1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích lợi thế cạnh tranh của sản phẩm gạo việt nam xuất khẩu sang thị trường philipines

47 478 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích lợi thế cạnh tranh của sản phẩm gạo Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Philippines
Tác giả Nguyễn Phương Anh, Trần Thế Anh, Đặng Trần Bình, Nguyễn Thị Minh Hiền, Nguyễn Thị Mai Hương, Trần Hữu Thọ, Nguyễn Thị Kiều Tiên
Người hướng dẫn Th.S Quách Thị Bửu Châu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế và Thương mại
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2011
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 484 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ một nước thiếu lương thực, nay đã trở thành một nước không chỉ đảm bảođầy đủ các nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có khối lượng xuất khẩu ngày mộttăng, là nước đứng thứ h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH - MARKETING

ĐỀ TÀI :

PHẨM GẠO VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ

TRƯỜNG PHILIPPINES ”

GVHD : Th.S Quách Thị Bửu Châu

LỚP : VB2 - NT01

SVTH : Nguyễn Phương Anh

Trần Thế Anh Đặng Trần Bình Nguyễn Thị Minh Hiền Nguyễn Thị Mai Hương Trần Hữu Thọ

Nguyễn Thị Kiều Tiên

Tháng 03 năm 2011

Trang 2

Mục lục

I Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam 3

1 Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam 3

2 Tình hình giá cả 9

II Tình hình nhập khẩu gạo của Philipines trong các năm qua 12

III Tình hình xuất khẩu gạo của Thái Lan 13

IV Phân tích lợi thế cạnh tranh sản phẩm gạo của Việt Nam theo mô hình kim cương của Porter 14

A Nhóm yếu tố thâm dụng 14

1 Yếu tố cơ bản 14

1 Yếu tố tăng cương 17

B Nhóm điều kiện nhu cầu 19

C Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan 22

D.Chiến lược, cơ cấu, sự cạnh tranh 33

E Nhóm yếu tố phụ 35

V Kết luận 45

Các nguồn tham khảo 46

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Xu thế toàn cầu hóa thương mại đang là những đặc điểm cơ bản của phát triểntrên thế giới hiện nay Đối với Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập khối ASEAN,AFTA, hiệp định thương mại Việt- Mĩ và những bước tiếp theo WTO, đã có nhiều

cơ hội phát huy lợi thế so sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trường xuất khẩu, tạo lập môitrường thương mại mới nhằm trao đổi hàng hóa- dịch vụ, kỹ thuật và thông tin đã tạo

cơ sở động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế

Để phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, Đảng và Nhà nước ta đã có những đổimới trong đường lối phát triển kinh tế, đặc biệt là có những chính sách mới để pháttriển nông nghiệp nông thôn Sau hơn mười năm thực hiện chính sách đổi mới, nôngnghiệp đã có những kết quả khá tốt, đặc biệt trong sản xuất cũng như xuất khẩu lúagạo Từ một nước thiếu lương thực, nay đã trở thành một nước không chỉ đảm bảođầy đủ các nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có khối lượng xuất khẩu ngày mộttăng, là nước đứng thứ hai (sau Thái Lan) về xuất khẩu gạo, sản lượng gạo của ViệtNam hàng năm tăng, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng pháthuy lợi thế so sánh các sản phẩm ở từng vùng, từng địa phương trong cả nước Kimngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên đều đặn, thị trường được mở rộng liên tục Việcxuất khẩu gạo góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn, ổn địnhkinh tế, chính trị và xã hội, tạo tiền đề bước vào giai đoạn phát triển mới công nghiệphoá và hiện đại hoá

Mặc dù Việt Nam tham gia xuất khẩu gạo được 13 năm nhưng hiệu quả xuấtkhẩu gạo của Việt Nam còn thấp, chênh lệch về giá xuất khẩu gạo của Việt Nam vàthế giới còn lớn Khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới chủ yếudựa vào giá thấp, thị trường không ổn định Hệ thống thu gom xuất khẩu còn yếukém, đơn lẻ nên chưa phù hợp và đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu Vì vậy, để việcsản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu gạo đạt hiệu quả thì cần có giải pháp với những chínhsách đồng bộ, cần sự phối hợp điều hành của các bộ, ngành có liên quan để tìm ra lốithoát thực sự của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới

Trang 4

I.TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM

Gạo Việt Nam đã có mặt ở hơn 120 quốc gia, vùng lãnh thổ Hạt gạo ViệtNam ngày hôm nay là hạt gạo của hành trình đổi mới, kết tinh công sức, mồ hôi, trítuệ của 4 nhà: nhà nông – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp - nhà nước; cùng sángtạo để có được những giống mới năng suất cao, những vụ mùa bội thu; là hành trình

“vật lộn” đối phó với dịch hại, sâu bệnh; là hành trình thích nghi và chống trọi vớinhững “thiên tai dịch họa”, với diễn biến bất thường của thiên nhiên do tác động củabiến đổi khí hậu, là hành trình tìm kiếm mở rộng những thị trường mới…Tổng hòanhững hành trình của hạt gạo chính là quá trình vận động liên tục không ngừng đểkhẳng định những giá trị và vị thế của đất nước, con người Việt Nam trên bản đồ thếgiới

6 triệu tấn gạo xuất khẩu và gần 2,5 tỷ USD Nhắc lại để thấy được đó lànhững con số hết sức ý nghĩa! Đặt trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, anninh lương thực tiếp tục bị đe dọa nghiêm trọng bởi những “bước chân vô hình và vôtình không báo trước” của biến đổi khí hậu như hạn hán, bão lụt, nước biển dâng;diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp…mới thấu hiểu được rằng

“kỳ tích” 6 triệu tấn gạo xuất khẩu xứng đáng được coi là một sự kiện nổi bật củangành nông nghiệp và của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 vừa qua

1 Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam.

Gạo Việt nam xuất khẩu sang 20 thị trường chính, nhưng chủ yếu là sangPhilippines; Malaysia; Cu Ba; Singapore Xuất khẩu sang Philippines đạt kim ngạchlớn nhất với 917,13 triệu USD, chiếm 34,43% kim ngạch; tiếp theo là kim ngạchxuất sang Malaysia đạt 272,19 triệu USD, chiếm 10,22%; rồi đến thị trường Cu Ba

191 triệu USD, chiếm 7,17%; Singapore 133,6 triệu USD, chiếm 5,02% Kim ngạchxuất khẩu gạo sang thị trường Philippines tăng đột biến trong tháng 12, đạt 120.300tấn, trị giá trên 57,7 triệu USD, tăng mạnh tới 3.375,7% so với tháng 11/2009, đưatổng lượng xuất khẩu cả năm lên trên 1,7 triệu tấn, trị giá hơn 917 triệu USD

Trang 5

Kim ngạch xuất khẩu gạo sang Cuba tháng 12 tuy không lớn bằng xuất sangMalaysia, nhưng mức độ tăng trưởng so với tháng 11 lại tăng mạnh tới 1.175,1%, đạttrên 7,4 triệu USD; đưa tổng kimngạch cả năm 2009 lên trên 191 triệu USD

Xuất khẩu gạo sang thị trường Nam Phi tháng 12 chỉ đạt 584.275USD nhưngcũng đạt mức độ tăng trưởng cao so với tháng 11, tăng 340,96%

Một số thị trường cũng đạt mức tăng trưởng dương so với tháng 11/2009 đólà: kim ngạch xuất sang Tiểu vương Quốc Ả Rập thống nhất tăng 91,79%; Australiatăng 75,99%; Malaysia tăng 45,29%; Hồng Kông tăng 44,39%

Thị trường có mức độ sụt giảm kim ngạch mạnh nhất so với tháng 11 đó làkim ngạch xuất khẩu sang Nga tháng 12 chỉ đạt 78.165 USD, giảm mạnh tới 97,81%;tiếp theo là kim ngạch xuất khẩu sang Đài Loan giảm 72,24% so với tháng 11, đạt2.637.808USD; kim ngạch xuất sang Pháp đạt 90.960USD, giảm 66,68%; Singaporegiảm 55,39%

Thị trường xuất khẩu gạo năm 2009

Thị trường

Tăng giảm kim ngạch so với tháng 11/2009 (%)

Tổng cộng

Lượng (tấn)

Cu Ba 16.800 7.483.360 449.950 191.035.678 +1.175,71Singapore 8.057 4.235.637 327.533 133.594.368 -55,39Đài Loan 5.589 2.637.808 204.959 81.616.149 -72,24

Trang 6

Ghi chú: (*): thị trường tháng 11 và 12 không tham gia xuất khẩu gạo.

(**): thị trường tháng 11 có xuất khẩu gạo, tháng 12 không xuất.

(***): thị trường tháng 12 có xuất khẩu gạo, tháng 11 không xuất.

Theo Vinanet

Theo Báo cáo thường niên ngành hàng gạo năm 2009 của Công ty cổ phầnPhân tích và Dự báo thị trường Việt Nam (AGROMONITOR), xuất khẩu gạo sangcác nước châu Á chiếm đến 61,68% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam (sovới mức 50,8% của năm 2008) Trong đó, xuất khẩu gạo sang thị trường Philippinesđóng góp hơn một nửa thị phần của toàn khu vực châu Á (chiếm tới 35% tổng kimngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2009) Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu sangPhilippines gần 1,7 triệu tấn gạo, trị giá hơn 912 triệu đô la Mỹ

Trang 7

Thị trường xuất khẩu lớn tiếp theo của hạt gạo Việt Nam phải kể đến làMalaysia, từ vị trí thứ ba trong năm 2008 đã vươn lên thứ hai với hơn 611.000 tấn,trị giá khoảng 271 triệu đô la Các quốc gia và lãnh thổ châu Á nằm trong nhóm 10thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam năm 2009 còn có Singapore(329.000 tấn và 134 triệu đô la), Đông Timo (242.000 tấn và 97 triệu đô la), ĐàiLoan (203.000 tấn và 81 triệu đô la) và Iraq (168.000 tấn và 68 triệu đô la).

Châu Á là thị trường xuất khẩu gạo chủ chốt của Việt Nam trong năm 2009khi có tới sáu trong 10 thị trường có tốc độ tăng trưởng lớn nhất Cụ thể, 10 thịtrường có kim ngạch nhập khẩu gạo từ Việt Nam trên 1 triệu đô la và có tốc độ tăngtrưởng kim ngạch lớn nhất năm 2009 bao gồm: Kiribati (tăng 10,608%), Campuchia(tăng 2,516%), Li Băng (tăng 2,124%), Hồng Kông (tăng 758%), Mỹ (tăng 714%),Nigeria (tăng 614%), Brunei (tăng 506%), Đài Loan (tăng 493%), Trung Quốc (tăng397%) và Fiji (tăng 365%) Đáng chú ý là Đài Loan từ vị trí thứ 23 trong bảng xếphạng năm 2008 đã vươn lên đứng trong nhóm 10 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhấtcủa Việt Nam trong năm 2009

Năm 2010 cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn Châu Á chiếm

tỷ trọng cao nhất, khu vực này Việt Nam xuất được 3,238 triệu tấn, chiếm 53,50%,và thị trường nghiên cứu của chúng ta, thị trường Philippines là 1,612 triệu tấn,chiếm 26,64%, Malaysia là 0,667 triệu tấn chiếm 11,02% Châu Phi là 1,794 triệutấn, chiếm 29,64% Châu Mỹ là 455,872 tấn chiếm 7,53%, trong đó thị trường Cubalà 442,910 tấn chiếm 7,32% Trung Đông là 316,076 tấn chiếm 5,22% Châu Âu là201,642 tấn chiếm 3,33% Còn lại là thị trường Châu Úc chiếm 0,78% tổng số lượngxuất khẩu gạo của Việt Nam

Bảng : Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2010.

Châu Á Châu Phi Trung Đông Châu Mỹ Châu Âu Châu Úc

Trang 8

0 10 20 30 40 50 60

Châu Á Châu

Âu

Châu Mỹ

Châu Phi

Châu Úc

Trung Đơng

%

Sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2010.

Bảng : Sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2010

Sản lượng gạo xk

Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2010.

Bảng : Kim ngạch gạo xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2010

Kim ngạch Tỷ USD 1,279 1,236 1,511 2,663 2,464 2,912

Trang 9

0 0.5

1 1.5

2 2.5

2009 và 2010 Việt Nam đã xuất khẩu gạo vược trên mức 6 triệu tấn gạo, và kể từnăm 2008 đến nay, kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm của Việt Nam đã vượt quacon số 2 tỷ USD

Các năm qua Việt Nam đã có sự cải cách lớn về chính sách nhập khẩu, đặtbiệt với nông sản thì được mở cửa tối đa, nên tiềm lực thật sự của hạt lúa chính thứcđược giải phóng dẫn đến hệ thống doanh nghiệp thu mua phát triển, các hợp đồngxuất khẩu thường được đàm phán, ký kết từ đầu mỗi năm, quy mô tăng dần Hàngloạt cơ sở chế biến, lau bóng gạo ra đời, các doanh nghiệp đầu tư kho bãi, dâychuyền máy móc, phương tiện vận chuyển, cơ sở thu mua ngày một chuyên nghiệphơn

2 Tình hình giá cả.

Đặc biệt, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các thị trường châu Á trong năm

2009 còn được lợi về giá Tính trung bình năm 2009, trong số 10 nước có kim ngạchnhập khẩu gạo lớn nhất từ Việt Nam thì Philippines là thị trường mà gạo Việt Namxuất sang đạt mức giá cao nhất với 541,24 đô la/tấn Trong khi đó, mức giá trungbình xuất sang chín thị trường còn lại chỉ dao động quanh mức 400 đô la/tấn Xuất

Trang 10

khẩu gạo của Việt Nam sang Malaysia năm 2009 cũng đạt mức giá khá cao với439,24 đô la/tấn

Như vậy, liệu trong năm 2010 châu Á có tiếp tục ảnh hưởng tới xuất khẩu gạocủa Việt Nam? Tổng nhu cầu nhập khẩu gạo tại khu vực châu Á năm 2010 dự kiến ởmức 14,8 triệu tấn, tăng 7% so với năm 2009, theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ(USDA) Nhu cầu nhập khẩu tăng chủ yếu từ các quốc gia như Iraq (dự kiến tăng10%), Bangladesh (tăng 185,7%), Philippines (tăng 30%); Ảrập Saudi (tăng 2,2%),Indonesia (tăng 20%), Malaysia (tăng 2,41%)

Ngược lại với xu hướng đẩy mạnh nhập khẩu tại các nước trong khu vực châu

Á, năm 2010 nhu cầu nhập khẩu gạo tại khu vực châu Phi lại được USDA dự báo sẽgiảm 3% so với năm 2009 do triển vọng tăng sản lượng trong niên vụ này Cụ thể, tạiNigeria, dự kiến lượng nhập khẩu năm 2010 sẽ giảm 15,8% Các nước khác nhưGuinea, Mali, Mozambique và Senegal, lượng gạo nhập khẩu trong năm 2010 cũngkhó có thể thay đổi đột biến

Và theo Báo cáo thường niên ngành hàng gạo năm 2009 củaAGROMONITOR, căn cứ trên tốc độ tăng trưởng nhập khẩu 2009-2008, có thể

Trang 11

khẳng định châu Á với những thị trường truyền thống như Philippines, Malaysia sẽvẫn là những thị trường tiềm năng cho xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2010.Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu hơn nữa nhằm giảmsự phụ thuộc vào các đối tác truyền thống cũng như các hợp đồng xuất khẩu doChính phủ mở đường Do đó, cần có một cơ chế xuất khẩu gạo mang tính khuyếnkhích hơn để các doanh nghiệp có thể phát huy khả năng, tìm kiếm thị trường và đốitác mới để xuất khẩu gạo với mức giá có lợi nhất.

Lượng gạo xuất khẩu theo tháng các năm 2006- 2009

Trang 12

II TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU GẠO CỦA PHILIPPINES TRONG CÁC NĂM QUA

Philippines là một quốc gia Đông Nam Á có diện tích khoảng 300.000 km2,về dân số hiện nay dân số của quốc gia này đã tăng gần 100 triệu người Với đà giatăng dân số như hiện nay thì khả năng sản xuất lương thực trong nước không thể đápứng nhu cầu của thị trường, vì vậy quốc gia này buộc phải tăng cường nhập khẩu gạohơn nữa để đảm bảo an ninh lương thực của chính phủ Philippines

Bảng : Sản lượng gạo nhập khẩu của Philippines từ năm 2005 đến năm 2010

Sản lượng Triệu tấn 1,890 1,791 1,900 2,500 2,000 2,600

Philippines là quốc gia bao gồm hàng ngàn hòn đảo, trải dài khoảng 1.200

km, là một nước có thể thuận lợi trong phát triển ngành nông nghiệp Tuy nhiên hàngnăm quốc gia này phải hứng chịu hàng chục cơn bão lớn nhỏ từ biển đông đi qua Vìvậy ta thấy qua bảng số liệu trên, hàng năm quốc gia này phải nhập khẩu một sốlượng lớn gạo để đảm bảo an ninh lương thực trong nước

Gạo nhập khẩu của Philippines phần lớn là nhập từ Việt Nam, một phần nhập

từ Thailand, Pakistan, Mỹ, Campuchia…

Hiện nay, ngân sách của chính phủ Philippines dành cho lĩnh vực nông nghiệprất eo hẹp, và đó là nguyên nhân làm cho diện tích gieo trồng các loại giống gạo caosản không được mở rộng, theo ông Alcala, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phiplippines,người nông dân Philippines vẫn quen với thói quen canh tác truyền thống, không cho

Trang 13

năng suất cao, vì vậy khả năng tăng sản lượng gạo trong nước là không được nhưmong muốn.

Bảng : Sản lượng gạo nhập khẩu của Philippines từ Việt Nam từ năm 2008 đến

năm 2010

Qua biểu đồ trên ta thấy Philippines chủ yếu nhập khẩu gạo từ Việt Nam, lý

do là gạo của Việt Nam có khả năng cạnh tranh về giá rất cao so vời các đối thủ cạnhtranh khác như Thailand, Mỹ hay Pakistan…

III TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA THAILAND TRONG CÁC NĂM QUA

Thailand là một quốc gia Đông Nam Á có diện tích gần 514.000 km2, dân sốkhoảng 64 triệu người, là một nước nông nghiệp Trong các năm gần đây Thailand làquốc gia chiếm vị trí số 1 về xuất gạo, trong 3 năm gần đây, số lượng gạo mà quốcgia này xuất khẩu hàng năm đạt từ 8 đến 9 triệu tấn gạo, đặt biệt trong năm 2011, dựbáo lần đầu tiện quốc gia này sẽ xuất khẩu gạo vượt con số 10 triệu tấn gạo

Thị trường xuất khẩu gạo chủ lực của Thailand là các quốc gia Châu Phi,trong đó quốc gia Nigeria là quốc gia nhập khẩu gạo từ Thailand nhiều nhất, trong 2năm 2009 và năm 2010 quốc gia này đã nhập khẩu gạo từ Thailand trên 1 triệu tấngạo hàng năm

Trang 14

Thị trường xuất khẩu gạo lớn thứ hai của Thailand là quốc gia Benin, hàngnăm quốc gia này nhập khẩu gạo từ Thailand khoảng 800 ngàn tấn gạo.

Bảng : Sản lượng gạo xuất khẩu khẩu của Thailand từ năm 2005 đến năm 2010

Sản lượng Triệu tấn 7,274 7,376 9,557 9,9969 8,522 8,800

Thị trường Philippines nhập khẩu gạo từ Thailand không nhiều, lý do là gạocủa Thailand là loại gạo cấp cao, có giá cao nên hầu như không phù hợp với thịtrường Philippines Các loại gạo cấp thấp, ví dụ như gạo 25% tấm, hàng nămThailand xuất khẩu vào thị trường Philippines khoảng vài trăm ngàn tấn

Bảng : Sản lượng gạo nhập khẩu của Philippines từ Thailand từ năm 2008 đến

IV PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH SẢN PHẨM GẠO CỦA VIỆT NAM SO VỚI GẠO CỦA THÁI LAN THEO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA PORTER.

A Nhóm yếu tố thâm dụng:

1 Yếu tố cơ bản:

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương Việt Nam cóđường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, vớiLào và Campuchia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông

Trang 15

Việt Nam có diện tích 330,212 km2 Với 2 vùng Đồng bằng sông Cửu Longvà đồng bằng sông Hồng, đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.Việt Nam có bờ biển dài thuận lợi cho giao thông và chuyên chở đường biển, thuậnlợi cho xuất khẩu

Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi.Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suấtvà sự phân bố cây trồng, vật nuôi Các loại đất của Việt Nam rất thích hợp với việctrồng lúa cũng như là điều kiện cơ bản để phát triển xuất khẩu lúa, gạo của nước ta

Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuậnlợi cho việc phát triển nghề trồng lúa Do vậy, cây lúa là cây lương thực truyềnthống

Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước xa xưa Nênngười Việt Nam đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm canh tác lúa, làm nền tảng choviệc trồng lúa hướng đến xuất khẩu Việt Nam cũng là một trong những nước thamgia xuất khẩu gạo tương đối sớm so với nhiều nước xuất khẩu khác trên thế giới

Việt Nam có một mạng lưới hệ thống sông ngòi đa dạng phong phú, 2 sônglớn nhất là sông Hồng và sông Cửu Long tạo nên 2 vùng đồng bằng rộng lớn và phìnhiêu, rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Việt Nam là nước có lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao: trên 70%lực lượng lao động cả nước Thu nhập bình quân đầu người thấp, giá nhân công rẻ.Điều này làm cho sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có giá thành thấp, tăng thêmsức cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới

Việt Nam có thể tận dụng ưu thế về đất đai, khí hậu và lao động để sản xuấtnhững sản phẩm xuất khẩu chứa hàm lượng tài nguyên và lao động cao, còn vốn và

kỹ thuật thấp Do vậy, Việt Nam chọn phát triển sản xuất lúa gạo là ngành chủ đạotrong nền kinh tế quốc dân là hoàn toàn đúng đắn cả về lý thuyết và thực tiễn Sảnxuất lúa gạo thể hiện rõ các đặc tính của sản xuất nông nghiệp Thứ nhất, thực hiệnsản xuất trên diện rộng và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai,nguồn nước Thứ hai, tiến hành sản xuất cần nhiều lao động do tính chất phân bốrộng của sản xuất và đòi hỏi bắt buộc khi thực hiện công việc Sản xuất lúa cho phép

Trang 16

tận dụng tốt ưu thế về lao động và tài nguyên thiên nhiên, đồng thời hạn chế nhữngkhó khăn về vốn, kỹ thuật - công nghệ

So với Thailand, Thailand với tổng diện tích gần 514.000 km 2 , trong đó Thailand có đến 55% diện tích đất trồng lúa Như vậy Thailand có diện tích tích đất trồng lúa gấp hơn 5 lần điện tích đất có thể canh tác của nước ta Điều này, giải thích tại sao sản lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan cao hơn Việt Nam

Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp của chúng ta ngày càng bị thu hẹp đi để phát triển các KCN Hơn thế, diện tích đất trồng lúa tại vựa lúa ĐBSCL cũng bị triều cường, nước biển dâng “lấn” đi rất nhiều Sâu hại, dịch bệnh ngày càng tăng…Thêm vào đó, năng suất lúa của vùng đang có nguy cơ chựng lại do mức đầu

tư đã quá khả năng của nông dân Nếu không giải quyết tốt khâu tiêu thụ, về lâu dài

sẽ ảnh hưởng đến chiến lược bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu Thách thức đối với sản xuất và xuất khẩu gạo hiện nay là diện tích đất nông nghiệp giảm dần do tốc độ đô thị hóa, nhưng sản lượng lúa phải tăng gấp đôi vào năm 2050 mới đáp ứng nhu cầu Mặc dù vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long đã sản xuất các giống lúa ngắn ngày, làm gia tăng diện tích gieo trồng từ 3,8 đến 4 triệu ha, với sản lượng khoảng 20 triệu tấn/năm Bên cạnh đó, các giống lúa lai cũng phát triển mạnh ở miền bắc với diện tích khoảng 600 nghìn ha/năm, cho năng suất từ 6,5 đến 9 tấn/ha Tóm lại, chúng ta cần chú ý đến năng suất cao, vòng quanh nhanh, thời vụ gieo trồng ngắn.

Chính vì thế mà Việt Nam xuất khẩu chủ yếu gạo có phẩm cấp trung bình và đang chiếm lĩnh thị phần gạo cấp thấp ở nhiều thị trường như Philippines, châu Phi… Trong khi đó, Thái Lan gần như chiếm lĩnh thị trường gạo cao cấp, nên gần như có sự phân chia thị trường khá rõ.

Tuy là nước phần đông dân số làm nghề nông, nhưng Việt Nam đứng thứ hai, nhưng chất lượng gạo xuất khẩu chưa cao, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân, sức cạnh tranh và xây dựng thương hiệu Trong khi Thái Lan xuất khẩu được giá cao nên thu nhập của nông dân họ cao.

Trang 17

2 Yếu tố tăng cường:

Hiện nay cả nước có nhiều viện nghiên cứu, ngoài ra còn có các trường đạihọc như Đại học nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ…, nghiên cứuvà phát triến giống lúa và các loại thuốc trừ sâu bệnh cho cây lúa Các viện nghiêncứu đều được trang bị các thiết bị hiện đại nhằm phục vụ tối đa các việc nghiên cứu

Hiện nay, nước ta có hệ thống hồ, kênh mương trong cả nước rất đa dạngphong phú cung cấp đủ lượng nước cần cho tưới tiêu tất cả diện tích đất canh tác

Vùng ven biển đã tăng cường xây dựng hệ thống các cống đập ngăn mặn, giữngọt, nhiều công trình đã đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Vùng Đồng bằngsông Cửu Long, tập trung thực hiện chương trình kiểm soát lũ, phát triển thuỷ lợi,giao thông và dân cư Bước đầu thực hiện các công trình thuỷ lợi ven biển phục vụnuôi trồng thuỷ sản, gắn ngọt hoá với việc nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ vàtận dụng và khai thác thuỷ sản mùa lũ

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đối với vụ hè thu 2009, Bộ Công thươngphối hợp với Ủy ban Nhân dân các tỉnh và Hiệp hội Lương thực Việt Nam chỉ đạocác doanh nghiệp thành viên Hiệp hội mua khoảng 2 triệu tấn gạo hàng hóa theo giábảo đảm lợi nhuận tối thiểu 30% cho nông dân Việc Chính phủ đồng ý cho xuất hếtlúa gạo hàng hóa đang tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động đàm phán

ký hợp đồng mới và đẩy mạnh mua lúa của nông dân

Giá lúa gạo đang tăng: Trong những ngày qua, tiếp sau thông tin Chính phủ có

những biện pháp mới chấn chỉnh trong điều hành xuất khẩu gạo, thị trường nhậpkhẩu gạo từ Philippines, Malaysia mở cửa trở lại, tại các tỉnh Đìng bằng Sông CửuLong, nông dân và giới doanh nghiệp đang đặt nhiều hy vọng là dòng chảy lưu thônglúa gạo sẽ xuôi chèo mát mái hơn trong những tháng cuối năm Hiện nay, giá lúa gạotrong vùng bắt đầu tăng lên nhẹ, hứa hẹn những niềm vui mới cho nông dân

Thị trường gạo trong nước đang có dấu hiệu sôi động trở lại khi nhiều nước trênthế giới như: Philippines, Maylaysia có nhu cầu nhập khẩu thêm gạo Nhiều doanhnghiệp chế biến gạo xuất khẩu trong nước đã ký mới thêm được hợp đồng nên bắtđầu đẩy mạnh thu mua lúa gạo nguyên liệu

Trang 18

Theo Bộ Công thương, Chính phủ Philippines dự kiến tăng lượng gạo nhập khẩulên 2 triệu tấn trong năm nay, còn Malaysia dự kiến sẽ mua thêm 150.000 tấn bổsung dự trữ Nhiều khách hàng ở châu Phi, Trung Quốc cũng đang tìm mua gạo ViệtNam do có giá “mềm'' hơn các nước khác Hiện giá gạo xuất khẩu loại 5% tấm củaViệt Nam đã tăng trở lại lên ở mức 410 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với cách nay 2tuần.

Trong khi đó, giá nhiều loại lúa gạo trong nước đang tăng trở lại ở mức 100 - 250đồng/kg so với hồi đầu tháng 6 Giá lúa dài vụ đông xuân hiện nay nông dân đangbán với giá 4.200 - 4.300 đồng/kg, lúa dài vụ hè thu 2009 giá 4.100 đồng/kg, tăngbình quân 50 - 100 đồng/kg so với tuần trước Còn mặt hàng gạo xô (nguyên liệu,loại 15%, 25% tấm): 5.200 - 5.300 đồng/kg, loại 5% tấm giá 5.400 đồng/kg, tăng 200đồng/kg so đầu tháng 6

Thời điểm đầu tháng 6, hai doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Đồng Tháp mua gạo xôgiá 5.530 đồng/kg (loại I), 5.200 đồng/kg (loại II), thì hiện nay một số doanh nghiệpmua gạo xô của nông dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp từ 6.100 - 6.300 đồng/kg (tùyloại) Thị trường lúa, gạo Đồng bằng sông Cửu Long còn xuất hiện thương nhânCampuchia sang mua gạo với giá từ 6.000 tới trên 7.000 đồng/kg (tùy loại)

Theo một số doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo ở Đồng bằng sông CửuLong, chỉ đạo chấm dứt việc giao chỉ tiêu xuất khẩu gạo hằng năm cho các địaphương của Thủ tướng Chính phủ có tác động tích cực tới thị trường lúa, gạo ở Đồngbằng sông Cửu Long

Nếu nhìn vào con số sẽ thấy rằng,việc sản xuất và xuất khẩu gạo năm 2010 khá

dễ dàng Đã có 2,65 triệu tấn gạo được ký hợp đồng với giá khá cao Năm nay có thểxuất khẩu 6 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 3- 3,2 tỷ USD, trong khi năm 2009 xuấtkhẩu 6 triệu tấn, chỉ đạt hơn 2,4 tỷ USD

Dự kiến vụ đông xuân 2009-2010 sẽ có 3 triệu tấn gạo hàng hóa (khoảng 6 triệutấn lúa) để xuất khẩu, cùng với lượng gạo tồn kho 1,5 triệu tấn từ cuối năm 2009,như vậy 6 tháng đầu năm 2010 có 4,5 triệu tấn gạo để xuất khẩu Vụ hè thu 2010 sẽ

Trang 19

có thêm 2 triệu tấn gạo hàng hóa, và lượng gạo hàng hóa vụ thu đông khoảng400.000 tấn.

Như vậy năm nay có khoảng 6,9 triệu tấn gạo hàng hóa Thị trường gạo thế giớinăm 2010 được đánh giá là thuận lợi cho quốc gia bán vì giá xuất khẩu tốt hơn

Philippine sẽ cho phép các công ty tư nhân nhập khẩu 163.000 tấn gạo trong

năm nay, đưa tổng khối lượng nhập khẩu của nước NK lớn nhất thế giới này năm

2010 lên kỷ lục 2,4 triệu tấn Năm vừa qua, lĩnh vực tư nhân Philippine đã mua200.000 tấn gạo Kỷ lục nhập khẩu gạo trước đây của Philippine là vào năm 2008,với 2,3 triệu tấn Bộ trưởng Nông nghiệp Philippine, Arthur Yap, cho biết Chính phủnước ông đã mua đủ gạo cho năm 2010, và nói rằng Manila sẽ rời khỏi thị trường từlúc này Theo Hiệp định tự do mậu dịch Asean (bao gồm Brunei, Cămpuchia,Indonesia, Philippines, Lào, Myanmar, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam),thuế nhập khẩu gạo vào Philippine giảm xuống 20% so với 40% trước đây, áp dụng

từ 1/1/2010

Việt Nam liên tiếp trúng thầu các hợp đồng xuất khẩu gạo lớn

B Nhóm điều kiện yêu cầu:

Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triểntrên thế giới, hàng năm trung bình các quốc gia đang phát triển sản xuất trên 90% sảnlượng gạo trên thế giới nhưng lại tiêu thụ khỏang 85% sản lượng gạo của thế giới Vìvậy gạo là lọai lương thực sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ tại chỗ, lượng gạo thương mạitrên thị trường thế giới chỉ khỏang 5%

Tình hình thương mại gạo trên thế giới bị chi phối bởi các yếu tố sau :

Đa số các nước trên thế giới đều trực tiếp tham gia họach định chính sách can thiệpvào sản xuất, xuất nhập khẩu lương thực và quốc gia nào cũng chú trọng xây dựngchính sách dự trữ quốc gia và chính sách bảo hộ nền nông nghiệp trong nước

Các nước lớn trên thế giới như : Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ… chi phối rất lớn đếntình hình thương mại lương thực quốc tế trong đó có mặt hàng gạo

Gạo là mặt hàng có tính chiến lược nên vấn đề thương mại mặt hàng này được thựchiện thông qua các hiệp định giữa các nhà nước với nhau

Trang 20

Tình hình sản xuất và thương mại mặt hàng gạo trên thế giới phụ thuộc vào tìnhhình thu họach của các quốc gia xuất khẩu gạo.

Phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện về khả năng thanh tóan của các quốc gia nhậpkhẩu gạo

Các nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới hiện nay là : Thailand, Việt Nam, Mỹ,Pakistan…

Các nước nhập khẩu gạo lớn nhất trên thế giới hiện nay là : Philippines, Nigieria,Indonesia, Irap…

Mỗi một quốc gia, thị trường có thị hiếu, nhu cầu không hòan tòan giống nhau vì vậynhà xuất khẩu cần phải nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu của thị trường

Thị truờng Châu Á : đa số các quốc gia đều tiêu thụ lọai gạo trắng, ít bạc bụng, độtấm ít và xay xát kỹ, Tại các quốc gia như Ấn Độ, Pakistan, ThaiLand thì lọai gạo cómùi thơm đặc trưng rất được ưa chuộng Việt Nam có rất nhiều giống lúa đáp ứngđược thị hiếu này của thị trường

Thị trường Châu Âu : thị trường này đòi hỏi rất cao về chất lượng, vì vậy các nhàxuất khẩu của Việt Nam gọi thị trường này là thị trường khó tính

Thị trường Trung Đông : lọai gạo hạt dài là lọai gạo mà thị trường này ưa chuộng,nhưng thị trường này có các tiêu chuẩn về độ lẫn tạp chất rất khắt khe

Thị trường Châu Mỹ : ưa chuộng lọai gạo hạt trắng, có hạt dài, xay xát kỹ, có mùithơm tự nhiên Thị trường này cũng rất khắt khe về chất lượng

Thị trường Châu Phi : thị trường này chủ yếu tiêu thụ lọai gạo trắng hạt dài Đây làthị trường gạo có phẩm cấp thấp do chủ yếu tình hình thu nhập của quốc gia

Thế giới dự báo sẽ có sự sụt giảm đáng kể về sản lượng gạo do hạn hán kéo dài cùngvới sự bất ổn về chính trị ở khu vực Trung Đông và Châu Phi Theo đó, sản lượnglúa toàn cầu trong năm nay có thể chỉ đạt 704,4 triệu tấn (khoảng 470 triệu tấn gạo),thấp hơn mức 710 triệu tấn so với dự báo trước đó Như thế, cầu về gạo sẽ tiếp tụctăng cao trong thời gian tới.Việt Nam là nơi cung cấp gạo lớn của thế giới, nhữngchính sách trong điều hành xuất khẩu gạo thời gian qua đã góp phần khiến giá gạotăng Đến thời điểm này, một số nước đang có nhu cầu nhập khẩu gạo lớn nhưIndonexia, Iran, Philippin, Bangladet và các nước châu Phi… Theo kế hoạch,trong

Trang 21

năm 2011, Philippin sẽ nhập khẩu khoảng 1,5 triệu tấn gạo từ Viêt Nam; Bangladettrong quý I/2011 cũng có nhu cầu nhập khẩu khoảng 300000 tấn gạo của Việt Nam,còn Indonexia cũng có nhu cầu nhập khẩu 200.000 tấn …Các nước khac là Iran, Irắcliên tục có nhu cầu nhập khẩu gạo từ Việt Nam.Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợicho việc mở rộng thị trường xuất khẩu gao của Việt Nam trên thế giới.

Philippines là quốc gia bao gồm hàng ngàn hòn đảo, trải dài khoảng 1.200 km, làmột nước có thể thuận lợi trong phát triển ngành nông nghiệp Tuy nhiên hàng nămquốc gia này phải hứng chịu hàng chục cơn bão lớn nhỏ từ biển đông đi qua Vì vậyhàng năm quốc gia này phải nhập khẩu một số lượng lớn gạo để đảm bảo an ninhlương thực trong nước.Việt Nam là nước có lượng gạo nhập vào Philippin là lớnnhất.Lý do được giải thích là do thị trường này chuộng loại gạo cấp thấp, giá rẻ và vìvậy hầu như Việt Nam trúng thầu hầu hết các gói thầu nhập khẩu gạo mà chính phủPhilippines mở thầu hàng năm Ví dụ như so với Thailand thì cùng một chủng loạigạo nhưng giá của Việt Nam thường thấp hơn so với Thailand từ 40 đến 50 USD/tấn

Thị trường lúa gạo trong nước cũng như thế giới đang hết sức sôi động donhu cầu tăng, dẫn đến giá lúa gạo cũng được cải thiện đáng kể Hiện trên 70% lượnggạo của Việt Nam tập trung chủ yếu vào một số thị trường trọng điểm nhưPhilippines, Malaysia, Irắc, Cuba Trong khi cơ cấu thị trường lại quyết định rất lớnđến chất lượng gạo và quyết định cả chuỗi giá trị lúa gạo từ sản xuất, chế biến đếntiêu thụ.Chính vì thế nó sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong việc đadạng hoá thị trường hoặc quay trở lại vùng nguyên liệu

Thương mại lúa gạo năm 2011 tuy thuộc vào 3 yếu tố: Tồn kho toàn cầu, giá dầu ảnhhưởng nguyên liệu đầu vào và chính sách của các nước xuất khẩu gạo, trong đó vấnđề dễ nhận thấy nhất hiện nay là tồn kho của các nước có nhu cầu nhập khẩu lươngthực đều ở mức thấp nên sẽ khuyến khích thương mại và tăng giá xuất khẩu.Trướcnhu cầu lương thực thế giới tăng ,VFA nhận định khả năng giá gạo sẽ conn tăng Từđó,cuối tháng 2/2011,VFA đã thong báo nâng mức giá sàn xuất khẩu gạo thêm20USD/tấn đối với gao5%tấn, lên520USD/tấn; gạo 25% tăng 10USD/tấn, lên490USD/tấn

Trang 22

C Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan:

1 Công nghệ bảo quản sau thu hoạch

Ngoài giống lúa, khâu thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch có ý nghĩa quantrọng vì cũng chi phối trực tiếp chất lượng gạo Chẳng hạn, nếu phơi và sấy lúakhông kịp thời, không đúng quy trình kỹ thuật sẽ làm hạt gạo ẩm vàng Nếu dự trữquá lâu và bảo quản gạo không tốt cũng sẽ làm biến chất gạo Tất cả những điều nàyđều khiến cho giá bán rẻ hơn, thậm chí không thể bán được ở những thị trường khótính đòi hỏi chất lượng nghiêm ngặt Hoặc có bán được ở những thị trường khác,chúng ta sẽ bị bên mua chèn ép giá hay đưa ra các điều kiện bất lợi cho ta như trảchậm, mua chịu

Hiện nay, công nghệ sau thu hoạch ở Việt Nam vẫn chưa được đầu tư đúngmức Việc thu hoạch lúa chủ yếu vẫn được tiến hành thủ công Khâu phơi sấy vẫndựa chủ yếu vào thời tiết, nắng tự nhiên, chưa có thiết bị thu hoạch và phơi sấy.Trong cả nước 90% nông hộ có sân phơi, nhưng ở Đồng bằng Sông Cửu Long chỉcó 76% nông hộ có sân phơi Trong số đó, khoảng 60% nông hộ có sân xi măng hoặcgạch Do thiếu sân phơi, nông dân thường phơi ở đường giao thông,do đó tỷ lệ gãycao và lẫn sạn nhiều Mặt khác, vụ hè thu ở Nam Bộ thu hoạch vào mùa mưa, nênkhông có điều kiện phơi nắng, gạo dễ bị ẩm mốc và giảm chất lượng Trong khâubảo quản, hiện còn quá ít các phương tiện phòng chống vi sinh vật gây hại như nấmmốc, chuột bọ Những hạn chế này vừa giải thích lí do tại sao chất lượng gạo củaViệt Nam thường thua kém các nước khác, vừa cho thấy tổn thất về số lượng docông nghệ lạc hậu mang lại

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), là vựa lúa trọng điểm của cả nước, sản xuất vàcung ứng hơn 20 triệu tấn lúa/năm, góp phần đưa hạt gạo Việt Nam có mặt ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, mối bận tâm của người trồng lúa lẫn ngành chức năng là vấn đềcải tiến công nghệ bảo quản sau thu hoạch (BQSTH) như thế nào để góp phần nâng cao chất lượng hạt gạo Trên thực tế, vấn đề này đang gặp không ít khó khăn, vướng mắc, thậm chí là chưa đúng quy trình

Khâu BQSTH lúa, gạo của chúng ta hiện nay đang đi theo quy trình ngược Đây là nhận định của không ít các nhà khoa học, cán bộ đầu ngành về lĩnh vực công nghệ

Trang 23

sau thu hoạch Do thói quen sản xuất và thiếu phương tiện, nên các công đoạn bảo quản hiện nay không được thực hiện theo đúng quy trình Đường đi của hạt lúa, hạt gạo lòng vòng Nó phải trải qua nhiều công đoạn trong những điều kiện môi trường và thời tiết khác nhau, làm giảm chất lượng của hạt gạo chế biến

Theo TS Phạm Văn Tấn - Phó Giám đốc Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, nếu chúng ta xay xát rồi mà chúng ta bảo quản gạo, hạt gạo dễ hút ẩm môi trường hơn so với hạt lúa Thứ hai, nếu bảo quản trên 3 tháng, hạt gạo dễ

bị biến màu vàng Lúa thì độ ẩm 14% bảo quản 3 tháng, thậm chí 6 tháng không bị dính màu vàng Bảo quản gạo, sấy gạo là không phù hợp so với bảo quản lúa và sấy lúa

Lâu nay, chúng ta vẫn đang duy trì một "quy trình ngược" bất hợp lý của các công đoạn BQSTH, đó là: thu hoạch - làm khô sơ bộ - xát nứt lúa với độ ẩm cao ở một địađiểm - vận chuyển (chứa tạm từ 1-7 ngày) - xát trắng - lau bóng ở một địa điểm khác

- sấy gạo đến độ ẩm 14% - bảo quản tạm gạo trắng (dưới 3 tháng) chờ tiêu thụ

Ngoài những nhược điểm gây tổn thất sau thu hoạch lúa gạo cả về chất lẫn về lượng

do làm khô sơ bộ cho lúa không đạt yêu cầu và xay xát lúa tại độ ẩm cao; do quá trình rơi vãi, do chuột và sâu bọ…

Rõ ràng thay vì sấy và bảo quản lúa bằng những công nghệ tốt thì quy trình này lại sấy và bảo quản gạo Bảo quản gạo dù có giảm được về thể tích và khối lượng, chi phí bảo quản thấp hơn, nhưng thực tế, gạo trắng có tuổi thọ ngắn hơn lúa Đó là chưa

kể các yếu tố khác, gây ảnh hưởng đến chất lượng hạt gạo

TS Lê Văn Bảnh - Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho biết: "Chúng ta bỏ công sức rất nhiều trước khi thu hoạch Nghĩa là chúng ta trồng, chăm sóc, thu hoạch, chúng talàm rất kỹ, rất tốt Nhưng cái khâu sau thu hoạch còn nhiều vấn đề, gây thất thoát lớn Thu hoạch không đúng thời điểm thôi, thu hoạch trễ, sớm, cũng gây rạn nứt, xaychà dễ bị hư vỡ"

Rõ ràng, công nghệ làm khô hoặc bảo quản lúa hay chế biến gạo lạc hậu sẽ làm giảmnghiêm trọng chất lượng của hạt gạo thành phẩm Thêm vào đó, sự xáo trộn về thứ

Ngày đăng: 02/07/2014, 08:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : Kim ngạch gạo xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2010 - Phân tích lợi thế cạnh tranh của sản phẩm gạo việt nam xuất khẩu sang thị trường philipines
ng Kim ngạch gạo xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2010 (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w