và cộng sự đã cung cấp mô hình chung đầu tiên về sự tương tác của tiểu đơn vị 80S ribosome và HCV IRES.. Trong bài thứ hai cũng trên cùng tạp chí, Schlünzen và cộng sự đã mô tả cấu trú
Trang 1Cấu trúc tinh thể ribosome và sự tổng
hợp protein
Sự khởi đầu dịch mã
và chuyển vận protein là hai quá trình bắt đầu và kết thúc tiến trình tổng hợp protein Trong một bài báo đăng trên tờ Structure số ra
tháng 11 năm 2005, Boehringer
Trang 2và cộng sự đã cung cấp mô hình chung đầu tiên về sự tương tác của tiểu đơn vị 80S ribosome và HCV IRES Trong bài thứ hai
cũng trên cùng tạp chí,
Schlünzen và cộng sự đã mô tả cấu trúc của tiểu đơn vị 50S
ribosome của vi khuẩn với vùng gắn ribosome của nhân tố kích họat (trigger factor TF) với
những kết luận đáng kinh ngạc
về chức năng của TF
Sự sinh tổng hợp protein có liên
quan chặt chẽ với sự điều hoà phản ứng hình thành liên kết peptide
trong bộ máy có độ phức tạp rất
cao – ribosome Trong vài năm
Trang 3nay, các cấu trúc của ribosome đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách mà ribosome làm việc Tuy
nhiên, những cấu trúc đã được giải quyết và các cấu trúc được tái xây dựng từ kính hiển vi điện tử
nghiệm lạnh (gọi tắt là cấu trúc
EM – xem giải thích về
cryo-EM tại
http://www.medterms.com/script/m ain/art.asp?articlekey=24623) để lại nhiều lỗ hổng trong kiến thức của chúng ta về những bước cơ bản
trong dịch mã Ví dụ, chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu biết các cơ chế
của sự khởi đầu dịch mã và cơ sở cấu trúc của sự cuộn gấp protein và
sự chuyển vận ở mức độ đồng dịch
Trang 4mã Trong bài này, hai nhóm
nghiên cứu đã thể hiện những tiến
bộ quan trọng trong các lĩnh vực này
Ở Eukaryote, nhiều bộ máy dịch
mã đã bị virus RNA chiếm lấy như
là một phần của chu trình sống của chúng Sự tiếp quản thường liên
quan đến những nhân tố cis (hoạt động theo dạng cis) nằm trong
vùng 5’ không dịch mã của mRNA virus, gọi là các vị trí đi vào bên trong ribosome (internal ribosome entry sites - IRES) IRES của virus đưa tiểu đơn vị 40S tiến vào chính xác codon khởi đầu mà không cần
bổ sung đầy đủ các nhân tố khởi
Trang 5đầu còn lại Những IRES cho phép virus bỏ qua nhiều cơ chế bảo vệ
của tế bào mà nó làm tắt sự khởi
đầu dịch mã phụ thuộc mũ 5’ khi bị nhiễm hay dưới những điều kiện
stress khác Ví dụ, nhân tố IRES
của virus viêm gan C (HCV) chỉ
đòi hỏi tối thiểu eIF3, eIF2 và
eIF5B để khởi đầu dịch mã
Cơ sở phân tử cho sự khởi đầu dựa vào IRES của HCV hiện chỉ mới
bắt đầu được tập trung nghiên cứu Nhiều nhóm đã phân rã IRES của HIV có kích thước khỏang 340
nucleotide thành nhiều tiểu vùng và xác định cấu trúc của chúng bằng NMR và tia X Những cấu trúc này
Trang 6đã cung cấp những chi tiết ở mức
độ nguyên tử về cách các phần của IRES cuộn gấp Tất nhiên nếu
không có những đối tác tương tác chính xác – eIF3 và tiểu đơn vị 40S – những cấu trúc tiểu vùng này
không thể hiện cấu hình mang chức năng của IRES Một cấu trúc
cryo-EM của phức hợp IRES HCV-tiểu đơn vị 40S đã được xác định vào khoảng 20 Å, hé mở rằng khi IRES
có độ dài đầy đủ gắn lên thì đồng thời sẽ khóa vị trí thóat của
mRNA
Boehringer và cộng sự hiện đã
"tháo gỡ" được những bước sau
cùng của sự khởi đầu dịch mã liên
Trang 7quan IRES ở HCV Các tác giả giữ IRES HCV trên ribosome 80S của người ngay tại thời kỳ chuyển tiếp
từ lúc khởi đầu đến lúc kéo dài
bằng cách dùng cycloheximide, cho phép họ thu nhận cấu trúc của phức hợp có độ phân giải 20 Å bằng kỹ thuật cryo-EM Dùng các cấu trúc
có độ phân giải ở mức độ nguyên
tử của các tiểu vùng IRES và một
mô hình của tiểu đơn vị 40S nấm men dựa xây dựng bằng kỹ thuật
cryo-EM, các tác giả xây dựng một
mô hình tổng quát cho việc IRES HCV gắn vào ribosome (xem hình 1)
Trang 8(A) Hình minh họa phức hợp khởi
sự IRES của HIV và tiểu đơn vị 80S của người dựa trên kỹ thuật
cryo-EM Đầu tiểu đơn vi6 nhỏ, rãnh và
vị trí để RACK1 gắn vào được chỉ
rõ Vùng II của IRES (PDB mã hóa 1P5P) tương tác với cánh L1 trên tiểu dơn vị 60S các tọa độ PDB
được sử dũng để làm mẫu cho các vùng khác của IRES cũng được mô
tả chi tiế.Tiểu đơn vị lớn (60S) màu xanh dương; tiểu đơn vị nhỏ (40S) màu vàng; IRES của HIV màu xanh
Trang 9lá câu
(B) Mô hình cận cảnh cấu trúc dựa trên tia X của phức hợp tiểu đơn vi50S và TF-BD của D
radiodurans Khe rãnh kỵ thủy,
màu xám, mở cho TF-BD gắn lên tiểu đơn vị 50S được chỉ định bằng muỗi tên Chuỗi polypeptide sơ
sinh rời khỏi kênh thóat và đi vào khe rãnh kỵ thủy Tiểu đơn vị lớn (50S) màu xanh dương; TF-BD
hoặc đuôi TF màu hồng da cam, đầu và đuôi của TF nằm trong
phức hợp màu đỏ
Trong cấu trúc của phức hợp IRES HCV/ribosome 80S, IRES tương
Trang 10tác với phần cánh tay L1 của tiểu đơn vị lớn 60S Sự quan sátnày khá
là hấp dẫn, khi sự tương tác này
mang một vài điểm tương đồng với
sự tương tác của IRES của virus
gây liệt ở dế với vùng cánh tay L1,
mà các chức năng khác là khác biệt hoàn toàn Phần cánh tay L1 di
chuyển ở một bên trong suốt sự
chuyển vị tRNA và mRNA, cho
thấy rằng IRES được sử dụng cho chức năng bình thường của phần
cánh tay L1 để thuận tiện cho việc loại bỏ IRES sau khi khởi sự
Hai khía cạnh của cấu trúc
cryo-EM này sẽ cần thêm các nghiên
cứu thực nghiệm trong tương lai
Trang 11Đầu tiên, phức hợp được bắt giữ
này thiếu các tRNA gắn Đây là
một điều đáng ngạc nhiên, khi nó được mong đợi là được nhìn thấy tRNA gắn vào vị trí P trong phức hợp khởi sự Thứ hai, phức hợp
80S-IRES có sự gắn protein điều
hoà RACK1 ở mức độ thấp
RACK1 gắn vào phần đầu của tiểu đơn vị nhỏ của ribosome và đáp
ứng như là một mối liên kết giữa
tín hiệu điều hoà tế bào và sự dịch
mã Vai trò chính xác của RACK1 trong con đường tín hiệu vẫn chưa được biết rõ, và vai trò của nó trong hiệu quả dịch mã từ IRES HCV
vẫn chưa được khám phá
Trang 12Một ít giây sau khi sự dịch mã bắt đầu, chuỗi polypeptide mới sinh bắt đầu xuất hiện từ một lối ra (kênh
thóat) trên ribosome Sự xuất hiện này là một sự kiện lớn cho bất kỳ protein nào và sẽ xác định số phận sau cùng của nó ở vi khuẩn, hai hệ thống riêng biệt tương tác với lối ra trên ribosome để đưa đến sự cuộn gấp và chuyển vận protein ngay
đồng thời với quá trình dịch mã các protein này Thành phần nhận biết tín hiệu (signal recognition particle – SRP) nhận diện chuỗi mới sinh ban đầu mà nó sẽ trở thành các
protein trong màng Còn chuỗi mới sinh mà điểm cuối của nó là tế bào chất hay đi đến quá trình tiết sau
Trang 13dịch mã được nhận ra bởi các nhân
tố khởi sự (TF), một chaperone đa chức năng hoạt động bổ trợ với
chaperone DnaK
Vào năm ngoái, các cấu trúc của
TF đơn độc và vùng gắn ribosome của TF mà nó sẽ gắn với tiểu đơn
vị 50S của Archae đã cung cấp
hình ảnh cấu trúc đầu tiên về cách
mà TF giúp sự cuộn gấp protein
của chuỗi polypeptide mới sinh
Dùng cấu trúc TF-BD/tiểu dơn vị 50S của Archae như một bản mẫu, Ferbitz và cộng sự đề xuất một mô hình trong đó TF hình thành “nôi”
kị thủy phủ lên lối ra Cái nôi này giúp protein cuộn gấp bằng cách
Trang 14phủ quanh nó một thể tích có kích
cỡ xấp xỉ bằng vùng protein đơn
Cấu trúc được công bố của TF để lại hai vấn đề chưa được giải quyết Đầu tiên, cấu trúc của TF-BD trên tiểu đơn vị 50S của Archae liên
quan đến một hệ thống dị thể
Archae sử dụng một chaperone
khác biệt hoàn toàn để bắt đầu sự cuộn gấp protein, đó là phức hợp trợ giúp với chuỗi polypeptide mới sinh (nascent
polypeptide-associated complex) Có thể như là kết quả của bản chất dị thể của
phức hợp, chỉ khoảng 40 amino
acid của TF-BD có thể thấy được trong trúc đồng tinh thể (cocrystal),
Trang 15điều này đưa đến câu hỏi về mục đích đầy đủ của tương tác
TF-BD/50S Thứ hai, một sự loại bỏ cả hai yếu tố TF và DnaK dẫn tới kiểu hình gây chết có thể được cứu chỉ bởi một mình TF-BD Cấu trúc
nguyên thuỷ cung cấp sự giải thích chưa rõ ràng về cách mà dạng bị
cắt cụt của TF có thể đền bù cho sự mất cả cặp yếu tố này
Hai nhóm nghiên cứu của
Schlünzen và Yohath đã độc lập
cung cầp những cái nhìn về việc
TF-BD gắn với tiểu đơn vị 50S của
vi khuẩn trong một phức hợp đồng thể, với một vài kết quả bất ngờ
Đầu tiên, gần như (hơn 100 acid
Trang 16amin của 112 acid amin) toàn bộ
các TF-BD có thể được nhìn thấy trong các bản đồ mật độ electron
của các protein Điều này cho phép các tác giả xây dựng mô hình
nguyên vẹn TF gắn với ribosome theo một cách khắt khe hơn Đáng chú ý là tương tác giữa TF-BD và một vòng thòng lọng dài của
protein ribosome L24 thực tế có thể ngăn chặn cái "nôi" phân tử nằm
giữa TF-BD và ribosome Thứ hai,
sự cuộn gấp của TF-BD thay đổi
đột ngột khi tiểu đơn vị 50S gắn
vào, mở ra một khe kỵ thủy chạy
suốt chiều dài của domain Các tác giả đề xuất rắng khe này, tương
ứng với sự bảo tồn acid amin cao,
Trang 17có thể gắn với những phần kị nước của chuỗi mới sinh một cách trực tiếp Một tương tác như vậy sẽ giúp giải thích cho việc TS-BD giải cứu kiểu hình gây chết trong đột biến cả hai yếu tố TF và DnaK Các tác giả kết luận những phân tích của họ
bằng một đề xuất đáng chú ý là
TF-BD có thể gắn với chuỗi tín
hiệu trong một cách bổ trợ với
SRP Có một ít bằng chứng cấu
trúc và sinh hoá được cung câp,
nhưng quan điểm rằng SRP và TF
có thể tương tác đồng thời với cùng một chuỗi mới sinh chắc chắn là
một thử nghiệm đáng giá