Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã xác định: Phát triển giáo dục và đàotạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộitrong giai đoạn đẩy mạnh côn
Trang 11 Vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hộinhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng,quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng cóvai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nammới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
Giáo dục và đào tạo góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức,
có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống,
kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môitrường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Thông qua các hoạt động giáodục, các giá trị văn hóa tốt đẹp được phát triển ở người học, giúp người học hoànthiện tố chất cá nhân, phát triển hài hòa các mặt trí, đức, thể, mỹ Nội dung, phươngpháp và môi trường giáo dục sẽ góp phần duy trì, bảo tồn và phát triển nền văn hóaViệt Nam
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã xác định: Phát triển giáo dục và đàotạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộitrong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghị quyết Đại hội XI tiếp tục xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnhnâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quantrọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triểngiáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàngđầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển”
Tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục xác định con người, nhân tố con người làmột trong năm quan điểm phát triển: “ phát huy tối đa nhân tố con người; coi conngười là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”; là một trong
ba khâu đột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhânlực chất lượng cao là một đột phá chiến lược…”; đồng thời cũng là 1 trong 12 định
Trang 2hướng phát triển kinh tế - xã hội: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mớitoàn diện và phát triển nhanh giáo dục đào tạo”.
Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ:
“Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành” “Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội
học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”
2 Thực trạng giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
a Thành tựu
* Những thành tựu đạt được
- Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốthơn nhu cầu học tập của xã hội Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp Hầuhết các xã trong cả nước, kể cả các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hảiđảo đã có trường, lớp tiểu học Phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trunghọc cơ sở Hầu hết các huyện có trường trung học phổ thông, các tỉnh và nhiềuhuyện đông đồng bào dân tộc đã có hệ thống trường dân tộc nội trú
- Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ Chấtlượng giáo dục - đào tạo có tiến bộ bước đầu trên một số mặt về các môn khoa học
tự nhiên và kỹ thuật, ở bậc phổ thông và bậc đại học hệ tập trung Số học sinh khágiỏi, số học sinh đạt giải trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế ngày càng tǎng
- Đến năm 2010 tất cả các tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS
- Công tác xã hội hoá giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo dục đãđạt được những kết quả bước đầu Đã huy động được thêm các nguồn lực ngoàingân sách nhà nước để phát triển giáo dục - đào tạo Các gia đình, các đoàn thểnhân dân, các tổ chức xã hội đã chǎm lo giáo dục nhiều hơn trước Các phương tiệnthông tin đại chúng đã xây dựng các chuyên mục phục vụ giáo dục - đào tạo Hợptác quốc tế về giáo dục - đào tạo bước đầu được mở rộng
Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội họctập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc, con em các gia đình nghèo và trẻ emkhuyết tật Việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đãtạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được họctập, trước hết ở các cấp học phổ cập
Trang 3Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến Công tác quản lý chấtlượng đã được chú trọng với việc tăng cường hệ thống đánh giá và kiểm định chấtlượng Việc phân cấp quản lý giáo dục cho các địa phương và sở giáo dục được đẩymạnh Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý ngành.
Những thành tựu của giáo dục nước ta đã khẳng định vai trò quan trọng củagiáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đấtnước Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ sốphát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của Chương trình pháttriển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những tiến bộ đáng kể Nhữngthành tựu của giáo dục đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xãhội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong hơn 20 năm đổi mới, tạo điềukiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế
* Nguyên nhân của các thành tựu:
Sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chính quyềncác cấp Sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội và toàn dânđối với giáo dục đã góp phần quyết định cho sự thành công của sự nghiệp giáo dục
Sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển kinh tế, cải thiện đời sốngnhân dân của thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường với các điều kiện thuận lợi chophát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước đã liêntục tăng qua các năm
Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo vàquyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng thực hiệnnhiệm vụ giáo dục Các giáo viên và cán bộ quản lý công tác ở mọi miền tổ quốc,đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách to lớn,đóng góp công sức vào sự nghiệp trồng người
Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy mạnh mẽ, thể hiện trongtừng gia đình, từng dòng họ, từng cộng đồng dân cư Nhân dân đã không tiếc côngsức, tiền của đầu tư và khuyến khích động viên con em vượt khó, chăm chỉ học tập,
hỗ trợ và tạo điều kiện dạy tốt, học tốt cho các nhà trường
Trang 4tâm đúng mức Cách thức tổ chức phân luồng trong hệ thống giáo dục còn thể hiệnnhiều lúng túng Tình trạng mất cân đối giữa cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghềđào tạo chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực của xã hội.
Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trongthời kỳ mới Sự phát triển quy mô giáo dục ở các cấp học, ngành nghề và trình độđào tạo trong những năm qua đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân,nhưng chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội củađất nước và còn thấp so với trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực và trênthế giới
Trong giáo dục chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng vớinâng cao chất lượng Trong nhiều năm gần đây, quy mô giáo dục đại học phát triển,
số lượng các trường cao đẳng, đại học tăng mạnh trong khi các điều kiện về đội ngũgiảng viên, cơ sở vật chất - kỹ thuật nhà trường chưa phát triển đủ để đảm bảo đượcchất lượng đào tạo của các cơ sở này
Nội dung, phương pháp giáo dục từ mầm non đến phổ thông đã được đổimới nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế; chương trình giáo dục đại học chậm đổi mới,chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục Còn có những nội dung trong chương trìnhgiáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo không thiết thực, nặng về lý thuyết, nhẹ
về thực hành, chưa gắn với yêu cầu xã hội, chưa phù hợp với nhu cầu và khả nănghọc tập của mọi đối tượng học sinh Phương pháp dạy học về cơ bản vẫn theo lốitruyền thụ một chiều, đòi hỏi người học phải ghi nhớ máy móc, không phát huyđược tư duy phê phán, tư duy sáng tạo và tinh thần tự học ở người học
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng được nhiệm vụgiáo dục trong thời kỳ mới Còn thiếu quy hoạch tổng thể đào tạo đội ngũ nhà giáo
từ mầm non đến đại học dẫn đến tình trạng đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu,vừa không đồng bộ về cơ cấu Ở các trường cao đẳng, đại học, số giảng viên cótrình độ thạc sỹ và tiến sỹ còn quá ít Phương thức đào tạo trong các nhà trường sưphạm chậm đổi mới, chất lượng đào tạo còn thấp dẫn đến tình trạng trình độchuyên môn và nghiệp vụ của một bộ phận nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầunâng cao chất lượng
Bên cạnh sự nỗ lực của tuyệt đại bộ phận, một số nhà giáo còn có biểu hiện
vi phạm đạo đức lối sống, làm ảnh hưởng xấu tới uy tín của người thầy trong xãhội Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhàgiáo còn thiếu hiệu quả Các chế độ chính sách đối với nhà giáo chưa thỏa đáng,chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong bản thân mỗi người thầy
Trang 5Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu, nhất là ở vùngsâu, vùng xa; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiệndạy học còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở các trường đại học.
* Nguyên nhân của những yếu kém là:
Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu chưa thực sự được quán triệtđúng mức ở các cấp quản lý và chỉ đạo giáo dục Công tác quản lý giáo dục - đàotạo có những mặt yếu kém, bất cập Cơ chế quản lý của nghành giáo dục - đào tạochưa hợp lý
Tác động cuả kinh tế thị trường ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáodục Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế
Nội dung giáo dục - đào tạo vừa thừa vừa thiếu, nhiều phần chưa gắn bó vớicuộc sống Phương pháp giáo dục - đào tạo chậm đổi mới, chưa phát huy được tínhchủ động, sáng tạo của người học
Giáo dục - đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trườngchưa gắn với gia đình và xã hội Hoạt động giáo dục - đào tạo chưa gắn mật thiếtvới các hoạt động sản xuất và nghiên cứu khoa học
Chính phủ và các cơ quan nhà nước chưa có những quyết định đủ mạnh vềchính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện, để thể hiện đầy đủ quan điểmcoi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu
Hiện nay sự nghiệp giáo dục - đào tạo đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữayêu cầu vừa phải phát triển nhanh quy mô giáo dục - đào tạo, vừa phải gấp rút nângcao chất lượng giáo dục - đào tạo, trong khi khả nǎng và điều kiện đáp ứng yêu cầucòn nhiều hạn chế, đó là mâu thuẫn trong quá trình phát triển Những thiếu sót chủquan, nhất là những yếu kém về quản lý đã làm cho những mâu thuẫn đó càng thêmgay gắt Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là những chủ trương, giải pháp từ nay đến nǎm
2020 phải được thực hiện với tinh thần cách mạng sâu sắc để giải quyết có hiệu quảmâu thuẫn nói trên
3 Tư tưởng chỉ đạo và những định hướng lớn phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để giáo dục và đào tạo góp phần quan trọng phát triển nguồn nhân lực, Đạihội XI đề ra quan điểm: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theohướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơchế quản lý giáo dục và đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là
Trang 6khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dụcđạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổimới cơ chế tài chính giáo dục Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phươngpháp dạy và học”.
Những định hướng cụ thể, đó là:
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáodục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phươngpháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặcbiệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức,lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức tráchnhiệm xã hội Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhàtrường trong giáo dục thế hệ trẻ Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng một số cơ sởgiáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu đàn; đội ngũdoanh nhân và lao động lành nghề
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cườngtính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo Hoàn thiện cơ chế,chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện : động viên cácnguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích cáchoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để ngườidân được học tập suốt đời Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục - đàotạo
4 Giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo trong những năm tới
1- Tǎng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo
Đầu tư cho giáo dục - đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chiphát triển trong ngân sách nhà nước Tǎng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục
- đào tạo
Tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, nghiên cứu ban hànhchính sách đóng góp phí đào tạo từ các cơ sở sử dụng lao động, huy động một phầnlao động công ích để xây dựng trường sở Khuyến khích các đoàn thể, các tổ chứckinh tế, xã hội xây dựng quỹ khuyến học, lập quỹ giáo dục quốc gia Phát hành xổ
số kiến thiết để xây dựng trường học
Trang 7Cho phép các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
và các viện nghiên cứu lập cơ sở sản xuất và dịch vụ khoa học đúng với nghànhnghề đào tạo
Xây dựng và công bố công khai quy định về học phí và các khoản đóng góptheo nguyên tắc
Dành ngân sách nhà nước thoả đáng để cử những người giỏi và có phẩm chấttốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở nhữngnước có nền khoa học, công nghệ phát triển
Khuyến khích đi học nước ngoài bằng con đường tự túc, hướng vào nhữngnghành mà đất nước đang cần, theo quy định của nhà nước
Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài cókhả nǎng về nước tham gia giảng dạy và đào tạo, mở trường học, hoặc hợp tác vớicác cơ sở đào tạo trong nước; các tổ chức và cá nhân nước ngoài có thể vào ViệtNam mở các trung tâm đào tạo quốc tế, tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học,trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ tài chính theo quy định của Nhà nước
Sử dụng một phần vốn vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vậtchất cho giáo dục - đào tạo
2- Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tônvinh Giáo viên phải có đủ đức tài Do đó phải:
Củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm Xây dựng một sốtrường đại học sư phạm trọng điểm để vừa đào tạo giáo viên có chất lượng cao vừanghiên cứu khoa học giáo dục đạt trình độ tiên tiến
Không thu học phí và thực hiện chế độ học bổng ưu đãi đối với học sinh,sinh viên nghành sư phạm Có chính sách thu hút học sinh tốt, khá, giỏi vào ngành
sư phạm Tǎng chỉ tiêu đào tạo của các trường sư phạm, đồng thời giao nhiệm vụđào tạo giáo viên một số môn học phù hợp cho các trường đại học và cao đẳngkhác
Đào tạo giáo viên gắn với địa chỉ và có chính sách sử dụng hợp lý để khắcphục nhanh chóng tình trạng thiếu giáo viên hiện nay
Có chính sách sử dụng và đãi ngộ đúng giá trị nguồn nhân lực được đào tạo.Trọng dụng người tài Khuyến khích mọi người, nhất là thanh niên say mê học tập
và tu dưỡng
3- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo và tǎng cường
cơ sở vật chất các trường học
Trang 8Rà soát lại và đổi mới sách giáo khoa, tǎng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp
và nǎng lực thực hành ở bậc học phổ thông, kỹ nǎng hành nghề ở khối đào tạo
Tǎng cường giáo dục tư tưởng - đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh vào nhà trường phù hợp với lứa tuổi và với từng bậchọc Coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân vǎn
Mác-Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, vǎn hoá - thể thao phùhợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện
Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo Từng bước áp dụng cácphương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảmđiều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học
Ban hành chuẩn quốc gia về trường học Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất vàcác thiết bị cho các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và đại học
4- Đổi mới công tác quản lý giáo dục
Cần đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục Coi việc phát triển vànâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao nănglực quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo là một chỉ tiêu phấn đấu xây dựng đảng
bộ trong sạch vững mạnh
Tǎng cường công tác dự báo và kế hoạch hoá sự nghiệp giáo dục Đưa giáodục vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địaphương Có chính sách điều tiết quy mô và cơ cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cấuphát triển kinh tế - xã hội
Quy định lại chức nǎng, nhiệm vụ các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạotheo hướng tập trung làm tốt chức nǎng quản lý nhà nước, xây dựng, hoàn thiện cácchính sách, cơ chế về giáo dục đào tạo, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện cácchương trình và chất lượng Xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực trong ngành giáodục
Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ sắp xếp, chấn chỉnh và nâng caonǎng lực của bộ máy quản lý giáo dục - đào tạo Phân cấp cho Uỷ ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý toàn diện giáo dục Hoàn thiện hệthống thanh tra giáo dục
Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện tốt chính sách ưu đãi,
hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi,học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng
có nhiều khó khăn Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xãhội trong giáo dục
Trang 9II PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐỘNG LỰC THEN CHỐT CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
1 Vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ
Dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã hìnhthành quan điểm, chính sách phát triển đất nước dựa vào khoa học, coi khoa học làđộng lực của sự phát triển
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng ta đã xác định: Cách mạng khoa học– công nghệ là then chốt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định: Cần thiết phảiđẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Đại hội IV (1976) đã nhấn mạnh cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốttrong ba cuộc cách mạng tiến hành đồng thời để xây dựng CNXH, chuẩn bị nhữngtiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định
từ nay đến năm 2020 phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp; khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất laođộng, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổisâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người
Đảng ta đã có một số nghị quyết về khoa học và công nghệ như Nghị quyết
37 của Bộ Chính trị (khoá IV), Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (khoá VI), Nghịquyết 01 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VII) Việc thực hiệncác nghị quyết này đã bước đầu nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của đấtnước, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đờisống, góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo ranhững tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá
Các kỳ Đại hội của Đảng đã từng bước nâng cao và cụ thể hóa tư duy, coikhoa học là động lực của sự phát triển Tư duy, đường lối, chính sách đó là hoàntoàn đúng đắn, phù hợp xu thế phát triển của thời đại, đã chi phối cách thức, conđường đi tới Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam
2 Thực trạng phát triển khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay
a Thành tựu
Trang 10Trong hơn 20 năm đổi mới, nhất là từ sau Nghị quyết Trung ương 2 khóaVIII, khoa học và công nghệ có nhiều tiến bộ, cụ thể là:
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩymạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Nhiều kết luận khoa học đãđược dùng làm cơ sở để soạn thảo các nghị quyết, hoạch định các chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới
Đầu tư cho khoa học, công nghệ được tăng lên, Các ngành khoa học và côngnghệ gắn bó hơn với sản xuất và đời sống Nhiều thành tựu khoa học và công nghệmới đã được ứng dụng, góp phần rất quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chấtlượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông nghiệp, y tế, bưu chính viễnthông, giao thông vận tải, xây dựng, năng lượng, dầu khí, hàng tiêu dùng, hàng xuấtkhẩu , xây dựng và củng cố quốc phòng - an ninh
Khoa học tự nhiên có những thành tựu trong nghiên cứu, điều tra điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, góp phần tạo luận cứ cho việc xâydựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở cho quá trìnhtiếp thu và làm chủ công nghệ mới Một số ngành nghiên cứu cơ bản đã xây dựngđược đội ngũ cán bộ khoa học có khả năng tiếp cận trình độ hiện đại trên thế giới
Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần bổ sung, lý giải và làm rõ thêmnhững quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; làm
rõ cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng Các vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tếthị trường và chủ nghĩa xã hội, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, văn hoá vàphát triển cũng đã được nghiên cứu sâu hơn Việc nghiên cứu các di sản lịch sử,văn hoá, văn minh và con người Việt Nam tiếp tục có những phát hiện mới Việctổng kết kinh nghiệm chiến tranh và phát triển lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam
đã đạt một số kết quả
Đã có sự tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ; đổi mới côngtác thẩm định khoa học, công nghệ Thị trường khoa học, công nghệ bước đầu hìnhthành
Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bước trưởng thành, được tập hợp,
có thêm điều kiện để phát huy khả năng và cống hiến cho sự nghiệp chung Đây làmột yếu tố quan trọng cho sự phát triển của đất nước
Có được những thành tựu trên đây, trước hết là do đường lối đúng đắn củaĐảng, do nhu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vàosản xuất, nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khoa học và công nghệ Mặt khác,
Trang 11đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đã trưởng thành một bước và có nhiều cốgắng thích nghi với cơ chế mới; quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về kinh tế, khoahọc và công nghệ được mở rộng.
Trình độ công nghệ thấp, chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất,kinh doanh, dịch vụ và trong quản lý Sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệtrong nước chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống còn thấp Tìnhtrạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả ảnhhưởng xấu đến năng suất lao động và môi trường sinh thái
Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tăng về số lượng, nhưng tỷ lệ trên
số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếunhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ
Số đông cán bộ có trình độ cao đều đã lớn tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt cán bộ.Không ít cán bộ khoa học và công nghệ chuyển đi làm việc khác hoặc bỏ nghề, gâynên sự lãng phí chất xám nghiêm trọng
Cơ cấu và việc phân bố cán bộ khoa học và công nghệ chưa cân đối, cònnhiều bất hợp lý Nông thôn và miền núi còn thiếu nhiều cán bộ khoa học và côngnghệ
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học quá nghèo nàn,lạc hậu; thông tin khoa học và công nghệ quá thiếu và không kịp thời
Hệ thống tổ chức các cơ quan nghiên cứu - triển khai tuy đã được sắp xếpmột bước, nhưng vẫn còn trùng lắp, chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữanghiên cứu, giảng dạy với thực tiễn sản xuất - kinh doanh và với quốc phòng - anninh; giữa các ngành khoa học, giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học
xã hội và nhân văn Tinh thần hợp tác giữa các nhà khoa học, giữa các cơ quannghiên cứu khoa học còn yếu
* Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
1 Các cấp uỷ đảng, các cấp chính quyền chưa thật sự coi phát triển khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, chưa tập trung trí tuệ, công sức cho sự lãnhđạo, chỉ đạo các hoạt động khoa học và công nghệ Nhiều chủ trương đúng đắn về
Trang 12khoa học và công nghệ trong các văn kiện của Đảng chậm được thể chế hoá về mặtNhà nước và chưa được thực hiện nghiêm túc.
Các chính sách của Nhà nước chưa khuyến khích và buộc các doanh nghiệp,nhất là doanh nghiệp nhà nước, tích cực ứng dụng những thành tựu khoa học vàcông nghệ Môi trường đầu tư và cạnh tranh chưa thuận lợi, chưa tạo được động lựccho việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất - kinh doanh
Chưa nhận thức đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển.Đầu tư tài chính của Nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ còn quá thấp.Việc phân bổ và sử dụng ngân sách cho khoa học và công nghệ chưa hợp lý, chưa
có hiệu quả Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách phù hợp nhằm huy động cácnguồn vốn ngoài ngân sách cho phát triển khoa học và công nghệ
Thiếu chiến lược quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên còn mất cân đối
về đào tạo và sử dụng Nhiều chính sách cán bộ chưa thoả đáng và không kịp thờiđổi mới Chế độ tiền lương mang nặng tính bình quân Lao động trí óc chưa đượcđãi ngộ xứng đáng
Việc quản lý sản xuất, xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở, quy chế giám địnhcông nghệ chưa chặt chẽ nên nhiều thiết bị, công nghệ lạc hậu được nhập vào nước
ta, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế và gây tác hại xấu đến môi trường
2 Quản lý khoa học và công nghệ trong cơ chế thị trường còn lúng túng, bấtcập Việc tổ chức phân bổ lực lượng còn phân tán Việc quản lý các chương trìnhnghiên cứu còn mang nặng tính hành chính, còn dàn trải; chưa gắn chương trìnhnghiên cứu với chức năng và nhiệm vụ của cơ sở nghiên cứu, chưa đề cao tinh thầntrách nhiệm và phát huy tính chủ động của cơ sở; thiếu sự kết hợp giữa chươngtrình kinh tế - xã hội với chương trình khoa học và công nghệ Nhiều cơ quan khoahọc chưa gắn với cơ sở sản xuất, chưa chủ động phối hợp với địa phương để ứngdụng các tiến bộ khoa học công nghệ
3 Công tác đảng, công tác chính trị - tư tưởng trong một số viện nghiên cứu,trường đại học còn yếu Tác dụng lãnh đạo của tổ chức đảng ở những nơi này cònhạn chế Việc phát triển đảng trong trí thức chưa được quan tâm đầy đủ
3 Những định hướng lớn về phát triển khoa học và công nghệ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vẫn xác định phát triển khoa học – côngnghệ là một trong những nội dung quan trọng để phát triển đất nước, đồng thời đề
ra những định hướng để phát triển khoa học – công nghệ
Định hướng chung của chiến lược khoa học và công nghệ từ nay đến năm
2020 là:
Trang 13- Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năngsuất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bềnvững của đất nước; nâng tỉ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăngtrưởng Thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: nâng cao năng lực khoa học, côngnghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng
- Phát triển năng lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm, tập trungcho những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, đảm bảo đồng bộ về cơ sở vậtchất, nguồn nhân lực Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm
vụ, các sản phẩm khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia, đồng thời đẩy mạnh xãhội hoá, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư pháttriển khoa học, công nghệ
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học, công nghệ,xem đó là khâu đột phá để thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả của khoa học,công nghệ Thực hiện đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộxứng đáng nhân tài khoa học, công nghệ
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng; phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoahọc tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ Xây dựng và thực hiện chương trìnhđổi mới công nghệ quốc gia; có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ Kết hợp chặt chẽ nghiêncứu và phát triển trong nước với tiếp nhận công nghệ nước ngoài
4 Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ trong những năm tới
Thứ nhất, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ
Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định làm chokhoa học và công nghệ trở thành nền tảng và động lực mạnh mẽ của sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để các định hướng chiến lược khoa học và công nghệ được thực hiện có hiệuquả, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải tổ chức cho đảng viên và quầnchúng quán triệt Nghị quyết này, đặc biệt là quan tâm sử dụng khoa học và côngnghệ, tạo động lực, nguồn lực và môi trường thuận lợi nhất cho khoa học và côngnghệ phát triển
Trong chỉ đạo mọi lĩnh vực hoạt động, các cấp uỷ đảng cần chú trọng nộidung khoa học và công nghệ; thường xuyên kiểm tra luận cứ khoa học, trình độcông nghệ, hiệu quả kinh tế - xã hội của các chủ trương, chính sách, dự án pháttriển thuộc phạm vi mình phụ trách