Biến chứng: Rối loạn và tổn thương cơ bản nhất của SRĐHCT là một tình trạng tan máu cấp diễn dẫn tới thiếu oxy các phủ tạng như thận, não, gan, tim.. - Suy thận cấp: là biến chứng phổ b
Trang 1Sốt rét đái huyết cầu tố
(Kỳ 2)
4 Biến chứng, tiên lượng, tử vong:
4.1 Biến chứng:
Rối loạn và tổn thương cơ bản nhất của SRĐHCT là một tình trạng tan máu cấp diễn dẫn tới thiếu oxy các phủ tạng như thận, não, gan, tim
- Suy thận cấp: là biến chứng phổ biến và nguy hiểm nhất, có thể xuất hiện
sớm từ đầu, thường là suy thận cấp chức năng do thiếu hụt nước, với hematocrit
cao, đái ít, nhưng độ thanh thải ure,creatinin, Na+ vẫn bình thường; loại này
thường nhẹ Từ ngày thứ 4 trở đi, suy thận cấp nhiều khả năng là thực thể do hoại
tử ống thận: thiểu vô niệu khoảng 30-100ml/24 giờ, ure máu tăng > 7,3 mmol/l, ure niệu thấp hơn bình thường <250mmol/24 giờ, độ thải thải creatinin giảm, K+ tăng hơn 5mmol/l
Bệnh nhân chuyển dần vào tình trạng nhiễm toàn chuyển hoá (thở kiểu Kussmault, Cheynes Stokes), nhiễm độc ure (phân có máu, đồng tử nhỏ, nôn oẹ,
Trang 2u ám, hôn mê), tăng K + huyết (bụng chướng, liệt ruột, huyết áp thấp, điện tim có
sóng T cao nhọn đối xứng, QRS rộng, mất P ), đe doạ ngừng tim
- Truỵ tim mạch, suy tuần hoàn: huyết áp tụt và mạch nhanh cũng là một biến chứng hay gặp, huyết áp tụt vào giai đoạn muộn do suy thận cấp thực thể và tăng K+ trong máu, hoặc do suy cơ tim vì thiếu oxy cơ tim, có trường hợp ngừng tim đột ngột do tăng K+ máu
- Rối loạn ý thức, hội chứng não cấp: một số bệnh nhân SRĐHCT (14%) đi dần vào tình trạng lơ mơ, u ám, nói lảm nhảm, thậm chí hôn mê co giật do một trong hai căn nguyên sau: do tan huyết dữ dội gây thiếu oxy não (8,4%), hoặc do
là một hôn mê tăng ure huyết (5,6%)
- Biến chứng ở gan mật: lẻ tẻ có một vài bệnh nhân SRĐHCT tuy đã hết sốt, dứt cơn tan huyết, nước tiểu đã hết huyết cầu tố, nhưng tình trạng xấu dần, vàng da ngày một tăng, bilirubin máu tiếp tục cao - men SGOT và SGPT tăng cao, bệnh nhân có bệnh cảnh một suy gan cấp do hoại tử nhu mô gan cấp diễn, hoặc bệnh cảnh một tắc mật vì sạn sỏi mật với túi mật có khi căng
4.2 Tiên lượng:
- Loại SRĐHCT “tự phát” phát sinh phát triển từ căn bệnh SR, thường diễn biến nặng hơn so với loại SRĐHCT do nguyên nhân thuốc SR
- Tiên lượng:
Trang 3• Tình trạng vật vã, xao xuyến, mạch nhanh nhỏ, thở gấp, huyết áp không
ổn định và dao động là một biểu hiện nặng
• Số lượng hồng cầu cũng có ý nghĩa tiên lượng, nhưng khoảng cách tụt hồng cầu nhiều hay ít so với lúc trước khi phát bệnh có giá trị tiên lượng quan trọng hơn
• Cơn sốt rét và cơn tan máu nhắc lại hàng ngày là một dấu hiệu nặng
• Nôn và vã mồ hôi nhiều cũng là những dấu hiệu dễ có nguy cơ nặng
• Số lượng nước tiểu dưới 20ml/1 giờ, ure và creatinin máu tăng dần ure niệu và Na+ niệu thấp dưới bình thường, K+ máu tăng, là những biểu hiện bệnh nhân đã chuyển vào suy thận cấp thực thể, tiên lượng nặng
- Phân loại theo tiên lượng:
Dấu
hiệu
Vừa Nặng Rất nặng
Tâm
thần kinh
vã, lo âu, hốt hoảng
U ám hoàng hôn
Trang 4Hô hấp,
tuần hoàn
100 thở hơi gấp, HA giao động
Mạch > 100, nhỏ, thở gấp, nhanh nông, HA tụt
nôn ít
lỏng, bụng chướng, nấc
2T-3T
Hồng cầu 1-2T khoảng cách tụt HC lớn
HC < 1T khoảng cách tụt HC lớn
Nước
tiểu
nhạt
<500 ml/24giờ, nâu sẫm
<
đen
Cơn sốt
và cơn huyết
tán
Cơn sốt 38°
Rét nhẹ
1-2 cơn huyết
Sốt cao 39-40°
Rét run
3-4 cơn huyết
Sốt cao 39-40°
Rét run nhiều ngày, từ 5 cơn huyết
Trang 5tán tán tán trở lên
Vàng da
Bilirubin
máu
Ure máu
Nhẹ
£ 85 mmol/lít
7-17 mmol/lít
Vừa
> 85 - 170 mmol/lít
>17-50 mmol/lít
Đậm
mmol/lít
mmol/lít
4.3 Tử vong:
Tử vong vì SRĐHCT trung bình là 10-15% Nguyên nhân trực tiếp tử vong thường là:
- Suy thận cấp dẫn tới đạm huyết cao, K+ máu cao, và ngừng tim
- Hôn mê co giật do thiếu oxy não hoặc do đạm huyết cao, suy thở,
- Truỵ tim mạch, tụt huyết áp do rối loạn nước điện giải, sốc “tan huyết”, hoặc do suy cơ tim vì thiếu oxy, hay tăng K+ máu
Suy thận cấp là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất