Tương hợp giữa biểu hiện và im lặng trong sự điều hòa gene Trong vòng 10 năm trở lại đây kể từ sau khi các nhà sinh học phân tử khám phá ra cơ chế kiềm hãm sự biểu hiện gene đặc hiệ
Trang 1Tương hợp giữa biểu hiện và im lặng trong
sự điều hòa gene
Trong vòng 10 năm trở lại đây kể
từ sau khi các nhà sinh học phân
tử khám phá ra cơ chế kiềm hãm
sự biểu hiện gene đặc hiệu nào đó thông qua RNA – gọi là con
đường gây nhiễu gene thông qua
Trang 2RNA (the RNA interference
(RNAi) pathway) – việc nghiên
cứu cơ chế và ứng dụng này ngày càng trở nên một vấn đề lý thú
thu hút khá nhiều sự quan tâm
của các nhà sinh học góp phần
tạo nên cơn sốt "thế giới RNA – RNA World" Phức hợp gây sự
im lặng gene thông qua RNA gọi tắt là RICS (RNA-induced
silencing complex) chứa nhiều
đọan RNA ngắn nhỏ mang chức năng gây nhiễu (siRNA - small
interfering RNAs) mà chính trình
tự các siRNA sẽ bắt cặp RNA
thông tin (mRNA) đặc hiệu của một gene nào đó Việc bắt cặp
giữa siRNA và mRNA giống như
Trang 3việc đóng dấu ấn lên mRNA
khiến cho phân tử mRNA sau đó
sẽ bị "xử trảm" (phân hủy) và
điều này cũng đồng nghĩa là
mRNA không còn cơ hội dịch mã thành protein nữa Cơ chế gây im lặng gene ở giai đọan sau phiên
mã này, thực sự chỉ là một phần của tòan bộ cơ chế chưa giải đáp hết Theo đó, sự hình thành
mRNA có thể ngừng lại thông
qua phức hệ siRNA thứ hai có
tên là RITS (RNA-induced
transcriptional silencing – phức
hệ gây im lặng gene ở mức độ
phiên mã)
Schramke et al.trên tờ Nature 435,
Trang 41275−1279 (30 June 2005) và Kato
et al viết trên tờ Science (published
o nline 9 June 2005) cho thấy rằng một gene nếu muốn bị im lặng thì trước tiên nó phải được phiên mã Điều đáng ngạc nhiên trong kết quả tìm kiếm của các tác giả chính là
chỗ quá trình phiên mã này phải
được tiến hành nhờ RNApII (RNA polymerase II), cần nhắc lại rằng
RNApII chính là enzyme chịu trách nhiệm chính cho quá trình tạo
mRNA ở sinh vật nhân thật
Bình thường DNA quấn chặt quanh protein histone để tạo thành
nucleosome Khi RITS muốn trấn
áp quá trình phiên mã một gene nào
Trang 5đó, thì nó phải triệu tập một
enzyme có tên là histone
methyltransferase, tức là enzyme chuyển hóa gốc methyl trong phân
tử histone, điều này khiến cho khối DNA vốn đang quấn quanh histone không có khả năng duỗi thẳng
khiến bộ máy di truyền không thể tiếp cận để thực hiện chuyện phiên
mã Cấu trúc nucleosome bị bất
động này vốn được biết dưới tên gọi là dị nhiễm sắc
(heterochromatin) Sau đó RITS sẽ gọi tiếp siRNA cùng tham gia vào quá trình liên kết của nó và nhiễm sắc tử (chromatin)
Ở đây có điểm có điểm tương đồng
Trang 6lý thú giữa RITS và RISC là cả hai cần phải có sự trợ giúp của siRNA Nếu ở trường hợp gây im lặng gene
ở giai đọan sau phiên mã thì đích ngắm của siRNA hiển nhiên là
RNA, cho nên câu hỏi đặt ra là ở trường hợp gây im lặng ở giai
phiên mã thì siRNA sẽ gắn lên đâu: DNA hay là RNA ? Câu trả lời
trong trường hợp phiên mã cho
thấy cái đích ngắm vẫn là RNA
Schramke et al đã cho thấy rằng
gene bị quy họach im lặng trước
tiên phải được phiên mã thông qua RNApII vì thí nghiệm đối chứng
cho thấy khi dùng polymerase của bacteriophage kích họat thì quá
Trang 7trình phiên mã vẫn diễn ra nhưng quá trình gây im lặng sau đó lại
không thấy Vì thế, mặc dù RITS
có thể gắn lên sản phẩm phiên mã RNA sơ sinh qua việc bắt cặp bổ
sung, nhưng điều bắt buộc là phải
có thêm một cơ chế nữa để việc gây
im lặng gene hòan tất Hai nhóm
tác giả nói trên đã tìm thấy rằng khi tạo đột biến khác nhau trên phân tử RNApII sẽ khiến quá trình tạo dị
nhiễm sắc bị gián đọan Cụ thể là nếu cắt bỏ bớt vùng đầu C (gọi tắt
là CTD) của tiểu đơn vị lớn
RNApII hoặc gây đột biến điểm
trên tiểu đơn vị Rpb2 của RNApII thì cả hai trường hợp đều làm cho quá trình gây im lặng gene không
Trang 8hòan tất Tuy nhiên khi cắt bỏ CTD thì siRNA vẫn được tạo ra bình
thường, nhưng nếu gây đột biến
Rpb2 thì siRNA gần như không
thấy xuất hiện Điều này cho thấy RNApII đóng khá nhiều vai trò
trong con đường siRNA
Đến đây nhu cầu cầu có là phải tìm cho ra một mô hình khả dĩ có thể giải thích sự liên đới giữa phiên mã
và gây im lặng gene Mô hình đơn giản nhất có thể đó là RITS đã đính lên một phần của phức hợp kéo gài RNApII, chính phức hợp này tạo ra mRNA đích Thông qua sự tương tác này, cũng như sự nhận diện
trình tự phiên mã đặc hiệu, histone methyltransferase sẽ định vị chính
Trang 9xác trình tự gene đích và tiếp đến enzyme này sẽ hiệu chỉnh histone khi gene này đang phiên mã Quả thực, các thí nghiệm về tương tác phân tử cho thấy rằng RITS đã liên kết với các sản phẩm phiên mã sơ sinh cũng như với RNApII Hơn
nữa RITS và các yếu tố phụ trợ cho
nó còn có thể tương tác chéo thông qua các liên kết hóa học đối với các gene mà theo dự tính sẽ bị im lặng
Và như thế điều này cần phải có
siRNA và sản phẩm phiên mã sơ
sinh
Trang 10Đây là mô hình giả định thu được
từ hai kết quả nghiên cứu của nhóm Schramke và nhóm Kato Khi RNA polymerase II tham gia tổng hợp
RNA, phức hợp RITS nhận diện
những đích ngắm sẽ bị im lặng
bằng cách tìm kiếm một dấu hiệu thứ cấp, dấu hiệu này chính là việc bắt cặp bổ sung giữa siRNA và
mRNA, và ngòai ra còn có khả
năng là thông qua sự tương tác với phức hợp kéo dài Sự hình thành
vùng dị nhiễm sắc bị trấn áp được khởi sự bởi histone
Trang 11methyltransferase Clr4 kết quả là histone mang nhiều nhóm Methyl (Me) trong khi nhóm Acetyl (Ac) lại rất thấp Vào cùng thời điểm, RITS
và RDRC (phức hợp polymerase
RNA phụ thuộc RNA -
RNA-dependent RNA polymerase
complex ) có thể tạo RNA sợi đôi
để sau đó được chế biến thành
siRNAs mới
Ngòai mô hình đơn giản trên còn nhiều mô hình khác có thể dùng để giải thích tại sao chỉ có duy nhất
RNApII mới có thể điều hòa quá
trình gây sự im lặng gene thông
qua RNA Theo đó, rất có khả năng
Trang 12là RITS tương tác với sản phẩm
phiên mã không chỉ qua sự bắt cặp
bổ sung mà còn có thể nhờ sự nhận diện một tiến trình gọi là sự trình
hiệu chỉnh mRNA nhờ tính đặc
hiệu RNApII (ví dụ như cấu trúc
mụ chụp hoặc đuôi poly A) Theo hướng này, một vài tác giả khi cố gắng dò tìm những yếu tố tham gia
thúc đẩy RNAi trên Caenorhabditis elegans đã nhận diện được vài yếu
tố mà quả thật chúng cần thiết cho quá trình xử lý mRNA sao cho
đúng cách Tuy nhiên cơ chế làm
sao các yếu tố này có thể tác động lên RNAi thì vẫn chưa được biết rõ Ngòai các enzyme tham gia chế
Trang 13biến mRNA, thì phức hợp kéo dài RNApII còn mang thêm vài
enzyme tham gia hiệu chỉnh nhiễm sắc tử Mặc dù cả hai dạng
polymerase của bacteriophare và
sinh vật nhân thật đều có thể thúc đẩy quá trình phiên mã xảy ra
xuyên suốt sợi tinh tử mà không
cần làm phá vỡ phức hệ
nucleosome, nhưng việc không cần đến phức hợp kéo dài RNApII sẽ
dẫn đến hậu quả là làm thay đổi sợi tinh tử rất lớn Cụ thể là các tiểu
đơn vị histone có thể thay đổi khi phức hợp phiên mã bỏ qua một
nucleosome Hơn nữa, nhiều tác giả khác đã nhận thấy còn một vài quá trình hiệu chỉnh histone phụ thuộc
Trang 14vào quá trình phiên mã khác, ví dụ như quá trình methyl hóa đã kể ở trên Do đó rất có thể là một hoặc vài sự biến đổi này là điều kiện tiên quyết để enzyme histone
methyltransferase khi liên đới với RITS mới đủ sức hiệu chỉnh cơ
chất của nó
Mặc dù cơ chế chính xác chưa
được ghi nhận, nhưng về cơ bản có thể thực nghiệm để kiểm tra những
lý thuyết giả định nói trên Khi đó quan hệ giữa quá trình trấn áp được điều hòa qua RITS lên RNApII sẽ sớm sáng tỏ Tuy vậy nhiều câu hỏi vẫn cần được làm sáng tỏ