1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Báo cáo quy hoạch vườn Quốc gia Ba Vì

92 5,1K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Quy Hoạch Vườn Quốc Gia Ba Vì
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quy Hoạch Bảo Tồn Và Phát Triển
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 869,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì xứng đáng với tiềm năng và lợi thế của Vườn trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã cho phép Vườn Quốc gia Ba Vì

Trang 1

Đặt vấn đề

Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn của 2 đơn vị hành chính là Thành phố Hà Nội (huyện Ba Vì, thuộc tỉnh Hà Tây cũ) và tỉnh Hoà Bình (huyện Lương Sơn và Kì Sơn) từ lâu đã nổi tiếng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình Đây là vùng núi chuyển tiếp với hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài thực vật và động vật quí, đặc trưng cho vùng trung du Bắc Bộ, rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục môi trường Hơn nữa, Vườn Quốc gia Ba Vì được coi như “lá phổi xanh” nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ các bon và các khí thải công nghiệp Đây còn là nơi phòng hộ đầu nguồn, nơi cung cấp nguồn nước sản xuất, nước sinh hoạt của người dân sinh sống quanh chân núi Ba Vì và Núi Viên Nam

Ba Vì có nhiều địa danh nổi tiếng như Đỉnh Vua, Đỉnh Tản Viên, Đỉnh Ngọc Hoa, Đỉnh Hang Hùm Những danh thắng này tạo nên một quần thể cảnh quan kì vĩ cùng với nhiều bản sắc văn hóa dân tộc nên từ lâu, Ba Vì là nơi thăm quan du lịch sinh thái lí tưởng cho du khách trong và ngoài nước Xung quanh chân núi Ba Vì, núi Viên Nam còn có các điểm du lịch sinh thái nổi tiếng như Ao Vua, Khoang Xanh, Thiên Sơn - Suối Ngà, Thành Thắng, Việt Mĩ - Thác Đa Mỗi năm, có hàng trăm ngàn lượt du khách trong và ngoài nước tới đây thăm quan, du lịch và tìm hiểu thiên nhiên Chính từ những giá trị ấy mà từ nhiều năm nay, Nhà nước đã có các chương trình đầu tư xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì để khôi phục, gìn giữ Hệ sinh thái rừng Kết hợp hài hoà giữa bảo vệ rừng với khai thác các cảnh quan đẹp của thiên nhiên phục vụ nhu cầu du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên của người dân

Năm 2003, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch mở rộng Vườn với diện tích tăng thêm 4.646 ha ở 9 xã thuộc các huyện Lương Sơn, Kì Sơn thuộc tỉnh Hoà Bình Tuy nhiên, việc triển khai các hoạt động chưa được đồng bộ, nhiều nội dung quy hoạch đến nay đã không còn phù hợp, ảnh hưởng đến công tác bảo tồn

và chưa phát huy được những tiềm năng, lợi thế của Vườn Hệ thống đường tuần tra, hệ thống phân định ranh giới giữa Vườn với vùng Đệm thuộc khu vực Tỉnh Hoà Bình triển khai cắm mốc giới chậm và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Khu vực Núi Viên Nam hầu như chưa có đầu tư về cơ sở hạ tầng, chưa có các công trình nghiên cứu cơ bản lâm sinh Hệ thực vật, động vật rừng chưa được nghiên cứu đầy đủ, đất trống núi trọc còn nhiều, hiện tượng xâm phạm vào rừng vẫn còn xảy ra và tính bền vững của rừng vì thế càng bị đe doạ

Tiềm năng du lịch và nghỉ dưỡng ở khu vực cốt 400, cốt 600-700, cốt 800, Núi Viên Nam chưa được đầu tư phục vụ nhu cầu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng trong khi nhu cầu của du khách là rất lớn Hạ tầng dịch vụ hiện tại còn sơ sài, quy

mô nhỏ lẻ, manh mún, chưa gây ấn tượng nhiều cho du khách Trong khi đó, một không gian đang đà phát triển mạnh mẽ như việc mở rộng Hà Nội, sự lớn mạnh của các đô thị về phía Tây Thủ Đô, các khu vực lân cận như Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Phúc, Việt Trì, Hoà Bình, sự hình thành các khu công nghiệp tập trung Láng - Hoà Lạc, sân gôn Lương Sơn dẫn tới nhu cầu về nghỉ ngơi cuối tuần, du lịch sinh thái rừng tại vùng Núi Ba Vì của người dân ngày càng cao Với cơ sở hạ

Trang 2

tầng và dịch vụ như hiện nay sẽ không thể đáp ứng khi mà lựơng khách đến Vườn dự báo sẽ tăng mạnh trong tương lai.

Để xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì xứng đáng với tiềm năng và lợi thế của Vườn trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã cho phép Vườn Quốc gia Ba Vì tiến hành rà soát lập dự án “Quy hoạch bảo tồn và phát triển Vườn quốc gia Ba Vì giai đoạn 2009 - 2020", nội dung cơ bản tập trung vào những vấn đề:

- Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Ba Vì, bảo tồn nguyên vẹn các loài động thực vật rừng đặc hữu quí hiếm, độc đáo của khu vực đồng bằng Bắc bộ Việt Nam

- Phát huy vai trò phòng hộ đầu nguồn, gìn giữ lá phổi xanh phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội Một phòng tiêu bản sống về thực vật và động vật rừng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, thực tập cho học sinh sinh viên

- Xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì thành một khu rừng cảnh quan môi trường với tính đa dạng sinh học cao Khai thác hiệu quả về tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, nơi nghỉ dưỡng cao cấp kết hợp giáo dục môi trường

- Tăng cường tính chủ động của Vườn, giảm dần nguồn kinh phí sự nghiệp của Nhà nước cho hoạt động bảo vệ rừng tiến tới tự đảm bảo nguồn tài chính thông qua nguồn thu từ dịch vụ du lịch sinh thái và cho thuê môi trường

- Tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống cho người dân sinh sống trong vùng Đệm

Thực hiện nhiệm vụ của Bộ giao, từ Quý III năm 2008 đến nay, Vườn Quốc gia Ba Vì với sự hỗ trợ của UBND các huyện Ba Vì (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây), huyện Lương Sơn, Kì Sơn tỉnh Hòa Bình cùng với các cơ quan, chuyên gia tư vấn

đã tiến hành rà soát, đánh giá lại thực trạng các hoạt động về công tác bảo tồn và phát triển rừng Từ đó, lập phương án quy hoạch tổng thể và xây dựng chương trình hoạt đọng nhằm phát triển bền vững VQG Ba Vì Bản Phương án được cấp trên phê duyệt sẽ là căn cứ cho Vườn xây dựng kế hoạch để thực hiện các chương trình theo đúng nội dung và tiến độ Nội dung Báo cáo gồm những phần sau:

Phần thứ nhất: Thông tin chung về quy hoạch xây dựng dự án

Phần thứ hai: Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Phần thứ ba: Đánh giá công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch

Phần thứ tư: Quy hoạch phát triển VQG Ba Vì giai đoạn 2010 - 2020

Phần thứ năm: Các chương trình hoạt động

Phần thứ sáu: Tổng vốn đầu tư, nguồn đầu tư và hiệu quả đầu tư

Kết luận, kiến nghị

Phần thứ nhất Thông tin chung về quy hoạch

Trang 3

1 Tên công trình

“ Quy hoạch phát triển Vườn Quốc gia Ba Vì giai đoạn 2010 - 2020”

2 Cơ quan chủ quản: Tổng cục lâm nghiệp

3 Chủ đầu tư: Vườn Quốc gia Ba Vì

4 Thời gian thực hiện:

Từ năm 2010 đến năm 2020

5 Các nội dung cơ bản của bản Quy hoạch

- Bản quy hoạch mô tả những đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội của Vườn và các xã vùng Đệm, các giá trị bảo tồn, cảnh quan, môi trường, tiềm năng du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của Vườn

- Đánh gía tổng quát việc thực hiện phương án quy hoạch trước đây, công tác quản lí, xây dựng và phát triển Vườn trong những năm qua

- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, xây dựng các chương trình phát triển Vườn nhằm đáp ứng mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia giai đoạn 2010 - 2020

- Xác định khối lượng công việc thực hiện quy hoạch phát triển Vườn, tổng vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư, phân theo các giai đoạn và hiệu quả đầu tư

6 Tổng mức đầu tư, nguồn đầu tư:

Tổng đầu tư cho các hoạt động bảo tồn và phát triển Vườn: 453.226 triệu đồng

Nguồn đầu tư: - Ngân sách Nhà nước: 141.035 triệu đồng

- Vốn huy động doanh nghiệp: 312.191 triệu đồng

7 Căn cứ xây dựng dự án

7.1 Cơ sở pháp lý

- Quyết định số 17- CT ngay 16/1/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) phê duyệt luận chứng kinh tế kĩ thuật xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì

- Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 12/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mở rộng diện tích Vườn quốc gia Ba Vì

- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng

- Công văn số 1248/CP-NN ngày 09 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về việc phê duyệt Đề án sử dụng môi trường rừng đặc dụng để phát triển du lịch sinh thái và giáo dục hướng nghiệp tại Vườn Quốc gia Ba Vì

- Quyết định số 490/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 8 năm 2006 quy định thi hành Luật bảo vệ môi trường

Trang 4

- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Du lịch.

- Quyết định số 3732/QĐ-BNN-XD, ngày 29/10/2004 của Bộ NN&PTNT

về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Vì giai đoạn 2005 - 2008

- Quyết định số số 921/QĐ-UB, ngày 20/6/2003 của UBND tỉnh Hoà Bình

về việc giao đất lâm nghiệp cho Vườn Quốc gia Ba Vì

- Quyết định số 104/QĐ-BNN ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Quy chế quản lí các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên

- Quyết định số 2008/QĐ-BNN-KH ngày16 tháng 7 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép xây dựng “Dự án quy hoạch phát triển Vườn quốc gia Ba Vì giai đoạn 2008- 2015 và định hướng đến năm 2020"

- Quyết định số 1223 QĐ/BNN-KH ngày 29 tháng 4 năm 2003 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn về việc cho phép xây dựng “Dự án quy hoạch tổng thể Vườn quốc gia Ba Vì, tỉnh Hà Tây và Hòa Bình”

- Quyết định số 5561/QĐ-BNN-KL ngày 09 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và PTNT về phê duyệt Đề án thí điểm sử dụng môi trường rừng đặc dụng để phát triển du lịch sinh thái và giáo dục hướng nghiệp tại Vườn Quốc gia Ba

- Thông tư số 09/2008 ngày 28/8/2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn điều chỉnh giá và hợp đồng xây dựng do biến động giá nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu xây dựng

- Văn bản Số 1600 /BXD-VP ngày 25 tháng 07 năm 2007 công bố xuất vốn đầu tư xây dựng công trình năm 2007 của Bộ xây dựng (khi lập dự toán xuất vốn đầu tư năm 2007 được nhân với hệ số trượt giá: 222/157=1,414 lần, áp dụng theo chỉ số giá xây dựng quý II/2008 của Bộ Xây dựng, công bố theo Công văn

số 1781/BXD-VP ngày 28/ 08 /2008 của Bộ Xây dựng)

6.2 Tài liệu kĩ thuật, nguồn tài liệu, số liệu sử dụng

- Dự án quy hoạch Vườn Quốc gia Ba Vì, Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 1998

- Quy hoạch chi tiết xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉnh Hà Tây (cũ), Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Bộ xây dựng, năm 1999

- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Tây (cũ) đến năm 2010

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế các huyện Ba Vì, Lương Sơn, Kỳ Sơn giai đoạn 2000 - 2010

- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch huyện Ba Vì (Hà Tây cũ)

- Các báo cáo điều tra chuyên đề thực hiện trong năm 2008:

Trang 5

+ Báo cáo chuyên đề phúc tra hiện trạng rừng và sử dụng đất Vườn Quốc gia Ba Vì.

+ Báo cáo chuyên đề điều tra lập địa cấp II và đề xuất tập đoàn cây trồng cho phân khu phục hồi sinh thái

+ Báo cáo chuyên đề điều tra dân sinh kinh tế xã hội

+ Báo cáo điều tra động vật - thực vật rừng

+ Báo cáo chuyên đề điều tra đánh giá tiềm năng du lịch và dịch vụ du lịch

- Các loại bản đồ:

+ Bản đồ quy hoạch mở rộng Vườn Quốc gia Ba Vì

+ Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hà Tây (cũ) và tỉnh Hoà Bình

+ Bản đồ giao khoán đất và bảo vệ rừng cho các tổ chức, cá nhân của Vườn Quốc gia Ba Vì

+ Bản đồ quy hoạch chi tiết xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉnh Hà Tây (cũ), Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Bộ xây dựng, năm 1999

+ Bản đồ quy hoạch mở rộng Vườn Quốc gia Ba Vì, năm 2003

- Tài liệu, số liệu tổng kết thực hiện nhiệm vụ các năm của Vườn và các tài liệu liên quan khác

Trang 6

Phần thứ hai Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

I Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên

1 Vị trí địa lý

- Vị trí: Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 16 xã thuộc 5 huyện là Ba

Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc Thành phố Hà Nội và huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình, cách Thủ đô 50 km về phía Tây theo trục đường Láng - Hoà Lạc, qua Thị xã Sơn Tây Hệ thống giao thông đi lại thuận tiện

- Toạ độ địa lý: Từ 20055 - 21007' Vĩ độ Bắc

Từ 105018' - 105030' Kinh độ Đông

- Ranh giới Vườn Quốc gia:

+ Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh; huyện Ba Vì, Hà Nội.+ Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hoà thuộc huyện Kì Sơn, xã Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình

+ Phía Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài, thuộc huyện Ba Vì; Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân, huyện Thạch Thất; xã Đồng Xuân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; xã Yên Quang, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình

+ Phía Tây giáp các xã xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội và xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình

- Tổng diện tích tự nhiên đến tháng 5 năm 2008 là 10.782,7 ha

2 Địa hình, địa thế

Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi trung du tiếp giáp với vùng bán sơn địa Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp, nổi lên rõ nét là các đỉnh như Đỉnh Vua cao 1.296m, Đỉnh Tản Viên cao 1.227 m, Đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131m, Đỉnh Viên Nam cao 1.012 m Địa hỡnh bị chia cắt bởi những khe và thung lũng, suối hẹp

Hướng của cả hai khối núi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao của hai khối núi giảm dần ra xung quanh tạo nên một số bậc địa hỡnh đặc trưng với các đỉnh, dải đồi lượn sóng nối liền hai khối núi với nhau Sườn của hai khối núi Ba Vỡ và Viờn Nam cú dạng bất đối xứng, sườn Tây dốc hơn sườn Đụng Hướng dốc chính thoải dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, độ dốc bình quân > 250 Nhiều nơi có độc dốc lớn

Trang 7

- Nhúm đá macma kiềm và trung tính: điển hỡnh cú đá Diorit, poocphiarit tương đôi mềm Nhóm đá này khi phong hoá cho mẫu chất tương đối mịn và tương đối giầu dinh dưỡng

- Nhúm đỏ trầm tớch: Cỏt kết, phiến thạch sột, cuội kết hỡnh thành từ đá gốc macma kiềm và trung tính Nhóm đá này khi phong hoỏ tạo thành loại đất khá màu mỡ

- Nhóm đá biến chất phân bố thành dải từ khu vực Đá Chông đến Ngòi Lát, chiếm gần toàn bộ diện tích sườn phía Đông và khu vực Đồng Vọng, xóm Sảng Thành phần chính của nhóm này gồm đá Diệp thạch kết tinh, đá Gnai, Diệp thạch xêrit lẫn các lớp quăczít

- Nhóm đá vôi phân bố khu vực núi Chẹ, xóm Mít, suối Ma, xóm Quýt

- Nhóm đá trầm tích phun trào nằm rải rác trong vùng

- Nhúm đất Feralit đỏ vàng: diện tớch 9.618,4 ha, chiếm 88,5% diện tớch tự nhiờn VQG Nhúm đất này phân bố ở độ cao dưới 700m, phát triển trên đá macma kiềm, trung tính, và các loại đá khác Đất có màu vàng, đỏ, nâu, mầu sắc tương đối rực rỡ, tầng mùn mỏng, tầng đất mỏng đến dày Tái sinh cây gỗ khá phỗ biến Nhúm đất này cú khả năng phự hợp với nhiều loài cõy trồng lõm nghiệp

- Tổ hợp đất thung lũng bao gồm đất phù sa mới, phù sa cũ, đất sườn tớch,

lũ tớch, sản phẩm hỗn hợp cú diện tớch 6,2 ha, chiếm 0,7% diện tớch tự nhiờn VQG Nhúm đất này phự hợp với canh tỏc nụng nghiệp (chi tiết xem bỏo cỏo điều tra lập địa cấp II - Tập bỏo cỏo chuyờn đề)

4 Khí hậu thủy văn

có thể xuống 0,20C Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, tháng 8 Độ

ẩm không khí 86,1%

Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 1, tháng 12 Từ cốt 400 trở lên, khí hậu ít khô hanh hơn khu vực dưới cốt 400 Mùa đông có gió Bắc với tần suất > 40% Mùa hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam Với đặc

Trang 8

điểm này, đõy là nơi nghỉ mỏt lớ tưởng và khu du lịch tổng hợp rất giàu tiềm năng nhưng chưa được đầu tư khai thỏc.

4.2 Thủy văn và tài nguyên nước

Hệ thống suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn Nỳi Ba

Vỡ và Nỳi Viờn Nam Cỏc suối lớn và dũng nhỏnh chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều là phụ lưu của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu của sông Đà Mật độ 1,2 ÷ 2 km/ 1 km2 Các suối này thường gây lũ vào mùa mưa Về mùa khô, các suối nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vưc gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, ngũi Lạt, suối Yờn cư, suối Bơn, suối Quanh, suối Cầu Rổng, suối Đô, Chằm Me, Chằm Sỏi

Sông Đà chảy ở phía Tây Bắc núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như Suối ổi, Suối Ca, Suối Mít, Suối Ba Gò, Suối Xoan, Suối Yên Cư, suối Củi thường xuyên cung cấp nước cho sản suất và sinh hoạt của người dân trong vùng Bên cạnh còn có các hồ chứa nước nhân tạo như Hồ Suối Hai, Hồ Đồng

Mô - Ngải Sơn, Hồ Cóc Cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân Đồng thời, tạo nên không gian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu du lịch

- Rừng tự nhiờn 4.200,5 ha;chiếm 51,27% diện tớch đất cú rừng

- Rừng trồng 3.992 ha, chiếm 48,73 % diện tớch đất cú rừng

Diện tích đất có rừng phân bố nhiều nhất tại xó Ba Vỡ với 1.407,0 ha Diện tớch rừng trung bỡnh (trạng thỏi IIIA2, IIIB) và rừng nghốo (trạng thỏi IIIA1) tập trung khu vực nỳi Ba Vỡ với 883,9 ha

Trên địa bàn tỉnh Hũa Bỡnh chỉ cũn rừng phục hồi với diện tớch 1.071,5

ha, phõn bố chủ yếu ở xó Yờn quang với 514,6 ha

5.2 Trữ lượng các loại rừng

Theo số liệu tham khảo kết phõn chia 3 loại rừng năm 2005 của Viện Điều tra quy hoạch rừng và kết quả phỳc tra tại thực địa năm 2008, Trữ lượng các loại rừng VQG Ba Vỡ được tớnh toỏn và tổng hợp như sau:

Trang 9

Tổng trữ lượng gỗ của Vườn là 309,616 ngàn m3; trong đú trữ lượng rừng tự nhiờn là 221,868 ngàn m3; rừng trồng là 87,748 ngàn m3

Rừng gỗ tự nhiờn, tập trung chủ yếu ở cỏc xó Ba Vỡ, Võn Hũa, Khỏnh Thượng Rừng tre nứa có 1.041,3 ngàn cây; phân bố chủ yếu ở các xó Ba Vỡ, Võn Hũa và một ớt ở xó Tản Lĩnh, Ba Trại

Trong tổng số 3.992,0 ha rừng trồng thỡ cú 1.694,0 ha là rừng trồng ở cấp tuổi 1 chưa có trữ lượng Rừng Keo và Bạch đàn tuổi 2 có trữ lượng 87,748 ngàn

m3; tập trung ở cỏc xó Ba Vỡ, Võn Hũa, Khỏnh Thượng, Tản Lĩnh, Phú Minh

(chi tiết xem bảng 7, 8, 9 phần phụ biểu)

5.3 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm

5.3.1 Đặc điểm các kiểu thảm thực vật rừng

(1) Rừng kín lá rộng thường xanh, l á kim mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Đây là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam và khu hệ di cư Hymalaya -Vân nam - Quý Chõu Ở đây xuất hiện rừng Rêu (rừng cảnh tiên) là một kiểu phụ thổ nhưỡng của đai rừng á nhiệt đới

ẩm Kiểu thảm này phân bố chủ yếu ở đỉnh Vua và một ít ở đỉnh Tản Viên, diện tớch 423,2 ha, chiếm 3,8% tổng diện tích Kiểu rừng này đó bị tỏc động nhưng cũn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản, Độ tàn che của rừng > 0,8 Rừng chia làm 4 tầng, tầng ưu thế cao khoảng 15 - 30m, các loài trong họ Dẻ, Re,…đường kính bỡnh quõn đạt 35 - 38cm Tính đa dạng loài khỏ cao

(2) Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Trang 10

Đặc điểm cấu trúc: Loài ưu thế sinh thái là các loài cây thuộc khu hệ thực vật đệ tam đặc hữu bản địa Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam Kiểu rừng này cú diện tớch 460,7

ha, chiếm 4,3% tổng diện tớch, phân bố thành các mảng tương đối lớn ở độ cao dưới 700m xung quanh sườn núi Ba Vỡ Ưu hợp của những loài cây trong các họ

ưu thế như: họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dõu tằm (Mogaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Leguminoseae),họ Xoài (Anacadiaceae), họ Trỏm

(Burceraceae), họ Bồ hũn (Sapindaceae), họ Sến (Satotaceae) Rừng được chia thành

4 tầng, trong đú tầng ưu thế có các loài như Trâm, Trường vân, Gội, Sến, Cà lồ Ba

vỡ, Đa, Sồi … đường kính bỡnh quõn 25 - 35cm, chiều cao từ 18 - 22m Tớnh đa dạng loài khỏ cao, phõn bố chủ yếu đai cao trên 700m, khu vực Đỉnh Ba Vỡ

(3) Rừng thứ sinh phục hồi

Diện tích 3.031,0 ha; chiếm 28,1%; phân bố rải rác khắp VQG Bao gồm rừng thứ sinh phục hồi nhiệt đới (26,6%) và rừng thứ sinh phục hồi á nhiệt đới núi thấp (1,5%) Thành phần loài và cấu trúc rừng khỏ đơn giản, một tầng, phổ

biến là các loài Hu đay (Trema oriantalis), Ba gạc lỏ xoan (Euvodia meliaefolia)

(4) Rừng thứ sinh hỗn giao

Rừng thứ sinh hỗn giao diện tớch nhỏ 274,0 ha, phõn bố chủ yếu ở xó Ba

Vỡ và Võn Hũa Với cõy gỗ chủ yếu là cỏc loài: Dẻ, Re, Khỏo, Chẹo, Ngỏt, Thị rừng, Dung, Chõn chim… Tre nứa thường tạo thành đám riêng chủ yếu là Vầu

nhỏ, Tre sặt, Nứa lá nhỏ (Schizostachyum dullooa) Mật độ, đường kính cây nhỏ

do trước đây bị khai thỏc Thực vật ngoại tầng phong phỳ gồm các loài Phong lan, dây leo thuộc họ Na, họ Trinh nữ, họ Đậu, họ Vang, họ Trúc đào, họ Cà phê

(5) Rừng trồng

Rừng trồng có diện tích 3.992,0 ha, chiếm 37,0% diện tích tự nhiên, được trồng ở các xó; Ba vỡ, Khỏnh Thượng, Yên Bài, Võn Hũa, Yờn Quang, Phỳ Minh, Dõn Hũa Cỏc loài cõy trồng chủ yếu gồm: Lim xanh, Sến, Thụng, Sa mộc, Long nóo, Giổi, Muồng đen, Trám, Sấu,…Nhỡn chung, cõy sinh trưởng bỡnh thường Tớnh đa dạng loài khỏ chưa cao

(6) Thảm cỏ cõy bụi, nương rẫy

Thảm này cú diện tớch 2.497 ha; phõn bố cả ở 2 khu Ba Vỡ và Viờn Nam, nhưng chủ yếu ở khu vực núi Viên Nam

Loài thực vật chủ yếu là cỏc loài Lau lỏch, dõy Sắn, Bỡm bỡm, Hu đay, Ba soi, Lành ngạnh Thảm này cần được phục hồi rừng bằng cỏc biện phỏp trồng mới trờn cỏc dạng đất trống cõy bụi và trảng cỏ (IA, IB) và thực hiện KNTS tự nhiờn trờn trạng thỏi đất cú cõy gỗ rải rỏc (IC) để tăng độ che phủ, chống xúi mũn, hạn chế rửa trụi đất

Cũng cần giữ lại một số diện tớch trạng thỏi cỏ, cõy bụi (ở những nơi cú sẵn cỏ càng tốt hoặc tỏc động thờm) để cung cấp thức ăn cho cỏc loài động vật múng guốc cũng như tạo môi trường sống cho cỏc loài chim thỳ khỏc

5.3.2 Hệ thực vật rừng

Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm

2008, cho tới nay, Vườn Quốc gia Ba Vì có 160 họ, 649 chi, 1201 loài thực vật bậc cao

có mạch nằm trong 14 yếu tố địa lý thực vật (tính theo đơn vị cơ bản chỉ = gennus)

Trang 11

So với kết quả báo cáo điều tra của Vườn năm 1998 đã có những thay đổi đáng kể Dưới đây là bảng so sánh các kết quả năm 1998 và năm 2008:

Bảng 2 So sánh kết quả nghiên cứu thực vật rừng VQG Ba Vì

(chi tiết xem phần báo cáo thực vật, tập báo cáo chuyên đề)

Như vậy, kết quả nghiên cứu khá đầy đủ lần này đã khẳng định sự phong phú và đa dạng loài thực vật của Vườn So với kết quả điều tra năm 1998, số Họ thực vật phát hiện mới tăng 61 họ, số Chi tăng 177 chi và số loài tăng 389 loài

Cây gỗ quí hiếm: có 36 loài, điển hình là Bách xanh (Calocedrus

macrolepis), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Sến mật (Madhca pasquieri),

Giổi lá bạc (Michelia cavaleriei), Phỉ ba mũi (Cephalotaxus manii)…

Thực vật đặc hữu và mang tên Ba Vì: loài được gọi là đặc hữu Ba Vì

theo thời điểm (Ba vi’s endemic plants by point of time) có 49 loài, có 36 loài

nằm trong danh lục đỏ (Red List), điển hình như Mua Ba Vì (Allomorphia

baviensis), Thu hải đường Ba Vì (Begonia baviensis), Xương cá Ba Vì

(Tabernaemontana baviensis)…

Cây có giá trị sử dụng gỗ: có 185 loài.

Thực vật cây thuốc: có tới 503 loài thuộc 118 họ, 321 chi chữa 33 loại bệnh và

chứng bệnh khác nhau, trong đó có nhiều loài thuốc quý như: Hoa tiên (Asarum

maximum), Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata), Bát giác liên (Podophyllum tonkiensis),

Râu hùm (Tacca chantrieri), Hoằng đằng (Fibraurea tinctoria)

Những họ tiờu biểu gồm họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Trúc đào

(Apocynaceae) Về tre, nứa trong rừng tự nhiên có 9 loài phân bố ở độ cao dưới

800m, Giang ở độ cao 1.100m, ở độ cao hơn có Sặt Ba Vì mọc thành từng vạt trên đỉnh núi, khu vực đỉnh Vua, Tản Viên, Ngọc Hoa Hiện nay, Vườn đã sưu tập thêm 117 loài tre trúc, nằm ở độ cao dưới 400m Vườn Xương rồng cũng đã thu thập được trên 1.000 loài, làm tăng tính phong phú và đa dạng loài, rất có giá trị về nghiên cứu khoa học và thăm quan thắng cảnh

5.3.3 Hệ động vật rừng (ĐVR)

Theo kết quả điều tra bổ sung mới nhất năm 2008, Khu hệ động vật có xương sống (ĐVCXS) ở VQG Ba Vì thống kê được 342 loài Trong đó, có 3 loài đặc hữu và 66 loài ĐVR quí hiếm Trong 342 loài đã ghi nhận, có 23 loài có mẫu được sưu tầm hoặc

Trang 12

đang được lưu trữ ở địa phương, 141 loài được quan sát ngoài thực địa và 183 loài theo phỏng vấn thợ săn hoặc tập hợp qua tài liệu đã có

Trong số động vật gặp ở Ba Vì, có 70 loài cho thịt, da, lông và làm cảnh

Yếu tố đặc hữu của khu hệ ĐVCXS ở Ba Vì ở 2 lớp Bò sát và Lưỡng thê Đó là

các loài Thằn lằn tai Ba Vì (Tropidophous baviensis), ếch vạch (Chaparana delacouri)

Bảng 3 Kết quả nghiên cứu động vật rừng VQG Ba Vì

(chi tiết xem phần báo cáo động vật, tập báo cáo chuyên đề)

Nhóm động vật quí hiếm ở VQG Ba Vì có 66 loài, phần lớn là loài ĐVR nhỏ, hoặc

trung bình Các loài quý hiếm như Cầy vằn (Chrotogale owstoni), Cầy mực (Artictis

binturong), Cầy gấm (Prionodon pardicolor); Beo lửa (Felis temmincki), Sơn Dương

(Capricornis sumatraensis), Sóc bay (Petaurista petaurista)… Gà lụi trắng (Lophura

nycthemera), Yểng quạ (Eurystomus orientalis), Khướu bạc má (Garrulax chinensis) và các loài đặc hữu hẹp hiện có ở VQG Ba Vì

* Các mối đe doạ đến ĐVR: Hai mối đe doạ đến ĐVR là mất rừng và săn

bắt ĐVR Nhìn chung, ĐVR đã bị suy giảm nghiêm trọng

* Thực trạng bảo vệ động vật rừng: do địa hình vùng Ba Vì độc lập nên việc di cư của các thú rừng từ nơi khác tới là rất hạn chế, dễ bị săn bắt Có loài bị tiêu diệt hoàn toàn như Hươu sao, Gấu chó…Hiện tại, nhiều loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt như Sơn dương, Sóc bay, Gà lôi trắng…Do vậy, cần phải kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt, đồng thời tạo môi trường tốt để gây dựng và phát triển số chim thú Nên quy hoạch các đồng cỏ để bảo

vệ các loài móng guốc và tạo không gian cho các loài chim thú di thực (chi tiết xem phần báo cáo động vật, tập báo cáo chuyên đề)

(Actias selene ningpoana Felde); Bướm rồng đuôi trắng (Lamproptera curius

Fabricius); Bướm phượng Hêlen (Troides helena Linnaeus), Bướm đuôi kiếm

(Graphium antiphates Cramer) Hệ côn trùng ở Vườn đã tạo nên sự phong phú,

đa dạng loài và làm nổi trội giá trị thiên nhiên của Vườn

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiờn và giỏ trị tài nguyờn rừng

Vườn quốc gia Ba Vỡ cú diện tớch khụng lớn nhưng khá đa dạng về hệ sinh thái như hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đồng cỏ, hệ sinh thái sông suối, hệ sinh thái nương rẫy Vườn cũng khá đa dạng về kiểu rừng, có cả Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt

Trang 13

đới núi thấp Tớnh đa dạng cuả các loài thực vật, động vật tạo nên sự nổi bật ở vùng trung du Bắc Bộ, rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen

và giáo dục môi trường

Trên Đỉnh Vua có nhiều vách đá dựng, dốc đứng tạo dáng vẻ hùng vĩ Đỉnh Tản Viên có hang lộ thiên với mái đá rộng lớn, tại đây có Đền Thượng thờ Thánh Tản Viên, Đền Trung, Đền Đá Đen với những truyền thuyết dân gian đi vào lịch sử Nhiều thác nước, khe suối đẹp như Thác Bạc, suối Ngà, suối Yến đan xen những cánh rừng nguyên sinh, rừng nhân tạo với sự đa dạng của các loài thực vật và môi trường trong lành đã tạo nên khung cảnh thiên nhiên hài hoà thân thiện Bao quanh Vườn

là các Hồ nhân tạo như Hồ Suối Hai, Hồ Đồng Mô tạo nên bức tranh sinh động sơn thủy hữu tình, gần gũi với con người và từ lâu đã rất hấp dẫn khách du ngoạn

Do mức độ tác động của con người đó tạo nờn nhiều trạng thỏi rừng khỏc nhau như rừng trung bỡnh, rừng nghốo, rừng phục hồi, rừng trồng Khu vực huyện Lương Sơn và Kỳ Sơn có diện tích đất trống đồi núi trọc khá lớn Đây là một thách thức nhưng cũng là một tiềm năng để phát triển lâm nghiệp

Với những giá trị về nhân văn, nhiều cảnh quan đẹp, môi trường trong lành, bảo tồn và du lịch hiện nay, Vườn Quốc gia Ba Vì thực sự chứa đựng nhiều tiềm năng cho các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn rừng, giáo dục môi trường Đặc biệt, đây còn là nơi rất có tiềm năng cho hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, ý thức môi trường, góp phần thúc đẩy phỏt triển kinh tế - xó hội của địa phương

II Đặc điểm cơ bản về kinh tế xã hội

1 Dân tộc, dân số và lao động

Theo quy hoạch mở rộng Vườn, hiện nay Vườn Quốc gia Ba Vì nằm trong phạm vi hành chính của 16 xã thuộc 5 huyện là Ba Vì có 7 xã là Ba Vì, Ba Trại, Tản Lĩnh, Khánh Thượng, Minh Quang, Vân Hoà, Yên Bài; huyện Thạch Thất có

3 xã là xã Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung; huyện Quốc Oai có 1 xã là xã Đồng Xuân; huyện Lương Sơn có 2 xã là Yên Quang và Lâm Sơn; huyện Kỳ Sơn 3 có

xã là Phú Minh, Phúc Tiến và Dân Hoà

Dân tộc và dân số: Trên địa bàn 16 xã có 4 dân tộc sinh sống: Mường, Kinh, Dao và Thái Dân số có 89.928 người, đa số là dân tộc Mường 69.547 người và phân bố ở cả 16 xã, chiếm 77,3%; dân tộc Kinh 20,4%; dân tộc Dao 2,15%, chủ yếu ở 3 xã Ba Vì, Dân Hoà và Lâm Sơn; dân tộc Thái 0,15%, phân

bố ở xã Đồng Xuân, Yên Quang và Phú Minh

Tổng số lao động trong vùng có 51.568 người; trong đó lao động nông nghiệp 46.562 người, chiếm chủ yếu trong cơ cấu lao động ở địa phương Số lao động làm các ngành nghề khác là 497 người, chiếm hơn 1% Việc đa dạng ngành nghề ở vùng nông thôn chưa được chú trọng

(Nguồn: Số liệu do UBND các xã, huyện cung cấp năm 2008)

2 Tình hình phát triển kinh tế chung

Trang 14

Theo số liệu thống kê của các xã, nguồn thu ngân sách trên địa bàn các xã vùng Đệm năm 2007 đạt 21,55 tỷ đồng Sản lượng lương thực trung bình trong toàn khu vực đạt 308 kg/người/ năm Thu nhập bình quân cao nhất ở xã Yên Trung, đạt 6 triệu đồng/người/năm Thấp nhất là xã Vân Hoà, chỉ đạt 3,6 triệu đồng/người/năm Trong khu vực có 2.121 hộ nghèo, chiếm 10,31% số hộ trong vùng Khánh Thượng là xã có tỷ lệ hộ nghèo nhiều nhất với 323 hộ, chiếm 19,6

% số hộ trong xã Đông Xuân là xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất, chỉ có 28 hộ, chiếm 2,8% số hộ trong xã Thu ngân sách trên địa bàn thấp, kinh tế chậm phát triển và còn nhiều khó khăn

- Sản xuất lương thực: Năng suất lúa 2 vụ của các xã trong vùng đạt trung bình 4,55 tấn/ha/năm Bình quân mỗi năm đạt trên 20 ngàn tấn Năm 2007 đạt 27.680,02 tấn Tuy nhiên, sản lượng lương thực không đủ tiêu dùng tại chỗ mà nhiều địa phương vẫn phải mua từ bên ngoài vào

- Chăn nuôi: Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau trồng trọt Ngoài việc cung cấp sức kéo, trâu bò còn cung cấp phân bón phục vụ cho sản xuất, góp phần tăng năng xuất cây trồng, cung cấp thực phẩm tại chỗ Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi trong vùng gặp nhiều khó khăn do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp

- Công tác bảo vệ, trồng rừng

+ Trồng rừng: Thực hiện chương trình 327/CP; 661/CP Chỉ riêng năm

2006 đã trồng 279 ha, năm 2007 trồng 410 ha ở 4 xã: Dân Hoà, Phúc Tiến, Yên Quang, Yên Trung Loài cây trồng chủ yếu là cây Lát, Thông, Sa Mộc, Dẻ và cây phụ trợ là Keo, rừng phát triển khá tốt

+ Bảo vệ rừng: Bà con địa phương đã nhận khoán bảo vệ rừng do Vườn giao khoán bảo vệ là 3.350 ha, với 97 hộ dân ở các xã Kết quả kiểm tra cuối năm

2007 cho thấy các hộ nhận khoán đã bảo vệ tốt diện tích được giao

- Công tác xây dựng rừng trên địa bàn khá ổn định từ sau khi thực hiện theo Quyết định 02/CP của Chính phủ Hầu hết diện tích rừng đã có chủ với nhiều mô hình trang trại của hộ gia đình làm ăn giỏi

- Khai thác rừng tại vùng Đệm: khai thác chủ yếu từ rừng trồng Keo, Bạch đàn trong các vườn hộ Sản lượng khai thác năm 2007 khoảng 100.000 cây Luồng và 5.000 khối gỗ Keo

- Khai thác nguồn lâm đặc sản là cây thuốc trong rừng tự nhiên: Hiện nay, tại các bản Yên Sơn và Bản Hợp Nhất thuộc xã Ba Vì, nhiều hộ gia đình người Dao có nghề thuốc cổ truyền Hầu hết cây thuốc được lấy từ rừng tự nhiên trên Núi

Ba Vì (vùng Lõi) Việc khai thác quá mức và thiếu kiểm soát đã làm giảm mạnh về

số lượng và chất lượng của nhiều loài cây thuốc quý chữa các bệnh xương khớp, bệnh gan, thận, các bệnh phụ nữ Đây thực sự là điều cảnh báo, nếu Vườn và địa phương không kiểm soát chặt chẽ hoặc không có phương án quy hoạch bảo vệ và gây trồng thì một số loài cây thuốc quý có nguy cơ không còn

- Canh tác nương rãy: Nhiều nương rãy nơi tập trung, nới xen kẽ hiện đang được bà con ở các xã Khánh thượng, Ba Vì, Ba Trại canh tác cũng nằm trong phân khu phục hồi sinh thái Tuy nhiên, diện tích này được người dân canh tác từ

Trang 15

lâu đời Canh tác chủ yếu trồng cây sắn, một số diện tích trồng luân canh Nhìn chung, năng suất ngày càng giảm dần do đất bạc mầu rửa trôi.

- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn vùng Đệm có 8 cơ sở sản xuất, quy mô của các cơ sở nhỏ (số lao động trong các cơ sở này từ 50 -160 người) lực lượng lao động là người địa phương Cơ sở sản xuất thủ công, dịch vụ thương mại chủ yếu do gia đình tự làm

3 Hiện trạng xã hội và cơ sở hạ tầng tại các xã vùng Đệm

- Công tác Giáo dục: ở tất các các xã đều đã có trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở Toàn vùng hiện có 1.309 giáo viên với 14.731 học sinh Hầu hết các em ở độ tuổi đến trường đều đã được đi học Khó khăn lớn nhất hiện nay ở các xã trong khu vực là chưa có nhà ở kiên cố cho giáo viên từ nơi khác đến Cần xây dựng nhà ở cho giáo viên để họ yên tâm giảng dạy Chất lượng giáo dục chưa thật tốt Năm 2007, các xã trong vùng dự án có tỷ lệ học sinh trung học được xét tốt nghiệp đạt từ 94 - 98% Tuy vậy, số học sinh giỏi cấp huyện còn thấp so với mức bình quân chung của huyện

- Công tác Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Trong khu vực điều tra, mỗi xã có 1 trạm y tế Toàn vùng có 103 cán bộ y tế và 87 giường bệnh Các cơ

sở y tế trong vùng làm nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, khám bệnh, sơ cứu và chữa các bệnh thông thường cho dân Tuy nhiên, cơ sở vật chất ở các trạm y tế xã còn thiếu, trình độ các bộ y tế còn hạn chế Trình độ của cán bộ chủ yếu ở cấp Y

sĩ, chưa có Bác sĩ

- Cơ sở hạ tầng khá thuận lợi, các xã đều có đường liên xã đã được trải nhựa, xe ô tô về đến trung tâm xã Đường từ trung tâm xã đến các thôn còn là đường đất và đường dải cấp phối Tỉnh Hà Tây (cũ) đã đầu tư kinh phí làm một

số tuyến đường trải nhựa đến các điểm du lịch như tuyến đường vào khu du lịch

Ao Vua, đường vào khu du lịch Suối Tiên, Khoang Xanh Tuy có đường vào các khu du lịch nhưng giữa các khu chưa có đường kết nối với nhau

- Hệ thống lưới điện Quốc gia đã đến tất cả các xã Tuy nhiên, điện ở đây mới chỉ dùng để thắp sáng, còn điện cho sản xuất được sử dụng ít, chủ yếu cho các hộ xay xát, chế biến gỗ xẻ

- Chợ: Hiện nay chỉ mới một số xã có chợ như Yên Quang, Tản Lĩnh, chủ yếu vẫn là chợ tạm, còn các xã khác đều chưa có chợ Việc giao lưu, trao đổi hàng hóa của bà con thôn bản chưa được cải thiên nhiều Vì vậy, cần đầu tư xây dựng cho mỗi xã một chợ, theo tiêu chuẩn chợ miền núi

4 Đánh giá chung về kinh tế, xã hội

Khó khăn :

Khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh sống Trong đó dân tộc Mường có tỷ lệ khá cao, chiếm 77,3% dân số trong vùng, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, đời sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, thu nhập thấp, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất

Trang 16

Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, chợ đều thiếu, các

phương tiện truyền thông còn thiếu Đội ngũ cán bộ còn yếu về chuyên môn là những trở lực không nhỏ cho quá trình hội nhập và phát triển

Thuận lợi:

Công tác tuyên truyền giáo dục của đội ngũ cán bộ cơ sở tốt nên người dân trong khu vực đã có ý thức bảo vệ rừng, môi trường sinh thái Đến nay cơ bản không còn hiện tượng đốt nương làm rẫy tuỳ tiện

Tài nguyên rừng được duy trì, phát triển tốt Lực lượng lao động trên địa bàn khá dồi dào, có thể tham gia nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng Các chương trình dự án như: Chương trình 327/CP, 661/CP, 134/CP, 135/CP của Chính phủ bước đầu đã cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng, lâm nghiệp phát triển, người dân có nhiều kinh nghiệm làm rừng và có ý thức bảo vệ rừng

Phần thứ Ba Đánh giá Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch

I Thực trạng sử dụng đất theo quy hoạch mở rộng Vườn đến năm 2008

1 Diện tích các loại đất đai

Theo Quyết định số510/QĐ-TTg ngày 12/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mở rộng diện tích Vườn Quốc gia Ba Vì, diện tích tự nhiên của Vườn là 11.462 ha Tuy nhiên, theo kết quả rà soát 3 loại rừng, trong quá trình thực hiện đã có sự điều chỉnh như chuyển một phần diện tích sang mục

Trang 17

đích Quốc phòng, một số diện tích cho sản xuất nên diện tích hiện nay Vườn quản lí còn lại là 10.782,7 ha; chi tiết về tài nguyên rừng và sử dụng đất của Vườn đến thỏng 5 năm 2008 được tổng hợp theo bảng sau:

Trong tổng diện tớch tự nhiờn của Vườn là 10.782,7 ha; Thành phố Hà Nội

cú 7.128,4 ha; chiếm 66,1% (bao gồm diện tớch 7 xó của khu vực huyện Ba Vỡ, tỉnh Hà Tõy cũ và 4 xó thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bỡnh nay chuyển về Hà Nội) Tỉnh Hoà Bỡnh cú 3.654,3 ha; chiếm 33,9% diện tớch tự nhiờn toàn Vườn

- Diện tớch đất cú rừng là 8.192,5 ha; chiếm 75,98% tổng diện tớch tự nhiờn toàn Vườn Rừng tự nhiờn 4.200,5 ha;chiếm 51,27% diện tớch đất cú rừng Rừng trồng 3.992 ha, chiếm 48,73 % diện tớch đất cú rừng Rừng tự nhiờn chủ yếu ở xó

Ba Vỡ với 1.407,0 ha Trờn địa bàn tỉnh Hũa Bỡnh chỉ cũn rừng phục hồi với diện tớch 1.071,5 ha, phõn bố chủ yếu ở xó Yờn quang với 514,6 ha

- Diện tớch đất khụng cú rừng 2421,7 ha; chiếm 22,46% Trong đú đất cú cõy tỏi sinh rải rỏc 333,6 ha; đất cõy bụi 1903,5 ha; đất trống trảng cỏ 184,6 ha

- Các loại đất khác 168,5 ha; chiếm 1,6%; bao gồm đất nương róy, vườn quả, vườn chố, đường giao thụng, đất xõy dựng, hệ thống suối

(chi tiết xem biểu 1, 2, 3 phần phụ biểu)

2 Hiện trạng quản lí rừng và đất rừng tại các phân khu chức năng

Theo Quyết định số 3732/QĐ-BNN-XD, ngày 29/10/2004 của Bộ NN&PTNT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng vùng lõi Vườn Quốc gia Ba

Vì giai đoạn 2005 - 2008, diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (BVNN) là 2.752 ha, phân khu phục hồi sinh thái (PKPHST) là 8.590 ha, phân khu hành

Trang 18

chính dịch vụ (HC&DV) là 120 ha Tuy nhiên, trong qúa trình triển khai thực hiện cho thấy những bất cập khi quy hoạch phân khu BVNN thuộc khu vực tỉnh Hoà Bình với diện tích là 612 ha Sự đơn điệu về hệ sinh thái rừng cũng như giá trị bảo tồn ở đây không cao vì thực tế cũng chưa có nhiều tác động tích cực tới khu vực này Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện quy hoạch giai đoạn 2005 -

2008, đã có sự điều chỉnh một phần diện tích phân khu BVNN sang phân khu PHST Hiện tại, sau khi điều chỉnh một số diện tích (như đã nêu ở trên), diện tích các phân khu của Vườn Quốc gia Ba Vì như sau:

- Diện tớch phõn khu BVNN là 2.069,1 ha

- Diện tớch phõn khu PHST là 8.713,6 ha (trong đó thống kê cả phõn khu HC&DV 46,02 ha)

- Chi tiết sử dụng đất và tài nguyờn rừng của cỏc phõn khu như sau:

+ Phõn khu BVNN cú diện tớch là 2.069,1 ha, chiếm 19,2% tổng diện tớch

tự nhiờn; trong đú diện tớch đất cú rừng tự nhiờn chủ yếu nằm ở khu vực Nỳi Ba

Vỡ với diện tớch là 1.402 ha, phõn bố ở cỏc xó Ba Vỡ, Khỏnh Thượng, Vân Hũa, Minh Quang Rừng gỗ lỏ rộng cú 1.158 ha; rừng hỗn giao gỗ nứa cú 241,7 ha; rừng nỳi đỏ 2,3 ha (khu vực cú vỏch đỏ dốc dựng đứng), rừng trồng là 577,2 ha với cỏc loài cõy như Thụng, Keo, Lỏt hoa…Đất chưa cú rừng 89,9 ha; chủ yếu cõy bụi và cõy gỗ tỏi sinh rải rỏc (IB, IC)

+ Diện tớch phõn khu PHST cú 8.713,6 ha; chiếm 80,8% diện tích của vườn Rừng tự nhiên 2798,5 ha; trong đú rừng gỗ lỏ rộng 2757 ha; rừng hỗn giao 32,3 ha; rừng nỳi đỏ 9,3 ha (khu vực cú vỏch đỏ dốc dựng đứng) Rừng trồng 3.414,8 ha với cỏc loài cõy như Thụng, Keo, Lỏt hoa…Đất chưa cú rừng 2.331,8 ha; chủ yếu ở trạng thỏi cõy bụi và cõy gỗ tỏi sinh rải rỏc (IB, IC)

II Đánh giá công tác quy hoạch, thực hiện quy hoạch giai đoạn 2000 - 2009

1 Kết quả công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch

+ Vườn tiến hành đóng mốc ranh giới Vườn khu vực tỉnh Hoà Bình và hoàn thành nghiệm thu vào cuối năm 2008 Số mốc được cắm là 250 mốc bê tông

xi măng, thuận lợi cho việc quản lí

- Về xây dựng các công trình hạ tầng: Vườn thực hiện xây dựng các công trình hạ tầng theo kế hoạch bao gồm hệ thống đường nội Vườn, hệ thống điện, Hội trường, các Trạm kiểm lâm (chi tiết xem phụ biểu 2-XD phần phụ lục)

- Xây dựng các Vườn thực vật: vườn Tre trúc, vườn Asean, vườn Cau dừa, vườn cây thuốc Nam, vườn Xương rồng (chi tiết xem ở mục 3 dưới đây)

Trang 19

2 Công tác bảo vệ rừng

Đây là nhiệm vụ chính của Vườn nhằm bảo vệ toàn bộ diện tích rừng và đất rừng hiện có, bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái rừng tự nhiên, các loài thực động vật đặc hữu trên phạm vi Vườn quản lí Lực lượng kiểm lâm của Vườn thường xụyên tuần tra và ngăn chặn các vụ việc vi phạm vào rừng Quốc gia Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động người dân cùng phối hợp bảo vệ rừng

Tuy nhiên, hiện tượng người dân vào rừng đặt bẫy săn bắt chim thú, khai thác măng, lấy cây chít, chặt gỗ nhỏ, lấy cây thuốc vẫn xảy ra Tình trạng làm nương rẫy trong phân khu phục hồi sinh thái và hiện tượng cháy rừng ở khu vực núi Da Dê vẫn còn bởi người dân sơ ý gây cháy

3 Thực hiện chương trình bảo tồn, phát triển rừng và công tác nghiên cứu khoa học

- Thực hiện chương trình 661/CP, Vườn Quốc gia Ba Vì đã trồng rừng đặc dụng được 2.157 ha; khoanh nuôi tái sinh 450 ha

- Độ che phủ của rừng toàn Vườn hiện nay đạt 76%, trong đó:

+ Độ che phủ của rừng khu vực Hà Nội đạt 89%;

+ Độ che phủ của rừng khu vực Hoà Bình đạt 46,3%

- Thực hiện các đề tài và nghiên cứu thực nghiệm:

+ Trồng vườn thực vật trên diện tích 40 ha với 250 loài cây;

+ Trồng cây thuốc 0,5 ha với 150 loài cây;

+ Trồng vườn Tre, Trúc 17 ha với 117 loài cây;

+ Trồng vườn Cau, Dừa 13,6 ha với 70 loài cây;

+ Trồng vườn Xương rồng 0,5 ha; thu thập 1.200 loài cây

Các công trình này là thành quả sau 10 năm thực hiện quy hoạch xây dựng Vườn,

từ năm 2000 đến năm 2009 Kết quả này rất có ý nghĩa cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn gen và thực nghiệm Đồng thời, giúp cho sinh viên, học sinh có thực tế đối chứng trong việc thăm quan, nghiên cứu, học tập Ngoài ra, đây cũng là điểm đến của du khách tới thăm quan vườn trong các tua du lịch sinh thái hay nghỉ ngơi cuối tuần

4 Thực hiện chương trình phát triển dịch vụ du lịch

4.1 Hoạt động du lịch và dịch vụ du lịch xung quanh VQG Ba Vì

- Hiện nay, có 8 đơn vị kinh doanh du lịch và dịch vụ du lịch thuê môi trường rừng làm du lịch sinh thái Số lượng khách tới tham và nghỉ năm 2005 -

2007, bình quân đạt bình quân 67,5 vạn lượt người/năm; trong đó lượt khách quốc tế đạt trên 7 ngàn lượt khách

(Theo số liệu thống kê của Sở du lịch tỉnh Hà tây năm 2007)

- Tổng doanh thu du lịch bình quân năm đạt trên 24 tỉ đồng

4.2 Hoạt động dịch vụ du lịch của Vườn Quốc gia Ba Vì

- Lượng khách mua vé vào thăm quan bình quân mỗi năm có khoảng trên

200 ngàn lượt người tới vào thăm Vườn, cắm trại

Trang 20

- Các dịch vụ mà Vườn thực hiện như:

+ Dịch vụ bán vé vào thăm Vườn: những năm gần đây, lượng khách tới thăm Vườn có xu hướng tăng dần, khách tới vào thăm Vườn, cắm trại, thực tập, nghiên cứu…Địa điểm du khách tới thăm tập trung tại các khu vực cốt 400, cốt 600-700, cốt 800, cốt 1.100, khu vực Đền thờ Đức thánh Tản viên, Đền thờ Bác

Hồ, Đền Trung, thăm vườn Xương rồng, vườn Tre trúc, vườn Cau dừa dưới cốt 400

+ Tổ chức hướng dẫn du khách tới thăm quan, cắm trại trong Vườn: Ban dịch vụ du lịch của Vườn phân công cán bộ có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn khách tới thăm quan Vườn, giới thiệu cho du khách hiểu biết thêm những giá trị

về tài nguyên thiên nhiên, văn hoá lịch sử, không gian yên tĩnh với bầu không khí trong lành rất tốt cho sức khoẻ con người

+ Tổ chức dịch vụ các hội nghị, hội thảo: Vườn sử dụng các hội trường hiện có làm địa điểm dịch vụ cho các đơn vị, cơ quan có nhu cầu thuê để tổ chức hội nghị Hiện nay, Vườn xây dựng xong một hội trường có sức chứa 200 đại biểu tại khu vực cốt 400 Đây là địa điểm lí tưởng cho các cơ quan, đơn vị trong

và ngoài ngành thuê cho các đợt hội nghị, hội thảo khoa học Dự kiến, dịch vụ này sẽ tạo nguồn thu lâu dài cho Vườn trong những năm tới

+ Tổ chức các dịch vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm cho khách, kết hợp hướng dẫn cho các đại biểu thăm quan Vườn

- Một số tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch trước đây ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ du lịch của Vườn như:

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu khách du lịch, vui chơi giải trí còn đơn điệu và thiếu chuyên nghiệp

+ Các tuyến điểm du lịch và dịch vụ trong Vườn hầu như chưa được đầu tư nhiều Chưa có ranh giới cụ thể của các khu HC&DVDL Các tuyến dạo, điểm dừng chân, khu vui chơi giải trí, cắm trại, hầu như chưa được đầu tư

+ Các biệt thự Pháp rất có giá trị về lịch sử, nơi nghỉ dưỡng khá lí tưởng nhưng chưa được khôi phục Các biệt thự chủ yếu nằm ở khu vực cốt 400, cốt 600-700 và cốt

800 Mặc dù trong quy hoạch trước đây đã được phê duyệt khôi phục lại nhưng chưa có vốn đầu tư và với nhiều lí do khác nhau trong quá trình thực hiện quy hoạch Vì vậy, cho đến nay hoạt động này vẫn chưa được thực hiện

+ Các dịch vụ nghỉ dưỡng hoặc thuê phòng nghỉ lưu trú qua đêm là quá ít, chưa thể đáp ứng nhu cầu cho du khách

+ Các dịch vụ vui chơi giải trí ít, thiếu các tuyến dạo, du lịch sinh thái cho du khách khám phá thiên nhiên trong rừng

Nhìn chung, mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng hoạt động dịch vụ du lịch của Vườn đang dần được cải thiện cả về quản lí cũng như phương thức dịch vụ Doanh thu nhờ đó mà tăng dần qua từng năm Tuy nhiên, do mức độ chuyên nghiệp chưa cao nên dịch vụ này vẫn dừng ở mức tiềm năng Các dịch vụ quan trọng như nhà nghỉ, nơi vui chơi giải trí, cắm trại, ẩm thực, bán hàng lưu niệm còn yếu Thiếu các tuyến điểm

du ngoạn trong rừng nên chưa có sức thu hút du khách tới thăm và nghỉ lại

5 Thực hiện phát triển kinh tế xã hội gắn với vùng đệm

Trang 21

- Vườn tổ chức giao khoán bảo vệ cho các hộ dân sống gần rừng với diện tích bảo vệ là 3.350 ha, khoanh nuôi tái sinh là 126 ha Năm 2007, trồng mới được 410 ha rừng, đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, giảm bớt sức ép vào tài nguyên rừng.

- Vườn tổ chức các lớp tập huấn đào tạo, tuyên truyền về công tác bảo vệ

và phát triển rừng Đây được coi là một trong những nhiệm vụ hàng năm của Vườn Chỉ riêng năm 2007, Vườn đã mở 4 lớp tập huấn về phòng chống cháy rừng cho 275 người, tổ chức 10 hội nghị tuyên truyền về công tác bảo vệ và phát triển rừng cho gần 1.000 người trên địa bàn

- Thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng nên các vụ vi phạm lâm luật

đã giảm đi đáng kể Việc phải xử lý các vụ vi phạm năm 2007 đã giảm hơn hẳn

so với các năm trước

6 Thực hiện đầu tư, thí điểm cho thuê môi trường

Được sự chấp thuận của Bộ NN&PTNT, Vườn đã thực hiện thí điểm đề án cho thuê môi trường rừng đặc dụng để sử dụng kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái Thực hiện đề án này, hiện nay có 6 đơn vị được thí điểm thuê môi trường trên chính diện tích được giao khoán bảo vệ rừng trước đây

Dựa trên kết quả quản lí bảo vệ rừng có hiệu quả, cùng với nhu cầu được thuê môi trường để mở rộng kinh doanh du lịch sinh thái, các đơn vị đã lập hồ sơ xin được thuê môi trường rừng và ở mức độ khác nhau để kinh doanh du lịch sinh thái Trong tổng số diện tích mà các đơn vị đang nhận khoán bảo vệ, một phần diện tích giao khoán trước được chuyển sang thí điểm cho thuê môi trường Cụ thể được tổng hợp theo bảng sau:

Bảng 5 Bảng tổng hợp diện tích thí điểm cho thuê môi trường

Diện tích đang được giao bảo vệ

Diện tích thí điểm cho thuê MT

Về nguyên tắc thực hiện:

- Diện tích cho thuê môi trường rừng đặc dụng được Vườn thực hiện thí

điểm ở phân khu phục hồi sinh thái, giáp ranh với các khu du lịch nhằm tạo

không gian cảnh quan cho khách tham quan du lịch, tìm hiểu thiên nhiên Các

loại hình hoạt động du lịch gần gũi môi trường tự nhiên như: tắm suối, leo thác, ngắm cảnh, giới thiệu cảnh quan hoặc quan sát sinh vật

- Các đơn vị thuê môi trường đều cam kết thực hiện các quy định về bảo vệ

môi trường, không có những tác động xấu đến môi trường, không gây ồn hoặc sử dụng các hoá chất gây hại đến môi trường

Trang 22

- Các công trình hạ tầng xây dựng không nhiều, không có công trình xây dựng

mà có tầm cao quá 3 tầng (12m) trong rừng

- Bên thuê được sử dụng môi trường rừng đặc dụng để kết hợp hoạt động

du lịch sinh thái và luôn tuân thủ nội dung quy hoạch bảo vệ Vườn

- Vườn thực hiện kiểm tra, giám sát và thực hiện theo đúng các nội dung kĩ thuật

về bảo vệ, trồng rừng và xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng theo hợp đồng đã kí

- Kinh phí được tính theo lô, tùy từng vị trí để xác định mức thuê

Đánh giá bước đầu qua 4 năm thí điểm thực hiện thuê môi trường:

- Khu vực cho thuê môi trường và toàn bộ diện tích nhận khoán bảo vệ đã hạn chế về phá rừng và rừng được bảo vệ tốt hơn

- Nhà nước không phải trả tiền phần diện tích thuê khoán bảo vệ rừng mà ngược lại, còn thu được tiền từ cho thuê môi trường rừng để bổ sung vào nguồn ngân sách, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng

- Các doanh nghiệp đã chủ động bảo vệ rừng, trồng và chăm sóc rừng non mới trồng, tu bổ rừng tự nhiên, khoanh nuôi các diện tích có khả năng tái sinh rừng trong phân khu PHST theo kế hoạch của Vườn

- Do diện tích thuê được mở rông nên đã tạo thêm việc làm cho các doanh nghiệp và người dân địa phương Bình quân mỗi năm, các doanh nghiệp du lịch ngoài Vườn huy động được trên 500 lao động trong các khu du lịch sinh thái

- Tạo ra thị trường tại chỗ để tiêu thụ các nông sản thực phẩm do người dân sản xuất Tăng thu nhập cho các hộ làm dịch vụ và tăng thu ngân sách cho địa phương từ các dịch vụ du lịch Giải quyết một phần mối quan hệ lợi ích và trách nhiệm giữa Vườn với các doanh nghiệp

Tuy vậy, mặt trái của mở rộng du lịch là du khách dù không nhiều nhưng cũng có những tác động đến cảnh quan rừng như vứt rác thải sinh hoạt trong rừng hay gây tiếng ồn Hệ thống đường xá đi lại thuận tiện cũng tạo điều kiện cho người dân xâm phạm vào tài nguyên rừng dễ dàng hơn như cài bẫy, săn bắt chim thú Các doanh nghiệp cũng chưa thực sự chủ động để đầu tư nhiều vào khu vực thuê môi trường

III Công tác tổ chức, quản lí, giám sát đánh giá

1 Tổ chức quản lý của Vườn

Cơ cấu tổ chức của Vườn gồm: Giám đốc và 2 phó Giám đốc, 3 phòng nghiệp vụ, 2 đơn vị trực thuộc Tổng số cán bộ, nhân viên và công nhân có 99 người, trong đó có 62 người hưởng lương từ ngân sách Đội ngũ cán bộ có 7 Thạc

sỹ, 34 Kĩ sư thuộc các ngành sinh học và kinh tế, số còn lại là Trung cấp, một số công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông

Về tổ chức chính trị: hiện nay Vườn có 01 Đảng bộ cơ sở với 67 đảng viên, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy Huyện Ba Vì, 1 tổ chức Công đoàn cơ sở, 1 Đoàn thanh niên cơ sở Hạt kiểm lâm gồm 34 cán bộ được bố trí ở 7 Trạm kiểm lâm xung quanh Vườn Các cán bộ kiểm lâm đã kết hợp với Hạt kiểm lâm của các huyện Ba Vì, Lương Sơn, Kỳ Sơn và chính quyền, nhân dân các xã làm nhiệm vụ bảo vệ rừng

Trang 23

Thực hiện nhiệm vụ bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái rừng tự nhiên, bảo tồn

đa dạng sinh học, khôi phục và phát triển rừng Vườn còn là cơ sở cho công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật về lâm, sinh học, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, dịch vụ du lịch sinh thái, giáo dục hướng nghiệp

Công tác giáo dục môi trường: trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường đã tăng cường tính chủ động trong hoạt động dịch vụ du lịch và

là nơi giáo dục môi trường cho khách đến thăm quan Du khách được giới thiệu

về giá trị của thiên nhiên và môi trường rừng Đồng thời, nâng cao ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng trong công tác bảo vệ, phòng chống lửa rừng, bảo vệ các di tích văn hoá lịch sử, giữ gìn môi trường khi vào thăm Vườn hoặc vui chơi tại các điểm du lịch sinh thái Do vậy, đã hạn chế được nhiều các tác động tiêu cực của du khách tới tài nguyên Vườn Quốc gia

2 Thực hiện về quản lý và thu hồi vũ khí trong dân

Năm 2007, Vườn đã phối hợp với Chính quyền khuyến cáo và tiến hành thu hồi 24 khẩu súng săn các loại Tuy nhiên, theo người dân cho biết thì số vũ khí trong dân vẫn còn và chưa thể thu hết, về đêm vẫn có tiếng súng săn và người dân vẫn vào rừng đặt bẫy săn bắt chim thú

Vườn cũng đã làm việc với chính quyền các xã để vận động bà con thu nộp

vũ khí Địa phương cam kết, từ nay đến năm 2010 sẽ không để một khẩu súng săn nào còn lưu giữ trong dân

3 Thực hiện cơ chế quản lý tài chính

Vườn thực hiện cơ chế tài chính theo đúng các quy định, quy chế về quản

lý, chi tiêu ngân sách của Nhà nước

Chấp hành thuế và các khoản phí do Nhà nước quy định, không có sai phạm về quản lí chi tiêu tài chính

4 Hoạt động giám sát đánh giá

- Trong quá trình thực hiện các hoạt động của Vườn, công việc giám sát tập trung vào các nội dung như: giám sát tiến độ thực hiện (xây dựng rừng, giao khoán bảo vệ rừng với người dân địa phương, các công trình xây dựng ), giám sát kĩ thuật (chất lượng), giám sát chi tiêu tài chính và các hoạt động khác Những vần đề tồn tại hoặc phát sinh mới được Ban Giám đốc cùng các phòng ban của Vườn nắm bắt nhanh và có phương án xử lí kịp thời

- Mỗi hoạt động của Vườn đều được đánh giá trên cơ sở các báo cáo, trong

đó tập trung phân tích các kết quả đạt hoặc chưa đạt, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại, những tồn tại của từng hoạt động Trên cơ sở đó, Lãnh đạo Vườn cùng tập thể cán bộ, nhân viên cùng nhau bàn bạc để đưa ra các giải pháp khắc phục Những tồn tại lớn, vượt khả năng giải quyết được Vườn tập hợp và kịp thời báo cáo lên cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo

5 Những giải pháp Vườn đã thực hiện

- Vườn đã nỗ lực trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng và huy động sự tham gia có hiệu quả cho công tác quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt là công tác phòng cháy, chữa cháy rừng

Trang 24

- Hướng dẫn được trên một ngàn lượt người về kĩ thuật trồng rừng, nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp

- Phối hợp chặt chẽ với các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các xã, các cơ quan đơn

vị, nhà trường, doanh nghiệp du lịch để tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng

- Phối hợp với các doanh nghiệp làm du lịch và chính quyền địa phương xây dựng các chương trình phát triển rừng để vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, kết hợp với bảo vệ rừng, góp phần làm tăng thu nhập cho người dân, giảm dần sức ép lên tài nguyên rừng của Vườn Quốc gia

- Xử lý nhanh các vướng mắc trong việc chuyển đổi hồ sơ giao đất sang hợp đồng khoán quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng khu vực mở rộng Vườn

- Giải quyết dần việc chuyển đổi hồ sơ giao rừng chuyển sang rừng Quốc gia khu vực quy hoạch mở rộng thuộc khu vực tỉnh Hoà Bình

- Hoàn thiện hệ thống các Trạm bảo vệ rừng cùng với hoàn chỉnh việc đóng mốc giới giữa Vườn với khu vực rừng của dân thuộc 2 huyện Lương Sơn,

Kì Sơn, tỉnh Hoà Bình

IV Thực trạng về đầu tư

1 Các hoạt động đầu tư

- Hệ thống đường:

+ Xây dựng hoàn thành trục đường chính vào Vườn dài 13,7 km; nối từ đường 87 đến cốt 1.100 Đoạn từ Văn phòng lên tới cốt 400 là loại đường cấp 5 miền núi

+ Xây dựng các tuyến nối trong Vườn, mặt đường bằng chủ yếu là trải bê tông xi măng Chiều dài các tuyến đường nội vườn là 7,7 km

Nhìn chung, các tuyến đường còn tốt, đi lại khá thuận tiện cho cán bộ trong Vườn và du khách đến thăm quan, học tập Tuyến đường từ Phúc Tiến đi Viên Nam được đầu tư nhưng đến nay mới xong phần nền đường, dài 8 km

- Hệ thống điện: Vườn đã có hệ thống điện cao thế, các trạm biến áp phục

vụ văn phòng Vườn, khu tập thể, văn phòng Hạt kiểm lâm, khu du lịch sinh thái cốt 400, vườn sưu tập thực vật Hệ thống điện hạ thế, đường trục đến các hộ tiêu thụ và điện chiếu sáng bằng cáp ngầm

(chi tiết xem phụ biểu 2 - Hiện trạng các hạng mục xây dựng VQG Ba Vì)

- Trụ sở làm việc: Văn phòng Vườn có 3 địa điểm, gồm:

(1) Khu làm việc dưới cốt 100 được xây dựng trên đất xã Tản Lĩnh, huyện

Trang 25

- Về cơ bản, việc bố trí xây dựng và số lượng các trạm bảo vệ rừng hiện tại

là hợp lí, không cần bổ sung thêm các trạm mới

- Các công trình lâm sinh và nghiên cứu khoa học:

+ Vườn Quốc gia Ba Vì được đầu tư trồng rừng đặc dụng với diện tích 2.157 ha; khoanh nuôi tái sinh 450 ha, trồng băng cây xanh 32,8 ha

+ Thực hiên trồng vườn thực vật trên diện tích 40 ha với 250 loài cây; trồng cây thuốc 0,5 ha với 150 loài cây; trồng vườn Tre, Trúc 19,4 ha với 117 loài cây; trồng vườn Cau, Dừa 13,6 ha với 70 loài cây; trồng vườn Xương rồng 5,5 ha với 1.200 loài cây

+ Kết quả thực hiện chương trình 661/CP giai đoạn 2005 - 2009 nghiệm thu đạt:

2005

Trồng rừng (ha) 108,4 242,1 340,9 241,6 107,9 1.040,9

(số liệu do phòng kế hoạch-tài chính Vườn cung cấp)

2 Nguồn vốn đầu tư

- Nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho xây dựng Vườn và thực hiện các hoạt động bảo tồn, phát triển rừng chủ yếu do Ngân sách Nhà nước cấp, bao gồm đầu

tư cho các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản lâm sinh, chi trả lương cán bộ công nhân viên, chi khoán bảo vệ rừng, hội thảo, giáo dục môi trường

- Nguồn vốn 661/CP giai đoạn 2005 – 2008 là 2.554,318 triệu đồng; trong đó:+ Vốn cho lâm sinh: 2.023, 946 triệu đồng

+ Vốn quản lí bảo vệ rừng: 251,34 triệu đồng

+ Vốn xây dựng hạ tầng: 329,085 triệu đồng

+ Vốn sự nghiệp: 201,287 triệu đồng

- Nguồn vốn nước ngoài không có

- Nguồn vốn liên doanh liên kết chưa được huy động

- Nguồn vốn tự có của Vườn thu từ các dịch vụ du lịch và thuê môi trường được chi trả lương hợp đồng và hỗ trợ bảo vệ rừng

Trang 26

3 Hiệu quả của các chương trình đầu tư

- Các công trình hạ tầng trong Vườn như Văn phòng làm việc, nhà ở, hệ thống điện, hệ thống giao thông đi lại khá thuận lợi, tiện ích cho cán bộ làm việc tại Vườn và khách du lịch thăm quan Vườn

- Các công trình lâm sinh như Vườn thực vật, Vườn xương rồng, Vườn tre trúc, Vườn cây thuốc Nam có giá trị bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, giúp cho sinh viên các trường đại học có điều kiện thực hành Du khách có điều kiện thăm quan, tìm hiểu về thực vật và tài nguyên rừng

- Tổ chức thực hiện các chương trình dự án 327/CP, 661/CP của Chính phủ, tạo điều kiện cho người dân có thêm thu nhập khi tham gia vào các hoạt động của các chương trình này

4 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức

4.1 Những thuận lợi và cơ hội

- Vườn có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, Bộ NN&PTNT, Cục Kiểm lâm, các Vụ, các Cục của Bộ, các ban ngành liên quan, chính quyền địa phương các cấp của Thành phố Hà Nội, tỉnh Hoà Bình và nhân dân địa phương đã hỗ trợ Vườn thực hiện tốt các nhiệm vụ về xây dựng và phát triển VQG

- Vườn Quốc gia Ba Vì với 18 năm kinh nghiệm và có nhiều bài học thiết thực trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn, quản lí, xây dựng và phát triển rừng đặc dụng

- Việc cho thuê dịch vụ môi trường làm du lịch ngoài việc phát huy hiệu qủa bảo vệ, phát triển rừng cũng tạo ra nguồn thu Đây là một hướng quan trọng trong việc huy động nguồn lực để đạt các mục tiêu của Vườn Quốc gia

Khoảng cách từ Vườn tới Thủ đô Hà Nội không xa, các thành phố, các khu dân cư đông đúc, các nhà máy, xí nghiệp nên hàng năm sẽ cung cấp lượng khách lớn tới thăm Vườn Đây là cơ hội lớn cho việc thúc đẩy các dịch vụ du lịch để tăng nguồn tài chính cho Vườn trong tương lai

4.2 Những khó khăn và thách thức

- áp lực dân số gia tăng và đất đai cho sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng, lao động dôi dư, cuộc sống khó khăn khiến cho người dân vi phạm vào rừng là khó tránh khỏi

- Sự quản lý đất, rừng còn phức tạp khó khăn vì ranh giới Vườn chưa được xác lập cụ thể bằng đường ranh giới rõ ràng ngoài thực địa (mới có hệ thống mốc), đặc biệt ranh giới khu vực tỉnh Hoà Bình mới cắm mốc, địa hình ở đây khá phức tạp do chia cắt mạnh, lại cao và dốc nên việc làm rõ đường ranh giới cũng rất khó khăn và cần phải đầu tư khá lớn

- Vườn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở khu vực tỉnh Hoà Bình và các xã mới chuyển về Hà Nội từ huyện Lương Sơn và huyện Kì Sơn Do đó, việc quản lí tài nguyên rừng và đất rừng còn gặp nhiều khó khăn

Trang 27

- Khu vực đất Vườn quản lí tại 2 huyện Lương Sơn, Kì Sơn thuộc tỉnh Hoà Bình chưa có đầu tư đáng kể cả về cơ sở hạ tầng, các hoạt động lâm sinh, tái tạo rừng cũng như các công trình nghiên cứu khoa học, đất trống trọc còn nhiều Đây vẫn thuộc vùng có nhiều tiềm năng chưa được khai thác, trong đó có tiềm năng

- Kinh phí của Nhà nước đầu tư còn eo hẹp, một số hạng mục quy hoạch trước chưa đầu tư hoặc đầu tư quá ít để triển khai đồng bộ cơ sở hạ tầng cần thiết như hệ thống đường tuần tra phục vụ công tác bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng

- Các Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với ngưồi dân khu vực quanh Vườn để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chưa được nhiều, nhất là khu vực đồng bào dân tộc Dao, Mường Hiện tại đời sống của họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn do đất đai bị thu hẹp, không có nghề phụ và thu nhập hàng năm thấp

- áp lực về mở rộng Thủ đô Hà Nội và sự đô thị hoá các vùng lân cận làm cho không gian cảnh quan thu hẹp Lượng khách đến thăm quan du lịch, nghỉ ngơi cuối tuần ngày càng đông và sẽ không tránh khỏi những tác động có hại đến Vườn

5 Một số hạng mục chưa được thực hiện hoặc thực hiện dở dang

- Việc cấp giấy CNQSDĐ khu vực Hoà Bình: chưa được thực hiện

- Những nội dung quy hoạch trước đây cũng chưa được thực hiện như:+ Tuyến đường Đông - Tây từ Khánh Thượng đi Vân Hoà đã được phê duyệt thiết kế dài 9 km, nhưng chưa được đầu tư xây dựng

+ Tuyến đường Phúc Tiến - Viên Nam mới lập thiết kế bản vẽ thi công và giải phóng mặt bằng Hiện nay, tuyến này đã san gạt xong nền đường nhưng xe

cơ giới chưa đi lại được

+ Các cốt 400, 600-700, 800 chưa được đầu tư theo như quy hoạch đã được duyệt Đặc biệt, hạ tầng phục vụ thăm quan, nghỉ dưỡng đầu tư còn ít hoặc chưa được đầu tư

- Diện tích đất trống trọc còn nhiều Đặc biệt là việc phục hồi rừng ở Phân khu phục hồi sinh thái thuộc khu vực Núi Viên Nam (tỉnh Hoà Bình) là quá chậm so với quy hoạch Nguyên nhân chủ yếu một phần do nguồn vốn đầu tư ít, mặt khác do quy hoạch trước đây

ít đề cập đến việc trồng rừng phục hồi ở phân khu này

6 Sự cần thiết quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQG

6.1 Quy hoạch phải phù hợp với các tiêu chí về bảo tồn

- Vườn Quốc gia Ba Vì mang nét độc đáo về địa hình tự nhiên bởi sự nổi nên biệt lập của nó giữa một vùng đồng bằng mà trong đó còn lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật, động vật quý cần được bảo tồn nguyên vẹn Những khu vực

Trang 28

không đảm bảo tiêu chí về bảo tồn cần được đánh giá đúng để điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững VQG.

- Khi chưa thành lập Vườn Quốc gia, các Lâm - Nông trường thực hiện khai thác rừng hoặc người dân đốt nương làm rãy đã làm giảm đi đáng kể các nguồn gen thực vật, động vật quý Nhiều loài thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cũng bị khai thác mạnh như Lát hoa, Sến mật, Bách xanh Về động vật rừng, do đặc điểm địa hình biệt lập với xung quanh nên sự di cư của các loài động vật rừng bị cô lập, thiếu các đồng cỏ cung cấp thức ăn cho động vật móng guốc, thiếu các hồ hoặc phai đập cung cấp nước uống cho thú rừng nên mỗi khi chúng đi xa kiếm ăn hoặc xuống các khe để uống nước rất dễ bị săn bắt Vì vậy mà hiện nay,

số lượng loài cũng như số lượng cá thể của mỗi loài động vật ngày càng có nguy

cơ suy giảm Do vậy, việc tiếp tục xây dựng các chương trình hoạt động cho công tác bảo tồn, khôi phục và phát triển bền vững tài nguyên rừng, đa dạng sinh học tại VQG Ba Vì là hết sức cần thiết

6.2 Các hạng mục quy hoạch trước đây cần được thực hiện trong thời gian tới

- Dự án đầu tư xây dựng vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Vì giai đoạn 2005 -

2008 đã kết thúc Tuy nhiên, nhiều nội dung trong quy hoạch vẫn chưa được thực hiện hoặc thực hiện dở dang, đến nay đã kết thúc các danh mục đầu tư Tại khu vực cốt 400, cốt 600-700, cốt 800, các chương trình đầu tư xây dựng nhà nghỉ, các khu dịch vụ công cộng, hệ thống đường tuần tra kết hợp tham quan du lịch hầu như chưa được thực hiện

- Một số nội dung quy hoạch trước đây như xây dựng vùng lõi thuộc khu vực cốt 400, cốt 600-700, cốt 800 đã tỏ ra không còn phù hợp về quy mô diện tích Chất lượng rừng ở đây không cao, thiếu tính đa dạng loài, ít giá trị bảo tồn nhưng không được tác động

- Hạ tầng cho dịch vụ du lịch sinh thái còn yếu, không chuyên nghiệp

6.3 Cần có chương trình đầu tư xây dựng khu vực quy hoạch mở rộng Hoà Bình

- Khu vực Núi Viên Nam (tỉnh Hoà Bình) thuộc vùng quy hoạch mở rộng từ năm 2003 nhưng chỉ thực hiện nhỏ giọt cho chương trình trồng rừng Tại đây, diện tích trống trọc, nương rãy ở đây có tới trên 1.000 ha nhưng chưa đặt ra chương trình

cụ thể để phục hồi rừng

- Cơ sở hạ tầng phục vụ tuần tra bảo vệ rừng, các chương trình nghiên cứu, chương trình bảo tồn hầu như không có mà mới chỉ tập trung việc mở rộng quy mô diện tích, không có đầu tư chiều sâu cả về lâm sinh và xây dựng hạ tầng

- Khu hành chính và dịch vụ tại khu vực tỉnh Hoà Bình không có, các giao dịch chủ yếu ở một số trạm kiểm lâm của Vườn Nhìn chung, các hoạt động thúc đẩy phát triển Vườn ở phân khu này chưa được đầu tư mặc dù đã ổn định về ranh giới

- Khu vực Đỉnh Núi Viên Nam có cảnh quan đẹp, không khí trong lành rất có giá trị cho du lịch tâm linh, sinh thái và nghỉ dưỡng nhưng trong phương án quy hoạch trước đây không đề cập khai thác

Trang 29

Nhìn chung, nếu tình trạng thiếu đầu tư kéo dài, khu vực này sẽ mất ý nghĩa về bảo tồn các giá trị tự nhiên và thiếu các hoạt động phát triển mặc dù khu vực này có diện tích lên tới hàng ngàn ha, một bộ phận quan trọng trong hệ thống VQG Ba Vì

6.4 Cơ chế, chính sách thông thoáng, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển

- Việc nghiên cứu để khai thác tiềm năng lợi thế của thiên nhiên phục vụ lợi ích của con người chưa được chú trọng bởi chính mâu thuẫn giữa bảo tồn rừng với

du lịch sinh thái Mặc dù Chính phủ đã phê duyệt Đề án sử dụng môi trường rừng đặc dụng để phát triển du lịch sinh thái và giáo dục hướng nghiệp tại VQG Ba Vì nhưng quá trình triển khai gặp không ít khó khăn, nhất là việc thực thi các Chính sách liên quan đến thuê môi trường rừng đặc dụng và phát triển du lịch sinh thái

- Các thông tin về quy hoạch lâu nay thiếu tính công khai nên hạn chế nhiều trong việc thu hút đầu tư

- Hành lang pháp lí còn nhiều hạn chế, chưa thực sự khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn để kinh doanh kết hợp bảo vệ rừng

- Sự chủ động, sáng tạo trong quản lí và phát triển Vườn chưa phát huy được nhiều, hầu hết các chương trình của Vườn đều phụ thuộc vào kế hoạch của Nhà nước giao

Vì vậy, việc vận dụng cơ chế và các chính sách cần được cởi mở hơn, hài hoà giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững

6.5 Xây dựng chiến lược đi trước, đón đầu khi xã hội ngày càng phát triển

Lượng khách tới du lịch sinh thái và nhu cầu nhà nghỉ dưỡng cao cấp hay bình dân tại Vườn được dự báo ngày càng tăng Hơn nữa, sự phát triển không ngừng của chuỗi đô thị, các khu công nghiệp tập trung và vùng dân cư đông đúc

ở đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là việc quy hoạch mở rộng Thủ đô Hà Nội cũng sẽ làm tăng lượng khách tới thăm Vườn Đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn trong cho công tác bảo vệ rừng và môi trường khi có số lượng lớn du khách lưu trú trong Vườn Do vậy, nhất thiết cần có sự đầu tư hạ tầng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của du khách cũng như chiến lược phát triển ngành du lịch của Thành phố và Quốc gia trong giai đoạn mới Tuy nhiên, với CSHT hiện nay còn yếu và thiếu nên không thể đáp ứng các nhu cầu khi du lịch sinh thái phát triển

Xuất phát từ những lí do trên, cần thiết phải quy hoạch mới cho việc bảo tồn và phát triển VQG Ba Vì giai đoạn 2010 - 2020 Phương án quy hoạch trên nguyên lí là thiết kế một không gian khoa học, hài hoà với cảnh quan thông qua các hoạt động thiết thực để phát triển tốt hơn các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ cảnh quan, bảo vệ môi trường rừng, xây dựng các chương trình bảo tồn

và phát triển bền vững tài nguyên rừng sát thực và phù hợp với điều kiện hiện tại của VQG Đồng thời, khai thác có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế của thiên nhiên để phục vụ lợi ích con người, tạo đà cho KT - XH ở địa phương ngày càng phát triển Người dân có cơ hội tăng thêm việc làm, nâng cao thu nhập từ các hoạt động bảo vệ phát triển rừng đi đôi với phát triển du lịch, dịch vụ du lịch Cùng với các Chính sách đồng bộ của Nhà nước mà trong đó chương trình phát triển kinh tế vùng Đệm sẽ góp phần nâng cao cuộc sống của người dân, hạn chế

Trang 30

tối đa các tác động có hại tới Vườn, góp phần đạt được mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững VQG Ba Vì trong giai đoạn mới

Phần thứ tư Quy hoạch phát triển Vườn Quốc Gia ba vì

giai đoạn 2010 - 2020

I Một số dự báo

1 Dự báo về dân số, đói nghèo, sự phụ thuộc vào rừng

Hiện tại, tỉ lệ tăng dân số bình quân trong khu vực vẫn cao (1,38%), việc gia tăng dân số chưa có giải pháp tốt để kiểm soát

Dự kiến nếu hàng năm tỉ lệ dân số giảm 0,05% và ổn định ở mức 1% vào năm 2020, dự kiến dân số trong vùng sẽ đạt con số như sau :

Bảng 6 Dự báo dân số 16 xã khu vực vùng đệm VQG Ba Vì

Với tình trạng đất đai thu hẹp do nhu cầu về mở rộng khu dân cư, phát triển cơ sở

hạ tầng như hiện nay sẽ làm giảm diện tích canh tác Nếu không có các giải pháp và Chính sách hỗ trợ đi kèm thì việc người dân tác động vào rừng để mưu sinh là khó tránh khỏi

2 Dự báo nhu cầu về phát triển rừng và môi trường

- Rừng tự nhiên thuộc Vườn quản lí phát triển tốt hơn do được bảo vệ, khoanh nuôi được chú trọng Dự kiến đến năm 2020, ngoài những diện tích giành cho kiến trúc xây dựng CSHT, các khu du lịch sinh thái, các khu nghỉ dưỡng, cơ

Trang 31

bản diện tích đất trống còn lại thuộc Vườn quản lí sẽ được phủ xanh Độ che phủ của rừng trên phạm vi toàn Vườn đạt trên 95% Trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt đạt xấp xỉ 100% Như vậy, môi trường sẽ ngày càng trở nên trong lành hơn, góp phần ổn định nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong vùng.

- Diện tích trồng rừng sản xuất vùng Đệm cũng sẽ tăng do nhu cầu trồng rừng nguyên liệu và tỉ lệ che phủ của rừng cũng sẽ tăng trong các năm tới Tuy nhiên, mặt trái của hoạt động này là sau 6 - 7 năm, hầu hết diện tích rừng sẽ bị người dân chặt trắng để thu hồi vốn Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sinh thái Nhiều diện tích rừng sau khai thác sẽ tạo những khoảng trống lớn, tạo sự cách biệt giữa Vườn với môi trường xung quanh Do vậy, Vườn cần phải phối hợp chặt chẽ với địa phương thúc đẩy người dân trồng lại rừng ngay sau khi khai thác để hạn chế những tác động xấu đến môi trường

- Việc trồng cây bản địa thay thế Keo chưa thực sự thuyết phục người dân

vì phải mất nhiều thời gian, thậm chí hàng chục năm mới có thể cho sản phẩm Như vậy, rừng sản xuất sẽ mất đi nhiều loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao

3 Dự báo nhu cầu sử dụng đất

- Đất cho trồng rừng mới và khoanh nuôi tái sinh, thiết lập Vườn thực nghiệm: Khoanh nuôi phục hồi rừng trên các diện tích đang có rừng tái sinh và trồng rừng mới được ưu tiên hàng đầu Dự kiến bình quân mỗi năm sẽ đưa 300 -

400 ha vừa khoanh nuôi và trồng rừng mới Riêng Vườn thực nghiệm, mỗi năm

dự kiến sẽ trồng thực nghiệm 20 - 30 ha với đa dạng các loài cây đặc trưng của vùng á nhiệt đới, vùng Núi Ba Vì và Núi Viên Nam

- Đất cho xây dựng CSHT tại khu hành chính và dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng: Việc quy hoạch phát triển Vườn đòi hỏi phải dành quỹ đất đủ điều kiện cho xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, nhà nghỉ dưỡng, dịch vụ, khu vui chơi giải trí, dịch vụ du lịch và các nhu cầu xây dựng khác tại khu vực Cốt

400, Cốt 600-700, Cốt 800, Núi Viên Nam

- Đất cho xây dựng CSHT tại các doanh nghiệp thuê môi trường: Phát triển các điểm du lịch và dịch vụ du lịch đòi hỏi phải dành quỹ đất đầu tư cho xây dựng hạ tầng dịch vụ du lịch như mở các tuyến đường trục, đường dạo, bãi đỗ xe, khu dịch vụ, khu vui chơi giải trí, nhà nghỉ dưỡng, các điểm dừng chân (thực hiện theo nội dung Quyết định số 104/QĐ- BNN)

- Khu vực Núi Da Dê nằm ở khu vực cốt 700 thường xuyên bị cháy, không thể trồng rừng vì trước đây quy hoạch nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Dự kiến, trong kì quy hoạch phát triển Vườn sẽ chuyển khoảng 300 ha sang phân khu phục hồi sinh thái và thực hiện trồng rừng cây bản địa, làm giàu rừng, đa dạng loài, nâng cao giá trị rừng bảo tồn

- Đất dự trữ dành cho quy hoạch các khu đồng cỏ phân tán, tạo nguồn thức ăn cho các loài động vật ăn cỏ và chim thú khác

- Mở rộng 30,3 diện tích rừng trồng dưới cốt 100 ở xã Vân Hoà và 1,6 ha (Trạm Kiểm lâm Vân Hoà) được quy hoạch bổ sung vào PKPHST, diện tích quy hoạch mới là 10.814,6 ha So với diện tích cũ, tăng 31,9 ha

Trang 32

4 Dự báo về phát triển khoa học công nghệ trong lâm nghiệp

Việc quản lí dữ liệu bằng hệ thống công nghệ thông tin như một nhu cầu tất yếu của Vườn để cùng hoà nhập với thực trạng phát triển về tin học và công nghệ GIS của ngành và Quốc gia Do vậy, việc đổi mới và đầu tư cho công tác quản lí dữ liệu, theo dõi các chương trình hoạt động của Vườn sẽ được hiện đại hoá các trang thiết bị và sử dụng các phần mềm chuyên dụng Đồng thời, đội ngũ cán bộ cũng phải được đào tạo để nâng cao nghiệp vụ cũng như tiếp cận kĩ thuật tiên tiến về công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lí và sản xuất của Vườn Công tác trồng rừng tại phân khu phục hồi sinh thái, Vườn thực nghiệm cây á nhiệt đới, trồng rừng cảnh quan tại các khu nghỉ dưỡng, trên các trục đường dạo trong Vườn cần có số lượng lớn cây giống bản địa, cây quý hiếm Vì vậy, việc phối hợp nhân giống sẽ được áp dụng bằng

kĩ thuật tiên tiến từ khâu tuyển chọn giống, gieo ươm và trồng rừng Đồng thời, với công nghệ này, Vườn cũng sẽ thường xuyên làm dịch vụ sản xuất cây giống, phục vụ nhu cầu cây con cho trồng rừng sản xuất của người dân tại các xã trong vùng Đệm

Các công trình nghiên cứu khoa học theo chuyên đề của các tổ chức trong

và ngoài nước có thể sẽ được tiến hành tại địa bàn Ba Vì - Viên Nam, cung cấp nhiều tư liệu khoa học quý trong bộ sưu tập tư liệu khoa học - kĩ thuật của Vườn

5 Dự báo về số lượng khách tham quan du lịch

Theo số liệu của các đơn vị làm du lịch và dịch vụ du lịch ở Hà Tây (cũ),

và Hòa Bình cung cấp, lượng du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng, hội thảo, cắm trại, nghiên cứu, thực tập sinh trong năm 2007 có khoảng trên 500 ngàn lượt người tới đây Con số này có thể sẽ tăng dần qua từng năm và tăng mạnh trong các năm tới khi các dịch vụ được đầu tư xây dựng

Dự báo, con số này sẽ tăng lên khoảng gần 1 triệu lượt người/năm vào năm

2015 Đến năm 2020 có thể đạt gần 1,5 - 2 triệu lượt người/ năm tại các điểm du lịch thuê môi trường Trong đó, lượng khách mua vé qua cổng kiểm soát của Vườn có thể đạt trên 500 ngàn người/năm Lí do sự gia tăng là do Hà Nội mở rộng, hệ thống đường cao tốc Láng Hòa Lạc, đường Hồ Chí Minh về Xuân Mai, các khu công nghiệp, các trường Đại học cùng với việc đầu tư của các doanh nghiệp cho dịch vụ du lịch tại cốt 400, cốt 600-700, cốt 800, Núi Viên Nam sẽ làm tăng lượng khách với nhiều tua du lịch, thăm quan và nghỉ dưỡng

II Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ

1 Quan điểm

- Phát triển bền vững Vườn Quốc gia Ba Vì dựa trên cơ sở xây dựng các chương trình hoạt động nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn nguyên vẹn nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn gen động thực vật quý hiếm, sinh thái cảnh quan,

đa dạng sinh học, các giá trị cảnh quan, văn hoá lịch sử

- Song song với nhiệm vụ bảo tồn cần ưu tiên chỗ trợ các hoạt động về phát triển du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng và các dịch vụ khác sẽ đóng góp một phần vào sự phát triển KT-XH ở địa phương

- Cơ sở hạ tầng thiết yếu phải được đầu tư một cách đồng bộ, phù hợp không gian, cảnh quan, đáp ứng được nhu cầu cho công tác quản lí bảo vệ rừng,

Trang 33

nghiên cứu khoa học Đồng thời khai thác có hiệu quả cho hoạt động du lịch, tham quan thắng cảnh và nghỉ dưỡng Các công trình có kết cấu mặt bằng phù hợp với thực tế không gian, hài hoà với cảnh quan, tuân thủ các quy định của Nhà nước về xây dựng trong Vườn Quốc gia Các công trình phải mang bản sắc dân tộc và hiện đại.

- Những diện tích rừng trước đây giao khoán, nay chuyển dần một số diện tích sang hình thức hợp đồng cho thuê môi trường, giảm đầu tư bằng ngân sách Nhà nước Đồng thời, tăng thêm nguồn thu cho Vườn và thu hút đầu tư để bảo vệ và phát triển Vườn tốt hơn

- Tất cả các hoạt động của Vườn đều phải tăng cường tính sáng tạo và tính chủ động Từ đó, nâng cao dần cơ chế tự chủ về tài chính của Vườn thông qua các hoạt động về dịch vụ du lịch và thuê môi trường

Độ che phủ của rừng tăng từ 75,97% lên 95,5%

- Các nghiên cứu thực nghiệm mang tính chuyển giao kĩ thuật cao để phục vụ công tác bảo tồn, khôi phục và phát triển rừng, môi trường sinh thái và giáo dục môi trường

- Khôi phục, xây dựng và tạo lập các cảnh quan đẹp, gần gũi thiên nhiên nhằm thu hút du khách thập phương tới thăm quan, du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng

- Các hoạt động xây dựng Vườn gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 2.000 lao động làm dịch vụ du lịch Qua đó, đem về cho địa phương từ 15 đến 20 tỉ đồng mỗi năm, góp phần cải thiện đời sống cho người dân

- Vườn chủ động kinh phí khoảng 50% để chi trả lương cho cán bộ Vườn

3 Nhiệm vụ

3.1 Giai đoạn 2010 -2015

- Rà soát ranh giới quy hoạch mở rộng Vườn (quy hoạch 2004), ranh giới các phân khu đã được phê duyệt để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển của Vườn trong giai đoạn mới, đặc biệt tại các khu vực Cốt 400, Cốt 600-700, Cốt 800, Cốt 1.100, khu vực Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, khu vực núi Viên Nam, khu vực Núi Da Dê

- Bảo vệ và phòng chống cháy rừng trên toàn bộ diện tích hiện có bao gồm

cả rừng tự nhiên và rừng trồng, diện tích 8.187,8 ha (bao gồm cả 30,3 ha rừng trồng quy hoạch mới)

- Khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên, diện tích 300,1 ha trên diện tích có khả năng khoanh nuôi thành rừng ở các trạng thái đất rừng có cây gỗ tái sinh mục đích (IC) có triển vọng khoanh nuôi thành rừng tái sinh tự nhiên, các khu vực cao dốc khó trồng rừng

Trang 34

- Trồng rừng mới các loài cây bản địa, diện tích 1.700 ha trên các trạng thái đất trống trọc không có khả năng phục hồi rừng tự nhiên, đất nương rẫy cũ Bình quân mỗi năm trồng 200-300 ha.

- Trồng thay thế cây bản địa trên diện tích rừng Keo, diện tích 200 ha tại khu vực Núi Da Dê do chất lượng rừng kém, trồng thuần loài, có dấu hiệu chững phát triển, gãy đổ do mưa bão (trước đây thuộc phân khu BVNN, nay quy hoạch chuyển đổi sang phân khu PHST) Mỗi năm trồng bình quân 40-50 ha

- Trồng băng cây xanh cản lửa khu vực Núi Da Dê, khu vực Núi Viên Nam Băng chiều rộng 10 m, mật độ 1m*1m Tổng chiều dài các băng xanh cản lửa là 20 km, tương đương 20 ha ở độ cao dưới 500m trồng Keo, độ cao trên 500m trồng Vối thuốc Thực hiện trồng trong 3 năm, mỗi năm trồng 10 km băng cây xanh (tương đương10 ha) Lập các băng trắng cản lửa khu vực cao dốc núi Viên Nam có chiều dài 5.000m, tương đương 5 ha

- Sưu tập và trồng các loài cây hạt trần, cây bản địa trên diện tích 40 ha, phân thành các lô nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá kết quả về tình hình sinh trưởng và phát triển sẽ thực hiện mở rộng mô hình cho hoạt động khôi phục rừng

ở phân khu PHST

- Nghiên cứu trồng cây thuốc Nam dưới tán rừng khoảng 10 ha cho khoảng 20 loài cây thuốc có tác dụng chữa bệnh và hiệu quả kinh tế tốt, có sự tham gia của các hộ gia đình Dựa trên kết quả nếu thành công sẽ phát triển thành tài liệu hướng dẫn để khuyến cáo các hộ gia đình trồng mở rộng diện tích cây thuốc Nam dưới tán rừng

- Xây dựng các khu đồng cỏ phân tán, tạo nguồn thức ăn và đảm bảo không gian cho thú rừng di thực Diện tích 100 ha, phân tán nằm rải rác trong Vườn

- Quy hoạch chi tiết xây dựng phân khu HC&DVDL, bao gồm khu nhà làm việc, hạ tầng cơ sở, thiết lập các khu rừng cảnh quan, thiết lập Vườn thực vật hạt trần, trong đó:

+ Tại khu vực Đỉnh Viên Nam (thuộc khoảnh 22, khoảnh 23 tiểu khu 14,

xã Dân Hòa): trồng rừng cảnh quan, nhà làm việc, phòng nghỉ, khu vui chơi giải trí, sân chơi thể thao, các công trình tâm linh, bãi đỗ xe, các điểm dừng chân, các tuyến đường, hệ thống điện, nước, các tuyến đường leo núi Viên Nam Diện tích

120 ha

+ Quy hoạch xây dựng Vườn thực vật hạt trần nằm trong phân khu HC&DVDL Kết quả của chương trình sẽ được nhân rộng trồng trên diện tích đất trống khu vực Núi Viên Nam Quy mô Vườn rộng 100 ha trồng sưu tập, nghiên cứu khoảng 50 loài, chủ yếu các loài cây hạt trần, cây điển hình của rừng á nhiệt đới và của rừng Ba Vì Địa điểm xây dựng tại khoảnh 22, tiểu khu 14 thuộc khu vực núi Viên Nam, tỉnh Hoà Bình, sưu tập và trồng 40 ha

+ Triển khai xây dựng các điểm vui chơi, giải trí, tâm linh, nghỉ ngơi cho hoạt động du lịch sinh thái tâm linh và hạ tầng cần thiết cho hoạt động dịch vụ trong phân khu HC&DVDL

Trang 35

+ Tại khu vực các cốt 400, cốt 600-700, cốt 800, cốt 1.100: rà soát ranh giới, lập

dự án quy hoạch chi tiết mặt bằng từng địa điểm Thực hiện các nội dung về xây dựng các khu rừng cảnh quan, nhà làm việc, phòng nghỉ, các điểm dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí, các điểm dừng chân, các tuyến đường, hệ thống cấp điện nước, các tuyến du lịch sinh thái, du lịch tâm linh

- Xây dựng dự án đầu tư để thực hiện các hạng mục đã xác định trong quy hoạch tổng thể được cấp trên phê duyệt

- Xác định diện tích và địa điểm quy hoạch cho thuê môi trường cho các doanh nghiệp làm du lịch và dịch vụ du lịch dựa trên diện tích giao khoán trước đây, nay thu hồi để chuyển sang hợp đồng cho thuê môi trường Đồng thời, hoàn thiện quy chế cho thuê môi trường trên cơ sở bảo tồn và phát triển bên vững tài nguyên rừng và lợi ích của doanh nghiệp theo quy định của Nhà nước

- Liên kết với các Nhà đầu tư phát huy công năng của các công trình đã được xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch trong phân khu HC&DVDL để phát huy thế mạnh của Vườn

3.2 Giai đoạn 2016 - 2020 và đến năm 2020

3.2.1 Giai đoạn 2016 - 2020

Hoàn thành các hạng mục đầu tư xây dựng Vườn theo nội dung quy hoạch

đã được cấp trên phê duyệt mà giai đoạn 2010 - 2015 thực hiện chưa xong

- Bảo vệ và phòng chống cháy rừng trên toàn bộ diện tích hiện có bao gồm

cả rừng tự nhiên và rừng trồng, diện tích 9.927,8 ha

- Trồng rừng mới các loài cây bản địa, diện tích 600 ha trên các trạng thái đất trống trọc không có khả năng phục hồi rừng tự nhiên, đất nương rẫy cũ Bình quân mỗi năm trồng 200-300 ha

- Trồng thay thế cây bản địa làm giàu rừng, diện tích 300 ha tại khu vực Núi Da Dê do chất lượng rừng kém, trồng thuần loài, có dấu hiệu chững phát triển, gãy đổ do mưa bão (trước đây thuộc phân khu BVNN, nay quy hoạch chuyển đổi sang phân khu PHST) Mỗi năm trồng bình quân 60 ha

- Trồng băng cây xanh cản lửa khu vực Núi Da Dê, khu vực Núi Viên Nam Băng chiều rộng 10 m, mật độ 1m*1m Tổng chiều dài các băng xanh cản lửa là 20 km, tương đương 20 ha ở độ cao dưới 500m trồng Keo, độ cao trên 500m trồng Vối thuốc Thực hiện trồng trong 2 năm, mỗi năm trồng 10 km băng cây xanh (tương đương 10 ha) Lập các băng trắng cản lửa khu vực cao dốc núi Viên Nam có chiều dài 5.000m, tương đương 5 ha

Trang 36

- Sưu tập và trồng các loài cây hạt trần, cây bản địa trên diện tích 50 ha, phân thành các lô nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá kết quả về tình hình sinh trưởng và phát triển sẽ thực hiện mở rộng mô hình cho hoạt động khôi phục rừng

ở phân khu PHST

- Quy hoạch chi tiết xây dựng phân khu HC&DVDL, bao gồm khu nhà làm việc, hạ tầng cơ sở, thiết lập các khu rừng cảnh quan, thiết lập Vườn thực vật hạt trần, trong đó:

+ Hoàn thành các hạng mục còn lại: trồng rừng cảnh quan, xây dựng nhà làm việc, phòng nghỉ, khu vui chơi giải trí, sân chơi thể thao, các công trình tâm linh, bãi đỗ xe, các điểm dừng chân, các tuyến đường, lầu vộng cảnh, hệ thống điện, hệ thống nước, xử lí chất thải

+ Sưu tập và trồng Vườn thực vật hạt trần nằm trong phân khu HC&DVDL, 56

ha

+ Triển khai xây dựng các điểm vui chơi, giải trí, tâm linh, nghỉ ngơi cho hoạt động du lịch sinh thái tâm linh và hạ tầng cần thiết cho hoạt động dịch vụ trong phân khu HC&DVDL

+ Tại khu vực các cốt 400, cốt 600-700, cốt 800, cốt 1.100: rà soát ranh giới, lập

dự án quy hoạch chi tiết mặt bằng từng địa điểm Thực hiện các nội dung về xây dựng các khu rừng cảnh quan, nhà làm việc, phòng nghỉ, các điểm dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí, các điểm dừng chân, các tuyến đường, hệ thống cấp điện nước, các tuyến du lịch sinh thái, du lịch tâm linh

- Xây dựng dự án đầu tư để thực hiện các hạng mục đã xác định trong quy hoạch tổng thể được cấp trên phê duyệt

+ Xây dựng tuyến cáp treo phục vụ khách du lịch từ bãi đỗ xe cốt 1.100m núi Ba Vì lên đỉnh Tản Viên (Đền Thượng ) và đỉnh Vua (Đền thờ Bác Hồ)

- Quy hoạch cho thuê môi trường cho các doanh nghiệp làm du lịch và dịch

vụ du lịch

- Liên kết với các Nhà đầu tư phát huy công năng của các công trình đã được xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch trong phân khu HC&DVDL để phát huy thế mạnh của Vườn

3.2.2 Đến năm 2020

- Hệ sinh thái rừng được bảo vệ nghiêm ngặt, bảo tồn nguyên vẹn các nguồn gen thực vật, động vật quý trong Vườn Quốc gia

- Độ che phủ của rừng đạt 95,5%

Trang 37

- Các chương trình nghiên cứu khoa học phát huy hiệu quả, có giá trị trình diễn và khả năng nhân rộng cao.

- Xây dựng hoàn chỉnh các Vườn thực vật

- 100% các doanh nghiệp làm du lịch và dịch vụ du lịch hoạt động có hiệu quả, đóng góp đầy đủ kinh phí thuê môi trường cho Vườn

- Nguồn thu từ các dịch vụ của Vườn, từ hợp đồng thuê môi trường sẽ trang trải khoảng 50% lương cán bộ và nhân viên trong Vườn (khoảng 2 tỉ đồng/năm, theo thời giá hiện hành)

(chi tiết xem Bảng 17 - Khối lượng công việc thực hiện theo giai đoạn phần phụ lục)

III Luận chứng về phạm vi ranh giới và các phân khu chức năng

Thông tin chung về điều chỉnh diện tích quy hoạch xây dựng Vườn Quốc gia Ba Vì qua các năm:

Năm1991 - 1992: Luận chứng xây dựng VQG Ba Vì được xây dựng và Chính phủ đã phê duyệt với diện tích là 7.377 ha (Quyết định số 17/CT ngày 16/1/1992 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)

Năm 1998: Sau khi điều chỉnh quy hoạch, diện tích VQG là 6.727 ha

Năm 2003: Quy hoạch mở rộng Vườn sang phía tỉnh Hoà Bình, thực hiện chu chuyển một số diện tích và đến nay, theo kết quả rà soát 3 loại rừng, diện tích Vườn quản lí là 10.782,7 ha

Kì quy hoạch này, chuyển 30,3 ha rừng trồng và 1,6 ha đất do Hạt Kiểm lâm Vân Hoà đang quản lí vào diện tích quy hoạch đất Vườn Như vậy, diện tích chính thức Quy hoạch phát triển Vườn giai đoạn 2010 - 2020 là 10.814,6 ha

1 Luận chứng về ranh giới

1.1 Xác định phạm vi ranh giới

- Về cơ bản, ranh giới được giữ nguyên theo quy hoạch mở rộng Vườn Quốc gia Ba Vì được Nhà nước phê duyệt năm 2003 (Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 12/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ) và kết quả rà soát 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng trên địa phận của tỉnh Hà Tây (cũ) và tỉnh Hoà Bình Tại khu vực huyện Ba Vì, ranh giới Vườn từ cốt 100 trở lên, trừ khu vực xã Tản Lĩnh, đã điều chỉnh ranh giới lên trên cốt 100 như quy hoạch cũ Phân định, làm

rõ ranh giới giữa đất của Vườn quản lí với đất của dân và các doanh nghiệp kinh doanh rừng dựa trên các mốc đã cắm tại thực địa

- Mở rộng diện tích 30,3 ha rừng trồng khu vực dưới cốt 100, nằm lền kề diện tích Vườn thuộc khu vực xẫ Văn Hoà theo chủ trương của UBND Thành phố Hà Nội và UBND huyện Ba Vì

- Chuyển 1,6 ha diện tích đất do Trạm Kiểm lâm Vân Hoà hiện đang quản

lí sử dụng vào diện tích quy hoạch của Vườn

Trang 38

- Khu vực huyện Lương Sơn, Kì Sơn thuộc địa phận tỉnh Hoà Bình về cơ bản giữ nguyên ranh giới theo quy hoạch mở rộng năm 2003 Diện tích này trước đây là rừng phòng hộ nay chuyển sang rừng đặc dụng, cơ bản giữ nguyên ranh giới.

- Ranh giới giữa rừng của Vườn với rừng sản xuất của các tổ chức, cá nhân

cơ bản đã được xác định ở thực địa với hệ thống các mốc xi măng và mô tả tuyến

(chi tiết được thể hiện trên bản đồ quy hoạch phát triển Vườn)

1 2 Luận chứng về các phân khu chức năng

- Căn cứ vào kết quả thực hiện Công văn 2334/BNN-XDCB ngày 11/6/1998 của

Bộ Nông nghiệp & PTNT về nội dung quy hoạch chi tiết Vườn Quốc gia Ba Vì trong đó

bố cục quy hoạch kiến trúc theo các cốt: 100 - 300, Cốt 400, Cốt 600, Cốt 800; với thực trạng các cơ sở đã được Nhà nước đầu tư xây dựng và chưa được đầu tư xây dựng

- Căn cứ vào Điều 6, Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 6/11/2006 của

Bộ NN & PTNT về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế quản lí rừng đặc dụng Quy định về xây dựng các cụng trỡnh hạ tầng, tỉ lệ diện tớch đất được xây dựng các công trỡnh phục vụ du lịch sinh thỏi, nghỉ dưỡng trong rừng đặc dụng, rừng phũng hộ và rừng sản xuất

- Căn cứ vào hiện trạng quản lí tài nguyên rừng, mức độ phù hợp về ranh giới, mức độ tác động và những kết quả thực hiện quy hoạch mở rộng Vườn đã được Chính phủ phê duyệt

- Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ bảo tồn, khôi phục và phát triển bền vững rừng đặc dụng, bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật rừng quý hiếm và đa dạng sinh học của Vườn

- Căn cứ vào các kết quả cho thuê môi trường, liên kết hoạt động du lịch, tầm nhìn, các dự báo và xu hướng phát triển hoạt động du lịch và các dịch vụ du lịch trên địa bàn Vườn trong những năm tới Về cơ bản, quy hoạch của Vườn Quốc gia

Ba Vì sẽ bao gồm 3 phân khu chức năng:

(1) Phân khu bảo vệ nghiệm ngặt

(2) Phân khu phục hồi sinh thái

(3) Phân khu hành chính và dịch vụ

Diện tích toàn vườn theo quy hoạch mới là 10.814,6ha

IV Quy hoạch bố trí sử dụng đất đai

1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

A Chức năng:

- Lưu giữ các loài thực vật, động vật rừng quý hiếm với các ưu hợp tiêu biểu của rừng Ba Vì có giá trị cao cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn lóài Các loài thực vật như Bách xanh, Thông tre, Sến mật, Giổi bạc má , các loài động vật trú ngụ như Gà lôi trắng, Sóc bay, Chồn bạc má, Cầy vằn

Trang 39

- Không được phép tác động vào rừng nhằm bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái rừng tự nhiên và đa dạng sinh học.

B Nhiệm vụ trong phõn khu bảo vệ nghiờm ngặt:

- Bảo vệ nghiêm ngặt toàn bộ diện tích rừng còn lại được quy hoạch cho phân khu với các tài nguyên thực vật, động vật rừng và cảnh quan

- Tạo môi trường sinh thái thích hợp để duy trì và phát triển các nguồn gen quý hiếm Tạo cảnh quan đẹp cho thăm quan du lịch, nghiên cứu khoa học

- Chống mọi hành động làm thay đổi thành phần và cấu trúc rừng Cấm các hoạt động tiêu cực của con người và vật nuôi vào rừng Tuyệt đối không được làm thay đổi cảnh quan tự nhiờn của khu rừng

- Lập các tuyến đường mũn, lều trỳ chõn, cắm biển chỉ dẫn để thực hiện tuần tra kết hợp phục vụ du lịch sinh thái Khi thi công, không được có những hành vi xâm hại đến sinh cảnh sống của những loài động vật

- Tận dụng khu vực đất không có rừng xen kẽ trong phân khu để tạo các đồng cỏ tự nhiên cho thú rừng tìm kiếm thức ăn và tắm nắng

C Lựa chọn phương án quy hoạch điều chỉnh giảm diện tích PKBVNN

C1 Phương án 1: điều chỉnh ranh giới và điều chỉnh giảm diện tích

PKBVNN

Nguyên nhân điều chỉnh giảm diện tích PKBVNN:

- Trong luận chứng kĩ thuật xây dựng Vườn năm 1992 đã được phê duyệt (Quyết định số 17/CT ngày 16/1/1992 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nay là Thủ tướng Chính phủ), phần ranh giới được hoạch định cơ giới từ cốt 400 trở lên khu vực Núi Ba Vì được quy hoạch vào phân khu BVNN Thực tế sau 17 năm xây dựng Vườn, diện tích rừng tự nhiên ở cốt 400, cốt 600-700 hầu như không

có, kém giá bảo tồn bởi thảm thực vật nghèo nàn HIện tại, khả năng phục hồi tự nhiên rất kém rất ít các loài cây có giá trị bảo tồn gen, cây đặc hữu tái sinh Hạn chế lớn nhất lâu nay là không được phép tác động vào khu vực này bằng các giải pháp lâm sinh

- Khu vực Núi Da Dê cũng tương tự, lớp thảm hiện nay chủ yếu là rừng trồng Keo thuần loài Trước đây là đất nương rãy, khi còn trực thuộc lâm trường

Ba Vì thì diện tích này được trồng rừng phủ xanh bằng cây Keo Hiện nay, Keo chững phát triển, lại hay đỗ gãy nhiều mỗi khi có mưa bão lớn Thảm thực vật nghèo nàn, ít có giá trị về bảo tồn và đa dạng loài Kết quả theo dõi, có khoảng 300 ha khu vực này không đáp ứng được tiêu chí bảo tồn, trong đó có 240 ha rừng trồng, 30 ha đất trống và 30 ha non phục hồi

Do vậy, trong trường hợp, nếu vẫn giữ nguyên quy hoạch diện tích này nằm trong PKBVNN sẽ không được phép tác động thì ý nghĩa của công tác bảo tồn ở 2 khu này không cao Vì vậy, việc điều chỉnh giảm diện tích để thực hiện các giải pháp lâm sinh thực sự là hết sức cần thiết Chỉ có giải pháp lâm sinh tác động mói có thể làm tăng các loài thực vật và đa dạng sinh học, nâng cao ý nghĩa bảo tồn Trên cơ sở thực tế nêu trên, việc điều chỉnh giảm diện tích phân khu BVNN cụ thể như sau:

Trang 40

- Về ranh giới: giữ nguyên ranh giới bao quanh phân khu BVNN, tức là từ cốt

400 trở lên thuộc địa phận Núi Ba Vì, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội Chỉ thực hiện điều chỉnh ranh giới bên trong vùng lõi thuộc khu vực cốt 400, cốt 600-700 Trong quy hoạch trước đã có nhưng diện tích hạn chế với không gian hạn hẹp Các giải pháp lâm sinh chỉ được thực hiện trên diện tích nhỏ và khó cho xây dựng hạ tầng

- Về diện tích: Thực hiện điều chỉnh giảm bên trong phân khu để chuyển sang cho phân khu HC&DVDL và phân khu PHST nhằm:

+ Tiến hành làm giàu rừng cho những diện tích rừng nghèo kiệt không có hoặc rất ít các loài cây có giá trị bảo tồn gen, thành phần loài nghèo ở khu vực cốt

400, cốt 600 và khu vực Núi Da Dê

+ Trồng bổ sung hoặc trồng thay thế diện tích rừng Keo thuần loài mà hiện nay phát triển kém, đỗ gãy nhiều khi có mưa bão lớn (khu vực núi Da Dê) Đặc biệt, diện tích rừng trồng ở đây thuần loài (diện tích rừng này được trồng trước đây theo chương trình phủ xanh đất trống, từ lâm trường Ba Vì chuyển sang)

- Mở rộng không gian để xây dựng các công trình phục vụ tuần tra, nghiên cứu khoa học, các hoạt động du lịch sinh thái và dịch vụ du lịch Tăng nguồn kinh phí thu được từ dịch vụ du lịch

* Ưu điểm của phương án này là cải tạo được rừng nghèo kiệt, đa dạng

loài, bổ sung được nhiều loài cây bảo tồn gen, cây bản địa quý trên diện tích đất trống, trảng cỏ, rừng nghèo Một số hạ tầng được đầu tư, nâng cấp Không gian cho hoạt động du lịch, dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng, cắm trại, thưởng ngoạn thiên nhiên được mở rộng, đáp những nhu cầu của xã hội và tăng nguồn thu cho Vườn

* Nhược điểm của phương án này là giảm diện tích phân khu BVNN, do

chuyển sang phân khu phục hồi sinh thái và hành chính dịch vụ Cảnh quan, môi trường tự nhiên sẽ bị tác động do phải trồng rừng và một số hoạt động xây dựng

C2 Phương án 2: giữ nguyên theo quy hoạch cũ

- Về ranh giới: giữ nguyên ranh giới và diện tích như hiện nay, bao gồm từ cốt 400 trở lên thuộc địa phận Núi Ba Vì, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

- Về diện tích: tổng diện tích phân khu BVNN là 2069,1 ha Trong đó, đất có rừng tự nhiên là 1.402 ha; đất có rừng trồng là 477,2 ha; đất không có rừng là 89,9 ha

* Ưu điểm của phương án này về cơ bản diện tích rừng và đất rừng không thay đổi, môi trường ít bị tác động

* Nhược điểm của phương án này là:

- Diện tích rừng kém chất lượng (rừng tự nhiên nghèo kiệt hay rừng trồng thuần Keo) vẫn giữ nguyên

- Tính đa dạng loài kém, ít giá trị bảo tồn gen do không được trồng thay thế bằng các loài cây bản địa, cây bảo tồn gen (do tuân theo quy định không có tác động trong phân khu BVNN)

- Không có hoặc rất ít các công trình được xây dựng để phục vụ tuần tra hay phục vụ dân sinh bởi các hoạt động du lịch sinh thái và dịch vụ du lịch

Ngày đăng: 02/07/2014, 08:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5. Bảng tổng hợp diện tích thí điểm cho thuê môi trường - Báo cáo quy hoạch vườn Quốc gia Ba Vì
Bảng 5. Bảng tổng hợp diện tích thí điểm cho thuê môi trường (Trang 21)
Bảng 10. Tổng hợp chu chuyển  quy hoạch phân khu HC& DVDL 1 - Báo cáo quy hoạch vườn Quốc gia Ba Vì
Bảng 10. Tổng hợp chu chuyển quy hoạch phân khu HC& DVDL 1 (Trang 46)
Bảng 15. Bảng tổng hợp các công trình hạ tầng - Báo cáo quy hoạch vườn Quốc gia Ba Vì
Bảng 15. Bảng tổng hợp các công trình hạ tầng (Trang 69)
Bảng 17. tổng hợp khối lượngcông việc thực hiện theo giai đoạn - Báo cáo quy hoạch vườn Quốc gia Ba Vì
Bảng 17. tổng hợp khối lượngcông việc thực hiện theo giai đoạn (Trang 81)
Bảng 18. Vốn  đầu  tư  theo hạng mục, nguồn đầu tư và tiến độ đầu tư - Báo cáo quy hoạch vườn Quốc gia Ba Vì
Bảng 18. Vốn đầu tư theo hạng mục, nguồn đầu tư và tiến độ đầu tư (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w