Chuyên mục tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 1Chuyªn môc T¨ng trëng vµ ph¸t triÓn kinh
tÕ
A Tổng quan – Nghiên cứu:
T×nh h×nh s¶n xuÊt kinh doanh th¸ng 11 n¨m 2010
Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 đã có những diễn biến phức tạp, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng mạnh và có xu hướng tiếp tục tăng vào dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống; tỷ giá, giá vàng tăng cao gây tâm lý lo lắng trong xã hội; lãi suất cho vay cao ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 tăng 1,86% so với tháng trước, đây là mức tăng khá cao kể từ đầu năm, chỉ sau mức tăng 1,96% của tháng Hai là tháng Tết Nguyên đán Canh Dần Nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng cao là do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá tăng cao nhất với 3,45%, (lương thực tăng 6,02%; thực phẩm tăng 3,27%) Tiếp đến là nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,74% Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,03%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 so với tháng 12/2009 tăng 9,58%; so với cùng kỳ năm trước tăng 11,09% Tính bình quân 11 tháng năm nay, chỉ số giá tiêu dùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm 2009
Chỉ số giá vàng tháng 11/2010 tăng 8,67% so với tháng trước; tăng 23,31% so với tháng 12/2009 và tăng 36,24% so với cùng kỳ năm 2009 Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2010 tăng 3% so với tháng trước; tăng 6,63% so với tháng 12/2009 và tăng 10,03% so với cùng kỳ năm 2009
Nhập siêu tháng 11 ước tính là 1,25 tỷ USD, chiếm 19,4% kim ngạch xuất khẩu Tính chung 11 tháng, nhập siêu hàng hóa đạt 10,66 tỷ USD, bằng 16,6% kim ngạch xuất khẩu Nếu loại trừ xuất khẩu vàng và các sản phẩm vàng, nhập
Trang 2Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện tính đến cuối tháng 11 đạt 102,2% so với kế hoạch đặt ra.
Đến hết tháng 11/2010 có thể thấy kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2010, tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực: sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với kế hoạch cả năm; sản xuất nông nghiệp giữ được ổn định trong điều kiện chịu tác động bất lợi do thiên tai, lũ lụt; lĩnh vực dịch vụ đạt khá, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và du lịch tăng mạnh; xuất khẩu đạt tăng trưởng cao, nhập siêu tiếp tục giảm; đầu tư phát triển được đẩy mạnh, huy động và giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt khá
2 Sản xuất công nghiệp
2.1 Tình hình chung
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11/2010 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 11 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 717,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước tăng 7,5%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 14,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,9% (dầu mỏ và khí đốt giảm 2,7%, các ngành khác tăng 19,4%)
Trong 11 tháng, nhiều sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp có tốc
độ tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành như: Khí hóa lỏng tăng 93,6%; sơn hóa học tăng 28,5%; sữa bột tăng 22,7%; bia tăng 20,7%; giày thể thao tăng 20,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 18,8%; quần áo người lớn tăng 18,7%; kính thủy tinh tăng 18,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 18%; xi măng tăng 14,9%; xe máy tăng 14,8% Một số sản phẩm tăng khá là: Giấy, bìa tăng 12,3%; nước máy thương phẩm tăng 12%; xà phòng tăng 10,3%; thủy hải sản chế biến tăng 10,2%; phân hóa học tăng 8,6%; điều hòa nhiệt độ tăng 7,8% Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là: Xe chở khách và thép tròn cùng tăng 4,5%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 4,2%; lốp ô tô, máy kéo tăng 3,1%; gạch lát ceramic tăng 1,2%; than đá giảm 0,6%; dầu thực vật tinh luyện giảm 1,8%; đường kính giảm 7,4%; tivi giảm 9%; dầu mỏ thô khai thác giảm 11,5%
Chỉ số tiêu thụ chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mười tháng năm nay so với cùng kỳ năm 2009 tăng 10,8%, trong đó một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Đồ uống không cồn tăng 39,5%; các sản phẩm bơ, sữa tăng 32,8%; gạch, ngói và gốm, sứ không chịu lửa tăng 31,8%; các sản phẩm khác bằng kim loại tăng 24,6%; bia tăng 20,6%; xi măng tăng
Trang 3chế biến, bảo quản thủy sản tăng 3,8%; thuốc, hoá dược tăng 2,7%; sản phẩm
từ kim loại đúc sẵn tăng 2,3%; thuốc lá, thuốc lào tăng 2,2%; chế biến và bảo quản rau quả tăng 0,4%; mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa giảm 0,8%; xay xát, sản xuất bột thô giảm 3,2%; thiết bị gia đình giảm 3,4%; giấy nhăn và bao bì giảm 3,9%; xe có động cơ giảm 12,4%; đường giảm 13,7%; đồ gốm, sứ không chịu lửa giảm 36,9%
Cũng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/10/2010 của một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng thời điểm năm 2009 là: Cáp đồng trục có bọc tăng 413,5%; động cơ tăng 287,5%; sữa tươi tiệt trùng tăng 197,9%; đồ uống không ga tăng 188,7%; giày, dép vải tăng 177,9%; thức ăn gia súc tăng 137,2%
Theo kết quả điều tra lao động của 4215 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, số lao động tháng 11/2010 của các doanh nghiệp trên tăng 0,6% so với tháng trước, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 0,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1% Trong
3 ngành công nghiệp cấp I, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,8%, ngành công nghiệp khai thác giảm 1,3%, ngành công nghiệp điện, nước tăng nhẹ với 0,2%
2.2 Tình hình cụ thể một số ngành sản xuất 11 tháng năm 2010
So với cùng kỳ năm 2009, sản xuất một số ngành cụ thể như sau:
- Than khai thác ước đạt 39,62 triệu tấn, giảm 0,6%
- Dầu mỏ thô khai thác ước đạt 13,62 triệu tấn, giảm 11,5%; khí đốt thiên nhiên dạng khí đạt 8.566 triệu m3, tăng 18%, khí hóa lỏng (LPG) ước đạt 529,7 nghìn tấn, tăng 93,6%
- Điện sản xuất 83,5 tỷ Kwh, tăng 13,6%
- Thép tròn các loại 4,25 triệu tấn, tăng 4,5%
- Xi măng đạt 51,3 triệu tấn, tăng 14,9%
- Lắp ráp ô tô ước đạt 95,1 nghìn xe, xe máy ước đạt 3,15 triệu xe, tăng 14,8%
3 Sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp
3.1 Nông nghiệp
a) Trồng trọt
Tính đến ngày 15/11/2010, cả nước đã thu hoạch được 1453,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch 1137,5 nghìn ha, chiếm 95,7% diện tích gieo cấy và bằng 98,7% cùng kỳ năm trước; các địa phương phía Nam thu hoạch 315,9 nghìn ha, bằng 98,5%.Mặc dù mưa lớn tại các địa phương phía Bắc vào cuối vụ và đặc biệt hai
Trang 4của một số tỉnh nhưng năm nay do không bị ảnh hưởng nặng của sâu bệnh nên năng suất lúa mùa của các địa phương phía Bắc ước tính đạt 47,8 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha so với vụ mùa trước; sản lượng đạt 5,7 triệu tấn, tăng 19,6 nghìn tấn Tại phía Nam, nhiều địa phương đã chủ động chuyển đổi phần diện tích lúa mùa thường bị ảnh hưởng của mưa lũ sang vụ hè thu và đông xuân nên năng suất lúa mùa của các địa phương ước tính đạt 42 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha so với vụ mùa trước
Các địa phương phía Bắc, cùng với việc thu hoạch lúa mùa, đã gieo trồng được 155,5 nghìn ha ngô, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; 45,7 nghìn ha khoai lang, tăng 2,4%; 92,9 nghìn ha đậu tương, tăng 16,6%; 6,9 nghìn ha lạc, giảm 6,5%; 111,3 nghìn ha rau đậu, tăng 2,1%
Các tỉnh phía Nam, đến trung tuần tháng 11, đã gieo sạ được 379,1 nghìn
ha lúa đông xuân, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 300,7 nghìn ha, tăng 34,4% Một số địa phương có tiến
độ gieo sạ nhanh là: Đồng Tháp tăng 103,5%; Kiên Giang tăng 63%
b) Chăn nuôi
Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2010 đàn trâu
cả nước có 2,9 triệu con, tăng 2% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,9 triệu con, giảm 3,1%, chủ yếu do diện tích thả nuôi bị thu hẹp; đàn lợn có 27,4 triệu con, giảm 1% do ảnh hưởng của dịch bệnh tai xanh xuất hiện ở hầu hết các địa phương; đàn gia cầm 301 triệu con, tăng 7,5%
Giá thịt lợn hơi trên thị trường đang có xu hướng tăng lên, cùng với nhu cầu thực phẩm cuối năm đáp ứng tiêu dùng của dân cư trong dịp Tết Nguyên đán đang khuyến khích các hộ đầu tư mở rộng quy mô đàn lợn
Tình hình dịch bệnh
Công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm tại các địa phương tiếp tục được tăng cường
- Dịch cúm gia cầm: đến 30/11 cả nước cả nước còn 02 tỉnh là Nam Định
và Nghệ An có dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày
- Dịch lở mồm long móng: cuối tháng 11, cả nước còn 12 tỉnh là Đăk Lăk, Sơn La, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Gia Lai, Phú Yên, Bắc Ninh, Yên Bái, Nghệ
An, Quảng Ninh, Lạng Sơn và Bắc Kạn có dịch LMLM chưa qua 21 ngày
- Dịch tai xanh trên lợn: đến 30/11, có 05 tỉnh là Khánh Hòa, Đăk Lăk, Cà Mau, Ninh Thuận và Thanh Hóa có dịch tai xanh chưa qua 21 ngày
3.2 Lâm nghiệp
Trang 5tích rừng trồng tập trung tháng 11/2010 ước tính đạt 29,6 nghìn ha, tăng 6,2%
so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 5,6 triệu cây, tăng 0,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 420 nghìn m3, tăng 6,4% Tính chung 11 tháng năm 2010, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 218,6 nghìn ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 175,6 triệu cây, tăng 0,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3566,8 nghìn m3, tăng 6,1%
Tình hình thiệt hại rừng: Trong tháng xảy ra hai vụ cháy rừng trên phạm
vi hẹp với diện tích bị thiệt hại 5 ha Tính chung 11 tháng, diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá là 7780,7 ha, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 6723,3 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 1057,4 ha
3.3 Thuỷ sản
Tháng 11/2010 sản lượng thủy sản ước tính đạt 442 nghìn tấn, tăng 6%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 328 nghìn tấn, tăng 6,8%; tôm 56,5 nghìn tấn, tăng 4,8%
Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 4682,5 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2488 nghìn tấn, tăng 4,9%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2194,5 nghìn tấn, tăng 4,7% (khai thác biển đạt 2017,6 nghìn tấn, tăng 4,9%).Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng 11 ước tính đạt 235,5 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó cá 181 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm 40,5 nghìn tấn, tăng 6,6% Mặc dù sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước tăng nhưng mưa lũ lớn xảy ra tại khu vực miền Trung đã ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản của một số địa phương, trong đó Hà Tĩnh bị ngập 3914 ha diện tích thả nuôi, làm thiệt hại 864 tấn thủy sản; Quảng Bình bị ngập trên 1600 ha nuôi tôm và cá; Ninh Thuận bị trôi 260 ha đìa tôm
Trong nuôi trồng thủy sản, nuôi cá tra còn gặp khó khăn do chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, lợi nhuận thấp nên không khuyến khích người dân mở rộng diện tích thả nuôi Trong tháng, một số địa phương có diện tích thả nuôi cá tra giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước là: Cần Thơ giảm 20%; Đồng Tháp giảm 7,5%; Bến Tre giảm 6,5% Giá cá tra đang có xu hướng tăng cao do sản lượng không đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất phục vụ tiêu dùng cuối năm
Ngược lại, nuôi tôm sú đang phát triển khá ổn định, dịch bệnh xảy ra ít nên năng suất thu hoạch đạt khá Hầu hết các địa phương đều duy trì được diện tích thả nuôi Tính từ đầu năm, diện tích nuôi tôm sú tại Cà Mau ước tính đạt 254 nghìn ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước; Bạc Liêu 122 nghìn ha, tăng 1,7%; Trà Vinh 22 nghìn ha, tăng 7,9%
Trang 6Sản lượng thủy sản khai thác tháng 11/2010 ước tính đạt 206,1 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó khai thác biển 190,6 nghìn tấn, tăng 5,3% Sản lượng thủy sản khai thác tăng khá chủ yếu do giá tiêu thụ tương đối ổn định, cùng với chính sách của Nhà nước hỗ trợ đóng mới và cải hoán tàu đã khuyến khích ngư dân tranh thủ thời tiết thuận lợi, tích cực ra khơi đánh bắt Tính đến tháng 11/2010, một số địa phương có số tàu đánh bắt thủy sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước là: Quảng Ngãi tăng 221 chiếc; Bình Thuận tăng 205 chiếc; Bình Định tăng 161 chiếc; Kiên Giang tăng 97 chiếc
3.4 Thiên tai
Thiên tai, lũ lụt tại các tỉnh Nam Trung Bộ trong tháng 11 gây thiệt hại nặng
về người và tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư các địa phương Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 70 người chết và mất tích (Bình Định thiệt hại nặng nhất với 16 người chết và mất tích); hơn 110 nghìn ngôi nhà bị ngập, tốc mái
và cuốn trôi; trên 50 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập nước, hư hỏng; hơn 2,4 nghìn ha nuôi trồng thuỷ sản bị hỏng; gần 60 km đê, kè bị vỡ; gần 340 km đường giao thông cơ giới bị ngập và sạt lở Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính gần 2,4 nghìn tỷ đồng, trong đó Ninh Thuận bị thiệt hại nặng nhất với 1,1 nghìn tỷ đồng Công tác khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra được các địa phương tích cực triển khai, đồng thời phân công theo dõi sát diễn biến thiên tai
để kịp thời có các biện pháp phòng chống nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản
4 Thương mại, giá cả, dịch vụ
4.1 Du lịch
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 11/2010 đạt 428.295 lượt người, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm 2009 (giảm 11.370 lượt so với tháng trước) Lý giải trước thực tế trên, một đại diện doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội cho rằng, do trong tháng 11, thị trường lớn nhất của ngành du lịch Việt Nam là Trung Quốc giảm 34.600 lượt khách so với tháng trước Khách Trung Quốc thường chiếm khoảng 20% trong tổng số khách quốc tế của Việt Nam nên mỗi khi thị trường lớn này giảm thường kéo tổng lượng khách giảm
Chỉ trong 11 tháng của năm 2010, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã vượt chỉ tiêu mà ngành du lịch đề ra Ước tính tổng số khách quốc tế đến Việt Nam 11 tháng đầu năm 2010 đạt 4.600.285 lượt khách, tăng 36,5% so vối cùng kỳ
2009 Trong đó:
- Tháng 11/2010: Lượng khách đến Việt Nam du lịch, nghỉ ngơi là 246.041 lượt người, tăng 8,5% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì công việc là 88.762 lượt
Trang 7người, tăng 43,2% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì các mục đích khác là 43.735 lượt người, tăng 56,5% so với cùng kỳ 2009.
- Ước tính 11 tháng đầu năm 2010: Lượng khách đến Việt Nam du lịch, nghỉ ngơi là 2.851.726 lượt người, tăng 42,3% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì công việc là 932.486 lượt người, tăng 39,3% so với cùng kỳ 2009; khách đến thăm thân nhân là 520.241 lượt người, tăng 10,7% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì các mục đích khác là 295.832 lượt người, tăng 31,0% so với cùng kỳ 2009
Trong 11 tháng đầu năm, tất cả các thị trường khách đều tăng so với cùng kỳ năm 2009, cụ thể: tăng nhiều nhất là khách từ Cămpuchia: 99,9%, từ Trung Quốc tăng 76,7%, từ Thái Lan tăng 42,6%, từ Hàn Quốc tăng 38,0%, từ Úc tăng 31,0%,
từ Malaysia tăng 29,1%, từ Đài Loan tăng 25,0%, từ Nhật tăng 22,8%, từ Pháp tăng 15,5%, từ Mỹ tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2009
4.2 Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm
2010 ước tính đạt 1425,2 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2009, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 14,7% Trong đó, kinh doanh thương nghiệp đạt 1121,9 nghìn tỷ đồng, tăng 25,4%; khách sạn, nhà hàng đạt 157,6 nghìn tỷ đồng, tăng 22,3%; dịch vụ đạt 131,4 nghìn tỷ đồng, tăng 23,9%; du lịch đạt 14,2 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8%
Nhìn chung, trong 11 tháng qua, sức mua và tiêu dùng toàn xã hội tăng cao hơn so với cùng kỳ 2009 Nhiều mặt hàng thiết yếu trên thị trường như sắt thép, xi măng, phân bón, lương thực, hàng tiêu dùng, thực phẩm… sức mua đã tăng rất cao trong thời điểm hiện nay
4.3 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 tăng 1,86% so với tháng trước, đây là mức tăng khá cao kể từ đầu năm, chỉ sau mức tăng 1,96% của tháng Hai là tháng Tết Nguyên đán Canh Dần Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá tăng cao nhất với 3,45%, đây là nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng cao (lương thực tăng 6,02%; thực phẩm tăng 3,27%) Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,74% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ
có chỉ số giá tăng dưới 1% là: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,94%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,9%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,74%; thuốc và dịch
vụ y tế tăng 0,59%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,56%; giao thông tăng 0,29%; giáo dục tăng 0,23% Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,03%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 so với tháng 12/2009 tăng 9,58%; so với cùng kỳ năm trước tăng 11,09% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm nay tăng 8,96% so với bình quân 11 tháng năm 2009
Trang 8Chỉ số giá vàng tháng 11/2010 tăng 8,67% so với tháng trước; tăng 23,31% so với tháng 12/2009 và tăng 36,24% so với cùng kỳ năm 2009 Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2010 tăng 3% so với tháng trước; tăng 6,63% so với tháng 12/2009 và tăng 10,03% so với cùng kỳ năm 2009.
Vận tải hàng hóa 11 tháng ước tính đạt 649,3 triệu tấn, tăng 12,4% và 200,9 tỷ tấn.km, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước đạt 605,9 triệu tấn, tăng 12,5% và 57,7 tỷ tấn.km, tăng 10,2%; vận tải ngoài nước đạt 43,4 triệu tấn, tăng 11,2% và 143,2 tỷ tấn.km, tăng 8,6% Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 484,3 triệu tấn, tăng 13,5% và 26,6 tỷ tấn.km, tăng 14,7%; đường sông đạt 108,4 triệu tấn, tăng 5,1% và 17,3 tỷ tấn.km, tăng 1%; đường biển đạt 49,3 triệu tấn, tăng 21% và 153,1 tỷ tấn.km, tăng 10,2%; đường sắt đạt 7,1 triệu tấn, giảm 5% và 3,5 tỷ tấn.km, tăng 1%
4.5 Bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại phát triển mới từ đầu năm đến hết tháng 11/2010 đạt 38,1 triệu thuê bao, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm 786,5 nghìn thuê bao cố định, giảm 44,3% và 37,3 triệu thuê bao di động, tăng 8,1%
Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 11/2010 ước tính đạt 163,7 triệu thuê bao, tăng 39,7% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 16,4 triệu thuê bao cố định, tăng 6% và 147,3 triệu thuê bao di động, tăng 44,8% Số thuê bao điện thoại của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông tính đến cuối tháng 11/2010 ước tính đạt 86,6 triệu thuê bao, tăng 35,8% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 11,7 triệu thuê bao cố định, tăng 2,4% và 74,9 triệu thuê bao di động, tăng 43,1%
Số thuê bao internet trên cả nước tính đến cuối tháng 11/2010 ước tính
Trang 9so với cùng thời điểm năm trước Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông
11 tháng năm 2010 ước tính đạt 119,7 nghìn tỷ đồng, tăng 26,8% so với cùng
kỳ năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 76,9 nghìn tỷ đồng, tăng 23,5%
4.6 Tình hình cung – cầu, giá cả một số mặt hàng trọng yếu
a Xăng dầu
So sánh bình quân 14 ngày tháng 11 với bình quân tháng 10/2010, giá dầu thô WTI tăng 4,77%, giá xăng RON 92 tăng 3,87%, giá điezen 0,05S tăng 4,48%, giá dầu hoả tăng 4,35%, giá madut tăng 5,06%
Tuy nhiên, diễn biến đáng chú ý là trong phiên giao dịch ngày 12/11 giá xăng dầu thế giới giảm so với các phiên trước đó do thông tin Trung Quốc có thể nâng lãi suất, những quan ngại về nợ khu vực đồng tiền chung châu Âu và báo cáo cắt giảm dự báo nhu cầu 2011 từ Cơ quan năng lượng quốc tế
Ở trong nước, ngày 12/11, Bộ Tài chính tiếp tục có công văn yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối giữ ổn định giá bán xăng dầu trong nước Công văn cũng cho phép các doanh nghiêp này được tăng mức
sử dụng từ Quỹ bình ổn giá xăng dầu để bù đắp mức chênh lệch giữa giá bán hiện hành thấp hơn giá cơ sở, cụ thể từ 700-1.200 đồng/lit (kg), tùy loại
b Sắt thép
Trong 15 ngày đầu tháng 11, giá chào phôi thép thế giới tăng nhẹ do sự phục hồi về nhu cầu tiêu thụ tại Trung Quốc Hiện giá chào phôi thép tại thị trường Đông Nam Á phổ biến ở mức 580-600 USD/tấn (CIF), tăng khoảng 20-
40 USD/tấn so cùng kỳ tháng trước
Do giá chào phôi thép thế giới tăng cùng với tác động tăng của tỷ giá VND/USD, nên giá bán thép thành phẩm tại các nhà máy phía Nam tăng nhẹ trong đầu tháng 11, với mức tăng khoảng 200 đồng/kg
Trên thị trường, giá bán thép hiện ở mức 15.700-16.000 đồng/kg (tại các tỉnh miền Bắc) và 15.400-15.800 đồng/kg (tại các tỉnh miền Trung và miền Nam), tăng khoảng 700 đồng/kg so với 15 ngày tháng 10
c Xi măng
Theo Tổng công ty Công nghiệp Xi măng, trong 15 ngày đầu tháng 11, ước tổng sản lượng xi măng sản xuất đạt 712 nghìn tấn, tăng 43 nghìn tấn; mức tiêu thụ đạt 782 nghìn tấn, tăng 133 nghìn tấn so cùng kỳ tháng trước
Từ ngày 15/10, các công ty sản xuất, kinh doanh xi măng đã tăng giá bán
50 nghìn đồng/tấn (riêng Công ty Cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 tăng 80 nghìn đồng/tấn) so với mức điều chỉnh ngày 11/8 và được giữ ổn định cho đến nay
Trang 10Trên thị trường, giá xi măng ổn định so cùng kỳ tháng trước, tại các tỉnh phía Bắc ở mức 920 nghìn đên 1 triệu đồng/tấn; tại các tỉnh phía Nam ở mức 1,24-1,34 triệu đồng/tấn.
4.7 Xuất, nhập khẩu hàng hóa
4.7.1 Xuất khẩu
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11/2010 ước tính đạt 6,5 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 35,6% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 64,3 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 29,5 tỷ USD, tăng 21,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,8 tỷ USD, tăng 27%, nếu không kể dầu thô thì đạt 30,3 tỷ USD, tăng 40,3%
Trong 11 tháng năm 2010, nhiều mặt hàng xuất khẩu vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Hàng dệt may đạt 10 tỷ USD, tăng 22,6%; giày dép đạt 4,5 tỷ USD, tăng 25,3%; thủy sản đạt 4,5 tỷ USD, tăng 16,3%; điện tử máy tính đạt 3,2 tỷ USD, tăng 28,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3 tỷ USD, tăng 33,1%; gạo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 15,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 2,8 tỷ USD, tăng 51,3%; cao su đạt 2 tỷ USD, tăng 92,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 64,4%; dây điện và dây cáp điện đạt 1,2 tỷ USD, tăng 53,8%; hạt điều đạt 1 tỷ USD, tăng 32,4%; sản phẩm từ chất dẻo đạt 937 triệu USD, tăng 28,6%; sắt thép đạt 909 triệu USD, tăng 179,1% Riêng dầu thô do giảm lượng xuất khẩu để cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất nên kim ngạch xuất khẩu 11 tháng chỉ đạt 4,5
tỷ USD, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm trước (lượng giảm 42,2%)
Một số mặt hàng xuất khẩu mặc dù lượng xuất khẩu giảm mạnh nhưng đơn giá bình quân tăng nên kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2009 là: Than
đá đạt 1,3 tỷ USD, tăng 12,2% (lượng giảm 26,8%); xăng dầu đạt 1,2 tỷ USD, tăng 31,7% (lượng giảm 0,3%); hạt tiêu đạt 397 triệu USD, tăng 22,9% (lượng giảm 11,5%)
Nhìn chung kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 11 tháng năm nay tăng chủ yếu do đơn giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng, trong đó giá cao su tăng 81,2%; hạt tiêu tăng 38,9%; sắn và sản phẩm sắn tăng 83,8%; chè tăng 10,8%; dầu thô tăng 33,9%; than đá tăng 53,2% Nếu tính lượng xuất khẩu của các mặt hàng chủ yếu 11 tháng năm nay theo đơn giá bình quân cùng kỳ năm trước thì kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 16,2%
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam mười tháng năm 2010 sang một số thị trường xuất khẩu lớn là: Hoa Kỳ đạt 11,6 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2009 (Hàng dệt may đạt 5 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,1 tỷ
Trang 11đạt 1,4 tỷ USD; dầu thô đạt 1,3 tỷ USD; xăng dầu đạt 567 triệu USD); Nhật Bản đạt 6,2 tỷ USD, tăng 22,9%; Trung Quốc đạt 5,4 tỷ USD, tăng 45%.
Dự báo kim ngạch xuất khẩu cả năm 2010 sẽ đạt khoảng 70,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 24% so với năm 2009
4.7.2 Nhập khẩu
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11/2010 ước tính đạt 7,7 tỷ USD, tăng 5,4% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 74,9 tỷ USD, tăng 19,8%
so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 42,5 tỷ USD, tăng 8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 32,4 tỷ USD, tăng 39,9%
Kim ngạch nhập khẩu của nhiều mặt hàng trong 11 tháng năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu vẫn là nhóm hàng máy móc thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,1 tỷ USD, tăng 7,6%; sắt thép đạt 5,6 tỷ USD, tăng 14,7%; vải đạt 4,8 tỷ USD, tăng 26,1%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4,6 tỷ USD, tăng 31,5%; chất dẻo đạt 3,4 tỷ USD, tăng 33%; nguyên, phụ liệu dệt may, giày dép đạt 2,4 tỷ USD, tăng 36,4%; kim loại thường đạt 2,3 tỷ USD, tăng 61,9%; hóa chất đạt 1,8
tỷ USD, tăng 25,3%; sản phẩm hóa chất đạt 1,8 tỷ USD, tăng 30,2% Nhập khẩu
ô tô đã có xu hướng giảm, kim ngạch 11 tháng đạt 2,6 tỷ USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước (trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 836 triệu USD, giảm 22,4%) Trong mười tháng năm 2010, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 15,9 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm
2009 (Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,6 tỷ USD; vải 1,8 tỷ USD; máy tính và linh kiện 1,3 tỷ USD; sắt thép 1,3 tỷ USD); ASEAN đạt 13,1 tỷ USD, tăng 22% (Xăng dầu đạt 2,4 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 802 triệu USD); Hàn Quốc đạt 7,6 tỷ USD, tăng 39,8% (Sắt thép đạt 945 triệu USD; vải 894 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 659 triệu USD); Nhật Bản đạt 7,2 tỷ USD, tăng 22,4% (Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 2 tỷ USD; sắt thép 966 triệu USD); EU đạt 5 tỷ USD, tăng 11,6% (Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1,6 tỷ USD)
Nhập siêu hàng hóa tháng 11/2010 ước tính 1,25 tỷ USD, bằng 19,4% kim ngạch xuất khẩu Tính chung 11 tháng, nhập siêu hàng hóa đạt 10,66 tỷ USD, giảm 2,5% so với mức nhập siêu cùng kỳ năm trước và bằng 16,6% kim ngạch xuất khẩu Nếu loại trừ xuất khẩu vàng và các sản phẩm vàng, nhập siêu
11 tháng ước tính 13,48 tỷ USD, bằng 21% kim ngạch xuất khẩu
Trang 12* Tin vắn
1 GS.Michael Porter: Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu nền kinh tế
"Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng", GS Michael Porter nhấn mạnh tại Hội thảo công bố báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam sáng nay (30/11).
Vị giáo sư được coi là "cha đẻ" của chiến lược cạnh tranh còn nhấn mạnh thêm, nếu không dẫn đầu thì tối thiểu khu vực tư nhân cũng phải là người tham gia cực sâu trong quá trình phát triển kinh tế
Nhận thức lại vai trò của Chính phủ
Theo GS Michael Porter, trong giai đoạn hiện nay, Chính phủ Việt Nam cần xác định được một vai trò mới cho mình, phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường năng động, đang trỗi dậy và đang hội nhập ngày càng sâu rộng
"Từ kiểm soát, vai trò của Chính phủ cần chuyển sang xây dựng lợi thế cạnh tranh cho một nền kinh tế thị trường, Chính phủ cần hướng tới tạo ra một điểm đến kinh doanh với các lợi thế cạnh tranh rõ ràng", GS nhấn mạnh
Với vai trò này, Chính phủ sẽ đảm nhận những công việc tạo điều kiện
và đảm bảo thị trường được vận hành theo nguyên tắc của nó "Chính phủ
sẽ phải cung cấp một môi trường thể chế minh bạch và hiệu quả, trong đó các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trên mọi mặt"
Theo đánh giá của GS, trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế ấn tượng, Việt Nam giờ đã trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên mức độ thịnh vượng và năng suất còn thấp, những quan ngại về tính bền vững của mô hình phát triển hiện nay ngày càng tăng
"Việt Nam vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư chủ yếu do yếu tố chi phí nhân công thấp nhưng trong một môi trường toàn cầu đang thay đổi, điều này là không đủ để duy trì tăng trưởng bền vững", ông khuyến cáo
GS Michael Porter cho rằng Việt Nam đang đứng trước thời điểm chuyển giao quan trọng từ tăng trưởng dựa trên các lợi thế so sánh sẵn có sang tăng trưởng dựa trên việc nâng cấp năng lực cạnh tranh và xây dựng những lợi thế cạnh tranh mới ở trình độ cao hơn
"Đã tới lúc Việt Nam cần thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về
Trang 13Khu vực Tư nhân là tài sản cực kỳ quan trọng
Thừa nhận thực tế các DNNN vẫn là một bộ phận quan trọng của nền kinh
tế Việt Nam và sẽ vấn tiếp tục giữ vai trò này trong thời gian tới nhưng GS cho rằng cách tiếp cận chính sách hiện nay trong quản lý DNNN không tạo ra được các doanh nghiệp mạnh, có năng lực cạnh tranh cao nhưng mong đợi ban đầu của các nhà hoạch định chính sách
"Cách tiếp cận chính sách mới cần tách biệt vai trò của Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu với vai trò quản lý điều tiết và ra quy định, cùng với đó phải xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với các DNNN", ông nhấn mạnh
Ngoài ra, GS cũng nói thêm rằng các DNNN cần phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về công bố thông tin như các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là thông tin về kết quả tài chính của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, các mối liên hệ về tài chính với Chính phủ "
Cũng theo GS Michael Porter, Việt Nam cần thay đổi từ việc chỉ tập trung vào khu vực DNNN và FDI sang sự kết hợp do thị trường điều chỉnh giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước, FDI và các DNNN được cải cách
Theo đó, cần có sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực, từ đó cho phép những doanh nghiệp có đóng góp nhiều nhất vào sự thịnh vượng và hiệu quả của nền kinh tế được phát triển
"Tôi tin Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng để dẫn dắt và thúc đẩy sự cải thiện năng lực cạnh tranh", GS Michael Porter nhấn mạnh.Theo GS, thảo luận chính sách hiện nay của Việt Nam thường tập trung vào quan điểm chính trị về sở hữu nhưng thực ra cấu trúc thị trường, gồm những yếu tố như mức độ cạnh tranh, quan trọng hơn nhiều so với yếu tố sở hữu trong việc quyết định năng suất của một doanh nghiệp
Đề xuất lập Hội đồng năng lực cạnh tranh
Dựa trên kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, GS Michael Porter và nhóm nghiên cứu đưa ra đề xuất thành lập Hội đồng năng lực cạnh tranh Việt Nam thì theo ông, đối với mỗi sáng kiến cải cách cụ thể cần có một cơ quan hay nhóm công tác chịu trách nhiệm chính về triển khai thực hiện sáng kiến đó.Chính điều này đòi hỏi phải có một cơ quan ở vị trí trung tâm của hệ thống nhằm quản lý toàn bộ các hoạt động, chương trình cải cách, để đảm bảo rằng những nhiệm vụ, hoạt động quan trọng nhất sẽ được ưu tiên thực hiện
Cụ thể hội đồng này sẽ làm nhiệm vụ điều phối, hỗ trợ các cơ quan chính phủ Hội đồng cũng sẽ giám sát và báo cáo với các cơ quan của Đảng và cộng đồng về tiến trình thực hiện chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh Nhưng
Trang 14để thực hiện được các nhiệm vụ trên, GS cho rằng phải hội đủ được ba yếu tố quan trọng
Đầu tiên là vai trò lãnh đạo của Chính phủ, "những lãnh đạo cao nhất của Chính phủ phải thấy được sự hữu ích của Hội đồng này và tham gia cũng như lắng nghe một cách sâu sắc, không hình thức"
Sau đó, Hội đồng phải tập hợp được những cá nhân xuất sắc, quan tâm đến lợi ích chung của đất nước chứ không phải chỉ lo cho lợi ích của chính họ hay nhóm của họ
Điều rất quan trọng không thể thiếu nữa là phải có một ban thư ký giúp việc tuyệt vời, làm vệc chuyên nghiệp, tận tụy và trách nhiệm
"Vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là hành động, chúng ta đã nói, đã bàn bạc rất nhiều, nhưng cần phải có những bước đi cụ thể và cương quyết, đó cũng chính là điều mà báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam lần này hướng đến", GS Michael Porter nhấn mạnh
Trao đổi tại phiên thảo luận sau đó, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng như Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá rất cao những kiến nghị trong báo cáo nói chung cũng như về đề xuất thành lập Hội đồng năng lực cạnh tranh nói riêng
"Chúng tôi sẽ báo cáo lên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và sẽ có những bàn bạc cụ thể đổi với những đề xuất này", ông Hoàng Trung Hải khẳng định
2 Mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang mất dần động lực
(VEF) - "Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước thu nhập thấp hơn mới trỗi dậy".
Trong khi đó, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài để gia tăng đầu tư nhằm tạo tăng trưởng sẽ tạo ra các mất cân đối vĩ mô nguy hiểm và có thể dẫn tới khủng hoảng
Đó là những cảnh báo đáng suy nghẫm từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010, do Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á (Singapore) hợp tác với Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện dưới sự chỉ đạo nội dung của GS Michael Porter - chuyên gia uy tín trong lĩnh vực cạnh tranh tới từ Trường Kinh doanh Harvard - được công bố hôm qua 30/11
Ba mất cân đối vĩ mô không thể xem thường
Theo phân tích của Báo cáo, hiện Việt Nam đang đối mặt với ba mất cân đối kinh tế vĩ mô khá nghiêm trọng
Trang 15Đầu tiên là lo lắng về thâm hụt thương mại đang ngày càng tăng: "Mặc dù được coi là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, Việt Nam đang nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu một cách có hệ thống".
Cùng với đó là quan ngại về khả năng trang trải các thâm hụt đối ngoại của Việt Nam ngày càng tăng với mức nợ công tăng lên và dự trữ ngoại hối giảm đi đáng kể, ảnh hưởng tới triển vọng của nền kinh tế
Một điểm nữa cũng được nhóm nghiên cứu nhắc đến là tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong những năm qua ngày càng dao động mạnh, với xu hướng tăng lên đáng kể Những dòng vốn ngoại lớn đổ vào cùng với tăng trưởng tín dụng trong nước đã gây ra áp lực đáng kể đối với lạm phát
Vì thế, theo các chuyên gia của nhóm nghiên cứu, "khi Việt Nam vẫn duy trì tỷ giá danh nghĩa ở mức ổn định, lạm phát dẫn tới tỷ giá thực có hiệu lực tăng lên, buộc Việt Nam phải liên tục phá giá đồng tiền"
"Những mất cân đối này có thể gây ra những hậu quả không thể xem thường, ít ra là chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao", nhận định đưa ra trong báo cáo
Cũng theo báo cáo thì khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam, quốc gia sẽ phải trải qua quá trình điều chỉnh rất khó khăn
và phải thay đổi hoàn toàn các chính sách về tỷ giá, cắt giảm chi tiêu công và đánh mất đi thành quả tăng trưởng của rất nhiều năm trước đó
"Mặc dù những phản ứng chính sách gần đây của Việt Nam đã được quốc
tế ghi nhận nhưng cho tới nay Việt Nam vẫn thiếu một chiến lược tổng thể để giải quyết các thách thức một cách toàn diện, hệ thống", báo cáo nhìn nhận
Đòi hỏi những cách tiếp cận chính sách mới
Theo nghiên cứu của nhóm thực hiện, các doanh nghiệp vẫn phàn nàn nhiều về tình trạng không tìm được lao động có kỹ năng đáp ứng nhu cầu và
sự thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật, logistics và năng lượng
Trong khi đó nguồn vốn FDI ngày càng tập trung vào lĩnh vực bất động sản và các ngành sử dụng nhiều lao động, chưa thấy rõ tác dụng lan tỏa tích cực của khu vực FDI đối với khu vực trong nước
"Những khó khăn này là dấu hiệu phần nào cho thấy mô hình tăng trưởng hiện nay đang mất dần động lực", báo cáo nhận định
Ngoài ra, chính sách kinh tế vĩ mô là một điểm yếu lớn trong những năm gần đây Cụ thể thời gian qua chính sách tài khóa bị cản trở nhiều bởi các thâm hụt cơ cấu lớn của khu vực nhà nước
Thêm vào đó, với những áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao, cũng như sự phát triển nóng của thị trường tài chính trước khi nổ ra khủng hoảng tài
Trang 16"Đến nay, trọng tâm của chính sách chủ yếu tập trung vào gia tăng đầu tư, nhất là đầu tư vào DNNN và cơ sở hạ tầng để tạo ra tăng trưởng hơn là dựa trên năng suất và hiệu quả", báo cáo đưa ra nhận định.
Phân tích cũng cho thấy tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang dựa trên một mô hình kinh tế mà dư địa còn lại không nhiều Với mô hình này, mức độ phồn thịnh cao nhất mà Việt Nam có thể đạt tới sẽ bị giới hạn bởi mức năng suất mà các lao động sản xuất chế biến, chế tạo
Từ những nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu cho rằng cách tiếp cận chính sách hiện nay vẫn dựa vào việc xây dựng các DNNN trở thành các tập đoàn anh cả của quốc gia, cấp tín dụng cho các công ty riêng lẻ và xây dựng những khu vực có hạ tầng hoàn chỉnh và chuyên biệt
Cách tiếp cận chính sách mới cần tập trung vào các cụm ngành thay vì các công ty riêng lẻ, "mục tiêu của chính sách là tăng năng suất chứ không phải chỉ tăng lợi nhuận của một vài công ty đơn lẻ nào đó, Chính phủ cần khuyến khích các doanh nghiệp trong cụm ngành cạnh tranh ở mức độ cao hơn thay vì bảo hộ cho họ tránh khỏi áp lực cạnh tranh"
Điểm yếu phân cấp và phối hợp thực hiện
Một vấn đề nữa cũng rất được lưu ý là với quy mô và đặc điểm địa lý của Việt Nam, việc phân bổ hợp lý, hiệu quả quyền hạn và trách nhiệm giữa chính quyền trung ương và các địa phương là vô cùng quan trọng
Lý do là vì các công ty bao giờ cũng có cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại một địa phương nào đó, do đó họ sẽ chịu tác động tổng hợp của các hiệu ứng chính sách từ cấp trung ương tới địa phương
Nhưng thực tế là cơ cấu phân cấp và phối hợp hiện nay của Việt Nam đang có nhiều điểm yếu, các vùng hay địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và định vị đặc thù của địa phương
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích mạnh sự hợp tác, kết hợp và làm lợi lẫn nhau giữa các tỉnh, nhất là các tỉnh trong cùng một vùng, thông qua các chính sách phát triển cụm ngành", báo cáo đề xuất
Cũng theo nhìn nhận của Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á, Chính phủ Việt Nam cần xác định được một vai trò mới cho mình, phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường năng động và đang hội nhập ngày càng sâu rộng
Với vai trò này, Chính phủ sẽ đảm nhận những công việc tạo điều kiện và đảm bảo thị trường được vận hành theo nguyên tắc của nó
Trang 17nhiệm cung cấp các thông tin, số liệu minh bạch và chính xác về thực trạng của nền kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối và kết nối đồng bộ các chính sách vĩ mô giữa các bộ, ngành.
Cụ thể hóa nhận định đó là đề xuất thành lập Hội đồng Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VCC) với nhiệm vụ chính là để thực hiện những việc trên Hội đồng này sẽ do Thủ tướng chủ trì và có một Ban thư ký chuyên trách và nguồn lực phù hợp để hoạt động
Khi đó, chức năng nhiệm vụ và hoạt động của Hội đồng là định hướng và điều phối các mục tiêu chính sách trung và dài hạn, chứ không chỉ để tìm kiếm các giải pháp tình thế nhằm đối phó và xử lý những khủng hoảng hay vấn đề trước mắt
3 Bất ổn vĩ mô có thể khiến nhà đầu tư vào Việt Nam nản lòng
Tiền đồng mất giá, lạm phát cao, cơ sở hạng tầng "cứng" và "mềm" chậm được cải thiện là những quan ngại được các nhà đầu tư nêu lên tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, diễn ra sáng nay (2/12) tại Hà Nội.
Là sự kiện khởi động cho Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) sẽ diễn ra vào đầu tuần tới tại Hà Nội, Diễn đàn lần này được đánh giá là kênh đối thoại quan trọng giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, tác động lớn đến quan điểm của các nhà tài trợ đối với Việt Nam
Diễn đàn sáng nay được mở đầu bằng việc công bố Báo cáo Điều tra cảm nhận môi trường kinh doanh năm 2010 tại Việt Nam Theo ban tổ chức, bao gồm Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), kết quả của báo cáo năm nay tương đối khả quan
75% trong số 227 doanh nghiệp được hỏi cho biết đang có kế hoạch mở rộng hoạt động tại Việt Nam Điểm số được các doanh nghiệp "chấm" cho môi trường kinh doanh cũng được nâng từ mức 2,28 của năm 2009 lên 2,52 điểm (trên thang điểm 5)
Tuy nhiên, cảm nhận chung của doanh nghiệp về các điều kiện kinh doanh tại Việt Nam chỉ dừng lại ở mức "tạm được", trong đó, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng kém lạc quan hơn so với các doanh nghiệp nội Trong
số 14 lĩnh vực cụ thể của môi trường kinh doanh (tiếp cận thông tin, kinh tế vĩ
mô, hệ thống pháp luật ), Việt Nam cũng không nhận được điểm số trên trung bình ở bất cứ một lĩnh vực nào
Tiếp nối việc công bố báo cáo nói trên, lần lượt cộng đồng các nhà đầu tư châu Âu, Mỹ, Australia và các doanh nghiệp trẻ Việt Nam đã có cơ hội đưa ra quan điểm cũng như kiến nghị đối với Chính phủ về môi trường kinh doanh tại Việt Nam Trong đó, các đại diện doanh nghiệp bày tỏ sự quan ngại sâu sắc nhất tới tình trạng bất ổn của kinh tế vĩ mô hiện nay
Trang 18Theo Chủ tịch Phóng thương mại Mỹ (AmCham) Hank Tomlinson, thành công của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài thời gian qua phần lớn được dựa vào kỳ vọng về một nền kinh tế - chính trị ổn định Tuy nhiên, cách tiếp cận của cơ quan chức năng đối với một số chính sách kinh tế, tiền tệ đã gây ra các vấn đề về tín nhiệm và lòng tin.
AmCham cho rằng kỳ vọng của nhà đầu tư về giá trị tiền đồng hiện không
ổn định, do đồng tiền này liên tục bị mất giá Điều này, theo ông Tomlinson, điều này không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng mà còn gây hệ lụy đối với hầu hết các doanh nghiệp
Chia sẻ quan điểm này, Chủ tịch Phòng thương mại châu Âu (EuroCham) Alain Cany cho rằng việc tiền đồng giảm giá sẽ có tác động tiêu cực tới thu nhập của các nhà sản xuất, từ đó gây tổn hại tới sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam Trong bối cảnh đó, tình trạng lạm phát ngày một tăng cũng được xem là một tác nhân chính, gây áp lực lên tỷ giá
Đề giải quyết tình trạng này, đại diện của các doanh nghiệp cho rằng Chính phủ Việt Nam nên tiếp tục thực hiện mạnh mẽ các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát, củng cố niềm tin của người dân vào tiền đồng Đặc biệt, cơ quan chức năng nên đưa ra các thông điệp chính sách rõ ràng, ổn định hơn, giúp tăng cường lòng tin vào việc quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ
Một quan ngại khác cũng được các doanh nghiệp nêu ra tại diễn đàn sáng nay là "câu chuyện muôn thuở" về cơ sở hạ tầng của Việt Nam Vấn đề lần này được đề cập đến ở cả phần "cứng" (hạ tầng vật chất) và "mềm" (lao động, cơ
sở pháp lý)
Theo AmCham, vấn đề hạ tâng vật chất của Việt Nam đã được các hiệp hội doanh nghiệp đề cập đến tại Diễn đàn trong ít nhất là 5 năm qua Tuy nhiên, Phòng thương mại Mỹ cho rằng vẫn còn nhiều "thiếu hụt và trễ nải" trong quá trình cải thiện
Phía Eurocham thì khẳng định Việt Nam cần ít nhất 70-80 tỷ USD để đầu
tư cho đường bộ, đường sắt và cảng biển trong vòng 5-10 năm tới Tổ chức này cho rằng lượng vốn và khối lượng công việc này cần được Chính phủ chia
sẻ nhiều hơn nữa cho khu vực tư nhân, thông qua mô hình hợp tác công tư (PPP)
Đối với hạ tầng "mềm", Giám đốc khu vực của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) Simon Andrews cho biết 50% trong số doanh nghiệp không muốn mở rộng kinh doanh tiết lộ nguyên nhân là do trình độ nhân lực Các tổ chức quốc
tế khẳng định rằng Việt Nam không thể chiến thắng trong cuộc chơi toàn cầu hóa nếu chỉ dựa trên yếu tố nhân công giá rẻ
Trang 19nguồn nhân lực cho Việt Nam Tuy nhiên, các quy định cho phép tổ chức giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều hạn chế.
Cũng liên quan đến vấn đề hành lang pháp lý, hầu hết các doanh nghiệp đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách hệ thống thủ tục hành chính Tuy vậy, những tiến bộ đạt được vẫn còn chưa đạt được như kỳ vọng.Một vấn đề quan trọng khác cũng được cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp trẻ tại Việt Nam quan tâm là việc quản lý các khối doanh nghiệp Nhà nước
Đại diện Hội Doanh nhân trẻ TP HCM cho rằng yêu cầu đổi mới khối doanh nghiệp quốc doanh, song song với việc tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tham gia sâu vào quá trình phát triển kinh tế đã trở nên vô cùng bức thiết Hiệp hội này cũng đề nghị cơ quan chức năng thúc đẩy hơn nữa quá trình cổ phần hóa, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, để tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như giảm gánh nặng quản lý của Chính phủ
Chăm chú lắng nghe ý kiến giãi bày của các doanh nghiệp trong suốt 4 giờ thảo luận, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Võ Hồng Phúc tỏ ra tâm đắc với hầu hết các vấn đề được nêu lên Với tư cách là đồng Chủ tịch, đồng thời là đại diện của Chính phủ tại Diễn đàn, Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp thu đầy đủ các kiến nghị được doanh nghiệp phản ánh
Những kiến nghị này, theo Bộ trưởng, sẽ tiếp tục được xem xét trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như đảm bảo lợi ích quốc gia Bản tổng hợp ý kiến của các doanh nghiệp cũng sẽ được gửi tới Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) diễn ra trong 2 ngày 7-8/12 tới để tiếp tục trao đổi, thảo luận
4 Áp lực gia tăng lên ổn định vĩ mô
Tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ CG năm nay, những lo ngại về bất
ổn kinh tế vĩ mô, về vấn đề lòng tin suy giảm thậm chí được nêu ra thẳng thắn và tập trung hơn so với các kỳ hội nghị năm 2008 và 2009, khi Việt Nam phải gồng mình vật lộn với hai mục tiêu trái ngược nhau là kiềm chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế.
Các bất ổn kinh tế vĩ mô quay trở lại trong những tháng cuối năm đã trở thành động lực để chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế đặt tên cho Hội nghị CG năm nay là "Ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững"
Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Victoria Kwakwa nói:
"Tôi muốn nhấn mạnh rằng, thay đổi bên lề là hoàn toàn không hiệu quả Nó
đòi hỏi một tầm nhìn rõ ràng, và cam kết chính trị mạnh để hiện thực hóa các hành động nhằm vẽ nên tiến trình phát triển mới cho Việt Nam".
Trang 20Bà Kwakwa đã kết luận mạnh mẽ như trên sau khi nêu bật lên hàng loạt các thách thức phát triển đối với Việt Nam như xác định lại vai trò của chính phủ phù hợp với nền kinh tế thị trường, xây dựng các nguồn lực có lợi thế cạnh tranh mới, lựa chọn con đường phát triển bền vững hơn với môi trường, và hơn hết, là duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định để tạo khuôn khổ cho tất cả những yêu cầu đó.
Giám đốc Ngân hàng thế giới, người giữ vai trò chủ tọa trong phiên họp
CG ngày hôm nay 7/12, trước đó đã công bố hàng loạt các dấu hiệu bất ổn vĩ
mô của Việt Nam trong những tháng gần đây trong báo cáo Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2010 được phổ biến tại hội nghị
Theo báo cáo này, lạm phát đứng ở mức 9,6% trong 11 tháng đầu năm và
sẽ vào khoảng 11,1% trong cả năm nay Từ góc độ lịch sử, Việt Nam luôn có tỷ
lệ lạm phát cao hơn các nước láng giềng trong gần thập kỷ qua là khoảng 8,8%, so với 2,7% của Thái Lan và 5,1% của Philippines
Đồng tiền của Việt Nam trong ba năm qua đã chịu áp lực nặng nề và đã mất giá gần một phần ba so với đo la Mỹ, trong khi tình hình càng trở nên quan ngại khi mức dự trữ ngoại hối giảm dần
Bên cạnh đó, báo cáo nhận xét, một khối lượng lớn ngoại tệ đã được găm giữ bên ngoài hệ thống ngân hàng (lên 12,2% GDP năm 2009 và 5,9% trong 10 tháng đầu năm 2010) Có nghĩa là, báo cáo của Ngân hàng Thế giới nhận xét, vấn đề ngoại hối của Việt Nam không chỉ xuất phát từ các bất ổn kinh tế vĩ mô,
mà còn là kết quả của sự suy giảm niềm tin của thị trường vào khả năng của các cơ quan hữu quan trong việc khắc phục các bất ổn đó
Bà Kwakwa nhận định: "Bản thân mục tiêu hoạch định chính sách của Việt
Nam dường như đã có thiên vị cố hữu, coi trọng mục tiêu tăng trưởng cao hơn
là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô."
Nhận xét thẳng thắn của Giám đốc Ngân hàng thế giới được hầu hết các đối tác phát triển của Việt Nam chia sẻ Trong bản tuyên bố chung của các đối tác phát triển do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB và Austrailia dẫn đầu được phổ biến tại hội nghị, các nhà tài trợ yêu cầu chính phủ phải xem ổn định kinh
tế là điều kiện tiên quyết
Các nhà tài trợ khuyến nghị, Việt Nam phải xây dựng một chính sách tiền
tệ rõ ràng trong dài hạn để có thể xếp hàng ngang với các nước láng giềng trong ASEAN về mục tiêu lạm phát đang chỉ ở mức trung bình khoảng 2-4%.Bên cạnh đó, các nhà tài trợ quốc tế yêu cầu Chính phủ cần củng cố tài khóa bằng việc tăng cường giám sát các khoản chi tiêu công, nhất là với nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn đang tiến hành các hoạt động đầu tư và vay nợ
Trang 21Tuyên bố chung của các nhà tài trợ nhấn mạnh: "Việt Nam cần gửi đi một
tín hiệu rõ rằng với thị trường rằng, quốc gia nghiêm túc trong việc ổn định kinh
tế vĩ mô, dỡ bỏ áp lực đè nặng lên tiền đồng và duy trì tăng trưởng bền vững".
Tuy vậy, nhận định thẳng thắn nhất - như mọi khi - đến từ Quỹ tiền tệ quốc
tế, cơ quan chỉ duy trì những hoạt động mang tính hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam, thay vì cung cấp các khoản vay trị giá lớn
Trưởng phòng Vụ Châu Á và Thái Bình Dương Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Masato Miyazaki nói: "Chúng tôi tin rằng, sự bất ổn định của các điều kiện kinh
tế vĩ mô phần nhiều là do sự mất niềm tin của thị trường vào định hướng chính sách kinh tế vĩ mô Chính phủ phải thể hiện sự quyết tâm và cam kết lâu dài về duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và đối phó với những rủi ro kinh tế vĩ mô đang gia tăng Thực tế là bất chấp có những tuyên bố chính thức thì ngược lại, những động thái chính sách của chính phủ thường xuyên gây ấn tượng rằng chính phủ coi trọng tăng trưởng ngắn hạn hơn là sự ổn định cần thiết để duy trì tăng trưởng trong dài hạn."
Ông khuyến nghị chính phủ nên thực hiện ngay ba chính sách như sau:Thứ nhất, thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ để khôi phục lại một cách trật tự các điều kiện trên thị trường ngoại hối và kiềm chế áp lực lạm phát Trong trung hạn, chỉ có thể có một thị trường ngoại hối ổn định nếu chính sách tiền tệ được tái định hướng nhằm đạt được mức lạm phát gần hơn với mực lạm phát trung bình 3-4% của các nước ASEAN
Thứ hai, chính phủ cần thực hiện một kế hoạch củng cố ngân sách nhằm giảm tỷ lệ nợ công trên GDP để nâng cao niềm tin và tạo không gian tài khóa trong bối cảnh có sự lo ngại về các khoản nợ dự phòng được bảo lãnh và ngầm được bảo lãnh Việc giảm hơn nữa thâm hụt ngân sách xuống dưới 5% GDP trong năm 2011 và khoảng 3% năm 2015 dường như sẽ đạt được nếu quá trình củng cố ngân sách được duy trì
Và cuối cùng, IMF cho rằng, chính phủ cần tiếp tục có các cuộc cải cách nhằm đảm bảo hệ thống tài chính vững mạnh, hiệu quả và dựa trên nguyên tắc thị trường do lo ngại rằng, tín dụng tăng mạnh trên 30% trong các năm 2007 và
2009 có thể dẫn đến suy giảm chất lượng tài sản của họ, bao gồm các khoản vay cho Vinashin hay các công ty nhà nước và ngoài nhà nước lớn khác
Trong nỗ lực tương tự, các đại sứ Hoa Kỳ, Anh, phái đoàn châu Âu, và Liên hiệp quốc đều nhấn mạnh chính phủ cần tập trung nỗ lực ổn định kinh tế
vĩ mô để vừa "giảm gánh nặng cho người nghèo", vừa "gia tăng lòng tin của các nhà đầu tư"
Những lo ngại nêu trên được nêu ra thẳng thắn và tập trung hơn so với các kỳ hội nghị CG năm 2008 và 2009, khi Việt Nam phải gồng mình vật lộn với hai mục tiêu trái ngược nhau là kiềm chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế
Trang 22Quan ngại trên lại được nêu ra trong bối cảnh hầu hết các quốc gia trong khu vực đã dần trở lại quỹ đạo phát triển, với GDP tăng cao và CPI giảm nhiều
so với Việt Nam vào cuối năm 2010
Mặc dù vậy, báo cáo của Chính phủ Việt Nam do Thứ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh trình bày cho rằng, việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô là một thách thức lớn, nhưng nhờ những biện pháp điều hành linh hoạt, phù hợp nên tình hình "đã có bước cải thiện"
Bản báo có này không đề cập đến con số lạm phát lên tới 9,58% trong 11 tháng đầu năm nay mà Tổng cục thống kê công bố
Tuy nhiên, trong thông điệp nhằm trấn an các nhà tài trợ quốc tế, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, chính phủ đặt mục tiêu cho năm 2011
là tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát
Cũng như ông Phúc, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cam kết, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ "chủ động, linh hoạt và thận trọng" nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm tới
Nhìn nhận lại khả năng điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc khẳng định, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng khoảng 25-27% trong năm nay là phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, góp phần hỗ trợ hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận, lạm phát tăng cao trở lại, thâm hụt ngân sách, đầu tư công và nợ công lớn, và đặc biệt cơ chế điều hành thiên về hỗ trợ tăng trưởng là những thách thức cho Việt Nam
5 Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?
Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng
mà vẫn nghèo?
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc
Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong mà vẫn không cách
gì khai thác được Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn
Trang 23có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.
Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình
Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ
vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình
Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh nhưng lại không biết mình thực sự muốn
gì, muốn phát triển theo hướng nào Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa , tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng
Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long
Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức "thu bạc lẻ", lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được
bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền "Người ta
chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch
vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua", chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS
Michael Porter phân tích Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu
sự đầu tư
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu
Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là "nền kinh tế GDP tỉnh", các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào
Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình,
cả về lợi thế và vị trí riêng Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong
khi đó, "bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ", GS Michael Porter đã đúc
kết quy luật chung trong phát triển như vậy
Trang 24Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau
Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước
Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với
108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới
Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên
Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính
Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện
ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn
Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép , tỉnh nào cũng lo
có cho được cảng biển riêng , mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện
đi kèm
Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế Ta có một
số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ
Trang 25Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển Hiện tại, cảng Cái Mép - Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.
Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm
Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu "mạnh ai nấy làm" Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất
Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm
Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc "chạy đua xuống đáy", khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ
Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước
Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành", GS Michael Porter khuyến nghị "Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương"
Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới
Trang 26Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
6 Việt Nam cam kết sử dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ
Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam giữa Chính phủ Việt Nam và các nước đối tác phát triển đã kết thúc sau hai ngày làm việc tại Hà Nội, với cam kết mạnh mẽ cho sự phát triển của Việt Nam với vị trí mới là nước đạt mức thu nhập trung bình Mức cam kết viện trợ năm nay của các nhà tài trợ dành cho Việt Nam là khoảng 7,9 tỷ USD (năm 2009 là 8,063 tỷ USD) để giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô và tập trung vào các khía cạnh quan trọng của phát triển bền vững Trong đó, viện trợ đa phương là 4,6 tỷ USD (Ngân hàng Thế giới tài trợ nhiều nhất), viện trợ song phương là 3,3 tỷ USD (Nhật Bản tài trợ nhiều nhất)
Ngân hàng Thế giới (WB) là nhà tài trợ lớn nhất với cam kết hơn 2,6 tỷ USD Tiếp đến là Nhật Bản với hơn 1,7 tỷ USD, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tài trợ 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc hơn 411 triệu USD, các tổ chức phi chính phủ quốc tế hơn 270 triệu USD, Pháp hơn 221 triệu USD Như vậy tính đến nay, qua 18 kỳ tài trợ, số vốn tài trợ cho Việt Nam tính cả lần này là hơn 64 tỷ USD Con số này thể hiện lòng tin của các nhà tài trợ, các nước đối tác phát triển dành cho Việt Nam
Tổng kết Hội nghị, bà Victoria Kwakwa đã đánh giá cao kết quả thảo luận liên quan đến vấn đề kinh tế - xã hội mà Việt Nam đối mặt khi bước vào giai đoạn phát triển mới, sẽ đem lại cơ hội và thách thức CG lần này được tổ chức khi Việt Nam đang ở thời điểm quan trọng, đạt đựơc nhiều tiến bộ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức mà Việt Nam phải giải quyết, một số rủi ro đang nổi lên khi Việt Nam là nước thu nhập trung bình thấp Nhiều đại biểu đã đưa ra các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường quản trị nhà nước, giảm thiểu tham nhũng, giúp cho xã hội phát triển bền vững và hoà nhập
Trong thảo luận về vĩ mô, các đại biểu đều nhất trí Việt Nam đã đạt được tiến bộ lớn và cần phải có những hành động cụ thể, hiệu quả Việt Nam đã hội nhập vì vậy phải có năng lực và công cụ để tránh những cú sốc so với nền kinh
tế thế giới
Cần tăng cuờng tính minh bạch, cách quản lý kinh tế vĩ mô, tạo lòng tin, tránh bóp méo thị trường, áp lực chỉ số giá Cần có công cụ quản lý gián tiếp thay vì các công cụ hành chính, cần có sự thay đổi phù hợp chính sách tiền tệ, tài khoá, thêm những biện pháp để ổn định quản lý khu vực kinh tế nhà nước, tách vai trò quản lý của Chính phủ với tập đoàn, áp dụng mô hình quản lý hiện
Trang 27Chính phủ Việt Nam cần tạo sân chơi bình đẳng giữa khu vực tư và khu vực công để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm nguy cơ tham nhũng, cần đưa ra những biện pháp làm giảm nhẹ rủi ro.
Đại diện Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, Việt Nam đã đạt đựơc bước tiến dài trong việc giảm đói nghèo nhưng vẫn còn nhiều thách thức Các nước đối tác hoan nghênh Chính phủ đã có những nỗ lực giảm các chương trình xóa đói giảm nghèo Cần có phương pháp tiếp cận khác nhau với những đối tượng, nhóm người khác nhau Xây dựng giải pháp phù hợp với từng điạ phương, trao quyền cho những người được hưởng lợi, cộng đồng dân tộc thiểu số
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc cho rằng, Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình thấp trong năm 2010, điều này cũng có nghĩa rằng các khoản vay ưu đãi, các khoản viện trợ không hoàn lại sẽ tiếp tục giảm, chuyển thành các khoản vay thương mại Điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đối với Việt Nam trong việc hoàn thành các mục tiêu của Thiên niên kỷ về bảo vệ môi trường, chống lại căn bệnh HIV/AIDS…
Trong bối cảnh đó, quan hệ đối tác mới giữa Nhóm 6 Ngân hàng phát triển
và Chính phủ được mở ra Cùng với hoạt động truyền thống nhằm cải thiện tình hình thực hiện các dự án ODA, Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển đã thảo luận
và đàm phán với Chính phủ về những vấn đề đang nổi lên của nước có thu nhập trung bình thấp như tăng cường cải thiện hệ thống quốc gia về quản lý đấu thầu; quản lý tài chính; đánh giá tác động xã hội và môi trường cũng như cải tổ các Ban quản lý dự án
Kết thúc Hội nghị, đại diện Chính phủ Việt Nam Bộ trưởng Võ Hồng Phúc Khẳng định Việt Nam là quốc gia sử dụng tốt ODA và Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ tiếp tục sử dụng hiệu quả nguồn hỗ trợ này Ông cũng cảm ơn đại diện các các nhà tài trợ đã có những ý kiến đóng góp thẳn thắn mang tính xây dựng nhằm giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững
7 Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 11/2010: Tập trung kiểm soát giá - đảm bảo cung cầu hàng hóa
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các Bộ, ngành địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường, giá cả
Ngày 1/12, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 11/2010 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các Phó Thủ tướng, nhằm đánh giá kinh
tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng qua, đề ra các giải pháp chỉ đạo điều hành trong tháng cuối nămvà trong dịp Tết Nguyên đán Tân Mão
Các thành viên Chính phủ cũng thảo luận đóng góp ý kiến Đề án tăng cường và nâng cao chất lượng công tác dự báo vĩ mô, dự thảo Nghị quyết của
Trang 28Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 – 2020, Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 do các Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Lao động – Thương binh và Xã hội, Nội vụ trình
Sản xuất – kinh doanh phát triển
Đánh giá về tháng 11 và 11 tháng qua, các thành viên Chính phủ nhất trí cho rằng, kinh tế - xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực, nền kinh tế phục hồi nhanh trong điều kiện kinh tế thế giới vẫn còn diễn biến phức tạp
Sản xuất công nghiệp phục hồi với tốc độ tăng trưởng nhanh (13,8%); sản xuất nông, lâm, thủy sản mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều của thiên tai, lũ lụt nhưng vẫn đạt khá, xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, gần 4,5 triệu tấn thủy sản; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 25% so với cùng kỳ năm 2009; xuất khẩu đạt xấp xỉ 64,3 tỷ USD, tăng 24,5% so với năm trước, gấp
4 lần so với chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội thông qua (> 6%)
Trong đó có 16 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD gồm: Dệt may, giày dép, thủy sản, dầu thô, điện tử, máy tính, gỗ và sản phẩm gỗ; đá quý, kim loại quý, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, cao su, cà phê, phương tiện vận tải, than đá, cáp điện, hạt điều
Thu ngân sách đạt khá, bảo đảm được các nhu cầu chi; đầu tư phát triển được đẩy mạnh, huy động và giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt mức cao Trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng đầu năm thực hiện đạt 9,95
Đồng thời, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các tỉnh khẩn trương khắc phục hậu quả do lũ lụt gây ra tháng trước tại các tỉnh Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình…) sửa chữa, khôi phục lại các cơ sở hạ tầng thiết yếu bị hư hỏng
Chính phủ đã trích 6.400 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương để bổ sung nhiệm vụ quốc phòng – an ninh và hỗ trợ kinh phí phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai,…xuất cấp không thu tiền gần 73 nghìn tấn
Trang 29Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, như Nghị quyết 30a/2008/NQ – CP của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững tại 62 huyện nghèo; hỗ trợ về nhà ở, xóa nhà dột nát; hỗ trợ tín dụng cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số để ổn định chỗ ở, phát triển sản xuất; đào tạo và đưa lao động ở các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài; tích cực triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới…
Giá cả có xu hướng tăng
Các thành viên Chính phủ cũng tập trung xem xét những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, giá cả nhiều mặt hàng trên thế giới tăng (vàng, kim loại quý, dầu…) đã ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế nước ta
Những biến động của các đồng tiền trong thời gian gần đây, đặc biệt là đồng USD, dẫn đến xu thế tăng dự trữ vàng, đa dạng hóa nguồn dự trữ ngoại
tệ của các quốc gia, ảnh hưởng đến giá vàng quốc tế và giá vàng trong nước.Trong khi đó chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 tăng 1,86% so với tháng trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng gần đây Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 đã ở mức 9,58%, tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân
Quyết liệt kiểm soát giá, ổn định kinh tế vĩ mô
Kết luận phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các thành viên Chính phủ cần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề để xảy ra tình trạng giá cả tăng cao, tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân và yêu cầu các
Bộ, ngành địa phương tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường và giá cả; quyết liệt thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ vềviệc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ, bình ổn giá cả, thị trường trong dịp Tết Nguyên đán Tân Mão và quý I/2011
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước chủ động, kịp thời áp dụng các giải pháp hữu hiệu để bảo đảm kiểm soát, ổn định tỷ giá ngoại tệ, giá vàng và lãi suất; giảm rủi ro cho người dân, khuyến khích dòng tiền chảy vào hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì đầu cơ tích trữ vàng, ngoại tệ; phối hợp với UBND các tỉnh kiểm tra, xử lý các trường hợp đầu cơ, găm giữ kinh doanh trái pháp luật vàng, ngoại tệ, làm lũng đoạn thị trường
Chính quyền các cấp chỉ đạo các ngành chức năng ở địa phương chủ động thành lập các đoàn kiểm tra chống các hành vi đầu cơ, găm hàng, đưa tin thất thiệt về cung cầu, giá cả hàng hóa, dịch vụ … trên địa bàn; xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của pháp luật, kể cả thu hồi giấy phép kinh doanh hoặc đề nghị cơ quan chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 30Các Bộ, ngành phối hợp với UBND các tỉnh tập trung tháo gỡ khó khăn về
cơ chế, chính sách, môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính, vốn, mạng lưới kinh doanh để các doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm cung ứng đủ và ổn định giá cả đối với những mặt hàng thiết yếu không để xảy ra mất cân đối cung cầu; tiếp tục triển khai thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả của đợt lũ lụt vừa qua, sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống nhân dân Đồng thời các địa phương tăng cường kiểm soát giá, tạo điều kiện mở rộng mạng lưới, tăng điểm bán hàng, tích cực đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa
Bộ Thông tin và Truyền thông, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng chủ động phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền để nhân dân tiếp cận được nhanh, chính xác hoạt động điều hành của Chính phủ
và các thông tin về tài chính, tiền tệ, thị trường, giá cả; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ; phản ánh sát thực về cung cầu, giá cả để các doanh nghiệp, nhân dân hiểu rõ, tạo sự đồng thuận trong xã hội, góp sức cùng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường, tránh tâm lý bất an trong nhân dân
Thủ tướng cũng nhắc nhở các ngành chức năng chú ý tăng cường các biện pháp giảm thiểu tối đa tai nạn giao thông trong tháng cuối nămvà trong dịp Tết Nguyên đán Tân Mão
8 Bộ Công Thương phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành
Da - Giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025
Theo Quyết định số 6209/QĐ-BCT ngày 25 tháng 11 năm 2010, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành
Da - Giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 Ngành Da - Giầy Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới với những định hướng và mục tiêu phát triển vừa bảo đảm phát triển bền vững nhưng cũng kèm theo cả những mục tiêu mang tính đột phá
Trên phương diện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý ngành Da - Giầy Việt Nam, tại Quyết định số 6209/QĐ-BCT ngày 25 tháng 11 năm 2010, Bộ Công Thương đã thay mặt Chính phủ phê duyệt các định hướng và mục tiêu mới; hệ thống các lĩnh vực quy hoạch mới từ sản phẩm đến thị trường, từ phân bố vùng quy hoạch đến các dự án đầu tư, từ phát triển nguồn nhân lực đến nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đặc biệt
là lĩnh vực đầu tư chiều sâu, phát triển công nghiệp phụ trợ và phát triển nguồn nhân lực, từ phân công giao nhiệm vụ đến việc chỉ đạo tổ chức thực hiện và phối hợp hành động giữa các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội
Trang 31khác, các doanh nghiệp trong và ngoài ngành nhằm chỉ đạo thực hiện thành công Quy hoạch đã được đề ra.
Theo Quyết định trên, đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, ngành Da
- Giầy Việt Nam sẽ phát triển trên cơ sở phù hợp các quy định hiện hành về công tác quy hoạch Toàn ngành vẫn duy trì định hướng chủ động phục vụ xuất khẩu và chiếm lĩnh dần thị trường nội địa, phát triển mạnh sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị gia tăng của thị trường sản phẩm Da - Giầy thế giới; phát triển ngành Da - Giầy Việt Nam nhằm tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công sang tự sản xuất, kinh doanh; gắn việc phát triển nhanh quy
mô sản xuất với việc tập trung mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực được đào tạo trong đó quan tâm đặc biệt đối với lao động nghèo, lao động nông nghiệp; gắn việc phát triển sản xuất trên cơ sở thực hiện tốt trách nhiệm
xã hội, thân thiện và bảo vệ môi trường; chuyển dịch các cơ sở gia công mũ giầy về các vùng nông thôn, vùng có nhiều lao động; nâng cao năng lực tự thiết kế mẫu mã và phát triển sản phẩm mới, ưu tiên ứng dụng công nghệ tự động hoá trong thực hiện công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất
Mục tiêu chung phát triển đến năm 2020 là xây dựng ngành Da - Giầy Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế quốc dân; Tiếp tục giữ vị trí trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm Da - Giầy hàng đầu thế giới và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội trên cơ sở thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, thực hiện trách nhiệm xã hội ngày càng tốt, số lượng lao động được qua đào tạo ngày càng tăng
Với tốc độ tăng trưởng dự kiến, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành năm 2015 là 9,1 tỷ USD; năm 2020 là 14,5 tỷ USD và năm 2025 đạt 21 tỷ USD Nâng dần tỷ lệ nội địa hoá các loại sản phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt trong quá trình xây dựng Quy hoạch trong giai đoạn
2020, tầm nhìn 2025, trong đó phấn đấu năm 2015 tỷ lệ nội địa hoá đạt 65%, năm 2020 đạt 75-80 % và năm 2025 đạt 80-85%;
60-Việc xây dựng một số khu - cụm công nghiệp sản xuất Da - Giầy, sản xuất nguyên phụ liệu và xử lý môi trường tập trung trên cơ sở lợi thế về hạ tầng và lao động để chủ động cung cấp nguyên phụ liệu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành và xây dựng mới và phát triển các cơ sở đào tạo, các
cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ, các trung tâm kiểm định, dịch vụ ngành và các trung tâm Xúc tiến thương mại, trung tâm Thời trang ở trong nước và nước ngoài là những định hướng có tính lâu dài nhằm phát triển ngành theo hướng ổn định và bền vững
Trang 32Điểm mới của Quy hoạch giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025
là việc quan tâm đến việc năng cao khả năng thiết kế mẫu mã sản phẩm và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Da - Giầy nói chung và thời trang nói riêng
Do đó trong giai đoạn tới, Bộ Công Thương sẽ chỉ đạo để ngành Da - Giầy phối hợp cùng với ngành Dệt May và một số ngành liên quan khác làm trụ cột phát triển công nghiệp thời trang Việt Nam tại một số đô thị, thành phố lớn
Trong Quy hoạch ngành Da - Giầy Việt Nam đến năm 2020, giầy dép vẫn
là sản phẩm chủ lực của ngành, song sẽ quan tâm đến việc sản xuất giầy dép
da thời trang và cặp - túi - ví chất lượng cao phục vụ thị trường mới, thị trường cao cấp và thị trường nội địa Đối với sản phẩm da thuộc, ngành sẽ tập trung sản xuất da thuộc với công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường Đầu tư sản xuất da thuộc được gắn liền với việc phát triển đàn gia súc góp phần giảm nhập siêu và chủ động trong sản xuất
Đến năm 2020, tổng sản phẩm giầy dép các loại dự kiến đạt 1,6 tỷ đôi, vali - cặp - túi - ví các loại đạt gần 300 triệu chiếc, da thuộc cứng đạt 63 nghìn tấn, da thuộc mềm đạt 277 triệu bia
Với quy hoạch theo vùng lãnh thổ, bố trí sản xuất và đầu tư của ngành
Da - Giầy trên toàn quốc được xác định thành 4 vùng chủ yếu gồm: vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung, vùng đồng bằng Sông Cửu Long
Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành giai đoạn 2011-2020 là 59.570 tỷ đồng, trong đó huy động trong nước 43% và kêu gọi đầu tư nước ngoài tới 57% trong tổng nhu cầu vốn
Trải qua trên 20 năm phát triển, giờ đây ngành Da - Giầy Việt Nam không những đã tự tin trên con đường phát triển của mình mà còn nhìn nhận ra được nhiều bài học kinh nghiệm, nhiều nguyên nhân đưa đến thành công và những hạn chế Với hệ thống giải pháp mới, mang tính đột phá, dưới sự chỉ đạo và quản lý nhà nước của Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý chức năng, với sự đồng tâm hiệp lực của cộng đồng các doanh nghiệp Da - Giầy trong và ngoài nước, sự thu hút lao động trong cả nước, chắc chắn rằng Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da - Giầy đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2025 sẽ đảm bảo được mục tiêu vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa nâng cao tính cạnh tranh của ngành Da - Giầy Việt Nam trong giai đoạn 10 - 15 năm tới
9 Thách thức từ vị thế mới
Vị thế của một quốc gia có thu nhập trung bình đang đặt ra cho Việt Nam những thách thức mới là nội dung đáng chú ý nhất trong các hoạt động của Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) năm nay
Thách thức
Ba năm trước, khi đến thăm Việt Nam, Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới,
Trang 33khi đó, các thách thức lớn cũng sẽ đến với Việt Nam trong đó có một vấn đề rất quan trọng là sự đối xử của cộng đồng quốc tế sẽ khắt khe hơn trước.
Nay thì thời điểm đó thực sự đã đến Trong năm 2010, Việt Nam đã chuyển từ một nước có “thu nhập thấp” thành một nước có “thu nhập trung bình” Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu (Eurocham), ông Alain Cany, nói rằng Việt Nam đã đạt được điều đó qua việc thúc đẩy các lợi thế kinh tế chính trong đó có chi phí nhân công tương đối thấp, nguồn tài nguyên thiên nhiên,
ưu đãi về địa lý, sự ổn định về chính trị và sự hấp dẫn về một thị trường mới rộng lớn chưa được khai thác với tiềm năng nội địa lớn Việt Nam cũng đã nhận được các khoản viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn từ các nguồn song phương và đa phương Nhưng giờ đây, Việt Nam không thể mong đợi các lợi thế cạnh tranh hiện tại kéo dài mãi do mức tăng tiền lương, sự hạn chế của nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn ODA cho Việt Nam cuối cùng
sẽ giảm hoặc không liên tục
“Chìa khóa để đạt được sự phát triển kinh tế bền vững lâu dài là dịch chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp sang xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và phức tạp hơn, đặc biệt là ngành công nghệ cao có tính sáng tạo Do đó trong năm 2011, Việt Nam nên tập trung vào sức cạnh tranh của nền kinh tế trong khi vẫn tìm kiếm các giải pháp mang tính bền vững lâu dài”, ông Cany nói
Chủ tịch Eurocham, người có hàng chục năm làm việc tại Việt Nam, cho rằng khả năng để Việt Nam duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian dài hơn sẽ phụ thuộc vào việc Chính phủ Việt Nam có thực hiện và duy trì các hành động ngay bây giờ trong một vài lĩnh vực trọng yếu ví dụ như cơ
sở hạ tầng
Việt Nam cũng cần khuyến khích một “văn hóa cải tiến” đánh giá tính sáng tạo, các suy nghĩ đổi mới Nếu không, Việt Nam sẽ có rủi ro rơi vào “cái bẫy thu nhập trung bình” Một nền kinh tế có năng suất lao động thấp và phương pháp sản xuất với công nghệ thấp không thể trở thành nền sản xuất
có giá trị gia tăng cao “Khả năng của Việt Nam để đạt được vị thế “nước có thu nhập cao” phần lớn phụ thuộc vào điều này”, ông nói
Cũng như mọi năm, tham luận của Phòng Thương mại Mỹ (Amcham) tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) tổ chức trước Hội nghị CG năm nay dành một mục để nói về vấn đề công khai minh bạch và năng lực điều hành Nhưng năm nay, ngôn từ dường như mạnh mẽ hơn
“Hệ thống quản lý hiện hành là không đầy đủ để có thể ngăn chặn các cán bộ tham nhũng biển thủ những khoản tiền lẽ ra phải được sử dụng cho mục đích công, đặc biệt là các dự án cơ sở hạ tầng Chúng tôi kiến nghị Chính phủ tiến hành thêm những biện pháp cần thiết theo các thực hành tốt nhất trên thế giới về các chuẩn mực kiểm toán và thu thuế để có thể giải quyết
Trang 34mối quan ngại về nạn tham nhũng ngày một gia tăng đang tồn tại như một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của Việt Nam”, bản tham luận viết.
Cách hành xử cũng phải thay đổi
Giai đoạn “quá độ” sau khi gia nhập WTO, trong đó ít nhiều Việt Nam còn
có thể duy trì một số hạn chế nhất định đối với đầu tư nước ngoài trong một
số lĩnh vực, đang dần trôi qua Với tư cách là một thành viên đầy đủ, cách hành xử giờ sẽ phải khác
Một số chuyên gia nước ngoài cho rằng có vẻ như Việt Nam hơi chủ quan với những điều đã cam kết với cộng đồng quốc tế Trưởng nhóm công tác sản xuất và phân phối thuộc VBF, ông Seck Yee Chung nói rằng Thông tư
số 122 về quản lý giá được ban hành ngay cả khi nhận được nhiều ý kiến phản đối là một câu chuyện mà nếu đi sâu phân tích thì độ phức tạp có thể sẽ lớn hơn nhiều so với hình dung của các nhà soạn thảo
“Thất vọng” là cụm từ mà Chủ tịch Amcham, ông Hank Tomlinson mô tả khi nói về Thông tư 122 Ông này cho rằng việc quản lý giá là không hiệu quả, thậm chí sẽ còn gây phản tác dụng “Chúng tôi cũng lo ngại rằng việc ban hành thông tư này chủ yếu tập trung vào sản phẩm nhập khẩu từ các công ty nước ngoài, một vi phạm rõ ràng đối với tinh thần và nội dung các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO Bên cạnh cách tiếp cận chung rất phi thị trường về giá, thông tư này còn gây ra những gánh nặng hành chính cho tất
cả các doanh nghiệp sản xuất và các kênh phân phối đối với một số lượng lớn các loại sản phẩm Thông tư này cũng buộc các công ty phải tiết lộ rất nhiều vấn đề vốn được xem như bí mật kinh doanh của họ”, ông phân tích và nhấn mạnh rằng văn bản này “đang làm giảm đi khả năng Việt Nam có thể có được
tư cách “nền kinh tế thị trường”
Theo nhận định của các nhà đầu tư nước ngoài, trong các lĩnh vực như dược phẩm, y tế, giáo dục… Việt Nam vẫn đang duy trì những rào cản mà lẽ
ra phải được dỡ bỏ theo cam kết Tình trạng này sẽ khiến Việt Nam “khó ăn khó nói” với thế giới trong nhiều vấn đề, dù cho bảo hộ bằng hàng rào kỹ thuật hiện vẫn là xu hướng khá phổ biến trên thế giới “Đừng quên rằng trước mắt Việt Nam tiếp tục là hàng loạt cuộc đàm phán mới”, một chuyên gia nước ngoài lưu ý với chúng tôi bên lề VBF
Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
Sự phát triển kinh tế ở Việt Nam đã tạo ra một áp lực lớn và ngày càng tăng đến cơ sở hạ tầng Vấn đề này đã tồn tại dai dẳng, và trong một số trường hợp, góp phần gây ra sự tắc nghẽn giao thông Thiếu hụt năng lượng
Trang 35Về cấp phép đầu tư
Cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài thống nhất rằng tiến trình phê duyệt đầu tư và thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn và tốn thời gian Với nhiều doanh nghiệp nước ngoài, trở ngại không chỉ
có ở sự phức tạp của các thủ tục hành chính mà đôi khi còn ở việc thực hiện không nhất quán, thiếu sự phối hợp giữa các luật và quy định, giữa các cấp chính quyền
Phát triển nguồn nhân lực
Việt Nam sẽ không thể chiến thắng trong cuộc chơi toàn cầu hóa nếu chỉ dựa trên yếu tố nhân công giá rẻ Chính phủ phải có những biện pháp khác để cải thiện và nâng cao trình độ kỹ năng của lực lượng lao động Thách thức về hiện đại hóa hệ thống giáo dục bậc cao là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa của một nước, và là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến các lựa chọn và triển vọng của các thế hệ tương lai
Thành phần kinh tế trong nước đóng vai trò chủ đạo
Không nên đặt ra vấn đề một thành phần kinh tế hay một loại doanh nghiệp nào đó được đóng vai trò chủ đạo và nhận ưu tiên đối xử của nhà nước về vốn, tiếp cận cơ hội kinh doanh, các nguồn lực và tài nguyên quốc gia Thay vào đó chuyển sang áp dụng chính sách thành phần kinh tế trong nước đóng vai trò chủ đạo và đặt ra những quy định tưởng thưởng hay khuyến khích ưu đãi dựa trên kết quả hoạt động và đóng góp cụ thể của các doanh nghiệp
Nguồn www.mpi.gov.vn www.mot.gov.vn www.moi.gov.vn www.moet.edu.vn www.thesaigontiems.vn
Tiasang.com.vn
Vụ tổng hợp Bộ kế hoạch Đầu tư
TXVN Tạp chí cộng sản Phụ trách chuyên mục: PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn
ThS Phí Thị Hồng Linh ThS.Bùi Thị Thanh Huyền
Địa chỉ email: sonnn@neu.edu.vn
Trang 36Chuyªn môc Tµi chÝnh - tiÒn tÖ
2.1 Thị trường chứng khoán
Chọn cổ phiếu có cổ tức tiền mặt
Khi không còn lợi nhuận từ sự chênh lệch giá cổ phiếu, cổ tức bằng tiền mặt chính là niềm hy vọng của NĐT.Vì lẽ đó, mức chi trả cổ tức của các DN đang là tiêu chí lựa chọn của NĐT.
Không phải DN nào cũng sẵn tiền
Trong kế hoạch chi trả cổ tức bàng tiền mặt của các DN, thì có khoảng
30 DN công bố mức chi trả cổ tức hơn 25% Trong đó, DN dẫn đầu về mức chi trả cổ tức năm 2010 là CTCP Công nghệ mạng và Truyền thông (CMT) vơi mức chi trả lên đến 60%
Kế đến là CTCP xuất nhập khẩu khoáng sản Hà Nam (MIH) 50%, CTCP Xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre (ABT) 40%, CTCP Viglacera Hạ Long (VHL) 40%, CTCP Đa Núi Nhỏ (NNC) 40%, CTCP cảng Đoạn Xá (DXP) 30%, CTCP Đầu tư phát triển xây dựng (DIG) 35%, CTCP Container Việt Nam (VSC) 35%
Trên bình diện chung, mức chi trả cổ tức của các DN trong năm 2010 không cao như những năm trước đây Thực tế đến thời điểm hiện tại số tiền các DN đã giải ngân chi trả cổ tức trong năm 2010 mới chỉ đạt hơn 10%, bởi không phải DN nào cũng đủ tiền mặt để chi trả cổ tức cho NĐT
Theo thống kê từ Stoxplus, đến nay đã có 471 DN có kế hoạch chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho năm 2010 với số tiền đã chi trả chỉ hơn 3.000 tỷ đồng trong tổng số 28.000 tỷ đồng như dự kiến
Thống kê cũng cho thấy tổng lượng tiền mặt hiện có trong các DN niêm yết chỉ vào khoảng 29.000 tỷ đồng Với lượng tiền mặt chỉ nhỉnh hơn số tiền dự tính chi trả cổ tức, việc DN chậm trễ hoặc chi trả cổ tức thấp hơn năm ngoái là đều dễ hiểu
Chẳng hạn, dù có kế hoạch chi trả cao nhất nhưng đến thời điểm hiện nay CMT vẫn chưa thực hiện (năm 2009 mức cổ tức của DN này lên đến 100%) Tương tự, DXP vẫn chưa thực hiện chi trả cổ tức trong năm 2010, dù mức cổ tức năm nay chỉ 35% (mức cổ tức năm 2009 lên đến 50%)
Đặc biệt, nhiều DN trước đó công bố kế hoạch chi trả cổ tức rất cao, nhưng thay vì chi trả tất cả bằng tiền mặt lại chi trả bằng CP như trường hợp ABT
Trang 37có tính thanh khoản hơn Các DN cho rằng đây là hành động “nhất cử, lưỡng tiện”, bởi vừa hỗ trợ cho các cổ đông, vừa là hoạt động đầu tư dài hạn vì mua
ở giá thấp
Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, nếu xét trong bối cảnh hiện nay, việc mua CP quỹ sẽ không đạt được hiệu quả cao so với việc trả cổ tức bằng tiền mặt Việc mua CP quỹ có thể nâng đỡ giá nhưng không nhiều, vì khi mua CP quỹ chấm dứt, giá CP lại giảm
Đa phần các cổ đông dài hạn của DN không được hưởng nhiều lợi ích
từ chương trình mua CP quỹ Thay vào đó, với số tiền các DN dự tính bỏ ra mua CP quỹ nếu thực hiện trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ hưởng lợi ích lớn hơn
Cụ thể, việc mua CP quỹ sẽ tác động không nhiều tới cả thị trường nếu
so với phương thức trả cổ tức bằng tiền mặt Ngược lại, tăng tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ góp phần hạn chế phần nào thua lỗ cho NĐT Hơn hết, cổ tức bằng tiền mặt sẽ giúp NĐT có thêm tiền mặt để tái đầu tư vào TTCK khi giá nhiều CP quá rẻ
Trên thực tế CP của các DN có mức chi trả cổ tức cao luôn thu hút được
sự chú ý của NĐT Đặc biệt, ngay khi DN công bố chi trả cổ tức bằng tiền mặt, giá CP của DN đó luôn có sóng trước lực cầu lớn từ NĐT Điều này trái ngược hoàn toàn với CP của các DN công bố chi trả cổ tức bằng CP thưởng
Theo Hải Hồ
Sài Gòn Giải Phóng – Đầu tư tài chính
http://cafef.vn/2010110102533892CA31/chon-co-phieu-co-co-tuc-tien-mat.chn
Điểm mặt thao túng giá chứng khoán
Năm 2010, vấn đề làm giá chứng khoán trở nên nhức nhối hơn bao giờ hết, với những thủ đoạn hết sức tinh vi Tình trạng làm giá cổ phiếu đã làm nhiều NĐT mất niềm tin vào thị trường
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) vừa có quyết định xử phạt ba
cá nhân Nguyễn Hải Sơn, Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thị Thu, với tổng số tiền 150 triệu đồng, do liên quan đến việc thao túng, làm giá cổ phiếu CTCP Quốc tế Sơn Hà (SHI) Đây chỉ là một trong số 7 vụ thao túng giá chứng khoán được UBCK phát hiện và xử lý trong năm 2010
Đa dạng mánh lới làm giá
Theo kết quả kiểm tra của UBCK và biên bản vi phạm hành chính giữa UBCK và ông Nguyễn Hải Sơn, bà Nguyễn Thị Hạnh, bà Trần Thị Thu, trong khoảng thời gian từ 30/12/2009 đến 9/7/2010, ba cá nhân trên đã sử dụng tài khoản của mình và các tài khoản đứng tên người có liên quan thông đồng với nhau để thực hiện thao túng giá cổ phiếu SHI
Trang 38Trước đó, tháng 8/2010, UBCK có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Hữu Chí vì tạo cung cầu ảo đẩy giá chứng khoán CTCP Bê tông Hòa Cầm - Intimex (HCC) Trong khoảng thời gian từ 16/4 đến 30/6, bà Hải (sử dụng tài khoản của mình và 3 tài khoản đứng tên người có liên quan) đã có hành vi thông đồng với ông Chí để thực hiện mua, bán cổ phiếu HCC với tỷ trọng lớn so với khối lượng giao dịch toàn thị trường; có nhiều phiên thực hiện các giao dịch chéo giữa các tài khoản trong nhóm nhằm tạo cung cầu giả tạo đối với cổ phiếu HCC Bà Hải và ông Chí đã bị phạt 50 triệu đồng/người.
Lộ liễu và gây bất bình trong dư luận là việc bà Nguyễn Thị Kim Phượng chào mua công khai 1,3 triệu cổ phiếu CTCP Vật tư và Vận tải Xi măng (VTV), nhưng lại lặng lẽ bán ra hơn 557.000 cổ phiếu này
Trước đó, từ ngày 1/10/2009 đến ngày 12/1/2010, bà Phượng đã có hành vi thông đồng với ông Nguyễn Quang Hưng, ông Ngô Quốc Đạt và ông Ngô Quang Tài để thực hiện mua, bán cổ phiếu VTV nhằm tạo ra cung cầu giả tạo đối với cổ phiếu này; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết với người khác liên tục mua, bán cổ phiếu VTV để thao túng giá Sau một thời gian điều tra, bà Phượng bị phạt hành chính với tổng số tiền là 170 triệu đồng
Bằng kỹ xảo đặt lệnh tạo cung cầu ảo, ông Hoàng Minh Hướng và bà Quách Thị Nga đã thực hiện thao túng giá cổ phiếu CTCP Khoáng sản Sài Gòn
- Quy Nhơn (SQC) Theo kết quả điều tra của UBCK, trong thời gian từ ngày 17/12/2009 đến ngày 7/1/2010, ông Hướng và bà Nga đã đặt nhiều lệnh mua khối lượng lớn cổ phiếu SQC với giá trần hoặc sát trần trong nhiều phiên liên tiếp, gây ảnh hưởng đến giá của cổ phiếu SQC
Cần nâng cao năng lực
Năm 2010, vấn đề làm giá chứng khoán trở nên nhức nhối hơn bao giờ hết, với những thủ đoạn hết sức tinh vi Tình trạng làm giá cổ phiếu đã làm nhiều NĐT mất niềm tin vào thị trường Tính đến thời điểm này của năm 2010
đã có 7 vụ thao túng giá bị phát hiện và xử lý
Có thể, do mức độ xử lý chưa đủ nặng nên các thành viên thị trường có cảm giác cơ quan quản lý chưa vào cuộc đấu tranh với tệ nạn làm giá một cách quyết liệt Thực tế, phát hiện một vụ làm giá chứng khoán trên thị trường là công việc hết sức khó khăn, tốn nhiều thời gian
Một cán bộ của UBCK cho biết, quy trình phát hiện và xử lý một vụ thao túng giá được thực hiện như sau: thông qua hệ thống giám sát, khi phát hiện vi phạm trong giao dịch của NĐT, Sở GDCK sẽ yêu cầu cá nhân vi phạm giải trình Khi có kết quả giải trình, Sở GDCK sẽ chuyển về Vụ Giám sát thị trường
Trang 39tra UBCK xem xét, xử lý Những vụ có dấu hiệu hình sự thì UBCK sẽ chuyển sang cơ quan công an để điều tra làm rõ.
Một trong những nguyên nhân của việc chậm tìm ra “chân tướng” của các vụ làm giá là thẩm quyền của UBCK còn hạn chế Hiện Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán đang được Quốc hội thảo luận Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, cần tăng cường năng lực cho cơ quan thanh tra UBCK ngang bằng thanh tra ngân hàng hoặc thanh tra bảo hiểm
Đại biểu Quốc hội Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, khi thảo luận Luật sửa đổi, một số ý kiến cho rằng, cần quy định
cụ thể thêm quyền hạn của thanh tra UBCK như được truy xuất tài khoản ngân hàng, nghe lén điện thoại của các đối tượng nghi vấn làm giá
Cũng ủng hộ việc thêm quyền cho cơ quan thanh tra UBCK, nhưng ông
Vũ Viết Ngoạn, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, cần có quy định cụ thể và ở mức độ nhất định, bởi nếu lạm dụng sẽ trở thành xâm nhập vào bí mật đời tư của mỗi cá nhân
Điều tra làm giá là công việc không đơn giản ngay cả với những thị trường phát triển, được trang bị công cụ hiện đại và hệ thống luật lệ chặt chẽ
Do đó, để nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, hạn chế tình trạng thao túng giá, thì việc nâng cao năng lực của UBCK, thanh tra chuyên ngành chứng khoán và xử phạt cao hơn là điều mà các thành viên thị trường đang trông đợi
Theo Đông Hải
ĐTCK
http://cafef.vn/20101102094313469CA31/diem-mat-thao-tung-gia-chung-khoan.chn
Tỷ giá và hai nỗi sợ của nhà đầu tư ngoại
Tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục tăng trong những ngày qua khiến giới đầu tư chứng khoán đang cầm giữ tiền đồng tỏ ra rất sốt ruột.
Sốt ruột một phần vì tiền đồng bị mất giá, một phần vì nếu tỷ giá vẫn có dấu hiệu bất ổn thì chứng khoán chưa nhìn thấy cửa lên
Vấn đề mà nhà đầu tư chứng khoán quan tâm lúc này là khi nào tỷ giá trên thị trường tự do bình ổn và biện pháp bình tỷ giá trên thị trường tự do của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là gì? Trong khi đó, thị trường vẫn chưa thấy có thêm thông tin gì mới từ NHNN liên quan đến đến chính sách giảm áp lực tỷ giá vào thời điểm cuối năm, ngoài việc sẽ bán USD cho các NHTM
Câu hỏi lớn mà nhà đầu tư cá nhân quan tâm là liệu NHNN có nới biên
độ tỷ giá một lần nữa, như những gì đã làm vào năm 2008 để bình ổn tỷ giá trong thời điểm nền kinh tế bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới
Trang 40Nhưng theo các nhà đầu tư nước ngoài, nới biên độ tỷ giá lần này chưa giải quyết được vấn đề.
Giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài lâu năm ở thị trường Việt Nam nhận xét, điều mà nhà đầu tư nước ngoài sợ không phải là đem tiền vào Việt Nam thời điểm này sẽ lỗ vì tiền đồng sẽ còn mất giá so với USD, mà họ sợ
"tâm lý thị trường, tâm lý của người dân thiếu tin tưởng vào đồng nội tệ"
Nếu cơ quan quản lý không có biện pháp đồng bộ thì tiền đồng còn tiếp tục mất giá, chừng nào người dân vẫn còn muốn tích trữ vàng và USD Đây là vấn đề mà nhà đầu tư nước ngoài đã gặp phải ở một số thị trường, đặc biệt là
ở Nam Mỹ
“Không thể cứ khi nào USD trên thị trường tự do tăng giá thì lại nới biên
độ tỷ giá Như vậy, sẽ phải nới hết lần này đến lần khác”, ông bình luận về giải pháp mà nhiều nhà đầu cá nhân trong nước cho rằng sẽ được NHNN áp dụng
để giải quyết vấn đề tỷ giá lần này
Theo vị giám đốc trên, để giải quyết vấn đề tỷ giá, cần dùng công cụ kinh
tế như cấm gửi vàng, gửi USD vào ngân hàng nhận lãi Nếu lợi ích từ việc giữ vàng và USD biến mất thì người dân sẽ dùng tiền đầu tư chứng khoán, bất động sản, sản xuất - kinh doanh Như vậy, tiền đã quay trở lại nền kinh tế Đồng tình với Thông tư 22/2010/TT-NHNN hạn chế huy động vốn tín dụng bằng vàng, nhưng ông này cho rằng, vẫn cần có biện pháp mạnh hơn
Ông Dominic Scriven, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ Dragon cho rằng, xử lý tỷ giá quả thực là bài toán khó cho cơ quản quản lý hiện nay “Rất may tôi không phải là NHNN”, ông này nói đùa
Nhưng ông Dominic cũng chỉ ra rằng, tất cả chúng ta đều biết nguyên nhân dẫn đến việc tỷ giá sốt trên thị trường tự do là do nhiều người dân đầu cơ vào USD, vàng, thiếu niềm tin vào tiền đồng Việc thiếu niềm tin cũng xuất phát một phần từ những vụ việc như Vinashin “Lý do thì ai cũng biết, vấn đề là giải pháp xử lý như thế nào”, ông Dominic nói
Chuyên gia kinh tế Phạm Đỗ Chí thẳng thắn cho rằng, chỉ nới biến độ tỷ giá thì sẽ không giải quyết được cơ bản vấn đề “sốt đô la” trong trung hạn và dài hạn
Theo mô hình tính toán của ông Chí, tăng cung tiền trong 10 năm qua tăng cao hơn GDP danh nghĩa 1,7 lần Vì vậy, điều cần làm là giảm tăng trưởng tín dụng dưới 25% “Với mức tăng trưởng tín dụng khoảng 22 - 23%, nền kinh tế vẫn đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% trong năm tới”, ông Chí nói