PHẦN 2: NỘI DUNGChương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS 1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ 1.1 Nghiên cứu thái độ ở trong nước
Trang 1MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Các phương pháp nghiên cứu 2
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 2
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 3
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn 3
6.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 3
PHẦN 2: NỘI DUNG 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS 4
1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ 4
1.1 Nghiên cứu thái độ ở trong nước 4
1.2 Nghiên cứu thái độ ở ngoài nước 4
1.2.1 Ở Liên Xô và cộng hoà dân chủ Đức 4
1.2.2 Ở Phương Tây 6
2 Những cơ sở lý luận của đề tài 8
2.1 Lý luận về thái độ 8
2.1.1 Các lý thuyết về thái độ 8
2.1.2 Khái niệm thái độ 10
2.1.3 Cơ chế hình thành thái độ 11
Trang 22.1.4 Cấu trúc thái độ 12
2.1.5 Chức năng thái độ 13
2.1.6 Phân loại thái độ 14
2.1.7 Sự thay đổi của thái độ 14
2.1.8 Quan hệ giữa thái độ và các khái niệm có liên quan 16
2.2 Những vấn đề lý luận chung về thanh niên 19
2.2.1 Khái niệm “Thanh niên” 19
2.2.2 Những đặc điểm nhân cách chung của thanh niên 20
2.3 Những vấn đề lý luận chung về HIV/AIDS 26
2.3.1 Thuật ngữ “HIV/AIDS” 26
2.3.2 Các phương thức lây truyền HIV 27
2.3.3 Các biện pháp phòng lây nhiễm HIV 29
2.3.4 Hậu quả của HIV/AIDS mang lại 30
2.3.5 Thực trạng HIV/AIDS ở nước ta hiện nay 31
2.4 Lý luận về công tác phòng, chống HIV/AIDS 33
2.4.1 Khái niệm công tác phòng, chống HIV/AIDS 33
2.4.2 Nội dung……… 33
2.4.3 Các hình thức phòng, chống HIV/AIDS 34
2.5 Khái niệm “Thái độ của thanh niên đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS” 36
Kết luận chương 1 Chương 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
1 Tổ chức nghiên cứu 38
1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 38
1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 38
Trang 32 Phương pháp nghiên cứu 38
2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiển 38
2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 38
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 44
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 44
Kết luận chương 2 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 46
3.1 Đánh giá chung về thái độ của thanh niên quận Liên Chiểu,Tp Đà Nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS ……… 46
3.2 Thái độ của thanh niên quận Liên Chiểu đối với công tác phòng chống HIV/AIDS thể hiện qua các mặt……….48
3.21 Thái độ của thanh niên đối với công tác phòng chống HIV/AIDS biểu hiện ở mặt nhận thức……… 48
3.2.2 Thái độ của thanh niên đối với công tác phòng chống HIV/AIDS biểu hiện ở mặt xúc cảm 52
3.2.3 Thái độ của thanh niên đối với công tác phòng chống HIV/AIDS thể hiện ở mặt hành vi 56
Kết luận chương 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận 62
2 Kiến nghị 62 Phụ lục.
Tài liệu tham khảo.
Trang 4PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Thanh niên được xem là “ rường cột của nước nhà”, là thế hệ hứa hẹnđem đến sự đổi thay to lớn cho đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai.Tuy nhiên hiện nay có một bộ phận thanh niên trước sự cám dỗ từ cuộc sống đã
sa ngã vào các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy…mà dần quên đi trách nhiệm
to lớn của họ với gia đình và tổ quốc Sự sa ngã của họ vào các tệ nạn xã hội nàylàm nguy cơ mắc HIV/AIDS trở nên rất cao HIV/AIDS đang biến những thanhniên khỏe mạnh, giàu lý tưởng, nhiệt huyết cống hiến cho xã hội và đất nướcthành những con người gầy gồm, ốm yếu về thể chất và chết dần chết mòn vềtinh thần Họ sống thờ ơ với xã hội, quay lưng lại với xã hội đã nuôi dưỡng họkhôn lớn
HIV/AIDS đang phát triển rất nhanh tại nước ta hiện nay cùng với các tệnạn xã hội khác, nó như hồi chuông cảnh báo cho sự phát triển của đất nước, nóđang dần giết đi thế hệ tương lai của đất nước chỉ vì một phút nông nỗi, thiếuhiểu biết để rồi phải trả giá bằng cả cuộc đời Vì vậy để ngăn chặn làm giảm sựphát triển của căn bệnh này thì công tác phòng chống HIV/AIDS là điều tất yếu.Thái độ của mọi người nhất là thanh niên là một trong những nhân tố chủ quanqui định hiệu quả của công tác phòng chống HIV/AIDS, nó vừa là mục đích vừa
là điều kiện của công tác phòng chống HIV/AIDS, giúp cho thanh niên nhậnthức đúng đắn về HIV/AIDS cũng như mức độ nguy hiểm của HIV/AIDS có thểmang lại cho chính bản thân thanh niên, gia đình và toàn xã hội
Tuy nhiên hiện nay có một bộ phận thanh niên vẫn chưa có thái độ tíchcực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS và cho rằng đây là vấn đề của các
tổ chức xã hội, của các nhà chức năng, không phải là vấn đề của riêng họ và họkhông cần phải quan tâm nhiều Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu
về thái độ, nhưng có rất ít công trình nghiên cứu về thái độ của thanh niên đốivới công tác phòng chống HIV/AIDS Đây cũng chính lý do để tôi quyết định
Trang 5chọn đề tài “thái độ của thanh niên quận Liên chiểu,TP Đà nẵng đối với côngtác phòng chống HIV/AIDS”
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng đối với công tácphòng chống HIV/AIDS
4 Giả thuyết khoa học
Đa số thanh niên quận Liên Chiểu, TP Đà nẵng có thái độ tích cực đối vớicông tác phòng chống HIV/AIDS Tuy nhiên vẫn còn 1 số ít thanh niên chưa cóthái độ tích cực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về vấn đề thái độ của thanh niên quận Liên chiểu, TP
Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS Xây dựng cơ sở lý luận cầnthiết cho việc thực hiện đề tài
5.2 Tìm hiểu thực trạng thái độ đối với công tác phòng chống HIV/AIDS củathanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng và phân tích các điều kiện nguyên nhânảnh hưởng đến thực trạng này
5.3 Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn đề xuất 1 số biện pháp hình thành vànâng cao thái độ tích cực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS cho thanhniên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng
Trang 66 Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
6.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Trang 7PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA THANH
NIÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ
1.1 Nghiên cứu thái độ ở trong nước
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thái độ nói chung, thái độ xãhội nói riêng còn ít, nhiều chịu ảnh hưởng của Tâm lý học Liên Xô Tuy nhiên,gần đây các quan niệm của Tâm lý học Phương Tây về thái độ đã bắt đầu đượccác nhà Tâm lý học Việt Nam chú ý Có thể kể tới một vài tác giả như: “Thái độđối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Học Viện Ngân Hàng,phân viện Thành phố Hồ Chí Minh” (Lê Thị Trang - luận văn thạc sĩ), “Thái độcủa sinh viên Đại học luật Hà Nội đối với vịêc bảo vệ môi trường tự nhiên” (ChuLiên Anh - luận văn thạc sĩ) Nhìn chung các nghiên cứu đều mang tính thực tiễn
ở qui mô nhỏ Việc nghiên cứu thái độ mới chỉ bắt đầu thu hút sự chú ý của cácnhà nghiên cứu Việt Nam
Như vậy, Thái độ được các nhà Tâm lý học nghiên cứu dưới nhiều góc độkhác nhau, các tác giả đã dựa vào nhiều tiền đề lý thuyết khác nhau và đã xemxét thái độ với những mục đích khác nhau
1.2 Nghiên cứu thái độ ở ngoài nước.
1.2.1 Ở Liên Xô và cộng hoà dân chủ Đức
- Thuyết tâm thế: Ở Liên Xô (cũ) việc nghiên cứu thái độ chủ yếu dựa
trên nền tảng của Tâm lý học hoạt động (A.N Leonchiev) và Tâm lý học tâmthế Các nghiên cứu theo trường phái tâm thế ít sử dụng khái niệm “thái độ” màhay dùng khái niệm tương đương là “tâm thế xã hội” khi giải thích hành vi xãhội của cá nhân
Trang 8Trong một cuốn từ điển Tâm lý học Nga, thái độ được coi là “tâm thế xãhội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp bao gồm thành phần nhận thức, tìnhcảm, hành vi”
- Thuyết thái đô – nhân cách: A.Ph.Lazurxki là người đầu tiên đề xuất
việc nghiên cứu thái độ trong Tâm lý học Xô viết khi ông nghiên cứu tính cách.Theo A.ph.Lazurxki, khía cạnh quan trọng của nhân cách là thái độ của cá nhânđối với môi trường, theo nghĩa rộng bao gồm giới tự nhiên, sản phẩm lao động
và những cá nhân khác, các nhóm xã hội và những giá trị tinh thần như khoahọc, nghệ thuật A.Ph.Lazurxki đặc biệt chú ý đến thái độ cá nhân đối với nghềnghiệp, với lao động, với sở hữu, với người khác và xã hội Các thái độ này đượcông coi là chủ đạo khi định nghĩa tính cách và phân loại nhân cách
Sau này dựa trên tư tưởng của A.Ph.Lazurxki và xuất phát từ lập trườngMacxit, V.N.Miaxisev đã đề ra thuyết tâm lý và thái độ chủ quan của cá nhân –
đó là thuyết “thái độ nhân cách”
V.N.Miaxisev đã coi nhân cách như một hệ thống thái độ Ông viết :
“Thái độ dưới dạng chung nhất là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân, cóchọn lọc, có ý thức của nhân cách với khía cạnh khác nhau của hiện thực kháchquan Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển của con người, nó thểhiện khái niệm cá nhân và qui định hành động và các thể nghiệm của cá nhân từbên trong” Như vậy, theo V.N.Miaxisev, dưới góc độ Tâm lý học, thái độ làđiều kiện khái quát bên trong của hệ thống các hành động của con người Thái
độ có các tính chất cơ bản là: tính có ý thức, tính trọn vẹn, tính có hệ thống Tuynhiên, V.N.Miaxisev lại cho rằng: nhu cầu, hứng thú, tình cảm, ý chí, thị hiếu,tính cách, các quá trình tâm lý, sự đánh giá đều là thái độ Ông viết: “Tất cả cácdạng hoạt động tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có thể xem như một dạng nào đó củathái độ”
Như vây, với “thuyết thái độ nhân cách”, V.N.Miaxisev là một trongnhững người đặt nền móng cho Tâm lý học thái độ theo quan điểm Macxit Tuyvậy, “ Thuyết thái độ nhân cách” còn có một số hạn chế nhất định Nó chưa làm
rõ được ảnh hưởng qua lại giữa quan hệ xã hội với thái độ chủ quan của cá nhân
Trang 9đối với hiện thực khách quan Việc ông xếp các quan hệ xã hội ngang hàng vớithái độ, nhận thức, xúc cảm, ý chí, thị hiếu là chưa thỏa đáng Cũng như ông coimột loạt các hiện tượng tâm lý nêu trên là chưa có cơ sở khoa học.
- Thuyết định vị: Khắc phục các sai lầm của phương pháp nghiên cứu
thái độ và tâm thế là: chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trong môi trường
vi mô, Iađôp V.N đã phát triển khái niệm tâm thế và đưa ra ‘thuyết định vị”.Theo thuyết này, hệ thống định vị của cá nhân bao gồm tâm thế, tâm thế xã hội,
xu hướng cơ bản của hứng thú, hệ thống định hướng giá trị xã hội Như vây, tâmthế chỉ là một dạng định vị, điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trongnhững tình huống đơn giản Khi có sự gặp gỡ của nhu cầu, hệ thống định vị nàyđược sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao điều chỉnh hành vi xã hội của cá nhân.Trong một hệ thống định vị, định vị bậc cao có thể chi phối định vị bậc thấp
- Thuyết thái độ chủ quan: Khi nghiên cứu nhân cách, Ph.Lômôv đã
phân tích vai trò định hướng của giá trị, sự liên kết, sự ràng buộc Sự tình cảm,
ác cảm, hứng thú và các mặt khác trong nhân cách, từ đó ông cho rằng, kháiniệm chung nhất chỉ rõ các đặc điểm nêu trên của nhân cách là khái niệm “thái
độ chủ quan của cá nhân” Vì theo Lômôv, “thái độ” ở đây không chỉ là mốiquan hệ khách quan của cá nhân với xung quanh, mà còn bao hàm cả việc đánhgiá, biểu hiện hứng thú của cá nhân
- Theo quan điểm của tâm lý học Macxit: Thái độ là sự sẵn sàng của cá
nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn
có xu hướng rõ rệt, hình thành theo qui định nhất quán phương thức xử thế củacác cá nhân
Tóm lai, nhờ vận dung cách tiếp cận hoạt động và nhân cách trong nghiêncứu thái độ, gắn thái độ với xu hướng cá nhân, với các điều kiện hoạt động, coithái độ là một hệ thống có thứ bậc Tâm lý học Xô viết đã đưa ra cách lý giảihợp lý về thái độ, vị trí của thái độ trong cấu trúc nhân cách, về chức năng thái
độ trong điều chỉnh hành vi
1.2.2 Ở Phương Tây.
Trang 10Vấn đề thái độ thường xuyên là trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoahọc, gồm có 3 thời kỳ
- Thời kì đầu tiên ( từ năm 1918 đến chiến tranh thế giới thứ hai):
W.l.thomas và F.Znanecki (Mỹ), là những người đầu tiên sử dụng khái niệm thái
độ khi nghiên cứu sự di cư của công dân Ba Lan sang Mỹ, trong thời kỳ này, cáccông trình nghiên cứu tập trung vào định nghĩa, cấu trúc, chức năng, mối quan
hệ thái độ hành vi Đáng chú ý là có tác giả đã phát hiện không nhất quán giữathái độ và hành vi (nghịch lí Lapier)
- Thời kì thứ hai (từ chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm 50):
Nét đặc trưng của nghiên cứu thái độ trong thời kỳ này là sự hoài nghi của thái
độ trong việc nghiên cứu hành vi Vì lí do chiến tranh cộng với sụ bế tắc trong lýgiải các nghịch lý xãy ra khi nghiên cứu thái độ mà số lượng các công trìnhnghiên cứu thái độ trong thời kỳ này có sự giảm sút đáng kể
- Thời kì thứ ba (từ cuối những năm 50 đến nay): Đây là thời kì bùng nổ
các công trình nghiên cứu thái độ Tâm lý học xã hội, vấn đề thía độ có một vị tríxứng đáng Các nghiên cứu tiếp tục đưa ra những quan niệm mới về định nghĩa,cấu trúc, chức năng thái độ như M.Rokeach (1968), T.M Ostron (1969)
Vào thời kỳ này đã xuất hiện những “tiểu lí thuyết” giải thích mối quan hệthái độ, hành vi, các phương pháp nghiên cứu, hình thành thay đổi thái độ nhưthang đo thái độ, “ kĩ thuật lấn từng bước( Foot – in the door)”
Các lý thuyết về thái độ đã tìm các mối quan hệ giữa thái độ và hành vi
“Thuyết bất động nhận thức (leon festinger), “ thuyết tự thể”, “thuyết tự tri giác”
Kết quả trên cho thấy, khi nghiên cứu thái độ chủ quan của cá nhânAttitude, cách tiếp cận Tâm lý học Xô viết và Phương Tây có sự khác biệt cơbản Trong Tâm lý học Phương Tây, chúng được lý giải như là “cấu trúc lý luận”
mà ý nghĩa của nó thể hiện ở việc giúp đỡ cho hệ thống hoá các số liệu kinhnghiệm Các hiện tượng được lý giải có thể qui về các Attitude nhưng các cơ sởkhách quan của chúng không đựoc làm rõ Người ta khẳng định rằng, sự thayđổi, xuất hiện các hiện tượng đó là sự ngẫu nhiên Khi nói đến cơ sở khách quancủa Attitude, đôi khi người ta cố tìm ra các thuộc tính di truyền, sinh lý cá nhân
Trang 11Theo nhà nghiên cứu Xô viết P.M.Shikhỉev việc nghiên cứu thái độ trong tâm lýhọc Phương Tây, một mặt càng có nhiều công trình và các phương pháp nghiêncứu thái độ, mặt khác bế tắc về phương pháp luận trong việc lý giải các số liệuthực nghiệm Dựa vào thuyết hành vi mới, Tâm lý học nhận thức và các thuyếtkhác, các nghiên cứu không giải thích được các mâu thuẫn giữa thái độ và hành
vi, tách rời thái độ khỏi hoàn cảnh xã hội và hoạt động
Xu thế chung của nghiên cứu thái độ hiện nay ở Phương Tây là nghiêncứu ứng dụng, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau
2 Những cơ sở lý luận của đề tài
2.1 Lý luận về thái độ
2.1.1 Các lý thuyết về thái độ
- Thuyết cân bằng của Heider: Heider (1944) cho rằng tìm hiểu nhận
thức hay quan điểm của con người về các mối quan hệ tạo ra điểm mấu chốt đểtìm hiểu hành vi xã hội Có một khuynh hướng rất mạnh ở con người thích thái
độ của mình luôn nhất quán với nhau Nếu thái độ của chúng ta không nhất quántheo Heider, trạng thái mất cân bằng nhận thức sẽ xảy ra, gây ra căng thẳng vàstress nhất định Thái độ không cân bằng sẽ khiến chúng ta căng thẵng khó chịu,
vì thế chúng ta cố lấy lại cân bằng trong một số cách Do đó, chúng ta tìm kiếm
sự cân bằng nhận thức giữa thái độ khác nhau của mình
Newcomb (1968) bổ sung lý thuyết cân bằng ban đầu của Heider, liênquan đến những người khác được xem là nguồn thông tin thích hợp trong bộ ba
ra sao Trong mô hình này sự mất cân bằng tạo ra sự căng thẳng trong một bộ bachỉ khi có sự liên quan cao Sử dụng mô hình của Newcomb một số nhà nghiêncứu nhận thấy chúng ta có thành kiến tích cực đối với bộ ba, chúng ta thích thái
độ tích cực nhiều hơn thái độ tiêu cực Chúng ta thấy bộ ba có thái độ tích cựcgiữa một cá nhân với một đối tượng thái độ dễ học và dễ nhớ hơn Điều này ápdụng thậm chí khi chúng ta so sánh mối quan hệ tích cực không cân bằng vớimối quan hệ tiêu cực cân bằng, mối quan hệ tích cực dễ hiểu hơn Mối quan hệtích cực không cân bằng có thể là mối quan hệ trong đó cả hai đều tích cực,nhưng có thể cả hai đều tiêu cực Bộ ba cân bằng có thể có mối quan hệ tiêu cực
Trang 12- Lý thuyết thái độ theo đánh giá xã hội: Một nhóm lý thuyết khác xem
thái độ như một hình thức đánh giá xã hội, giống như cách đoán vật lý khi chúng
ta đoán kích thước hay một vật gì đó trên đường cách xa bao nhiêu Nhưng lýthuyết này bắt nguồn từ công trình của Thurstone năm 1928, ông cho rằng conngười đánh giá một phát biểu đối với đối tượng bất lợi hay có lợi đến mức nào,đặc biệt không bị quan niệm cá nhân ảnh hưởng
- Lý thuyết đồng hoá tương phản: Trong khi Thurstone ngụ ý rằng con
người có thể đưa ra những phán đoán vô tư hoàn toàn độc lập về tính có lợi haybất lợi của nhiều thái độ khác nhau, thi Sherif và Hovland (1961) lập luận rằngcon người thường sử dụng kinh nghiêm cá nhân của riêng mình như một chuẩnđánh giá các phát biểu khác Vì thế phát biểu mà một người nhận thấy cá nhânmình chấp nhận được sẽ được đánh giá có lợi hơn - gần giống với lập trường củariêng họ - khi đánh giá phát biểu trên thang điểm chung chung hơn Điều này gọi
là tác dụng đồng hoá
Sherif và Hovland cũng dự đoán rằng sẽ có tác dụng tương phản, qua đóphát biểu sẽ được xem là cực đoan hơn nếu chúng khác biệt đáng kể với quanđiểm cá nhân của người nào đó Những phát biểu mà chúng ta đồng ý đối vớimột vấn đề cụ thể gọi là phạm vi chấp nhận Sherif và Hovland cho rằng phátbiểu rơi vào phạm vi chấp nhân của một người hoàn toàn hiệu quả trong việcthay đổi thái độ Vì con người có khuynh hướng đánh giá những phát biểu nàyhoàn toàn giống với quan niệm của riêng mình nên có nghĩa rằng họ dễ thay đổiquan niệm của riêng mình để phù hợp với phát biểu Chẳng hạn, một người phảnđối hình phạt tử hình nhưng cũng không chắc lắm Sau đó họ nghe phát biểu quảquyết về số trường hợp trong đó người ta phạm tội bị xử oan trong khi thực tế họ
vô tội Phát biểu này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến họ, qua điểm của cá nhân có lẽthay đổi phản ứng quyết liệt hình phạt tử hình Nhưng phát biểu như thế không
có tác dụng đối với một người kiên quyết ủng hộ hình phạt này vì nó rơi vàophạm vi phủ nhận của họ
Đối khi phát biểu rất cực đoan tạo ra tác dụng mà Sherif và Hovland gọi làmột tác động dội lại Sự tương phản được hình thành do sự khác nhau giữa phát
Trang 13biểu và giá trị của riêng cá nhân mạnh đến mức tạo ra sự thay đổi hoàn toàn tráingược với thái độ theo chủ ý Mặc dù hầu hết tác động dội lại là không phổ biến,chúng ta thường có khuynh hướng bị những phát biểu rơi vào phạm vi chấp nhậntác động vì chúng ta đang đồng hoá chúng dễ hơn.
2.1.2 Khái niệm thái độ
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ Tuỳ vào góc độnghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra định nghĩa của mình
G W.Allport đã đưa ra 5 đặc điểm của thái độ như sau: Thái độ là trạngthái của tinh thần và hệ thần kinh, thái độ là sự sẵn sàng phản ứng, thái độ làtrạng thái có tổ chức, thái độ là được hình thành trên kinh nghiệm của quá khứ,thái độ là điều khiển ảnh hưởng tới hành vi
Định nghĩa này được nhiều nhà Tâm lý học thừa nhận vì nó trả lời khá rõcác câu hỏi cơ bản như: thái độ là gì? nguồn gốc của thái độ? vai trò, chức năngcủa thái độ? Tuy nhiên tác giả lại đề cập đến vai trò của môi trường xã hội, nhucầu trong quá trình hình thành thái độ
Guilford (1964) – nhà Tâm lý học Mỹ đã dựa vào quan điểm nhân cáchnhư là cấu trúc độc đáo, có cấu trúc bao gồm 7 khía cạnh (nhu cầu, hứng thú, khíchất, năng lực, giải phẩu, hình thái, thái độ) để đưa ra khái niệm về khái độ.Theo ông: “Thái độ là những cử chỉ, phóng thái, ý nghĩ liên quan đến nhữnghoàn cảnh xã hội”
H.Fillmore định nghĩa: “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêucực đến đối tượng hay các kí hiệu (biểu tượng) trong môi trường thái độ sựđịnh hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấutrúc có tính cơ động”
Nhà Tâm lý học Mỹ Newcomb cho rằng: “Thái độ là thiên hướng hànhđộng, nhận thức, tư duy nhận cảm của cá nhân với khách thể có liên quan”
H.C.Triandis (1971) đã coi: “Thái độ là tư tưởng được hình thành từnhững xúc cảm, gây tác động đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất địnhtrong những tình huống xã hội Thái độ của con người bao gồm những điều
Trang 14người ta suy nghĩ và cảm thấy về đối tượng cũng như thái độ xử sự của họ đốivới nó”.
R.Martens cho rằng: “Thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tìnhhuống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hành vi bởi vìthái độ được xác định bằng tính thống nhất bên trong”
John Traver và đồng tác giả cho rằng: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy vàhành động tương đối lâu dài đối với việc hay con người nào đó”
Trong Tâm lý học xã hội Mỹ hiện nay, các tác giả thường có xu hướngnhấn mạnh khía cạnh nhận thức khi định nghĩa thái độ, chẳng hạn nhưDavid.G.Myers Tác giả này cho rằng: “Thái độ là phản ứng mang tính chấtđánh giá có thiện chí hay không có thiện chí về một điều gì đó, hay một ngườinào đó được thể hiện trong niềm tin, xúc cảm hoặc hành vi có chủ định”
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng phê chủ biên), thái độ được hiểu là cáchnghĩ, cách nhìn và cách hành động rheo một hướng nào đó trước một vấn đề.Trong cuốn từ điển Xã hội học có viết, “Thái độ là nền tảng ứng xử xã hội của
cá nhân, là một hoạt động tâm lý của cá nhân, bao hàm sự lý giải và biến đổi cáckhuôn mẫu xã hội qua kinh nghiệm của cá nhân”
Theo từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện, trước một đối tượngnhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khókhăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn, có những cơ cấu tâm lý tạo ra địnhhướng cho việc ứng phó Từ những thái độ có sẵn, tri giác về đối tượng, cũngnhư tri giác bị chi phối về vận động thì thái độ gắn liền với tâm thế
Theo Tâm lý học xã hội, thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân đểphản ứng với một tình huống gắn liền với một cá nhân đó Đối với một số nhàTâm lý học Việt Nam, khái niệm thái độ thường được quan niệm là biểu hiệncủa tính cách, là nội dung của tính cách, mà tính cách là thuộc tính của nhâncách Thái độ là phản ứng của con người với thực tiễn môi trường
Khái niệm thái độ hiểu một cách đầy đủ và phù hợp với bài nghiên cứunày như sau: “Thái độ là sự đánh giá bền vững, dương tính hoặc âm tính về conngười và sự vật hiện tượng” (Eagly & Chaiken, 1933; Olson & Zanna, 1933)
Trang 15Như vậy, theo chúng tôi thái độ là sự đánh giá bền vững dương tính, hoặc
âm tính về con người, sự vật hiện tượng
2.1.3 Cơ chế hình thành thái độ
Nhà tâm lý học người Đức M.Vorwerg và H.Hiebsch cho rằng thái độ
được hình thành thông qua 4 cơ chế tâm lý học xã hội sau:
- Bắt chước:
Đó là sự hình thành thái độ bằng con đường tự phát là học qua phươngthức hành vi hoặc phản ứng mà không cần sử dụng những kĩ thuật giáo dục theomột phương thức nào cả
- Đồng nhất hoá
Là sự bắt chước một cách tự giác, có ý thức, tức là quá trình chủ thể hoáthống nhất bản thân mình với cá nhân khác của nhóm này hay nhóm khác dựatrên mối liên hệ xúc cảm và đồng thời chuyển những chuẩn mực, giá trị vào thếgiới nội tâm của mình Hay nói cách khác đó là quá trình cá nhân tự đặt mìnhvào người khác để có những suy nghĩ và hành động như người khác
Trang 16xu hưóng hành động và hành động thực tế Phần nhận thức trong đề tài này thểhiện sự hiểu biết của thanh niên đối với HIV/AIDS và công tác phòng chốngHIV/AIDS; phần xúc cảm tình cảm thể hiện xúc cảm của các bạn đối với côngtác phòng chống HIV/AIDS; Phần hành vi là cách ứng xử của các bạn đối vớingười nhiễm HIV/AIDS, mức độ tham gia của các bạn đối với công tác phòngchống HIV/AIDS Ba thành tố trên tuy riêng lẻ, song nó có mối quan hệ mậtthiết với nhau
2.1.5 Chức năng thái độ
- Chức năng thích nghi: Con người thay đổi thái độ trước các tác động
của môi trường nhằm đạt được mục tiêu đề ra Thanh niên sẽ thay đổi thái độcủa mình trong công tác phòng chống HIV/AIDS nếu như được tuyên truyền cáckiến thức về HIV/AIDS, tham gia các hoạt động của công tác phòng chống HIV/AIDS
- Chức năng biểu hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn
lọc về đối tượng qua biểu lộ thái độ cảm xúc, hành động cũng như sẵn sàng hànhđộng cá nhân có thể biểu hiện giá trị nhân cách của mình Qua nhận thức củamình với các tình huống, họ thể hiện tình cảm của mình trước các tình huốngnhư: tức giận, vui mừng, sung sướng… biểu hiện qua các hành vi truớc các tìnhhuống này như cách ứng xử của họ…
- Chức năng tiết kiệm trí lực: Trước các tình huống họ ứng xử theo cách
quen thuộc họ vẫn thường làm
- Chức năng tự vệ: Thái độ giúp ta hiểu biết về thế giới mà ta đang sống,
đồng thời cung cấp sự nhất quán và làm rõ những giải thích của chúng ta về các
sự kiện Nhờ những tri giác có được về đối tượng mà chủ thể có cảm xúc, đánhgiá về đối tượng đó
- Chức năng thoả mãn nhu cầu: thái độ được hình thành như là kết quả
của những thành công hay thất bại trong quá khứ mổi con người sau khi đượchình thành, thái độ vẫn tiếp tục có ích trong công việc giúp con người thoả mãncác nhu cầu hoặc đạt được các mục đích
Trang 17- Chức năng điều chỉnh hành vi và hành động: Đây là chức năng mà các
nhà tâm lý học chú ý, quan tâm hơn cả, họ tập trung làm rõ các cơ chế, thực hiệncác chức năng của thái độ, tìm ra các điều kiện để các chức năng đó được thựchiện
Tóm lại: Trong nghiên cứu thái độ, do xuất phát từ những quan điểm khác
nhau về bản chất, cấu trúc, chức năng các nhà Tâm lý học đã định nghĩa thái độkhác nhau Điều đó cho thấy thái độ là một khái niệm khó định nghĩa Nguyênnhân của tình trạng này có thể do thái độ là khái niệm có tính chất tổng hợp, cấutrúc phức tạp và có biểu hiện đa dạng, trong khi các nhà nghiên cứu chưa khảosát được đầy đủ các khía cạnh của nó Để hiểu đầy đủ về thái độ cần phải nghiêncứu nó trong mối quan hệ đa dạng với các thuộc tính tâm lý khác, trong hoạtđộng và giao tiếp của cá nhân Theo quan điểm của tôi, nên coi thái độ nhưthuộc tính phức hợp của nhân cách, biểu lộ thuộc tính khác, thái độ như tínhcách trong hoạt động
2.1.6 Phân loại thái độ
Nghiên cứu về thái độ các nhà Tâm lý học đã tiến hành phân loại thái độ.Đứng ở các góc độ khác nhau các nhà Tâm lý học phân loại thái độ theo cáccách khác nhau
Dựa vào tính chất của thái độ V.N.Miaxisev đã chia thái độ thành các loại:Thái độ tích cực hay thái độ tiêu cực, thái độ trung tính hay phân cực Biểu hiệncủa nó có thể là phản ứng hoặc đánh giá thích hay không thích, đồng ý hay phảnđối
Dựa vào tính chi phối của thái độ B.Ph.Lomov đã chia thái độ thành hailoại: Thái độ chủ đạo hay thứ yếu Các loại thái độ chủ đạo (hay chi phối) là cácloại thái độ có liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá nhân, chiphối toàn bộ hệ thống thái độ
Ở đề tài này tối phân chia thái độ thành hai loại: Thái độ tích cực và thái độ tiêucực
2.1.7 Sự thay đổi của thái độ
Trang 18Có nhiều câu hỏi được đặt ra xung quanh việc nghiên cứu thái độ đó làliệu thái độ có thể thay đổi được hay không? Một trong những công trình nghiêncứu tổng quát nhất hơn 50 năm qua trong lĩnh vực này là khảo cứu Yale của nhàTâm lý học xã hội Hovland và cộng sự về thông điệp thuyết phục có tính hiệuquả Vì nhà nghiên cứu này đang làm việc cho trường đại học Yale nên gọi làquan điểm Yale về biến đổi thái độ.
Theo quan điểm Yale, người ta dễ có thay đổi thái độ nhất trước các thôngđiệp thuyết phục Vì vậy họ đã nghiên cứu tác dụng của truyền thông thuyếtphục, nghĩa là những người được nghiên cứu phải chịu nhận những truyền thông(biện luận) có sức thuyết phục ít hoặc nhiều xuất phát từ một hay nhiều nguồntruyền thông Cuối cùng sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông lên thái độcủa những người được thí nghiệm Sự phụ thuộc của độ lớn của sự thay đổi thái
độ và các đặc trưng của nguồn truyền thông, bộ truyền thông, sự truyền thông,bối cảnh truyền thông và nhóm mục tiêu cụ thể
Song song với các nghiên cứu Yale và nghiên cứu về hệ quả, người tacũng đã xây dựng lý thuyết cố gắn giải thích sự thay đổi thái độ
Thuyết đồng hoá tương phản của Sherif và Hovland: Coi sự thay đổi
thái độ là quá trình thụ cảm Thuyết này xuất phát điểm là các phán xét xã hội,
kể cả thái độ, là kết quả của sự so sánh Mổi người qui định những thụ cảm liênquan đến một đối tượng nhất định, vào một khoảng chấp nhận, dửng dưng hay từchối trên một thang đo tương ứng Nếu các bộ truyền thông rơi vào một khoảngchấp nhận thì chúng sẽ được coi là giống thực tế hơn được đánh giá là hợp quy
và không có định kiến và gây ra sự thay đổi thái độ Còn nếu các bộ truyềnthông rơi vào khoảng từ chối, thì người nhận sẽ thụ cảm chúng xa với công việccủa mình hơn là chúng vốn dĩ như vậy
- Sự thay đổi thái độ theo quan điểm nhận thức: Tác giả của thuyết này
cố gắng chỉ rõ xem yếu tố nào ảnh hưởng tới thái độ vẫn giữ nguyên, hơn thế nócòn vững hơn trước những nỗ lực gây ảnh hưởng trong tương lai nếu có trước đóngười ta đã buộc phải tìm hiếu các lý lẽ đã phản bác
Trang 19- Thuyết kháng cự của Brehm: Sẽ xảy ra hiệu ứng gậy ông đập lưng ông,
nếu người nhận cảm thấy bị bộ truyền thông bắt buộc phải tiếp thu ý kiến của nó
ở mức độ không thể chấp nhận được
- Lý thuyết về không đồng bộ trong nhận thức: Người ta đã biến đổi thái
độ bằng việc biến đổi hành vi Theo thuyết này, con người rơi vào trạng thái mấtđồng bộ khi họ làm một điều gì đó phương hại đến hình ảnh đàng hoàng của bảnthân, đặc biệt khi họ không có một cách lý rằng hành vi ấy do ngoại cảnh kháchquan Khi không tìm được lý lẽ bên ngoài để biện cho hành vi của mình thì họ cốtìm lý lẽ bên trong bằng cách đưa ra nhận thức và hành vi của họ đến gần vớinhau hơn và điều này đã dẫn đến một sự thay đổi trong thái độ Hiện tượng này
đề cập đến như một sự tán thành, một thái độ đối lập Tức là quá trình trong đóngười ta được thuyết phục công bố một ý kiến hay một thái độ đối lập là mộtcách thức mạnh mẽ để làm thay đổi thái độ một con người
Tóm lại: Thái độ là sự đánh giá bền vững của một người về một người
khác, sự vật, sự việc và các hiện tượng Tất cả các thái độ đều gồm thành tố:nhận thức, tình cảm, hành vi Có nhiều cách biến đổi thái độ: Biến đổi thànhphần nhận thức của thái độ hoặc biến đổi thành phần hành vi của thái độ Tuynhiên đa số các công trình nghiên cứu trên đều tập trung nghiên cứu biến đổithành phần nhận thức của thái độ Số công trình nghiên cứu sự biến đổi thái độbằng biến đổi thành phần hành vi của thái độ rất ít( lý thuyết về sự không đồng
bộ trong nhận thức)
2.1.8 Quan hệ giữa thái độ và các khái niệm có liên quan
Mối quan hệ giữa thái độ và ý thức cá nhân:
Ý thức là “ hình thức phản ánh bậc cao , đặc trưng của loài người, là nănglực nhận thức được phổ biến và cái bản chất trong hiện thực khách quan, đồngthời là năng lực định hướng, điều khiển một cách tự giác thái độ, hành vi, quan
hệ giữa con người với hoàn cảnh tự nhiên xã hội” Cấu trúc của ý thức gồm baphần: nhận thức, thái độ, sự năng động của ý thức
Chức năng của ý thức là định hướng, điều chỉnh, điều khiển hành vi hoạtđộng của con người Thái độ cũng là một nhận thứ, biểu hiện tính tích cực của
Trang 20mối quan hệ ngược lại của ý thức với hiện thực Tuy nhiên không phải lúc nào ýthức cũng điều khiển được thái độ Thái độ có thể biểu hiện bộc phát không ýthức, thái độ biểu hiện tự nhiên không ý thức, có thể thiếu ý thức hoặc không ýthức
Như vậy, thái độ và ý thức có quan hệ hữu cơ với nhau Thái độ phản ánhcác hiện tượng của thế giới khách quan có chọn lọc, đồng thời là hình thức tácđộng trở lại của con người đối với hiện thực Vì vậy khi nghiên cứu thái độ phảinghiên cứu thông qua ý thức và ngược lại
Mối quan hệ giữa thái độ và nhu cầu:
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của con người cần thoả mãn để tồn tại vàphát triển, là động lực đầu tiên thúc đẩy cong người hoạt động
Nhu cầu có vai trò quyết định tới sự phát triển của nhân cách, là nền tảngcủa động cơ, mục đích của hoạt động thúc đẩy cá nhân hành động để chiếm lĩnhđối tượng Khi nhu cầu được thoả mãn sẽ đồng thời củng cố các thành phần thái
độ của con người: quan điểm, nhận thức, cảm xúc, cách cư xử của đối tượngthoả mãn nhu cầu
Do thái độ được hình thành trên cơ sở của nhu cầu và tình huống thoả mãnnhu cầu Vì vậy, nhu cầu là nguồn gốc, là cơ sở bên trong của thái độ Đồng thờiphản ánh tính chất, cường độ, mức độ thoả mãn, thái độ nhu cầu
Như vậy, thái độ và nhu cầu có mối quan hệ thân thiết với nhau Vì thế,khi nghiên cứu thái độ cần xem xét đến các biểu hiện của nhu cầu
Mối quan hệ giữa thái độ và hứng thú:
Hứng thú là xu hướng chiếm ưu thế của cá nhân nhằm vào đối tượng nào
đó có ý nghĩa trong cuộc sống và tình cảm của nó Hứng thú là động lực thúcđẩy, duy trì hoạt động tích cực của cá nhân Hứng thú là một dạng thái độ đặcbiệt, chứa đựng những quan điểm cảm xúc, cách sử dụng quen thuộc với đốitượng Vì vậy, biết được cá nhân có hứng thú với đối tượng nào, đồng thờichúng ta biết được thái độ của họ đối với đối tượng đó
Hứng thú được hình thành thông qua các quá trình nhận thức: nhận thức ýnghĩa của đối tượng đối với cá nhân, hình thành cảm xúc tích cực, phương thức
Trang 21tác động của cá nhân với đối tượng Thái độ của cá nhân thể hiện rõ qua hứngthú Nếu hứng thú càng mạnh mẽ, ổn định thì càng củng cố thái độ.
Mối quan hệ giữa thái độ với hoạt động cá nhân: Hoạt động là phương
thức tồn tại của con người, là phương thức tác động có đối tượng, có mục đíchcủa con ngời với việc thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu trực tiếp hay gián tiếpcủa bản thân hay xã hội TLH Hoạt động đã xác định hoạt động là phạm trù cơbản, thể hiện tập trung nhất tâm lý con người “ bằng hoạt động trong hoạt độngmỗi cá thể người sinh thành ra mình, tự tạo ra nhân cách của mình”
Trong mối quan hệ hoạt động- nhân cách- thái độ, thì hoạt động là nhân tốtrực tiếp của sự hình thành nhân cách quy định thái độ của cá nhân đối với hiệnthực Vì vậy thái độ càng được hình thành và phát triển nếu như lĩnh vực được
mở rộng, và thái độ càng được củng cố vững chắc thì càng đảm bảo sự ổn định
Thái độ với xúc cảm, tình cảm.
Xúc cảm, tình cảm là sự biểu thị thái độ của cá nhân đối với các hiệntượng ra trong hiện thực khách quan hay trong cơ thể có liên quan mật thiết đếnviệc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của mỗi người Tình cảm là thuộctính tâm lý ổn định, thể hiện thái độ cá nhân đối với hiện thực xung quanh vàbản thân
So sánh thái độ và tình cảm thấy có những điểm giống nhau và khác nhausau
Giống nhau:
- Giống về nguồn gốc hình thành: Nhu cầu là nguồn gốc hình thành của
cả tình cảm và thái độ
- Giống về điều kiện xuất hiện: Tình cảm và thái độ đều xuất hiện khi có
sự gặp gỡ của nhu cầu và đối tượng thỏa mãn nhu cầu
- Giống nhau về chức năng: Đều giúp cá nhân thích nghi với môi trườngsống, điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân
- Giống nhau về các tính chất: Tính có ý thức, tính ổn định, tính chất xãhội
Khác nhau:
Trang 22- Về thành phần cấu trúc: Thái độ có 3 thành phần là nhận thức tình cảm
và hành vi, còn tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại Trongcấu trúc thái độ tình cảm là một thành phần quan trọng có ảnh hưởng tới thànhphần nhận thức và hành vi, sự thay đổi tình cảm với đối tượng thường kéo theo
sự thay đổi thái độ Như vậy, cấu trúc thái độ phức tạp hơn cấu trúc tình cảm
- Về phạm vi phản ánh: Tình cảm, xúc cảm phản ánh mối quan hệ củađối tượng với việc thoả mãn nhu cầu của con người, phân tích thái độ với đốitượng thông qua các rung cảm, trong khi đó thái độ không chỉ phản ánh nhữngthể nghiệm xúc cảm mà còn phản ánh nhận thức cũng như phương thức đối xửcủa cá nhân với đối tượng
2.2 Những vấn đề lý luận chung về thanh niên
2.2.1 Khái niệm “Thanh niên”.
TN là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách.Tùy theo nội dung tiếp nhận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người tađưa ra các khái niệm khác nhau
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi TN là một giai đoạn xác địnhtrong “tiến hóa” của cơ thể Dưới góc độ kinh tế học, TN được xem là lực lượnglao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lỉnh vực.Dưới góc độ xã hội học, TN là một khai niệm xã hội dùng chỉ một nhóm nhânkhẩu- xã hội với một độ tuổi xác định, với những đặc điểm tâm sinh lý đặc thù
và có vai trò đặc biệt quan trọng trong các lỉnh vực của đời sống xã hội
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểmtruyền thống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi TNkhác nhau Hầu hết các nước trên thế giới đều bắt đầu từ 15 hoặc 16 Còn TN kếtthúc ở độ tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25, có nước quy định
30 và thậm chí 40 Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổiTN
Liên hợp quốc định nghĩa TN là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếudựa trên cơ sơ phân biệt đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với cácnhóm lứa tuổi khác
Trang 23Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi TN đều được hiểu như tuổiđoàn viên (15 đến 28) Ngày nay, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội pháttriển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặcđiểm khác mà chúng ta cho TN là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30.
Dưới góc độ tâm lý, để nhìn nhận đánh giá TN một cách tương đối toàndiện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, trong phạm vi đề tàinày, TN được hiểu là giai đoạn phát triển nhất định được bắt đầu khi kết thúctuổi dậy thì và được kết thúc khi bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành
2.2.2 Những đặc điểm nhân cách chung của thanh niên
Giai đoạn này đã có sự trưởng thành về mặt giới tính, chấm dứt giai đoạncủa thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn xét trêncác mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt pháttriển khác về thể chất
Đến khoảng 25 tuổi sự phát triển về mặt thể chất của con người đã đạtmức độ hoàn thiện Điều này thể hiện ở chổ:
Trọng lượng não đạt mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên mức caonhất (14-16 tỉ), với chất lượng hoan hảo nhờ quá trình myelin hóa cao độ Sốlượng xinap của các tế bào thần kinh đảm bảo cho sự liên lạc rộng khắp, chi tiết,tinh tế và linh hoạt giữa vô số kinh làm cho hoạt động của não bộ trở nên chínhxác, nhanh nhạy đặc biệt hơn so với lứa tuổi khác
Đây là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương, cơ bắp, tạo ranét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên Các tố chất về thể lực như sức nhanh, sứcbền bỉ, sự dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của
Trang 24các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmon nam và nữ Tất cảnhững cái đó tạo điều kiện cho những thành công rực rở trong thể thao vànhững hoạt động nghệ thuật.
Sau 25 tuổi, mọi sự phát triển về thể chất đều dừng lại và khoảng 30 tuổithì bắt đầu có sự đi xuống
2.2.2.2 Đặc điểm hoạt động
Ở lứa tuổi này, hoạt động chủ đạo của thanh niên là học tập Hoạt độnghọc tập nhằm chiếm lĩnh những tri thức cũng như những phương thức của hoạtđộng nhận thức, hoạt động trí truệ vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng ở thanh niên.Hoạt động học tập của thanh niên, nhất là thanh niên sinh viên mang tính chấtchuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn, nhằm đào tạo chuyên gia, nhữngtri thức, những lao động lành nghề cho đất nước
Cùng với hoạt động học tập, ở lứa tuổi này còn một hoạt đọng khác, đó làhoạt động học nghề Đây là nền tảng toàn diện để thanh niên có thể trở thànhnhững chuyên gia lành nghề trong tương lai Nội dung học nghề trên nền tảngkiến thức toàn diện có sự phân hóa theo chuyên nghành Phương pháp học nghềcủa thanh niên cũng có những nét đặc trưng Học nghề chủ yếu là khoa học ứngdụng nên tính độc lập, sáng tạo cao và sự chỉ đạo hướng dẫn của giáo viên rất ít.Việc học nghề của thanh niên gắn với quyền lợi và nghĩa vụ Trong hoạt độnghọc nghề, hệ thống thứ bậc động cơ đã có tính ổn định, thông thường động cơnghề chiếm vị trí số một Như vây, trong hoạt động học tập, thanh niên cần thiếtphải lĩnh hội tri thức của các chuyên ngành khoa học, đồng thời nắm đượcnguyên tắc, cách thức, chuẩn mực nghề nghiệp để làm một chuyên gia sau này
Đó chính là những nét đặc trưng cho hoạt động học tập của thanh niên
Ở giai đoạn thanh niên, hoạt động lao động nghề nghiệp cũng là giai đoạnrất quan trọng trong việc hoàn thiện và phát triển nhân cách ở mỗi cá nhân
Trong hoạt động lao động, thông qua lao động, trước hết thanh niên tạo racác sản phẩm vật chất, tinh thần phục vụ chính các nhu cầu của bản thân và xãhội Sau đó, ở mỗi nghề nghiệp cụ thể sẽ hình thành những đặc điểm tâm lýriêng nhằm thích nghi với từng nghề, giúp cá nhân hoàn thiện công việc tốt hơn
Trang 25Tài sản đầu tiên mà thanh niên nhận được đó là hình thành những giá trị của bảnthân, xuất hiện khi chúng ta hoàn thành tốt một công việc có ích nào đó, tiếp đó
là quá trình hoàn thiện mình khi thanh niên hướng tới những công việc mới (saukhi hoàn thành tốt công việc trước đó), tạo niềm tin cho bản thân từ lao động Sựphát triển con người thông qua hoạt động lao động nghề nghiệp (bao gồm nănglực nghề nghiệp và đặc điểm tâm lý cá nhân…) diển ra theo nhiều giai đoạn.Trước hết, ở mỗi ngành nghề, phải có chuyên môn thông qua quá trình học tập
và học nghề Khi bắt tay vào công việc, giai đoạn này thanh niên chủ yếu thựchiện quá trình xuất tâm bằng những kiến thức đã học, từ sự kế thừa kinh nghiệmcủa những người đi trước truyền lại, hình thành các kinh nghiệm của bản thân từchính quá trình lao động của mình cũng như hình thành phong cách của ngườilao động (bao gồm những đặc điểm tâm lý riêng của cá nhân và tác phong làmviệc phù hợp với những chuẩn mực chung của nhóm:
- Hình thành động cơ nghề nghiệp: hiểu được ý nghĩa của nghề nghiệp,chấp nhận nghề đã chọn lựa và tạo động cơ ở cá nhân
- Hình thành được mục đích nghề nghiệp: giúp người lao động hình dungđược kết quả của công việc
- Hình thành cở sở thông tin nghề nghiệp
Họ có chính kiến đối với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng chính phủ,những tổ chức cầm quyền Do đó, hoạt động chính trị xã hội là nhu cầu, nguyệnvọng của thanh niên Việc tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội , đoàn thể xã
Trang 26hội vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhân cách toàn diện của họ,vừa góp phần không nhỏ vào sự thành công của các thể chế xã hội.
Ngoài những hoạt động trên, thanh niên cũng là nhóm tích cực tham giacác hoạt động mang tính chất văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao… nhữnghoạt đông này luôn hấp dẫn, thu hút tham gia của nhiều thanh niên để thõa mãnnhu cầu giao lưu phong phú cũng như nhu cầu rèn luyện toàn diện của họ
Bao trùm lên tất cả các hoạt động trên của thanh niên là những quan hệgiao lưu, giao tiếp với hàng loạt quan hệ xã hội đan xen nhau Những mối quan
hệ giao lưu này mang tính phức hợp giữa cá nhân người thanh niên với các bạn
bè cùng lứa, cùng giới, khác giới, các tổ chức, các nhóm xã hội tực tiếp và giántiếp…Hoạt động giao lưu này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển đờisống tâm lý, nhân các của thanh niên
2.2.2.3 Đặc điểm về khả năng nhận thức
Lứa tuổi này là lứa tuổi mà các quá trình cảm giác, tri giác, chú ý, ghi nhớ,
tư duy, tưởng tượng đã hoàn thiện và có bước phát triển về thể chất, nên có khảnăng phản ánh đúng đắn, chính xác hơn các sự vật và hiện tượng của thế giớikhách quan Nếu được giáo dục, đào tạo, rèn luyện tốt, sẽ đạt được trình độ caocủa hoạt động trí tuệ
- Tri giác, chú ý, ghi nhớ có chủ định chiếm ưu thế Tính chất chủ độngcủa chú ý đã biểu hiện rõ ràng và thường xuyên trong quá trình học tập và tronghoạt động Ghi nhớ có ý nghĩa dần thay thế cho sự ghi nhớ máy móc và càngchiếm ưu thế Những đặc điểm này tạo nên điều kiện thuận lợi để cho thanhniên đi sâu vào khoa học, nghĩa là đi sâu vào được những khái niệm, những quyluật phức tạp của tự nhiên và xã hội
Tưởng tượng rất phong phú và có tính chất liên tục hơn so với thiếu niên,năng lực tưởng tượng sáng tạo tốt Sở dĩ như vậy là vì do kinh nghiệm sinh hoạtphong phú và nói chung là xác đáng và do trình độ văn hóa chung đã cao Nhờ
có năng lực tưởng tượng sáng tạo tốt như vậy, thanh niên có điều kiện thuận lợi
để học tập tốt Tưởng tượng sáng tạo đã trở thành những nhân tố trọng yếu trong
Trang 27những hoạt động sáng tạo của thanh niên Tuổi thanh niên là tuổi có những ước
mơ phong phú và mãnh liệt
- Ở thanh niên năng lực tư duy khoa học, khả năng phân tích tổng hợp, sosánh, trừu tượng, khái quát phát triển mạnh, do đó họ có khả năng lĩnh hội đượcnhững tri thức mới nột cách dễ dàng và thuận lợi hơn Họ lập luận các vấn đề cótính chất mạnh mẽ, nhất quán và có căn cứ khoa học hơn
- Ngôn ngữ đã phát triển phong phú cả về vốn từ ngữ và trình độ ngữpháp, có phong cách ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ nghệ thuật
- Năng lực hoạt động tri tuệ càng phát triển sẽ càng làm cho thanh niênchủ động sáng tạo đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống Có thể nói hoạt độngsáng tạo là nét đặc trưng tiêu biểu của tâm lý thanh niên, nhờ đó họ có thể đạtđến trình độ cao của sự phát triển khoa học và công nghệ, của văn học văn nghệthuật…Vì vậy, cần phải thường xuyên giúp thanh niên bồi dưỡng vào làm phongphú vốn tri thức và phương pháp, kỹ năng hoạt động trí tuệ, bên cạnh đó hãy tạođiều kiện để họ bộc lộ khả năng sáng tạo của mình
Tuy nhiên, ở thanh niên về mặt nhận thức cũng còn một số hạn chế sau:
- Do nhận thức nhanh, nhạy cảm với sự vật và hiện tượng có liên quan đếnbản thân mình cho nên dẫn thanh niên đến chổ chủ quan, nhận thức thiếu sâusắc, đôi khi nhận thức vấn đề còn phiến diện
- Trong điều kiện hiện nay, nhiều bạn rất ngại tìm hiểu tình hình thời sựtrong và ngoài nước và một bộ phận thanh niên còn có tư tưởng ngại học tập vănhóa, không có chí tiến thủ
2.2.2.4 Đặc điểm về đời sống tình cảm
Đặc điểm chung và nổi bật về tình cảm là phong phú, sâu sắc, có cơ sở lýtính khá vững vàng Trong đời sống của thanh niên, tình cảm luôn gắn liền với lýtrí, có mục đích rõ ràng và chịu sự của tình cảm cấp cao như: tình cảm xã hội,tình yêu tổ quốc, yêu nhân dân…
Tình cảm đạo đức của thanh niên đã đạt đến trình độ rất cao Nó gắn liềnvới sự hiểu biết những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức Nhờ đó thanh niên cóthể đánh giá đúng được tình cảm của mình cũng như của người khác Khi tình
Trang 28cảm của thanh niên phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức thì cảm thấy sungsướng, hài lòng và coi đó là có giá trị Nếu tình cảm của thanh niên không phùhợp với những tiêu chuẩn đạo đức thì họ cảm thấy băn khoăn, ân hận và cố gắngkhắc phục Đó là điều quan trọng của việc tu dưỡng.
Ở thanh niên tình đồng chí và tình bạn thường chiếm vị trí quan trọngtrong đời sống tình cảm
Tình yêu- một loại tình cảm đặc biệt giữa nam và nữ, ở thanh niên đã có
cơ sở để hình thành và phát triển Nó giữ vị trí đáng kể trong đời sống tình cảmcủa thanh niên Cơ sở của tình yêu lứa đôi là sự cảm mến, hiểu biết, tôn trọng vàgiúp đỡ lẩn nhau, giúp nhau khắc phục những khuyết nhược điểm, tạo cho thanhniên một bản lĩnh nhiều mặt để tiến tới hôn nhân, xây dựng gia đình hạnh phúc.Song nó cũng dễ nên những ưu phiền thậm chí đau khổ lâu dài, làm cản trở việchọc tập cũng như công tác Trong những trường hợp đó, thông qua các sinh hoạtđoàn thể cần giáo dục cho thanh niên có nhân sinh quan cách mạng, có quanniệm đúng đắn về tình yêu; cần có thái độ tế nhị thông cảm, tuyệt đối tránhnhững biện pháp hành chính, lối can thiệp thô bạo, làm tổn thương nhân cáchcủa thanh niên
2.2.2.5 Đặc điểm tính cách
+ Sự phát triển ý chí đã đạt tới một trình độ khá cao Trong quá trình hoạtđộng, vai trò của suy nghĩ chín chắn đã được nâng cao một cách rõ rệt Do sựphát triển của ý chí, thanh niên thường có yêu cầu chặt chẽ đối vối mình, nghiêmkhắc đòi hỏi bản thân hơn trước Điều này biểu hiện rõ rệt ở chổ họ có đượcnhiều phẩm chất ý chí tốt đẹp
- Tính độc lập của thanh niên cũng phát triển mạnh mẽ, biểu hiện trongquá trình học tập và công tác Thanh niên thường tỏ ra là người tự chủ có nănglực kiềm chế Trong mọi hoạt động thanh niên thể hiện tính tích cực hoạt độngcủa mình và khi gặp khó khăn thường có tinh thần vượt khó Khi được chỉ dẫnđúng đắn và cổ vũ trong công tác, học tập, trong lao động, thanh niên sẽ hoànthành tốt nhiệm một cách tốt đẹp
Trang 29- Tính tổ chức và tính kỷ luật cũng tăng tiến rõ rệt Đồng thời cũng là lứatuổi giàu lòng quả cảm, hăng hái, hoạt bát, gan dạ, dũng cãm Tất nhiên cũngkhông tránh những hành động hơi mạo hiểm, liều lĩnh.
Sự phát triển ý chí đã giúp cho thanh niên biết tự đánh giá mình, họ cótinh thần tự trọng cao, có tính khiêm tốn, có thái độ tự phê bình đúng đắn
+ Lý tưởng của thanh niên là nói tới một vấn đề rất lớn và rất quan trọng
về khuynh hướng của họ Nói chung xu hướng và lý tưởng của thanh niên đãphát triển tới một mức khá cao, mang tính chất khái quát và thường thể hiện mộtcách rõ rệt trong hoạt động hàng ngày Họ thường học tập những đức tính điểnhình, nghĩa là bắt chước những nét tính cách tôt đẹp, bắt chước nội dung, hìnhmẫu lý tưởng của mình Việc so sánh bản thân mình với hình mẫu lý tưởngcũng có những nét đáng chú ý, thanh niên đem bản thân mình so sánh và nghĩđến một vấn đề quan trọng là làm thế nào để có được những hành động cao đẹpcủa con người có lý tưởng Chính vì vậy, trong quá trình theo đuổi lý tưởng củamình thường chăm lo đến việc tu dưỡng bản thân Sở dĩ có được đặc điểm đó là
vì thanh niên đã có ý thức bản thân khá rõ rệt, khá sâu sắc Tuy nhiên, bên cạnhnhững điểm mạnh, chúng ta thường thấy có một số nhược điểm đáng lưu ý Đó
là thể lực và trí lực dồi dào do đã có được một só kinh nghiệm sống, do trình độhiểu biết được nâng cao, họ có thể dễ sinh ra tự phụ, đánh giá cao khả năng củamình Lứa tuổi này cũng là lứa tuổi giàu ước mơ, giàu lòng quả cảm Song nhiềukhi họ muốn đốt cháy giai đoạn, có thái độ nôn nóng đối với công việc Bêncạnh đó, nếu thực tế khách quan không đáp ứng với lòng nhiệt tình của thanhniên, hoặc sự thiếu hiểu suy tính cặn kẻ, họ có thể bị vấp váp, dễ đến bi quan,mất phấn khởi Tình trạng không ổn định cũng là chổ yếu của thanh niên
2.3 Những vấn đề lý luận chung về HIV/AIDS
Trang 30là SIDA (viết tắt từ tiếng Pháp: Syndrome d'Immuno Deficience Acquise),nhưng do tên này trùng với tên của Tổ chức phát triển quốc tế Thụy Điển SIDA
và tên của Tổ chức CIDA (Canađa) cũng gọi là "Si đa" nên thống nhất gọi làAIDS để tránh nhầm lẫn và phù hợp với tên quốc tế
AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra HIV phá huỷ các tế bào của hệmiễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn vànấm gây bệnh Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội
mà bình thường có thể đề kháng được
2.3.2 Các phương thức lây truyền HIV
Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn gây bệnh duy nhất.Không có ổ chứa HIV trong giới động vật Tất cả mọi người có thể có cảm thụvới HIV
HIV đã được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo,nước bọt, nướcmắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể Nhiều nghiên cứu về dịch tểhọc và xét nghiệm cho thấy chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vaitrò quan trọng trong việc làm lan truyền HIV Do đó chỉ có 3 phương pháp làmlan truyền HIV:
-Lây truyền theo đường tình dục
Cách lan truyền HIV quan trọng nhất là qua giao hợp với người bị nhiễmHIV Sự lan truyền xảy ra do kết quả của sự giao hợp âm đạo – dương vật từnam sang nữ và từ nữ sang nam Càng có quan hệ tình dục với nhiều người,nguy cơ nhiễm HIV càng cao, HIV cũng có thể lan truyền qua đường giao hợpdương vật - hậu môn ở những người tình dục đồng giới nam và người nhận tinhdịch có nguy cơ nhiễm HIV nhiều hơn người không nhận
Nhưng với những vết sước nhỏ (không nhận thấy bằng mắt thường) trên
bề mặt của lớp niêm mạc âm đạo, hậu môn hay dương vật có thể xảy ra trong lúcgiao hợp sẽ là đường vào của vi rút và từ đó vào máu Nguy cơ nhiễm HIV quamột lần giao hợp với người đã nhiễm HIV là từ 1% đến 10% Không có bằngchứng nào đáng tin cậy về sự lan truyền HIV qua đường sinh dục - miệng
Trang 31Phương thức tình dục - miệng bộ phận có thể lây truyền HIV nhưng hiệnnay người ta có ít tài liệu để xác định nguy cơ của phương thức tình dục này.Hôn không có nguy cơ lây truyền HIV Về mặt lý thuyết người ta cho rằng hônsâu và mạnh có thể làm lây truyền HIV.
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho rằng những bệnh lây truyền theođường tình dục có liên quan với nguy cơ lây truyền HIV Đặc biệt là những bệnh
có viêm loét đường sinh dục như lậu, giang mai có thể làm tăng cảm thụ vớinhiễm khuẩn hay làm tăng khả năng lây truyền HIV
Nhìn chung, nam truyền HIV cho nữ nhiều hơn trong quan hệ tình dục.Tuy nhiên, ngay cả nếu truyền từ nữ sang nam thấp hơn nam sang nữ thì việcquan hệ tình dục với nhiều phụ nữ bị nhiễm HIV sẽ tạo nên một nguy cơ tổngcộng rất lớn
Không có nguy cơ lây truyền qua đường sinh dục với những người không
có hành động tình dục hoặc cả hai người bạn tình đều không nhiễm HIV
Ngoài những tình huống trên, tất cả những ai có quan hệ tình dục đều đặtchính bản thân họ hay bạn tình của họ vào nguy cơ nhiễm HIV
- Lây truyền theo đường máu
HIV có thể truyền qua đường máu hay các sản phẩm của máu có nhiễmHIV Nguy cơ lan truyền HIV qua đường máu chiếm tỷ lệ rất cao 90% HIVcũng có thể truyền qua việc sử dụng kim tiêm, kim tiêm bị nhiễm HIV mà khôngđược tiệt trùng cẩn thận, đặc biệt xảy ra ở những người nghiện chích ma tuý theođường tĩnh mạch Việc sử dụng các dụng cụ y tế khác để thực hiện các thủ thuậtđiều trị như dao, dụng cụ nhổ răng, kim châm cứu, tiêm phòng vắc xin, xăm trênda cũng có thể làm lan truyền HIV Cách lây truyền theo đường này cũng nhưđối với viêm gan B Cho đến nay người ta đã thống kê được 11 trường hợp nhânviên y tế bị nhiễm HIV trong quá trình điều trị và săn sóc bệnh nhân, do da bịtổn thương, trầy xước Nguy cơ lây truyền cho nhân viên y tế khoảng 0,5-1%
- Lây truyền từ mẹ sang con
Trang 32Khoàng 30% trẻ sơ sinh bị lây truyền HIV từ người mẹ có mang HIV Sựlây truyền này xảy ra trong lúc mang thai (từ tuần 21), trước, trong và một thờigian ngắn sau khi sinh.
Người ta đã phân lập được HIV trong sữa mẹ và đã thông báo 3 trườnghợp mẹ bị nhiễm HIV do nhân máu truyền trong lúc sinh và lây sang con sau khicho con bú Sự có thai của các bà mẹ nhiễm HIV sẽ đẩy mạnh quá trình tiếntriển từ nhiễm HIV không có triệu chứng thành AIDS ở người mẹ
Ngoài 3 phương thức lây truyền HIV đã nêu trên, hiện nay không có bằngchứng nào về một phương thức lây truyền khác như:
Giao tiếp thông thường: ôm, hôn, bắt tay, nói chuyện, ho, hắt hơi,
Dùng chung nhà tắm, bể bơi, bồn tắm, mặc chung quần áo, ngồi chungghế,
Ăn uống chung bát đũa, cốc chén, thực phẩm, nước uống
Côn trùng và súc vật không lây truyền HIV: ruồi, muỗi, chấy, rận, chó,mèo, gà, chim,
2.3.3 Các biện pháp phòng lây nhiễm HIV.
Thông qua các phương thức lây truyền HIV, chúng ta có các biện phápphòng lây nhiễm sau:
2.3.3.1 Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường tình dục:
- Sống lành mạnh, chung thuỷ một vợ một chồng và cả hai người đềuchưa bị nhiễm HIV Không quan hệ tình dục bừa bãi
- Trong trường hợp quan hệ tình dục với một đối tượng chưa rõ có bịnhiễm HIV không, cần phải thực hiện tình dục an toàn để bảo vệ cho bản thânbằng cách sử dụng bao cao su mới (condom, áo mưa, bao kế hoạch) đúng cách
- Dùng thuốc diệt tinh trùng và HIV: phổ biến là Nonoxynol-9(Menfagol) được làm dưới dạng kem bôi, viên đặt, hoặc tẩm vào màng xốp, baocao su
2.3.3.2 Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường máu:
- Không tiêm chích ma túy
Trang 33- Chỉ truyền máu và các chế phẩm máu khi thật cần thiết, và chỉ nhận máu
và các chế phẩm máu đã xét nghiệm HIV
- Hạn chế tiêm chích Chỉ sử dụng bơm kim tiêm vô trùng Không dùngchung bơm kim tiêm Sử dụng dụng cụ đã tiệt trùng khi phẫu thuật, xăm, xỏ lỗ,châm cứu
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với các dịch cơ thể của người nhiễm HIV
- Dùng riêng đồ dùng cá nhân: dao cạo, bàn chải răng, bấm móng tay,
2.3.3.3 Phòng nhiễm HIV/AIDS lây truyền từ mẹ sang con:
- Phụ nữ nhiễm HIV không nên mang thai, vì tỷ lệ lây truyền HIV sangcon là 30% Nếu có thai thì uống thuốc dự phòng theo hướng dẫn của bác sĩ
2.3.4 Hậu quả của HIV/AIDS mang lại.
+ Đối với cá nhân người bị nhiễm:
Về mặt thể chất: những người bị HIV/AIDS trở nên gầy gồm, ốm yếu do
vi rút HIV tấn công vào hệ miễn dịch của cơ thể, làm giảm khả năng miễn dịchcủa cơ thể, chống đỡ lại với các căn bệnh khác Vì vậy, những người bị nhiễmHIV/AIDS có thể mắc thêm nhiều bệnh khác
Về mặt tinh thần: Khi phát hiện mình bị nhiễm HIV/AIDS, họ thấy mình
bị một cú sốc rất lớn, dẫn tới suy sụp và khủng hoảng rất nhanh về tinh thần,luôn mặc cảm và sợ hãi về cái chết đến gần Do sự phân biệt đối xử, bị xa lánh
do mọi người còn thiếu hiểu biết về HIV/AIDS, cho rằng họ thuộc nhóm người
có liên quan đến tệ nạn xã hội (mại dâm, ma túy…) Sự kì thị này đã gây nênnhững tổn thương về mặt tinh thần và vật chất cho người bị nhiễm HIV/AIDS
Họ cảm thấy cô đơn, bị mọi người coi thường và khinh bỉ Sự phân biệt đối xử,
kì thị là một vấn đề hết sức nguy hiểm đối với những người HIV/AIDS hiện nay,
sẽ dẫn đến những hành động sai lầm đáng tiếc
+ Đối với gia đình người nhiễm HIV/AIDS
Các thành viên trong gia đình khi phát hiện trong gia đình mình có mộtthành viên bị nhiễm HIV/AIDS đó là một cú sốc cực lớn cho các thành viên.Ban đầu có thể họ không tin vào sự thật này Các công việc liên quan đến kinh
tế và xã hội của gia đình có thể bị đảo lộn
Trang 34Gia đình có người nhiễm HIV/AIDS có thể bị cô lập, chịu sự điều tiếngcủa hàng xóm, làm tăng cảm giác xấu hổ, mặc cảm của các thành viên trong giađình Người bị nhiễm có thể bị gia đình ghét bỏ, xa lánh, xua đuổi.
Với những gia đình có những người nhiễm HIV/AIDS thì sự quan tâmgiúp đỡ của chính quyền địa phương và bà con hàng xóm, sẽ là động lực rất lớn
để họ vượt qua các khó khăn,trở lại các hoạt động bình thường
Gia đình là chổ dựa lớn nhất đối với những người bị nhiễm HIV/AIDS, Vìvậy các thành viên trong gia đình phải có gắn giúp đỡ, là chỗ dựa tinh thần chongười nhiễm HIV/AIDS vượt qua khó khăn
- Đối với xã hội
Tiêu tốn ngân sách của nhà nước, công sức do phải đầu tư vào công tácphòng chống HIV/AIDS
Gia tăng tỉ lệ tội phạm, những người nhiễm HIV/AIDS ảnh hưởng đến anninh trật tự …
2.3.5 Thực trạng HIV/AIDS ở nước ta hiện nay
Đại dịch HIV/AIDS đang hoành hành, ảnh hưởng lớn đến chất lượng dân
số, nòi giống, đạo đức, sức khoẻ, đe doạ đến thế hệ trẻ phát triển ngày càng phứctạp trong đối tượng thanh thiếu niên, lây lan khắp các tỉnh, thành phố trong cảnước
Trong báo cáo về công tác phòng, chống HIV/AIDS Tính đến hết tháng09/2009 cả nước có 156.802 người nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo,trong đó có 34.391 bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 người chết doAIDS Đến thời điểm này, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có tổng sốngười nhiễm HIV cao nhất nước chiếm 26,3% các trường hợp nhiễm HIV pháthiện trên toàn quốc Kế đến là Hà Nội với 15.528 người nhiễm HIV hiện cònsống, Hải Phòng 6.540 người, Sơn La 5.183 người, Thái Nguyên 5.122 người,Nghệ An 3.711 người, An Giang 3.667 người và Bà Rịa – Vũng Tàu 3.427người
Toàn quốc có tới 70,51% xã/phường, 97,53% quận/huyện và 63/63tỉnh/thành phố đã phát hiện có người nhiễm HIV Trong 9 tháng đầu năm 2009
Trang 35toàn quốc ghi nhận thêm 02 huyện mới phát hiện có người nhiễm HIV tại haitỉnh: Nghệ An (01 huyện) và Lai Châu (01 huyện) 82 xã, phường báo cáo mớighi nhận có người nhiễm HIV, trong đó khu vực Miền núi phía Bắc: 19 xã, tiếptheo là khu vực Bắc Trung Bộ: 17 xã và cuối cùng là khu vực Đồng bằng BắcBộ: 16 xã So với cùng kỳ năm 2008, số lượng huyện và xã báo cáo phát hiệnnhiễm HIV giảm: số huyện giảm 01 huyện, số xã giảm 265 xã/phường (năm
2008 tăng 337 xã/phường)
Lứa tuổi nhiễm HIV chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20-29 tuổichiếm hơn 50%, tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, nhiễm HIV trong nhómtuổi 30-39 tuổi có xu hướng tăng hơn so với các năm trước tăng từ 30% năm
2008 lên đến 41% trong năm 2009 Hình thức lây nhiễm HIV trên toàn quốc chủyếu qua đường máu (do tiêm chích ma túy không an toàn), tuy nhiên hình thứclây truyền có sự khác biệt giữa các vùng miền Khu vực miền Bắc, miền núiphía Bắc chủ yếu do tiêm chích ma túy nhưng các tỉnh duyên hải miền Trung,miền Tây Nam bộ chủ yếu các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện do quan
hệ tình dục Tại Trà Vinh số nhiễm HIV qua quan hệ tình dục trong tổng số cáctrường hợp nhiễm HIV phát hiện lên tới 80,7%, Quảng Bình 73,2%, Cà Mau69,4%, Quảng Trị 62,0%, An Giang 55,8%, Thừa Thiên Huế 50,8%
Phân bố theo giới: đa phần các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện lànam giới, toàn quốc chiếm 79% Tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ đã có sự thay đổiqua các năm gần đây với tỷ lệ nữ giới bắt đầu tăng từ 15% năm 2005 lên tới23% năm 2009, tuy nhiên, dự báo trong tương lai tỷ lệ người nhiễm HIV là nữgiới có xu hướng tăng lên Hiện nay nhiễm HIV không chỉ tập trung trong nhóm
có hành vi nguy cơ cao như nghiện chích ma tuý, gái mại dâm mà rất đa dạng vềngành, nghề như lao động tự do, công nhân, nông dân, bộ đội, công an, học sinh,sinh viên, nhân viên hành chính, phạm nhân và trẻ em Điều này cũng phù hợp
về hình thức lây truyền, khi lây truyền qua quan hệ tình dục gia tăng làm đadạng hơn về ngành nghề của đối tượng nhiễm và nguy cơ lây nhiễm HIV racộng đồng sẽ cao hơn
Trang 36Đánh giá chung về tình hình dịch năm 2008 cho thấy HIV/AIDS đã có xuhướng giảm và chậm lại Số trường hợp nhiễm HIV phát hiện giảm mới 14,3%(giảm 2.048 trường hợp), số bệnh nhân AIDS mới phát hiện giảm 11,1% (giảm
563 trường hợp) và số trường hợp tử vong do AIDS giảm 27,5% (giảm 599trường hợp) Trong năm 2009 có 44 tỉnh/thành phố có số nhiễm HIV giảm sovới cùng kỳ năm 2008 (9 tháng đầu năm), trong đó có 8 tỉnh/thành phố có là (HàNội, Đồng Nai, Đồng Tháp, Cần Thơ, Yên Bái, An Giang, Bình Phước, Sơn La),còn lại 19 tỉnh/thành phố tăng, đứng đầu vẫn là TP Hồ Chí Minh với 373 trườnghợp, kế đến là Điện Biên, Hải Phòng, Lào Cai, Bắc Ninh, Phú Thọ Các số liệu
về giám sát trọng điểm cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm nhưnghiện chích ma túy, gái mại dâm đã có xu hướng giảm trong một vài năm trởlại đây
2.4 Lý luận về công tác phòng, chống HIV/AIDS
2.4.1 Khái niệm công tác phòng, chống HIV/AIDS
Dựa trên chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS trong giai đoạnhiện nay công tác phòng, chống HIV/AIDS có thể được hiểu như sau: “bao gồmtất cả các hoạt động có liên quan của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức xãhội, của chính quyền địa phương và mọi người dân… nhằm ngăn chặn, phòngngừa, tiến tới đẩy lùi HIV/AIDS ra khỏi cộng đồng”
2.4.2 Nội dung:
Dựa trên chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010
và tầm nhìn 2020, chúng tôi xác định những nội dung của công tác phòng, chống
HIV/AIDS như sau.
2.4.2.1 Tuyên truyền.
Bao gồm các nội dung cụ thể sau:
Các kiến thức về HIV/AIDS
Tác hại của HIV/AIDS
Cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Pháp luật phòng, chống HIV/AIDS