Chương 15: KHÁI NIỆM VỀ DẦM CHỐNG UỐN ĐỀU Ở trên ta mới chỉ xét hinh dạng hợp lí của mặt cắt ngang.. Cách sử dụng vật liệu như vậy chưa hợp lí vì khi ứng suất tại những điểm nguy hiểm t
Trang 1Chương 15: KHÁI NIỆM VỀ DẦM CHỐNG UỐN
ĐỀU
Ở trên ta mới chỉ xét hinh dạng hợp lí của mặt cắt ngang Trên thực tế nội lực thường thay đổi theo chiều dài của dầm nên hợp lý nhất là kích thước mặt cắt ngang cũng cần thay đổi theo chiều dài của dầm Nên ngoài mặt cắt ngang hợp lý ta còn phải xét hình dạng hợp lí của cả dầm
Trong trường hợp dầm có mặt cắt ngang không đổi, ta đã chọn kích thước của dầm theo mặt cắt có mô men uốn lớn nhất Cách sử dụng vật liệu như vậy chưa hợp lí vì khi ứng suất tại những điểm nguy hiểm trên mặt cắt có mô men uốn lớn nhất đạt tới trị số ứng suất cho phép thì ứng suất tại những điểm nguy hiểm trên các mặt cắt khác còn nhỏ hơn rất nhiều so với ứng suất cho phép
Như vậy, ta chưa sử dụng hết khả năng chịu lực của vật liệu
ở các mặt cắt khác
Để tiết kiệm được vật liệu, ta phải tìm hình dạng hợp lí của dầm sao cho ứng suất tại
Trang 2x
những điểm nguy hiểm trên mọi mặt cắt ngang đều cùng đạt đến giá trị ứng suất cho phép Dầm có hình dạng như vậy gọi là dầm chống uốn đều Ta xét ví dụ cụ thể sau:
Giả sử có một dầm chịu lực như trên hình 5.28 Biểu thức mô men uốn và lực cắt trên mặt cắt 1-1 nào đó là:
M = P z ; Q
= P
2 2
Ta giả thiết mặt cắt ngang là hình tròn Như vậy ứng suất
pháp lớn nhất trên mặt
M cắt được tính với công thức:
ma x =x
Wx
P z
2 0,1 d 3
Theo điều kiện ứng suất pháp lớn nhất trên mọi mặt cắt
ngang đều đạt đến ứng suất cho phép, ta rút ra:
d = 3.0,2[]p.z z P
Như vậy, hình dáng của
dầm phải có dạng đường nét đứt A B
như trên hình 5.29, nhưng hai a) đầu mút của dầm, lực cắt là lớn l/ l/
nhất Như vậy, kích
thước của
mặt cắt ngang ở hai
đầu mút
dầm phải thỏa mãn điều
kiện Qy
bền về lực cắt, tức là
phải xác định đường
kính theo điều kiện bền:
P/
2
2
b) P/2
ma
x =
4 Qy
3 F 3 d2 M
Từ đó rút ra:
8 P d1 =
3 [
Đó là hinh dạng
hợp lí của dầm, nhưng
vì khó gia công
nên trong thực tế ngườta chế tạo các trục có mặt cắt ngang thay đổi từng bậc (gọi là trục bậc) gần sát với
Trang 3dạng hợp lí (đường liền
trên hình
5.29) Các nhíp xe cũng là
những dạng dầm chống uốn
đều
Hình 5.28: Biểu đồ nội lực
Hình 5.29: Hình dáng hợp
ủ
5.11 QUỸ ĐẠO ỨNG SUẤT CHÍNH KHI UỐN
Nói chung một phân tố bất kỳ nào đó trong lòng của thanh chịu uốn ngang phẳng đều ở trạng thái ứng suất phẳng Ở đây, ta hãy xác định phương các ứng suất chính của các phân tố khác nhau trên một mặt cắt ngang nào đó của dầm chịu uốn ngang phẳng (hình 5.30a)
Trang 4E
Đối với các phân tố ở A và E, vì đó là những phân tố chịu trạng thái ứng suất đơn, nên ta xác định được phương chính của các phân tố đó là các phương song song và vuông góc với trục thanh
Đối với phân tố C, vì phân tố đó nằm trên đường trung hòa, nên trạng thái ứng suất của phân tố là trạng thái trượt thuần túy Các phương chính có độ nghiêng với trục
thanh 1 góc 450 Đối
với các phân tố ở B và
D, các phương
chính tùy thuộc trị số các
ứng a
suất Để xác định
phương )
chính của các phân tố đó, ta
A
vẽ các vòng tròn
Mohr ứng
suất như trên hình vẽ (hình
B
5.30b) Bằng phương pháp
Mx C
tương tự, ta có thể
xác định
được phương chính của ứng
Q D
suất chính ở nhiều
điểm trên
dầm Ta vẽ đường cong
có y
tiếp tuyến là phương
của ứng suất chính
Các quỹ đạo này họp
thành hai họ đường
cong
P
) B
Q
y Mx
P O D
vuông góc với nhau,
một họ
Hình 5.30: Phân tích trạng thái ứng
Trang 5là quỹ đạo ứng suất kéo và một họ là quỹ đạo ứng suất nén.
Trên hình (5.31a) biểu diễn các quỹ đạo ứng suất chính của một dầm đặt trên hai gối tựa, chịu tải trọng phân bố đều, quỹ đạo ứng suất kéo là đường nét đứt, quỹ đạo ứng suất nén là đường nét liền
Người ta thường dùng các phương pháp thực nghiệm để
xác định quỹ đạo ứng suất chính như phưHơnìgnhphá5p.q3u1a:ng
Qđuànỹhồđiạ,pohưcơáncg pứhnápgdsùnugấstơncghiíò nhSở dĩ ta cần biết
quỹ đạo ứng suất chính vì nó cho phép ta biết cách sắp xếp vật liệu đúng chỗ, làm tăng khả năng chịu lực của dầm Ví dụ đối với bêtông là loại vật liệu chịu nén tốt, chịu kéo kém Để tăng khả năng chịu uốn của dầm làm bằng bêtông thì ta đặt cốt thép vào dầm theo phương quỹ đạo ứng suất chính chịu kéo như trên hình
vẽ (hình 5.31b)