1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Tình hình chung của giáo dục đại học, giáo dục đại học ngoài công lập. Hãy phân tích về: Chương trình – Giáo trình

32 875 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Chung Của Giáo Dục Đại Học, Giáo Dục Đại Học Ngoài Công Lập. Hãy Phân Tích Về: Chương Trình – Giáo Trình
Tác giả Nhóm 09
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Lan Hương
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 375,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lập luận trên, đòi hỏi một giải pháp, định hướng tương lai để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đại học cao đẳng, là phải hiện đại hóa chương trình đào tạo ở các bậc học, ngà

Trang 1

ĐẠI HỌC Q UỐ C GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIN H

TRƯỜ NG Đ ẠI HỌ C KHOA HỌ C XÃ HỘ I VÀ NH ÂN VĂ N

ĐỀ TÀI: A Tình hình chung của giáo dục đại học

B Giáo dục đại học ngoài công lập

Hãy phân tích về: Chương trình – Giáo trình

GVHD: PGS.TS Phạm Lan Hương Thực hiện: Nhóm 09

TP Hồ C hí Minh, tháng 11 năm 201

Trang 2

MỤC LỤC

LỜ I MỞ Đ ẦU 1

ĐẶT VẤN Đ Ề 2

CHƯƠN G 1: KHÁI Q UÁT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM .3

CHƯƠNG 2: KHÁI Q UÁT VỀ CHƯƠNG TRÌN H VÀ GIÁO TRÌN H .4

1 Chư ơng trình đào tạo .4

1.1 Khái niệm về chương trình đào t ạo .4

1.2 Phân loại chư ơng trình đào tạo .4

1.3 Yêu cầu của chuong trình đào tạo 4

2 Giáo trình đào tạo .5

2.1 Khái niệm về giáo trình đào t ạo 5

2.2 Các loại giáo trình sử dụng trong các trư ờng đại học .5

2.3 Yêu cầu của giáo trình đào tạo .5

CHƯƠN G 3: THỰC TRẠN G VỀ CHƯƠN G TRÌNH VÀ GIÁO TRÌN H ĐÀO TẠO .7

1 Thự c trạng về chư ơng trình đào tạo hiện nay .7

2 Thự c trạng về giáo trình đào t ạo hiện nay .16

3 Kết luận .28

TÀI LIỆU THAM KH ẢO .29

Trang 3

có điểm kết thúc

Trong bài tiểu luận này, theo quan điểm của nhóm thực hiện, thì mục tiêu chương trình đào tạo phải hướng đến nhu cầu của người học, cụ thể là phải đáp ứng những kiến thức căn bản nền tảng tối thiểu và những kiến thức, kỹ năng thực tế, phù hợp với yêu cầu của nghề nghiệp chuyên môn mà người học đã lựa chọn Ngoài ra, chương trình đào tạo cao đẳng, đại học còn phải phân ranh giới rõ ràng giữa đào tạo

“thợ” hay “thầy”, nếu là “thầy” thì “thầy phải là thầy của thợ” hoặc “thầy có thể làm thợ khi chưa có điều kiện chưa trở thành thầy” Yêu cầu này thiết nghĩ mọi người đều đã và đang nghĩ tới, và có lẽ đây cũng là một hướng đi phù hợp với tâm lý người học và thực trạng kinh tế- xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Từ những lập luận trên, đòi hỏi một giải pháp, định hướng tương lai để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đại học cao đẳng, là phải hiện đại hóa chương trình đào tạo ở các bậc học, ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, song song

đó là phải đẩy mạnh xúc tiến đổi mới biên soạn giáo trình giảng dạy hoặc tối thiểu phải đẩy mạnh biên soạn “giáo trình thực tiễn” song song với “giáo trình hàn lâm” Đây là nội dung mà nhóm thực hiện xin phép đặt ra và đề xuất những bước đi cụ thể trong giải quyết vấn đề đã nêu ra

Trang 4

ĐẶT VẤN Đ Ề

G iáo dục Đ ại học Việt N am đã được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây, ngân hàng thế giới đã đầu tư cho giáo dục Việt N am qua nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu đô la nhưng tình hình Giáo dục Đại học Việt N am hiện nay vẫn chưa có nhiều khởi sắc

Tại nhiều H ội thảo với chủ đề nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những thực trạng, hạn chế: phương pháp lạc hậu, giảng viên còn thiếu và yếu, tình trạng dạy và học không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn…Một trong những nguyên nhân của những thực trạng trên xuất phát từ việc xây dựng và áp dụng chương trình đào tạo chưa hiệu quả, chưa phù hợp, giáo trình vay mượn, chắp vá không phản ánh đúng mục tiêu đào tạo và không phù hợp với đối tượng đào tạo của từng đơn vị cụ thể Dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này, nhưng với tư cách là những người giảng viên trẻ, mới bước chân vào sự nghiệp trồng người, nhóm nghiên cứu có những trăn trở và mong muốn thể hiện suy nghĩ của mình về chương trình, giáo trình đào tạo đại học; những bất cập, nguyên nhân của bất cập và đề ra những kiến giải cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng chương trình và giáo trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tiễn

Với lý do nêu trên, nhóm nghiên cứu hi vọng đề tài sẽ mang đến cái nhìn mới

mẻ, hiện đại dưới con mắt của những người trẻ làm khoa học Những đề xuất sẽ cụ thể và phù hợp, mang tính khả thi nhằm hạn chế những bất cập xuất phát từ chương trình, giáo trình đào tạo đại học, đồng thời nâng cao hơn nữa việc xây dựng và áp dụng chương trình và giáo trình, góp phần đưa nền giáo dục đại Việt N am ngày càng tiến lại gần hơn với nền giáo dục các nước trên thế giới

Trang 5

CHƯƠN G 1: KHÁI Q UÁT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

N ền giáo dục đại học Việt N am hiện nay đã cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp rất quan trọng vào thành tựu của đất nước: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả Nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ

và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội H ệ thống giáo dục đại học Việt Nam vận hành trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của thế giới việc làm Tuy nhiên, ở Việt Nam, chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn thấp phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới.Các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục còn nhiều bất cập Đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa thừa, chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận còn thấp Cơ sở vật chất rất thiếu và lạc hậu N guồn lực tài chính cho giáo dục chưa bảo đảm nhu cầu chi thường xuyên, nhất là đối với các tỉnh khó khăn Con em gia đình nghèo, gia đình

có thu nhập thấp (cận nghèo) và con em đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, nhất là ở các bậc học cao.M ột số hiện tượng tiêu cực trong giáo dục chậm được giải quyết Tư duy giáo dục chậm được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước cũng như đòi hỏi của sự chuyển đổi

cơ chế quản lý kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.Quản lý về giáo dục còn yếu kém

và bất cập

Vì thế, Bộ giáo dục và đào tạo đã và đang thực hiện nhiều quyết sách và chiến lược mang tính toàn diện theo N ghị quyết Trung ương XI với mục tiêu “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế”

Trang 6

C HƯ ƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠN G TRÌNH VÀ GIÁO TRÌN H

1 Chương trình đào tạo

1.1 Khái niệm về chương trình đào tạo

Theo từ điển G iáo dục học - NX B Từ điển bách khoa 2001 khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là : "Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu,yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn , kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết

và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo "

Theo Wentling ( 1993 ): "Chương trình đào tạo ( Program of Training) là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo ( khoá đào tạo ) cho biết toàn

bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra ,đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ."

Theo Tyler ( 1949 ) cho rằng : Chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4 phần cơ bản :

1 Mục tiêu đào tạo

2 Nội dung đào tạo

3 Phương pháp hay quy trình đào tạo

4 Cách đánh giá kết quả đào tạo

1.2 Phân loại chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo bao gồm:

- Chương trình môn học

- Chương trình Mô dun

1.3 Yêu cầu của chương trình đào tạo

- Các cách tiếp cận phát triển chương trình đào tạo, bao gồm:

+Tiếp cận nội dung ( Content A pproach)

+ Tiếp cận mục tiêu ( Objective Approach)

+Cách tiếp cận phát triển: (Developmental Apporoach)

Trang 7

+Tiếp cận hệ thống

- Quy trình phát triển chương trình đào tạo, bao gồm các bước:

+ Phân tích bối cảnh và nhu cầu đào tạo

+ Thiết kế chương trình đào tạo

+ Thử nghiệm và đánh giá chương trình đào tạo

- Yêu cầu của chương trình đào tạo: mỗi cở sở đào tạo phải xây dựng chương trình đào tạo riêng cho cở sở của mình Chương trình đào tạo phải đảm bảo phù hợp với sứ mệnh của cơ sở đào tạo, mục tiêu đào tạo, gắn với nhu cầu của xã hội, đảm bảo năng lực của sinh viên khi ra trường đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng

2 Giáo trình đào tạo

2.1 Khái niệm về giáo trình đào tạo

G iáo trình cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng và thái độ quy định trong chương trình đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục đại học và kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo

Giáo trình là tài liệu quan trọng phục vụ cho việc giảng dạy, chuẩn bị bài giảng của giảng viên và là tài liệu học tập chính thức đối với môn học có trong chương trình đào tạo

2.2 C ác loại giáo trình sử dụng trong các trường đại học

- Giáo trình do cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn đối với trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ

- Giáo trình do cơ sở giáo dục đại học tổ chức lựa chọn đối với trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ

2.3 Đ ặc điểm, yêu cầu của giáo trình đào tạo

- Ngôn ngữ dùng trong biên soạn giáo trình

+ Ngôn ngữ dùng để biên soạn giáo trình là tiếng Việt

+ Khuyến khích việc biên soạn giáo trình bằng tiếng nước ngoài đối với các cơ

sở giáo dục đại học thực hiện chương trình tiên tiến, chương trình đào tạo ngôn ngữ

và văn hóa nước ngoài, chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài và một số

Trang 8

chương trình đào tạo khác giảng dạy bằng tiếng nước ngoài theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Yêu cầu đối với giáo trình

+ Nội dung giáo trình phải phù hợp với mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra đã ban hành, đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng cơ bản và thái

độ của môn học, giúp cho người học có thể tự nghiên cứu theo hướng dẫn của giảng viên, phải thường xuyên cập nhật nội dung giáo trình, đảm bảo nội dung giáo trình không bị lạc hậu, phải kịp thời bổ sung nội thông tin mới, p hục vụ tốt cho việc dạy

và học

+ Nội dung kiến thức trong giáo trình được trình bày khoa học, đầy đủ, logic chặt chẽ, đảm bảo cân đối giữa lý luận và thực hành, phù hợp với mục tiêu và đặc thù của môn học

+ Giáo trình được biên soạn theo hướng tinh giản, phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính hiện đại, cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ

+ Những nội dung được trích dẫn trong tài liệu tham khảo dùng để biên soạn giáo trình phải có nguồn gốc và chú thích rõ ràng

+ Cuối mỗi chương phải có danh mục tài liệu tham khảo, câu hỏi hướng dẫn

ôn tập, định hướng thảo luận và bài tập thực hành theo yêu cầu của chương trình môn học

+ Hình thức và cấu trúc của giáo trình phải đảm bảo tính đồng bộ và tuân thủ các quy định cụ thể của cơ sở giáo dục đại học

Trang 9

C HƯƠ NG 3: THỰC TRẠN G VỀ CHƯƠN G TRÌNH VÀ

GIÁO TRÌN H ĐÀO TẠO

1 Thực trạng về chương trình đào tạo hiện nay

- Thực trạng 1: C hương trình học ở Việt Nam quá dài

+ Ví dụ: Thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt N am là 2183 giờ so với 1380 giờ ở

Mỹ Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60%

Hoặc một trong những đặc trưng nổi bật của p hương pháp giáo dục Mỹ là tôn trọng thực tế, hiệu quả và "không nhồi nhét" Một học kỳ, thay vì học học 7-10 môn học như ở Việt Nam, ở M ỹ, sinh viên Mỹ chỉ học 4 đến 5 môn, hiếm có sinh viên nào chọn học 6 môn một học kỳ Một năm học ở Mỹ trên lý thuyết là học 9 tháng nhưng thời gian học thực tế chỉ thường khoảng 7 tháng vì sinh viên ở đây có rất nhiều kỳ

nghỉ xuyên suốt một năm học như đã nói ở trên.(theo Vũ Quang Việt - So sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam)

N goài ra, M ột giảng viên đại học kinh tế tại thành phố H ồ Chí Minh cho biết là

số tiết của các môn Mác Lê N in bậc đại học thuộc nhóm ngành kinh tế là 60 tiết ở 2 năm đại cương, 75 tiết khi vào năm 3 tức chuyên ngành, ở bậc cao học là 90 tiết, nay chuẩn bị nâng lên 120 tiết N goài ra còn có các môn Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh Đ ối với các sinh viên kinh tế, còn có một môn nữa là Lịch sử các học thuyết kinh tế có 45 tiết học, nhưng trong đó có 30 tiết dành cho kinh tế Mác Lê Nin Và theo giảng viên ở Đại học kinh tế này thì số giờ dùng vào các môn học này là quá nhiều

+ Nguyên nhân: Đ iều này có thể là do thiếu sách vở nên thầy phải vào lớp đọc

cho trò chép hoặc là quán tính từ quá khứ để lại Với thời gian ngồi lớp như vậy, học sinh sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên cứu

+ Giải pháp:Rà soát lại chương trình đào tạo theo hướng tinh gọn để rút ngắn

thời gian đào tạo

X u hướng phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện nay

đã gây ra hiện tượng “bùng nổ” thông tin Theo ước tính của các nhà khoa học, chỉ cần 3-4 năm, khối lượng kiến thức của nhân loại sẽ tăng gấp đôi Đ iều này cũng đồng nghĩa với “chu kỳ bán rã thông tin” đã rút ngắn chỉ còn khoảng 3-4 năm, đặc

Trang 10

biệt đối với khối kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, tốc độ này còn lớn hơn nữa

Song song với việc điều chỉnh nội dung giảng dạy, các cơ sở đào tạo đại học cũng cần nghiên cứu để rút ngắn thời gian đào tạo xuống càng ngắn càng tốt, xu hướng chung là còn khoảng 2,5-3,5 năm Đ iều này nhằm đảm bảo cho các kiến thức trang bị cho sinh viên trong trường đại học vẫn còn có giá trị sử dụng trong thực tế khi ra trường, nếu thời gian đào tạo kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng các kiến thức bị lỗi thời, làm giảm hiệu quả đào tạo Mặt khác, do đào tạo theo diện rộng, nên kiến thức hướng vào kiến thức cơ bản do đó khi ra trường sinh viên cần được doanh nghiệp tham gia vào bổ sung kiến thức thực tế tại doanh nghiệp, điều này là thực tế hơn việc cho sinh viên đi thực tập khi còn ở trong môi trường đại học N ên rút ngắn thời gian đào tạo để chuyển phần trang bị kinh nghiệm làm việc thực tế về cho doanh nghiệp thực hiện trong giai đoạn đầu khi sinh viên ra trường (đào tạo bổ sung) sẽ tốt

hơn (Đào Hữu Hòa - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng)

- Thực trạng 2: C hương trình đào tạo ở Việt N am không phải là dạy nghề cũng không phải là đào tạo một người có kiến thức sâu, tính sáng tạo và không trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, toàn diện về khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và nghệ thuật, không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận văn

+ Ví dụ: Chương trình học kinh tế đòi hỏi 1451 giờ học kinh tế so với ở Mỹ chỉ

đòi hỏi tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình đại học), như vậy đòi hỏi học các môn kinh tế gấp 3 lần số giờ ở đại học Mỹ Nhìn chương trình giảng dậy ở Đ ại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh ta thấy, sinh viên trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra được, từ các môn cơ bản như kinh tế vi mô và vĩ mô, đến các môn như kinh tế lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý kinh tế, luật kinh tế, dân số họ, chính sách thương mại, kinh

tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án kinh tế, thị trường chứng khoán, v.v Đây là những môn ít khi dạy ở cấp đại học 4 năm và có dạy thì chỉ là những môn để học sinh có thể chọn lựa, và đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy đã

và đang nghiên cứu chuyên sâu Đ òi hỏi mỗi thứ một tí, học sinh không có khả năng

Trang 11

hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại mà không hiểu thầy có hiểu không nữa Theo các tài liệu giáo khoa của trường thì nội dung rất là rất nặng lý thuyết mà nhiều phần học sinh ở M ỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân N hư vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết kinh tế nhưng sự phân chia chi li các lớp học thì lại có vẻ thực dụng như dạy nghề

(theo Vũ Q uang Việt - So sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam)

N goài ra, Theo số liệu dự báo của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm

2018, Việt N am sẽ có 50-60 triệu người sử dụng Internet, có khoảng 40 triệu người

sử dụng smartphone, và trên 1 triệu smart tivi tích hợp Internet Để đón đầu xu hướng đó, trong vài năm trở lại đây, các doanh nghiệp CNTT cũng tăng cường nhu cầu tuyển dụng nhân lực Riêng năm 2012 nhu cầu này đã tăng hơn 66% so với năm

2011, đặc biệt nhu cầu tuyển dụng nhân sự trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học chuyên ngành như lập trình viên, kỹ sư hệ thống mạng, kỹ sư phần cứng, tester, nhân viên phát triển phần mềm, thiết kế lập trình w eb, lập trình mobile…

Đ ối lập với tương lai màu hồng đó, thị trường lao động năm 2012 cho thấy nguồn cung nhân lực chỉ đáp ứng 70% nhu cầu tuyển dụng N goài ra, nguồn cung

đa số lại là sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng còn hạn chế về kỹ năng, chưa phù hợp yêu cầu chuyên ngành lẫn trình độ ngoại ngữ Chia sẻ vấn đề này, đại diện công

ty Micro G ame cho biết công ty không yêu cầu quá cao về mặt chuyên môn khi tuyển dụng, nhưng phần lớn sinh viên mới ra trường quá thiếu kỹ năng làm việc và chậm thích nghi với môi trường, văn hóa doanh nghiệp Điều này gây khó khăn cho quá trình tuyển dụng nhân sự, cũng như làm cho công ty phải tiêu tốn khá nhiều chi phí để đào tạo lại cho các ứng viên

G iải thích cho nghịch lý thừa thầy - thiếu thợ trong ngành CN TT, ông Phí Anh Tuấn - Phó chủ tịch H ội tin học TPH CM, cho rằng những khó khăn chính trong việc đào tạo CNTT hiện nay là chương trình giảng dạy còn chú trọng lý thuyết trong khi doanh nghiệp cần kỹ năng, các trường thiếu phương tiện thực hành cho sinh viên và thiếu thông tin về nhu cầu thị trường Bên cạnh đó, với sức hút của một ngành đang phát triển mạnh mẽ và được đầu tư để trở thành ngành chủ lực thì các trường đại

Trang 12

học, cao đẳng, trung cấp đua nhau đưa CNTT vào đào tạo và mỗi năm thu hút hàng nghìn thí sinh dự thi Nhưng chất lượng đào tạo thì không phải đơn vị nào cũng đặt lên hàng đầu Tiếc rằng, dù được định hướng khá nhiều, cho đến nay, tâm lý có tấm bằng đại học vẫn là mục tiêu duy nhất của các phụ huynh khi cho con mình chọn trường, chọn nghề

H oặc khi so sánh với GD ĐH ở Mỹ thì Giáo dục Mỹ chú trọng nhiều đến đào tạo học sinh một cách toàn diện Việc học và việc chơi được kết hợp hết sức nhuần nhuyễn Ngoài giờ lên lớp, sinh viên ở Mỹ còn tham gia vào rất nhiều các câu lạc

bộ, các tổ chức khác nhau, rồi chơi thể thao, hát, chơi nhạc Các hoạt động này vừa giúp tăng cường thể chất đồng thời cũng có tác dụng phát triển tính năng động, sáng tạo, và nhất là khả năng lãnh đạo (leadership skill) Đ ối với mỗi sinh viên, nếu chỉ biết học mà không hoạt động sẽ là một thiệt hại lớn

Đ ơn cử như chuyện xin học đại học của sinh viên M ỹ, không có những kỳ thi đại học căng thẳng, những giờ học thêm tối ngày, việc bạn có vào được một trường đại học tốt hay không được hoàn toàn quyết định bởi toàn bộ quá trình phấn đấu của học sinh ở trường trung học Ngoài chuyện điểm học, điểm thi các kỳ thi bắt buộc thì chuyện bạn năng động, tích cực trong môi trường trường học cũng là một yếu tố quan trọng có tính chất quyết định trong việc bạn có được nhận vào đại học hay

không.( theo Phương pháp giáo dục tại các trường ở Mỹ - vnuitp.edu.vn)

+ Nguyên nhân: Do định hướng về dạy trong đào tạo chưa chuẩn mực, quá

nghiêng về số lượng, hình thức, chưa chú trọng chất lượng Trong chất lượng lại chưa coi trọng giáo dục phẩm cách, giáo dục tính chân thiện mỹ cho sinh viên mà thường chú trọng chuyên môn, nhưng có nghịch lý là chuyên môn cũng chưa đạt

yêu cầu (theo TS Bùi Thị An - Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 45 tháng 10/2013)

+ Giải pháp:Đ iểm mấu chốt của chương trình đào tạo nằm ở chỗ trong quá

trình đào tạo, các trường nghề đẩy mạnh công tác liên kết và hợp tác cùng các doanh nghiệp để mang lại những cơ hội học tập tốt nhất cho sinh viên Các bạn thường xuyên được làm trên các dự án thật do doanh nghiệp cung cấp cũng như đến thực tập trực tiếp tại công ty để có thể làm quen với môi trường công việc, rèn luyện, nâng cao tay nghề và không bị bỡ ngỡ khi bắt tay vào công việc thực tế

Trang 13

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục) theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học

N ội dung chương trình phải đổi mới từ phân hóa theo môn học thành tích hợp theo mục tiêu đào tạo; giảm lý thuyết từng chương, tăng cường thực tế; đổi mới mạnh mẽ từ nhà trường khép kín, gò bó sang giáo dục xã hội, mở rộng cửa trường đưa nhà trường thâm nhập vào cuộc sống

- Thực trạng 3:C ác trường xây dựng chương trình đào tạo phải tuân theo chương trình khung của Bộ giáo dục một cách cứng nhắc Ở đại học Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, học sinh không có quyền tự chọn, S inh viên phải học tất cả mọi thứ mà nhà trường đã quyết định sẵn (Chỉ được chọn môn

tự chọn từ 1 đến 3 môn trong một học kì, hoặc năm cuối khi học theo tín chỉ) + Ví dụ: Trao đổi về vấn đề này, Thầy Ngô Đ ăng Thành, giảng viên Trường

ĐH K inh tế TP H CM đã có ý kiến: "Kiến thức chuyên ngành sinh viên được học quá ít Ví dụ, một chương trình cử nhân, bao gồm 125-130 tín chỉ tất cả các môn, trong đó có khoảng 80-90 tín chỉ là môn chung Các môn chung của ngành cũng khoảng 20 tín chỉ Cho nên những kiến thức sẽ học để sau này sinh viên đi làm thực

tế chỉ còn khoảng 20 tín chỉ nữa, tương đương với 4-5 môn." (Nguyễn Hoàng Hạnh, 2008)

G S-TSKH Đ ỗ Trần Cát, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh G iáo sư Nhà nước cho rằng Bộ giáo dục đào tạo phải xem xét và phân bổ lại chương trình học Ví dụ đối với môn chung như triết học, kinh tế chính trị trong các trường đại học nên phân

bố số tiết ít hơn, để dành thời gian giảng dạy các môn chuyên ngành sẽ thiết thực

hơn (H.L.Anh - D Hằng, 2005)

Còn ThS Đ ào Đ ức Tuyên, Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ (Trường Đ H Nông Lâm Tp.HCM ) phát biểu: môn Giáo dục thể chất được quy định trong chương trình khung của Bộ, nên chăng đổi lại thành môn tự chọn vì như vây sinh viên có thể chọn những môn thể thao phù hợp với điều kiện sức khỏe và thể lực của mình M ôn Giáo dục quốc phòng cũng vậy, nên chuyển sang thành môn tự chọn vì một tháng

Trang 14

học ròng rã cả lý thuyết lẫn thực hành như hiện nay thực sự không cần thiết đối với

sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ (H L.Anh - D H ằng, 2005)

+ Nguyên nhân: Hiện nay, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn còn

kém hiệu quả Nguyên nhân do Bộ khống chế quá chặt về chương trình khung và yêu cầu các trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc N gày xưa, để có thể đưa vào một nội dung mới hay bỏ đi nội dung cũ rất khó khăn Bởi thời lượng chỉ có từng

ấy, trong khi nội dung nào cũng quan trọng, không biết phải bớt cái gì; cái mới nào cũng thấy cần, cũng muốn đưa vào

N goài ra, Chưa nhận thức sâu sắc và chậm đổi mới tư duy về phát triển giáo

dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiều cấp ủy Đ ảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương còn lúng túng trong việc cụ thể hóa quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” và xử lý các vấn đề của giáo dục trong thực tiễn; chưa thể chế hóa kịp thời, phù hợp các chủ trương, chính sách của Đ ảng về giáo dục Chưa có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển giáo dục Việc xác định nhiều mục tiêu phát triển giáo dục chưa tính toán đầy đủ đến các điều kiện thực hiện Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của ngành giáo dục K hông kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách về giáo dục Các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏa đáng

+ Giải pháp: Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học

phải tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại học chủ động biên soạn chương trình Chương trình khung của Bộ là chương trình chuẩn để các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi trường đại học sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng Đối với những môn chuyên ngành, trường sẽ giao cho khoa chủ động xây dựng chương trình Như vậy chương trình giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào nhu cầu thực tế của xã hội và trình độ của sinh viên, cơ sở đào tạo sẽ điều chỉnh và cải tiến chương trình học một cách khoa học và kịp thời

Trang 15

- Thực trạng 4:Không xây dựng tốt chuẩn đầu ra đối với chương trình đào tạo

+ Ví dụ: TS N guyễn Đức N ghĩa, Phó Giám đốc ĐH Q uốc gia TP H CM , cảnh

báo tại hội thảo “Giải pháp phát triển nghề nghiệp hướng đến ASEA N 2015” do Đ H Quốc gia TP H CM tổ chức ngày 16-11: “N ếu các trường ĐH Việt Nam không nâng được chất lượng đào tạo, không xây dựng chuẩn đầu ra ngang tầm khu vực thì không khéo các kỹ sư, cử nhân Việt N am sẽ thất bại ngay chính trên sân nhà vì không cạnh tranh được với đồng nghiệp đến từ các nước khác trong khu vực”

Hoặc, Thạc sĩ Trần A nh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm D ự báo nhu cầu nhân

lực và Thông tin thị trường lao động TP HCM, cho biết hằng năm, TP HCM có 55.000 sinh viên (SV) các trường Đ H, CĐ tốt nghiệp Nếu tính cả học sinh trung cấp, công nhân kỹ thuật, đào tạo ngắn hạn thì có khoảng 180.000 người Trong đó

có khoảng 80% SV ra trường tìm được việc làm đúng trình độ đào tạo; số còn lại tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc làm, phải làm công việc thấp hơn trình độ được đào tạo

+ Nguyên nhân: Do khi bắt đầu xây dựng hay cải tiến chương trình không

khảo sát ý kiến của doanh nghiệp, hỏi họ xem sinh viên của mình ra trường yếu, mạnh ở điểm nào, phải bổ sung gì, thường doanh nghiệp phải đào tạo lại những gì

Từ khảo sát đó sẽ điều chỉnh lại chuẩn đầu ra cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp Tiếp theo, tiến hành xây dựng chuẩn đầu ra, việc xây dựng chuẩn đầu ra cũng cần lấy ý kiến doanh nghiệp Bên cạnh đó do nhu cầu tuyển dụng giảm cũng là một nguyên nhân nhưng cái chính là SV thiếu kỹ năng thực tế, không thuyết phục được nhà tuyển dụng

+ Giải pháp: Cần xây dựng các chương trình giảng dạy phải có chuẩn đầu ra

Chuẩn đầu ra ở đây là phải lấy thực tế khách quan và yêu cầu xã hội làm căn cứ, chứ không phải là “chuẩn” nhưng do nhà trường tự quyết định như nhiều cơ sở đào tạo đại học đang làm Chuẩn đầu ra phải hiểu là đáp ứng nhu cầu rất đa dạng về chủng loại và chất lượng

Đ ể thanh niên tự tin hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, bên cạnh các hoạt động

hỗ trợ từ nhà trường, từng cá nhân sinh viên phải không ngừng tự học, rèn luyện, tự

Trang 16

tu dưỡng, tự chịu trách nhiệm để trang bị cho mình kỹ năng, kỷ luật, có tác phong của lao động chất lượng cao

- Thực trạng 5:N hiều chương trình liên kết của một số trường ĐH chưa được kiểm định chất lượng nhưng vẫn được đưa vào hoạt động tại Việt Nam,

tư cách pháp nhân của nhiều đối tác nước ngoài không bảo đảm

+ Ví dụ: N guyên Bộ trưởng N guyễn Thiện Nhân đã nêu ra một thực tế giật

mình về việc liên kết đào tạo với nước ngoài: Trong số 200 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài có những chương trình đào tạo liên kết triển khai tại Đ H Quốc gia Hà N ội và TP.HCM chất lượng không tốt, không hiệu quả do không thẩm định hồ sơ chặt chẽ Bên cạnh đó có tới 40 chương trình liên kết chui, đào tạo không

cấp phép hoặc sai lệch với nội dung cấp phép chương trình(vietbao.vn )

Hay, Có thể chỉ ra Công ty TN HH Đ ào tạo công nghệ thông tin và Quản trị

kinh doanh Singapore có chức năng đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo bồi dưỡng ngoại ngữ trình độ A, B, C; tin học trình độ A, B, kỹ thuật viên; công ty không được phép tổ chức hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ trên lãnh thổ Việt Nam.N hưng thực tế, qua thanh tra công ty này đã tuyển sinh chương trình cao đẳng và cử nhân khoa học, vi phạm N ghị định 49/2005/NĐ -CP và phải chịu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Thanh tra Bộ G D&ĐT cũng đã kiểm tra, phát hiện Công ty Melior Việt N am vì hoạt động quảng cáo, tuyển sinh, đào tạo trái phép các ngành quản trị kinh doanh, quản trị du lịch và khách sạn trình

độ cao đẳng và đại học trên lãnh thổ Việt N am.(Thu Phương – Thanh Phong – cand.com vn)

+ Nguyên nhân:Ủ y ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và N hi

đồng cho rằng, công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài trong thời gian qua cũng còn nhiều hạn chế Tiến độ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về liên kết đào tạo với nước ngoài còn quá chậm; nhiều vấn đề mới phát sinh, nhiều nội dung không phù hợp kéo dài nhưng vẫn chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn tới những bất cập trong liên kết đào tạo tại một số cơ sở đào tạo trong thời gian qua Công tác thanh tra, kiểm tra trong liên kết đào tạo với nước ngoài chưa đủ rộng

Ngày đăng: 02/07/2014, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] PG S.TS. Phạm Lan Hương, “Giáo dục hội nhập quốc tế”,Trường đại học K HXH & N V TPH CM (lưu hành nội bộ), 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hội nhập quốc tế
Tác giả: PG S.TS. Phạm Lan Hương
Nhà XB: Trường đại học K HXH & N V TPH CM (lưu hành nội bộ)
Năm: 2013
[2] Lâm Quang Thiệp, Giáo dục đại học Hoa K ỳ, NXB G iáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học Hoa K ỳ
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[3] Lâm Quang Thiệp, “Giáo dục đại học thế giới – Lược sử; hiện trạng và phương hướng phát triển”, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học thế giới – Lược sử; hiện trạng và phương hướng phát triển
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Năm: 2008
[8] Talaw as Forum Web, Tổng Biên Tập : Phạm Thị H oài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Talaw as Forum Web
Tác giả: Phạm Thị H oài
[4] Phạm Đỗ Nhật Tiến, Vị trí so sánh của G D VN , hội thảo ĐH SP TPHCM, 2008 Khác
[5] Đại Học Quốc G ia Hà Nội Web, 144 Đường X uân Thủy, Quận Cầu Giấy, Hà N ội Khác
[6] Giáo Dục và Thời Đ ại Web, Cơ quan của Bộ G iáo dục và Đào tạ Khác
[7] Hướng Về G iáo Dục, Trang Web chính thức của N hóm N ghiên Cứu Cải Cách G iáo Dục, H à Nội Khác
[9] Thanh Niên Online, Diễn Đàn của H ội Liên Hiệp Thanh N iên Việt Nam, 248 Cống Q uỳnh, Q uận 1, Saigon Khác
[10] Tuổi Trẻ O nline, Cơ Quan của Đ oàn Thanh N iên Cộng Sản Hồ Chí M inh, 60A Hoàng Văn Thụ, Phường 9, Quận Phú N huận, Saigon Khác
[11] Việt Nam Net, (VN N.VN ) Công ty phần mềm và truyền thông VA SC. Cơ quan chủ quản : Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam Khác
[12] Việt Nam New s N etw ork (VNN ), 15568 Brookhurst St., # 247, Westminster, CA 92683, USA Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w