ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn chuyển hóa lipid máu hiện nay là một trong những vấn đề đang được y học thế giới quan tâm, nghiên cứu bởi mối liên quan chặt chẽ của nó với bệnh lý tim mạch.. Nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-
NGUYỄN ĐỖ VÂN ANH
MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIÊN TỎI – FOLATE ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
TRÊN NGƯỜI 30-69 TUỔI TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành: Dinh Dưỡng Tiết Chế
Mã số: 62.72.73.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
- Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Xuân Ninh
2 GS.TS Phùng Đắc Cam
Phản biện 1: PGS.TS Lê Thị Hương - Trường Đại học Y Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Lê Khắc Đức - Học viện Quân Y
Phản biện 3: PGS.TS Đỗ Thị Khánh Hỷ-Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện
Tổ chức tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Vào hồi ………giờ ….phút, ngày… tháng… năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia
2 Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn chuyển hóa lipid máu hiện nay là một trong những vấn đề đang được y học thế giới quan tâm, nghiên cứu bởi mối liên quan chặt chẽ của nó với bệnh lý tim mạch Nghiên cứu rối loạn chuyển hóa lipid máu ngoài việc phục vụ cho điều trị, còn mang một ý nghĩa dự phòng rất lớn đối với nguy cơ tim mạch
Vai trò của tỏi trong điều trị bệnh đã được chứng minh bằng rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỏi lên các chỉ tiêu lipid máu vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, còn nhiều mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất Ở Việt Nam tỏi là một thực phẩm gia
vị, được trồng và sử dụng rất phổ biến, công dụng của tỏi và liều dùng hầu như chỉ dựa trên kinh nghiệm dân gian, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của sử dụng tỏi-folate trên người bệnh có rối loạn chuyển hóa lipid máu
Những đóng góp mới của luận án
1 Nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện ở giai đoạn I của luận án để kiểm định sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ với tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu, là một nghiên cứu mới, có giá trị và đáng tin cậy, làm căn
cứ khoa học để đưa ra giải pháp can thiệp phòng chống tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu, liên quan đến việc kiểm soát tình trạng thừa cân, béo bụng, phần trăm mỡ cơ thể cao, tiêu thụ acid béo no, chất xơ khẩu phần và thói quen hút thuốc lá
2 Những minh chứng về hiệu quả cải thiện tình trạng tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu của viên tỏi – folate trong luận án là đóng góp mới,
mở ra liệu pháp điều trị thay thế, sử dụng sản phẩm sản xuất trong nước,
từ nguồn thực phẩm sẵn có trong nước, an toàn hơn so với những thuốc
hạ cholesterol thông thường hiện nay, hoàn toàn phù hợp với đường lối y học của nước ta nhằm cải thiện tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu
Bố cục của luận án
Luận án gồm 118 trang, trong đó phần mở đầu: 2 trang; tổng quan: 35 trang; đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 18 trang; phần kết quả và bàn luận: 57 trang Luận án bao gồm 19 bảng và 10 hình vẽ, 1 sơ đồ và 162 tài liệu tham khảo (31 tài liệu tiếng Việt, 131 tài liệu tiếng Anh)
Trang 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Lipid trong cơ thể gồm 3 nhóm chính: triglycerid, phospholipid và cholesterol Trong cơ thể lipid tồn tại dưới 3 dạng: dạng cấu trúc, dạng dự trữ
và dạng lưu hành (lipid được kết hợp với một loại protein để tạo thành lipoprotein (LP) vận chuyển trong máu và hệ bạch huyết) Có các typ
lipoprotein sau: chylomicron, LP tỷ trọng rất thấp (VLDL-CP), LP tỷ trọng thấp (LDL-C), LP tỷ trọng trung gian (IDL), LP tỷ trọng cao (HDL-C)
Chuyển hóa lipid dưới sự điều hòa của nội tiết: hormon làm tăng thoái hóa lipid và kích thích tổng hợp triglyceride Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến chuyển hóa lipid: nhiều bằng chứng dịch tễ học cho thấy có mối liên quan dương tính giữa chế độ ăn với nồng độ lipid máu cũng như tỷ lệ mắc bệnh tim mạch Một số thói quen sinh hoạt ảnh hưởng đến chuyển hóa lipid: tập luyện thể thao có tác dụng điều hòa lượng mỡ máu, giảm xơ vữa động mạch, giảm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim Hiệu quả đối với bệnh tim mạch của một chương trình luyện tập được quy định bởi một loạt các yếu tố như: loại bài tập, cường
độ và khối lượng vận động, tần số buổi tập và phương pháp luyện tập Từ năm
1940, người ta đã tìm thấy có mối liên hệ giữa hút thuốc lá và nguy cơ bị bệnh tim mạch Trong nhiều thập kỷ qua, tác động của ethanol lên quá trình tổng hợp, đào thải và oxy hóa lipid đã được phát hiện: một số nghiên cứu dịch tễ học
đã đưa ra những kết luận trái ngược về tác động của tiêu thụ rượu lên bệnh tim mạch Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố thúc đẩy phát sinh các bệnh lý như đái tháo đường, tim mạch, ung thư Sự phân bố mỡ trong cơ thể cũng được quan tâm, người béo phì trung tâm thường mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư nhiều hơn người béo phì ngoại biên
1.3 RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
Rối loạn chuyển hóa lipid máu (RLCHLPM) là một thuật ngữ nhằm chỉ
sự biến đổi của các thành phần lipid máu cao hoặc thấp hơn chỉ số hóa sinh bình thường
Ngày nay trên thế giới cũng như Việt Nam, số người RLCHLPM ngày càng gia tăng Ở Việt Nam, một số nghiên cứu trong bệnh viện cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn chuyển hóa lipid máu với bệnh đái tháo đường, tình trạng tăng huyết áp, bệnh tim mạch
Trang 5
1.4 HIỂU BIẾT VỀ TỎI VÀ FOLATE
Tỏi được cả thế giới coi như là thực phẩm có lợi cho sức khỏe Một
amino acid chứa lưu huỳnh được phân lập từ tỏi và đặt tên là alliin cysteine sulfoxide) Bản thân alliin không có hoạt tính kháng khuẩn và tương
(S-allyl-L-đối bền Trong các điều kiện phản ứng khác nhau, alliin dễ dàng bị chuyển hoá
để tạo ra các sản phẩm Một trong những phản ứng chuyển hoá cơ bản và quan
trọng nhất là sự tạo thành allicin (Diallyl thiosulfinate) dưới tác dụng của
enzym allinase Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan trọng nhất của tỏi
Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới về vai trò của tỏi trong phòng chống rối loạn lipid máu và bệnh tim mạch đã được công bố Tuy nhiên, cho đến nay các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỏi lên mức cholesterol vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, còn nhiều mâu thuẫn
và thiếu tính thống nhất Do vậy, việc tiếp tục tiến hành nghiên cứu để đưa ra những kết luận đáng tin cậy về hiệu quả của tỏi với tình trạng RLCHLPM vẫn
là một việc làm hết sức cần thiết
Folate, acid folic (hay viamin B9) là một chất đồng yếu tố rất quan trọng
trong cơ thể Acid folic cần thiết để giúp cho sự phân chia tế bào, với vai trò đồng yếu tố tham gia trực tiếp vào chu trình methyl Biểu hiện rõ ràng khi giảm hoạt động chu trình methyl hóa dẫn đến tăng homocysteine huyết tương Tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau ung thư
và các bệnh tim mạch Có nhiều yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não, ngoài các yếu tố nguy cơ kinh điển như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, béo phì, hút thuốc lá, yếu tố nguy cơ vừa mới lộ diện đó là homocystein máu
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.GIAI ĐOẠN I
2.1.1 Mục tiêu: Xác định sự kết hợp giữa một số thói quen sinh hoạt, tình
trạng thừa cân, sự phân bố mỡ trong cơ thể với tình trạng rối loạn chuyển
hóa lipid máu ở người trưởng thành (30-69 tuổi) sống ở nội thành Hà Nội 2.1.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu Bệnh- Chứng
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu :
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng cho nhóm bệnh: Là những người trong độ
tuổi 30-69 tuổi, sống ở nội thành Hà Nội Tự nguyện tham gia nghiên cứu
Trang 6 Kết quả xét nghiệm lipid máu tại thời điểm nghiên cứu có RLCHLPM Tại thời điểm điều tra không có thai hoặc cho con bú, không mắc các bệnh cấp tính, không bị dị tật bẩm sinh
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng cho nhóm chứng: Là những người trong độ
tuổi 30-69 tuổi, sống ở nội thành Hà Nội Tự nguyện tham gia nghiên cứu Kết quả xét nghiệm lipid máu tại thời điểm nghiên cứu không có RLCHLPM Từ trước đến nay chưa từng điều trị RLCHLPM bằng thuốc hay bất kỳ liệu pháp điều trị nào khác Tại thời điểm điều tra không có thai hoặc cho con bú, không mắc các bệnh cấp tính, không bị dị tật bẩm sinh
2.1.4 Địa điểm nghiên cứu: 5 phường nội thành Hà Nội
2.1.5 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công thức:
{1/[p1(1-p1)] + 1/[p0(1-p0)]}
[ln(1- ε)]2Sau khi tính toán, cỡ mẫu nghiên cứu là 300 đối tượng 150 đối tượng cho
Thừa cân khi BMI 23 Béo bụng khi tỷ số vòng eo/vòng mông (VE/VM) vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới Tỷ lệ mỡ cơ thể cao khi giá trị đo được >30% đối với nữ và >25% đối với nam
Hút thuốc thường xuyên (được quy định trong nghiên cứu): hút thuốc hàng
ngày
Trang 7 Thói quen uống rượu, bia (được quy định trong nghiên cứu này): uống ≥3
lần/tuần Lạm dụng rượu bia: Lạm dụng rượu bia khi tiêu thụ trên 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và 2 đơn vị rượu/ngày đối với nữ
Mức độ hoạt động nghề nghiệp (được quy đinh trong nghiên cứu này): nhẹ (Về hưu, thất nghiệp); trung bình (văn phòng, buôn bán, học sinh); nặng (công nhân, nông dân, lao động phổ thông)
Thói quen luyện tập thể thao (được quy định trong nghiên cứu này): Thường
xuyên luyện tập thể thao: 3lần/tuần, mỗi lần từ 30 phút trở lên; Không thường xuyên luyện tập thể thao: <3lần/tuần, hoặc 3lần/tuần nhưng
2.2.1 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình
trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu trên người 30-69 tuổi
2.2.2 Phuơng pháp nghiên cứu
2.2.2.1.Đối tượng: 30-69 tuổi có RLCHLPM
2.2 2.2 Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng 2.2.2.3 Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính dựa theo sự khác biệt mong đợi về nồng độ LDL-C, cholesterol, triglyceride và HDL-C huyết thanh Sau khi tính toán, cỡ mẫu nghiên cứu cần thiết là 120 đối tượng, 60 đối tượng cho mỗi nhóm can thiệp và đối chứng
2.2.2.4 Chọn mẫu: Dựa trên kết quả xét nghiệm máu của giai đoạn I, lập
khung mẫu các đối tượng có đủ tiêu chuẩn, phân bổ ngẫu nhiên đối tượng vào hai nhóm nghiên cứu
2.2.2.5 Tiến hành can thiệp
Ngoài các thông tin thu thập được ở giai đoạn 1, phỏng vấn khẩu phần ăn 24 giờ qua trong 3 ngày, đo huyết áp của tất cả các đối tượng ở cả hai nhóm nghiên cứu
2 (Zα +Z) 1 - 2
n = 2
x
Trang 8 Nhóm can thiệp được uống viên nang tỏi -folate (hàm lượng bột tỏi 200mg, 0,1mg acid folic) 4 viên/ngày, chia 2 lần/ngày, trong thời gian 12 tuần liên
tục Nhóm đối chứng không dùng viên tỏi, chỉ dùng viên giả dược trong 12 tuần liên tục
Sau 12 tuần can thiệp, tất cả đối tượng ở cả hai nhóm nghiên cứu được lấy máu lần 2, phỏng vấn khẩu phần ăn, thói quen luyện tập thể thao, thu thập các các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, VE, VM, % mỡ cơ thể, huyết áp
Công tác giám sát: tình hình sức khỏe chung, tác dụng phụ, số viên thuốc sử
dụng thông qua phỏng vấn trực tiếp và mẫu phiếu định sẵn
2.2.3 Phân tích số liệu: Số liệu sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào phần
mềm EPI data, sau đó chuyển sang SPSS 10.0 để xử lý bằng các test thống kê phù hợp
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
3.1 Sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ và tình trạng RLCHLPM
3.1.1 Đặc điểm hai nhóm nghiên cứu
Các đối tượng ở hai nhóm bệnh và nhóm chứng có sự tương đồng về tuổi,
giới tính và nghề nghiệp giữa hai nhóm
3.1.2 RLCHLPM và một số yếu tố nguy cơ
Bảng 3.2: Mối nguy cơ của thừa cân, béo bụng, % mỡ cơ thể và RLCHLPM
Trang 9Bảng 3.3: Sự kết hợp giữa một số thói quen sinh hoạt và RLCHLPM
p ( χ 2 test)
Thói quen hút thuốc
p (χ2 test)
Năng lượng từ lipid
Trang 10Bảng 3.5: RLCHLPM và một số yếu tố nguy cơ khác
p ( χ2 test)
3.2 Hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình trạng RLCHLPM 3.2.1 Đặc điểm hai nhóm nghiên cứu trước khi can thiệp
Trang 11Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, các chỉ tiêu nhân trắc, nồng độ lipid máu, khẩu phần ăn cũng như thói quen luyện tập thể thao của các đối tượng ở hai nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt (p>0,05)
3.2.2 Sự chấp nhận can thiệp của các đối tượng nghiên cứu
Viên tỏi - folate dùng trong nghiên cứu đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh cho phép tại thời điểm ngay sau khi xuất xưởng, sau 3, 6 và 9 tháng bảo quản
Hơi thở, cơ thể có mùi tỏi là biểu hiện hay gặp nhất chiếm tới 41,8% khi
sử dụng liệu pháp can thiệp, ít gặp hơn là các biểu hiện ở dạ dày như ợ hơi, nóng bụng, đầy bụng chiếm 10,9% Buồn nôn, nôn hiếm gặp, chỉ xuất hiện ở 1 đối tượng Các biểu hiện rối loạn tiêu hóa khác và dị ứng không thấy xuất hiện trong thời gian nghiên cứu Phần đông đối tượng tham gia nghiên cứu (58,2%) không gặp bất kỳ biểu hiện bất thường nào trong thời gian 3 tháng sử dụng viên tỏi- folate
Kết thúc nghiên cứu, 56 đối tượng ở nhóm chứng và 55 đối tượng ở nhóm can thiệp đủ điều kiện đưa vào tính toán thống kê hiệu quả của can thiệp Số đối tượng bị loại khỏi nghiên cứu, không đưa vào tính toán thống kê gồm 9 đối tượng trong đó 5 đối tượng ở nhóm can thiệp và 4 đối tượng ở nhóm chứng
3.2.3 Sự thay đổi các chỉ tiêu nhân trắc
Bảng 3.14 : Thay đổi các chỉ số nhân trắc và huyết áp ở hai nhóm nghiên cứu
p>0,05: so sánh giữa T0 và T3, cùng nhóm ( t ghép cặp)
Trang 12So với thời điểm trước khi tiến hành nghiên cứu, tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, các chỉ số cân nặng, BMI, % mỡ cơ thể, vòng mông và tỷ số vòng eo/vòng mông của các đối tượng ở từng nhóm nghiên cứu đều có xu hướng gia tăng, nhưng sự tăng này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Sau 3 tháng nghiên cứu, vòng eo và huyết áp tâm trương của các đối tượng ở nhóm can thiệp giảm nhiều hơn so với nhóm chứng (-0,2cm; 0,09cm và -0,45mmHg; -1,36mmHg), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) Cũng tại thời điểm T3, khi đem so sánh sự thay đổi của các chỉ tiêu nhân trắc khác và huyết áp tâm thu giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng, không tìm thấy sự khác biệt (p>0,05)
3.2.4 Sự thay đổi các chỉ tiêu lipid máu
Bảng 3.15: Sự thay đổi nồng độ các chỉ tiêu lipid máu ở hai nhóm nghiên cứu
Trang 132,66 mmol/l (p>0,05) ở nhóm can thiệp Kết quả tương tự với chỉ tiêu HDL-C Đối với chỉ tiêu cholesterol toàn phần và LDL-C, tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, ở nhóm can thiệp, so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu, sự thay đổi theo hướng có lợi cho sức khỏe: 5,79–5,48mmol/l (p<0,05) và 4,03-3,46mmol/l (p<0,01)
Tại thời điểm T3, nồng độ cholesterol toàn phần và LDL-C của các đối tượng ở nhóm nhận can thiệp đều giảm hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p<0,05 và p<0,01)
Hình 3.3: Liên quan giữa sự cải thiện nồng độ TG và nồng độ TG ban đầu
Hình 3.3 cho thấy có mối liên quan nghịch chiều giữa nồng độ triglyceride huyết thanh ban đầu với sự cải thiện nồng độ triglyceride huyết thanh: nồng độ triglyceride ban đầu càng cao thì sau can thiệp nồng độ này càng giảm Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (Pearson r= -0,44; p<0,001)
Mối liên quan giữa sự cải thiện nồng độ cholesterol huyết thanh và nồng
độ cholesterol tại thời điểm ban đầu thiên theo xu hướng nghịch chiều, tuy nhiên mối tương quan này không có ý nghĩa thống kê (Pearson r = - 0,12; p>0,05)
Không tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ HDL-C huyết thanh ban đầu với sự cải thiện nồng độ HDL-C sau can thiệp (Pearson r = -0,25; p>0,05)
Tương tự như đối với chỉ tiêu HDL-C, mối tương quan giữa nồng độ LDL-C huyết thanh ban đầu với mức cải thiện tình trạng RLCHLPM theo chỉ tiêu LDL-C cũng không có ý nghĩa thống kê (Pearson r = 0,02; p>0,05)