng lưu ý trong khai thác sử dụng nước ngầm
Các loại tai biến môi trường khác
Ở Việt Nam đất trượt thường xảy ra ở nhiều miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Nam Trung
Bộ và dọc các con sông lớn Vùng đồi núi, dọc các tuyến giao thông, đất thường sạt lở sau những trận mưa to
Núi lở thường xảy ra ở sườn dốc có độ dốc từ 30o đến 45o trở lên Tác nhân gây núi lở là đặc điểm sườn núi (độ dốc, cây cối, tính chất đất đá…) và điều kiện khí hậu Núi lở cũng thường xảy ra ở các vùng mỏ Những núi đất đá thải trong quá trình khai thác quặng có thể đổ
ụp xuống mỗi khi có mưa to hay động đất Ngày 4/6/1987 núi Mông Dương lở, lũ bùn cùng nước biển tràn vào làm ngập toàn bộ hầm lò mỏ than Mông Dương, Quảng Ninh ở độ sâu 97m, may không có ai bị tử vong
Bảng 6.8
Mức độ ác liệt của thiên tai ở Việt Nam [ 9 ]
Vùng Bão Lũ Lũ quét Hạn hán Hoang mạc hóa Nhiễm mặn Ngập úng Lở đất
ĐB sông Hồng ++++ ++++ - + - + +++ ++ Bắc Tr Bộ ++++ ++++ +++ +++ ++ ++ ++ ++ Duyên hải
NTr Bộ
ĐB sông Cửu Long ++ ++++ + ++ + +++ +++ ++
Ở Việt Nam xu hướng tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan thể hiện rõ Đó là tăng các trận mưa có cường độ lớn, tăng số trận bão đổ bộ vào Nam Trung Bộ, tăng các trận mưa do bão kết hợp không khí lạnh gây mưa rất lớn Bão phát sinh từ Thái Bình Dương và biển Đông
Trang 12có thể tăng 1 - 2 trận/năm, cấp bão tăng 1 - 2 cấp, thời kỳ tái diễn cùng một cấp bão giảm 20 - 50%
Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, ở Việt Nam EnNino gây hệ quả như sau: 1- Tần số bão và áp thấp nhiệt đới giảm, từ 5,9 xuống 5,3 cơn/ năm; 2- Mùa nóng dài hơn, nhiệt độ không khí tăng (rõ rệt nhất là ở phía Nam); 3- Mùa mưa ngắn, bắt đầu chậm, kết thúc sớm, lượng mưa các tháng đa phần giảm, đặc biệt là vào mùa hè ở Bắc Trung Bộ Hạn nghiêm trọng thường xảy ra trong thời kỳ EnNino, đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam, gây hệ quả xấu cho các hệ sinh thái tự nhiên và tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Trong
kỳ EnNino 1997 - 1998, hạn hán gây thiệt hại cho nền kinh tế 5.000 tỷ đồng
LaNina gây hệ quả như sau: 1- Tần số bão và áp thấp nhiệt đới tăng mạnh, từ 5,9 lên 8,3 cơn/năm; 2- Nhiệt độ miền Bắc lạnh hơn, miền Nam nóng hơn ; 3- Mùa nóng ngắn hơn, mùa đông dài hơn 5 - 16 ngày; Lũ lụt thường nghiêm trọng
Vào năm 2070, ước tính nhiệt độ không khí sẽ tăng 1,5 - 2,5oC, lượng dòng chảy trung bình năm có thể giảm 5%, gây nguy cơ thiếu nước cấp Trong khi đó, lượng mưa ở tâm bão tăng 20%, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tăng 5 - 10% ở Bắc Bộ, 10 - 15% ở Bắc Trung Bộ,
15 - 20% ở Nam Trung Bộ Do đó khả năng xảy ra lũ lớn và lũ quét cũng tăng
Ước tính lưu lượng đỉnh lũ ở các lưu vực vừa và nhỏ sẽ tăng như sau: 3 - 7% ở Bắc Bộ, 7
- 12% ở Bắc Trung Bộ, 12 - 15% ở Nam Trung Bộ
6.1.6 Nhu cầu về nước
Nhu cầu tiêu thụ nước những năm 90 ước tính khoảng 50 tỷ m3/năm, trong đó nông nghiệp sử dụng 92 %, công nghiệp 5% và sinh hoạt 4% Gần 84% lượng nước khai thác từ nguồn nước dưới đất được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp, tuy nhiên mức khai thác này vẫn đảm bảo dòng chảy môi trường thấp nhất của các sông ngòi (30% dòng chảy năm thấp nhất)
Việt Nam là nước Đông Nam Á chi phí nhiều nhất cho thủy lợi Cả nước hiện có 75 hệ thống thủy nông, với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ, đập nhỏ, 1.000 cống tiêu, trên 2.000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10.000 máy bơm các loại, có khả năng cung cấp 60 - 70 tỷ m3/năm Tuy nhiên, nhiều hệ thống thuỷ nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được
50 - 60% công suất thiết kế
Từ năm 1998 diện tích được tưới tăng trung bình mỗi năm khoảng 3,4%, nhưng các hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứng cho 7,4 triệu ha (bằng khoảng 80% tổng diện tích đất trồng) Năm 2000 nông nghiệp tiêu thụ 76,6, tỷ m3 nước, chiếm 84% tổng nhu cầu
Tổng nhu cầu TNC
Trang 13Tăng dân số và đô thị hoá dẫn đến tăng mạnh nhu cầu nước và tăng xả thải ô nhiễm Tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá cũng làm tăng nhu cầu nước và tăng xả thải ô nhiễm Tăng giá trị bất động sản và đất đai, tăng mật độ dân số, tăng dân trong các vùng rủi ro cao làm tăng rủi ro tài chính và kinh tế gắn liền với lũ lụt, tăng nhu cầu đầu tư cho nhóm nghèo nhất
Việt Nam có tài nguyên nước dồi dào, nên trong tương lai gần nhu cầu lượng nước dùng vẫn nằm trong khả năng cung cấp bền vững Tuy nhiên, do nước phân phối theo không gian
và thời gian không đồng đều, không đồng pha với biến trình nhu cầu, nên đã có những vùng chịu tác động bất lợi của việc thiếu nước sinh hoạt, sản xuất trong mùa kiệt Tuy hạn hán không kéo dài, nhưng các đợt hạn thường rất nghiêm trọng, gây thiếu nước cho tưới, thuỷ điện và cấp nước Miền Trung Việt Nam đã có biểu hiện hoang mạc hoá và hạn hán xảy ra thường xuyên trong thập kỷ trước Duyên hải Nam Trung Bộ là khu vực hay bị hạn hán nhất Tại Tây Nguyên, từ năm 1980, hạn hán xảy ra thường xuyên với tần suất hạn khốc liệt 5 năm/lần Năm 2003 lưu lượng nước trong tất cả các sông suối ít hơn 20 - 50 % so với cùng kỳ
2002 Mực nước hồ chứa xuống dưới mực nước chết, gương nước ngầm hạ thấp từ 1,5 - 2m đến 3 - 4m, gây thiếu nước sinh hoạt cho hàng trăm nghìn hộ dân Năm 2002 hạn nghiêm trọng ở duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Ngoài thiệt hại về mùa màng, hạn còn góp phần gây cháy rừng diện rộng, trong đó có trận cháy 5.000 ha rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở Việt Nam đang là vấn đề nan giải do những khó khăn tự nhiên và kinh tế xã hội của vùng 76,6% dân số Việt Nam đang sinh sống
ở nông thôn, trong những điều kiện rất hạn chế về việc cấp thoát nước trên 50% hộ dân đang dùng nước giếng khơi, 25% dùng nước sông suối, trên 10% dùng nước mưa Ước tính, mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn quốc gia
Theo Uỷ ban Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, nông thôn Việt nam có thể chia thành 5 vùng cấp thoát nước cơ bản như sau:
Vùng ven biển, chạy dài từ Móng Cái đến Hà Tiên, bao gồm 91 huyện với diện tích tự nhiên 2,4 triệu ha, có trên 14 triệu dân Nguồn nước ngọt cũng như việc cấp nước ở đây rất khó khăn, nước mặt và nước ngầm sát đất bị nhiễm mặn, đất chủ yếu thuộc loại cát và cát pha, không thể xây dựng hồ chứa
Vùng nội đồng, nằm giữa ven biển và trung du, bao gồm 126 huyện, đất đai màu mỡ, 26 triệu dân Dân đông, ở phân tán không theo quy hoạch, khó tổ chức hệ thống cấp nước tập trung Nguồn nước sinh hoạt ở đây chủ yếu từ nước mưa, nước sông ngòi, hồ ao, giếng khơi lấy nước mạch ngang có chất lượng xấu như nước mặt
Vùng bán sơn địa, cao 25 - 300m, gồm 70 huyện, diện tích 5 triệu ha, đất khô cằn, trơ trụi, bị rửa trôi, bạc màu, chua và nghèo dinh dưỡng Dân số 8,5 triệu người, sống tập trung ở