1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch

42 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trà
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế đầu tư
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 372 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày 07/11/2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chứcThương Mại thế giới kết thúc 11 năm đàm phán gia nhập.Thế và vận mới chonền kinh tế chúng ta Nhiều thử thách và thuận lợi cho mục tiêu phát triển đấtnước

Việt Nam đã và đang có thể có đủ điều kiện để tổ chức các cuộc hội nghịquốc tế mang tầm cỡ thế giới với một cơ sở hạ tầng du lịch đạt tiêu chuẩn, nhiềukhách sạn đã đón tiếp thành công các đoàn quốc tế, nhiều khu du lịch đã làm hàilong khách du lịch nước ngoài.Hội nghị cấp cao APEC năm 2006 là một bằngchứng

Mặc dù vậy, ngành du lịch Việt Nam đang còn nhiều hạn chế Trong bốicảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, năng lực cạnh tranh của ngành du lịch ViệtNam cần cải thiện về mọi mặt, có như thế chúng ta mơí không bị bỏ lại quá xavới thế giới và đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế.Bên cạnh đó chúng ta phảiđối mặt với một môi trường đầu tư chưa thực sự hoàn thiện, các cơ chế chínhsách, quy hoạch còn nhiều bất cập không những thế còn làm tính hấp dẫn bịgiảm đi đáng kể trong con mắt của nhà đầu tư

Bài viết xin được đề cập đến thực trạng đầu tư vào ngành du lịch và xinđưa ra những giải pháp mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay nhằm phầnnào giải quyết những hạn chế của các mặt tồn tại.Mặc dù đây chưa hẳn là nhữnggiải pháp tốt nhưng có thể vẫn mang tính thời sự trong quá trình thu hút vốn đầutư

Đề tài”Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch”

còn có nhiều thiếu sót do kiến thức còn hạn chế, kính mong thầy cô góp ý để em

có kinh nghiệm và kiến thức cho bài viết sau

Trang 2

Chương I: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào

ngành du lịch Việt Nam

I Khái quát chung về ngành du lịch Việt Nam

1 Khái niệm,vai trò của ngành du lịch

1.1 Khái niệm

Về khái niệm du lịch trên, thế giới nhiều học giả đưa ra nhiều khái niệmkhác nhau bởi đi từ những góc độ tiếp cận du lịch khác nhau Định nghĩa củaMichael Coltman (người Mỹ) đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn về du lịch:”

Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ

du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng, dịch vụ du lịch, cư dân sở tại vàchính quyền nơi đón khách du lịch”.Có thể thể hiện quan hệ đó bằng sơ đồ sau:

Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở OTAWA Canadadiễn ra vào tháng 6 năm 1991:” Du lịch là hoạt động của con người đi tới 1 nơingoài môi trường thường xuyên ( nơi ở thường xuyên của mình) trong mộtkhoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy địnhtrước, mục đích của chuyến đi không phải là tiến hành các hoạt động kiếm tiềntrong phạm vi vùng tới thăm”

Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch,khoa du lịch và khách sạn trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội đã đưa rađịnh nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịchtrên thế giới và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây:” Du lịch là một

Dân cư sở tại

Chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch

Trang 3

ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất,trao đổi hang hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhucầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu kháccủa du lịch.Các hoạt động nó phải đem lại lợi ích Kinh tế, chính trị, xã hội thiếtthực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp.

Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ “ du lịch”được hiểu như sau:” Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thườngxuyên của mình nhằm thoã mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trongmột thời gian nhất định

Như vậy du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù gồm nhiều thành phầntham gia, tạo thành tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặcđiểm của đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hoá xã hội

Trên thực tế hoạt động du lịch ở ngoài nước không những đã đem lại lợiích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội…Ở nhiều nước trên thếgiới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tếmũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếmmột tỷ trọng lớn trong nền kinh tế xã hội

1.2.Vai trò của ngành du lịch

Xét về mặt kinh tế du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo thu nhậpquốc dân ( sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở sảnxuất kỹ thuật …vv…), làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội , tác động tíchcực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thong qua thu ngoại tệ, đóng góp vaitrò to lớn trong việc câm bằng các cân thanh toán quốc tế.Cùng với hàng khôngdân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc tế, chuyển giao công nghệ

và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hang năm đem lại cho các quốcgia nhiều ngoại tệ Đây là tác động trực tiếp nhất của du lịch đối với nền kinh tế,nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã thu hang tỷ USD mỗi năm thongqua việc phát triển du lịch

Trang 4

Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa cácvùng.Hay nói một cách khác du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấutrúc của thu nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng ( thường thì các vùngphát triển mạnh du lịch lại là những vùng kém sản xuất ra của cải vật chất dẫnđến thu nhập của người dân tại những vùng đó từ sản xuất là thấp

Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất Tính hiệu quả trongkinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ du lịch là một ngành “ xuất khẩu tạichỗ” những hang hoá công nghiệp, hang tiêu dung, thủ công mỹ nghệ, đồ cổphục chế, nông lâm sản…vv…theo giá bán lẻ cao hơn ( nếu như bán qua xuấtkhẩu sẽ theo giá bân buôn) Được trao đổi thông qua con đường du lịch, cáchang hoá được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốctế

Du lịch không chỉ là ngành “ xuất khẩu tại chỗ “ mà còn là ngành “ xuấtkhẩu vô hình” hang hoá dịch vụ Đó là các cảnh quan thiên nhiên khí hậu vàánh nắng mặt trời vùng nhiệt đới, những giá trị của những di tích lịch sử - vănhoá, tính độc đáo trong truyền thống phong tục, tập quán vv…mà không bị mất

đi qua mỗi lần bán, thậm chí giá trị và uy tín của nó còn được tăng lên sau mỗilần đưa ra thị trường, nếu như chất lượng phục vụ du lịch cao

Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư đầu tư nước ngoài.Do giá trịngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội và trong sốngười có việc làm nên du lịch là một ngành kinh doanh hấp dẫn so với nhiềungành kinh tế khác

Du lịch là cầu nối giao lưu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với chính sách mởcửa của Đảng và nhà nước Trong kinh doanh du lịch quốc tế khách du lịch cóthể là thương nhân Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với tăng lượng khách phục

vụ, trong đó sự đi lại, tìm hiểu thị trường của khách thương nhân được chútrọng Từ đó, du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán quốc tế vv…Trong điều kiện lạchậu nghèo nàn, thiếu vốn đầu tư, sự cần thiết hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam

Trang 5

điều đó có ý nghĩa to lớn Bản than hoạt động kinh doanh du lịch cũng phát triểntheo hướng quốc tế hoá vì khách du lịch cũng đến nhiều nước trong một chuyến

đi du lịch dài ngày.Hình thức lien doanh lien kết ở phạm vi quốc tế trong kinhdoanh du lịch là phương thức kinh doanh đem lại lợi nhuận kinh tế cao.Hoạtđộng kinh doanh du lịch với lợi nhuận kinh tế cao đến lượt nó kích thích đầu tưnước ngoài vào du lịch và tăng cường chính sách mỏ cửa

Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạnglưới giao thong công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thong tin đạichúng vv… ĐẶc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện và nhucầu đi lại, vận chuyển thong tin lien lạc …vv… của khách du lịch cũng nhưnhững điều kiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động trên các ngànhnày phát triển

Về mặt xã hội du lịch góp ohần giải quyết công ăn việc làm cho ngườidân Theo như thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làmquan trọng Tổng số lao dộng trong các hoạt động lien quan đến du lịch chiếm10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra được một việc làmmới , đến năm 2005 cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành du lịch sovới tỷ lệ hiện nay là 1/9

Du lịch làm giảm quá trình đô thị hoá ở các nước kinh tế phát triển Thông thường tài nguyên du lịch thiên nhiên thường có nhiều ở những vùng núi

xa xôi, vùng ven biển hay nhiều vùng hẻo lánh khác Việc khai thác đưa nhữngtài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phải có đầu tư về mọi mặt giao thông, bưuđiện, kinh tế, văn hoá, xã hội, … Do vậy việc phát triển làm thay đổi bộ mặtkinh tế xã hội của những vùng đó và cũng vì vậy góp phần làm giảm sự tậptrung dân cư căng thẳng ở những trung tâm dân cư

Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho các thànhtựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục tậpquán ….vv

Trang 6

Du lịch làm tăng tình đoàn kết hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết của nhândân giữa các vùng với nhau và của nhân dân các quốc gia với nhau.

2.Nội dung đầu tư vào du lịch

2.1 Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật

Để phục vụ tốt mục đích kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi loạihình kinh doanh đều phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định.Cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch cũng cần được đáp ứng được những tiêu chuẩn được quy địnhbởi đặc trưng của lĩnh vực kinh doanh du lịch.Đó là đáp ứng đầy đủ nhất nhữngnhu cầu hết sức đa dạng và phong phú của du khách Với đặc trưng đó, hệ thống

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản đó là: mức

độ tiện nghi, mức độ thẩm mỹ, mức độ vệ sinh, mức độ an toàn Để đáp ứng cácmục tiêu này có thể đầu tư theo mấy xu hướng:

Xu hướng đa dạng hoá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.Xu hướng này xuấtphát từ sự phát triển đa dạng phong phú của nhu cầu du lịch Khách du lịchthuộc nhiều quốc gia khác nhau, độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau, nên họ

có đặc điểm tâm lý khác nhau, khả năng thanh toán khác nhau … Do vậy dịch

vụ cung cấp cho họ không giống nhau Chính vì vây cơ sở vật chất kỹ thuật, tiệnnghi phục vụ cũng rất đa dạng, phong phú.Chẳng hạn trong một chuyến du lịch

có thể chỉ sử dụng nhiều loại hình phương tiện, có thể ở trong khách sạn hiện đạicũng có thể ở trong khách sạn bình dân, thậm chí có thể ngủ ở thuyền lênh đênhtrên song nước.Xu hướng đa dạng hoá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là nhằmtạo ra các dịch vụ thoã mãn nhu cầu đa dạng của khách song nó cũng là điềukiện để huy động mọi nguồn lực trong dân cư để phát triển du lịch

Xu hướng hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.Xu hướng này xuấtphát từ nhu cầu du lịch của con người ngày càng đòi hỏi chất lượng dịch vụ caohơn, tiện nghi hơn.Xu hướng hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là nột

xu hướng tất yếu khách quan phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 7

xã hội.bên cạnh việc xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại thì việc cảitạo, nâng cấp các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch sẵn có cũng nhằm hiện đại hoáchúng.

Xu hướng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch kết hợp giữa hiênj đại

và truyền thống.Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tính chất toàn cầu của

du lịch thì chất lượng dịch vụ du lịch đòi hỏi phải đáp ứng nhu cầu của khách dukhách không chỉ du khách trong nước mà cả du khách quốc tế.Phát triển du lịchtheo hướng này sẽ không chỉ nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch mà còn gópphần tích cực vào việc giữ gìn nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc

Xu hướng xay dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hài hoà với tựnhiên.Bên cạnh đòi hỏi phải thoã mãn nhu cầu bằng sự thuận tiện bởi những tiệnnghi hiện đại độc đáo tì trong chuyến hành trình du lịch khách du lịch bao giờcũng được hưởng thụ một môi trường trong lành, được hoà mình trong khungcảnh thiên nhiên tươi đẹp để thư gian tinh thần và thể xác.Chính vì vậy một xuhướng phát triển du lịch hiện nay là người ta xây dựng các khu nghỉ dưỡng, khugiải trí, khách sạn, nhà nghỉ, nhà hang có đầy đủ tiện nghi bên cạnh những consông, những hồ, những bãi biển đẹp hoặc trong rừng cây rậm rạp và ở những nơinhiều ao hồ, những núi non, những rừng cây đó không phải là tự nhiên mà lànhân tạo Từ đó hình thành những khu du lịch, giải trí rộng lớn và người ta gọi

đó là công viên “văn hoá du lịch”

2.2 Đầu tư vào nguồn nhân lực

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng sợ thành công của bất kỳ lĩnh vựckinh doanh hay một tổ chức kinh tế xã hội nào đểu phụ thuộc trước hết vào yếu

tố con người – con người ở đây được đánh gía theo tiêu chuẩn: sự hiểu biết về lýthuyết và kỹ năng làm việc mà mỗi người có được, phẩm chất đạo đức, và sứckhoẻ của người đó Sự hiểu biết và kỹ năng của lao động có được là nhờ quátrình đào tạo – đào tạo có thể là dài hạn, có thể là ngắn hạn, lien tục hay giánđoạn.Như chúng ta đã biết du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ có vai trò to lớn

Trang 8

trong nhiều mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, và môi trường vì đối tượngphục vụ của lao động du lịch là con người.- con người ở đây không chỉ bó hẹptrong phạm vi một nước, một vùng… mà còn là khách du lịch quốc tế.Mỗikhách du lịch lại có nhu cầu khác nhau, trình độ khác nhau, sự hiểu biết khácnhau, người có trình độ cao, người có trình độ thấp và các nền văn hoá khácnhau đến du lịch ở nước sở tại Nếu các doanh nghiệp sử dụng lao động giảnđơn nhiều mà thiếu lao động được đào tạo thì trên phạm vi quốc gia chất lượngkhông được đảm bảo, khách du lịch sẽ không thoả mãn được các nhu cầu củamình.Bởi vậy để đáp ứng yêu cầu nhân lực của du lịch phải có chiến lược đàotạo nhân lực một cách hợp lý.Với ý nghĩa đó đào tạo nhân lực trong ngành dulịch cần những nội dung:

Thứ nhất: dự báo nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lao động Để nâng cao hiệuquả đào tạo nhân lực du lịch, việc nắm bắt nhu cầu đầo tạo đầy đủ là rất cầnthiết.Nó là cơ sở đầu tiên để các cơ sở đào tạo có thể xây dựng được mục tiêu vàchương trình đào tạo

Thứ hai: Định hướng cơ cấu đào tạo hợp lý cho các nghề kinh doanhtrong du lịch: Nội dung này xuất phát từ đặc điểm của lao động trong du lịch cónhiều khác biệt hơn các ngành nghề khác.Cơ cấu đào tạo phải cần phải chú trọngđào tạo từ nhân viên phục vụ đến cán bộ quản lý đảm bảo sự cân bằng của cungcầu lao động

Thứ ba: Thông nhất chuẩn hoá, giám sát việc xây dựng chương trình nộidung đào tạo Chuẩn hoá việc xây dựng chương trình đào tạo là một trong nhữngnội dung quan trọng nhất trong công tác quản lý quá trình đào tạo.Do mỗi nghề

có một kỹ năng nhất định và mang tính đặc trưng riêng của mỗi nghề, chức năngnhiệm vụ của từng loại lao động để từ đó làm căn cứ xây dựng chương trình đàotạo

Thứ tư: Đầu tư xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo và xác địn hình thứcđào tạo.Xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo có thể phụ thuộc vào tiềm năng du

Trang 9

lịch của đất nước, cũng như phân vùng du lịch.Nhà nước có thể thành lập nhữngtrường nghiệp vụ du lịch hoặc dạy nghề ở các vùng có tiềm năng du lịch và cáckhu du lịch trọng điểm Các loại hình đào tạo phải được xác định nằm trong hệthống gíao dục đào tạo quốc dân, phải xác định rõ mục tiêu đào tạo và coi đàotạo lao động trong llĩnh vưvj này là hình thức đặc biệt.

2.3 Đầu tư vào quảng bá xúc tiến du lịch

Có thể nói đây là một nội dung rất mới so với các lĩnh vực khác mà chỉriêng có ở ngành du lịch Bởi vì để có doanh thu thì khu du lịch phải quảng báhình ảnh của mình, doanh thu của ngành dựa vào số lượng du khách là chủ yếuchính họ là sức sống của ngành, vì vậy phải đánh vào thị hiếu, nhu cầu của họ,cho họ biết đến mình có như thế mới thu hút được khách du lịch Đầu tư vàolĩnh vực này phải dựa vào các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí,truyền hình, phát thanh từ trung ương đến địa phương …Bên cạnh đó cũng phảiđầu tư vào việc tổ chức các cuộc triển lãm, các hội chợ du lịch, tham gia các hộichợ quốc tế hay việc in ấn tạp chí, sách, tờ rơi, internet…Việt Nam đã có quantâm đến lĩnh vực này nhưng nhìn chung còn rất ít và đầu tư chưa thật hiệuquả.Ví dụ: Thái lan chi phí cho quảng bá du lịch là 60 triệu USD, Singapore là

80 triệu USD còn Việt Nam chỉ khoảng 100000 USD một con số chưa thoả đángvới tiềm năng của chúng ta đang có.Việt Nam chúng ta kinh nghiệm làm du lịchchưa thật nhiều, chúng ta đang phải vừa làm vừa học hỏi, vì vậy đầu tư choquảng bá, xúc tiến du lịch là một hành động làm cho thế giới biết đến chúng tanhiều hơn, hình ảnh của Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế sẽ được cảithiện Đầu tư vào công tác tuyên truyền quảng bá về các khu du lịch là vấn đề tấtyếu, khách quan và là vấn đề của mọi ngành du lịch trên thế giới

2.4 Đầu tư vào cải thiện môi trường tự nhiên

Cũng như vấn đề quảng bá du lịch, cải thiện môi trường tự nhiên là mộtvấn đề mang tính cá biệt Môi trường du lịch là sự tổng hoà của rất nhiều thành

Trang 10

phần như đất nước, không khí, âm thanh, ánh sang, hệ sinh thái trong đó có cảnhquan môi trường Đối với hoạt động du lịch cảnh quan môi trường có ý nghĩaquan trọng nhất,Một khu du lịch có cảnh quan đẹp sẽ thu hút được nhiều khách

du lịch từ khi mới đi vào hoạt động, chúng ta phải biết đầu tư một cách hợp lý

và hiệu quả trog khâu đầu tiên này.Và trong suốt quá trình hạot động chúng taphải luôn tích cực đầu tư và bảo vệ môi trường để nó không mất đi vẻ ban đầu

và ấn tượng trong du khách Để bảo vệ cảnh quan môi trường cần nhận thứcđược đầy đủ các yếu tố hình thành và tác động lên cảnh quan môi trường, đầu tưcho môi trường trước hết chúng ta phải xây dựng những hạng mục công trìnhkiến trúc mang tính nhân tạo như những tác phẩm nghệ thuật, hồ bơi, núi đồinhân tạo,… tạo ra sư gần gũi thiên nhiên trong khu du lịc, ngoài ra phải đầu tưphát triển các cảnh quan tự nhiên để làm sao nó không mất đi dáng vẻ tự nhiênban đầu Đây là một quá trình lâu dài và lien tục vì cảnh quan sẽ luôn bị bàomòn và phá huỷ bởi môi trường cũng như do sự tác động của con người làm suygiảm tính hấp dẫn của nó Chúng ta phải vừa khai thác vừa phục hồi Đặc bịêtmột vấn đề quan trọng là phải đầu tư vào môi trường sinh hoạt hằng ngày nhưmôi trường nước, ánh sang, phải xử lý chất thải khí ra môi trường vì nó khôngnhững thể hiện sự phát triển bền vững mà còn thể hiện trách nhiệm đối với xãhội, nâng cao hình ảnh của khu du lịch trong con mắt của khách du lịch Đầu tưcho môi trường khu du lịch không chỉ mang tính hiện tại mà còn thể hiện sựphát triển trong tương lai

II Thực trạng thu hút đầu tư vào phát triển ngành du lịch Việt Nam giai đoạn (2003-2007).

1 Thực trạng ngành du lịch Việt Nam

1.1 Tình hình đầu tư vào sản phẩm du lịch ở Việt Nam

Căn cứ đặc điểm tài nguyên du lịch - yếu tố quan trọng quyết định đối vớiphát triển sản phẩm du lịch – và các điều kiện có liên quan, chiến lược phát triển

Trang 11

du lịch Việt Nam đã xác định định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thùcho từng vùng du lịch.

+Vùng du lịch Bắc Bộ ( bao gồm các tỉnh từ Hà Giang đến Hà Tĩnh vớithủ đo Hà Nội là trung tâm của vùng và tam giac động lực tăng trưởng du lich

Hà Nội _ Hải Phòng_Hạ Long): sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịchvăn hoá trên nền văn minh lúa nước, du lịch sinh thái kết hợp với tham quan,nghiên cứu và nghỉ dưỡng

+Vùng du lịch Bắc Trung Bộ ( gồm các tỉnh từ Quảng Bình đến QuảngNgãi với Huế và Đà Nẵng là trung tâm đồng vị của vùng và địa bàn động lựctăng trưởng du lịch Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam ) : sản phẩm dulịch đặc thù của vùng là du lịch thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển, tham quancác di tích lịch sử văn hoá và cách mạng, đặc biệt là các di sản văn hoá thế giới,

du lịch hang động và du lịch quá cảnh qua hành lang Đông Tây

+Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ ( bao gồm các tỉnh từ kon Tumđến Cà Mau với hai Á vùng Nam Trung bộ và Nam Bộ.Trung tâm của vùng làTP.Hồ Chí Minh và các tam giác tăng trưởng du lịch là: TP Hồ Chí Minh _ NhaTrang _Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh _ Cần Thơ_ Hà Tiên_ Phú Quốc): các sảnphẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch tham quan, nghi dưỡng biển và núi, dulịch sông nước, du lịch sinh thái đồng bằng sông Cửu Long

Mặc dù đã có được định hướng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịchđặc thù theo vùng miền nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh của du lịchViêt Nam trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế, tuy nhiên trong thực

tế việc phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam thời gian qua còn có nhiều bấtcập đó là:

Đầu tư vào phát triển sản phẩm nhưng thiếu chú trọng đầu tư vào nhữngnghiên cứu cần thiết nhằm xác định cụ thể tính hấp dẫn, độc đáo, duy nhất,nguyên bản, và đại diện của tài nguyên du lịch Đây là nguyên nhân cơ bản củatình trạng cho đến nay Du lịch Việt Nam thiếu những sản phẩm du lịch đặc thù ở

Trang 12

các cấp độ đặc biệt ở cấp quốc gia, để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.

Đầu tư vào phát triển sản phẩm với mục tiêu kinh doanh ngắn hạn: nhằmgiảm chi phí và tăng thu nhiều công ty du lịch thay vì phải tiến hành điều trakhảo sát xây dựng chương trình tour, đánh gía cung-cầu, … để xây dựng sảnphẩm du lịch đã tiến hành việc sao chép sản phẩm du lịch của công ty khác Đây

là tình trạng khá phổ biến trong phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam hịênnay Kết quả điều tra về sản phẩm du lịch ở Hạ Long, Sa Pa, Tam Cốc_ BíchĐộng …của các công ty lữ hành Hà Nội trong khuông khổ đề tài KHCN độc lậpcấp nhà nước “ cơ sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam “đãxác định có tới trên 70% số sản phẩm du lichj được quảng bá là trùng lặp.Tìnhtrạng này cũng phổ biến đối với việc xây dựng các “khách sạn – resort “ tại cáckhu du lịch khá nổi tiếng như Phan Thiết _ Mũi Né (Bình Thuận), PhúQuốc(Kiên Giang)…

Đầu tư phát triển sản phẩm du lịch nhưng thiếu tính sáng tạo, đầy rậpkhuôn, máy móc: với quan niệm cần học hỏi “để rút ngắn thời gian và chi phícho việc phát triển sản phẩm du lịch nhiều nhà đầu tư đã sao chép gần như toàn

bộ mô hình những khu những điểm mà mình có điều kiện tham quan, khảo sát,

mà thiếu cân nhắc khi áp dụng trong những điều kiện không phù hợp về tự nhiênvăn hoá xã hội cũng như quan hệ cung cầu Đây là tình trạng khá phổ biến trongphát triển sản phẩm du lịch như “ công viên nước” , khu du lịch biển …chính vì

sự trùng lặp này sẽ làm giảm sức hấp dẫn du lịch chung của cả lãnh thổ

`Đầu tư vào phát triển du lịch còn nhiều bất cập cùng với sự thiếu bóngcủa những sản phẩm du lịch đặc thù đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnhtranh, tính hấp dẫn của từng vùng miền nói riêng và Việt Nam nói chung

1.2.Tình hình về nguồn nhân lực trong ngành du lịch

Việt Nam đã và đang mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, mới đâynhất là sự kiện gia nhập WTO.Sự phân công lao động quốc tế trong du lịch sẽ cócấu trúc, quy mô và cơ chế vận hành mới Quá trình phát triển lĩnh vực du lịch

Trang 13

sẽ diễn ra nhanh chóng, tạo ra và dựa trên những lực lượng sản xuất và lợi thếphát triển mới do kinh tế tri thức mang lại Chỉ có bắt kịp sự thay đổi tương quanlực lượng trên quy mô toàn cầu, sự thay đổi nhanh chóng về lợi thế so sánh vàchinh sách phát triển của các công ty đa quốc gia, hoạt động du lịch mới có thểthành công được và mới phục vụ tốt sự nghiệp hội nhập quốc tế chung của cảnước.

Trong bối cảnh mới đó, nhằm thực hiện nhiệm vụ mà Đại hội X của Đảng

đã nhấn mạnh:” Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đadạng hoá sản phẩm và loại hình du lịch” và chủ trương nêu ra từ Đại hội IXlà”phát triển du lịch thực sự trơe thành ngành kinh tế mũi nhọn” cần phát triển

du lịch với quy mô lớn, tốc độ nhanh và bền vững hơ, chất lượng và hiệu quảcao hơn, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách về phát triển du lịch với cac nướcđứng đầu khu vực, góp phần thiết thực để sớm đưa nước ta ra khỏi nền kinh tếkém phát triển

Muốn làm được như vậy cần phải tích cực huy động các nguồn lực cho sựphát triển, trong đó nguồn lực quan trọn nhất mang tính quyết định nhất lànguồn lực con người Chỉ có thể phát triển du lịch nhanh và bền vững trong bốicảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện nếu có một đội ngủ lao động chất lượngcao, số lượng đủ, cơ cấu hợp lý và có trách nhiệm với đất nước gồm đông đảonhững công nhân, nhân viên lành nghề, những nhà khoa học,công nghệ du lịchtài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, nhữngnhà lãnh đạo, quản lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng

Vì vậy phải thấy rõ là phải nổ lực cao độ trong đầu tư phát triển nguồnnhân lực du lịch.Hội nhập sâu và toàn diện trong và ngoài WTO sẽ kéo theo sựthay đổi rất lớn từ phía cầu du lịch cả quy mô và chất lượng, nên cung du lịchnước ta mà trước tiên là nhân lực ngành du lịch phải thay đổi và thíchứng.Thành quả trong phát triển nguồn nhân lực du lịch trong những năm quaphải được phát huy, những hạn chế , bất cập trong đào tạo phát triển nguồn nhân

Trang 14

lực du lịch phải được giải quyết khẩn trương.Những quyết tâm chính trị trongcông tác phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch hơn lúc nào hếtphải biến nhanh thành hành động cụ thể mới theo kịp diễn biến của tình hình,mới đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về phát triển du lịch của đất nước trong khuôn khổWTO.

Hơn một nửa lao động còn phải được đào tạo(khoảng 1/3 vạn) và nửa nonlao động đã được đào tạo (trên 10 vạn) phải được đào tạo lại, cùng với đào tạomới cho 15 vạn lao động là nhu cầu rất “khổng lồ” Vì vậy, phải chấp nhận cơchế thị trường, phải xã hội hoá mạnh và mở cửa thu hút các nguồn lực cho đàotạo du lịch các cấp, từ đại học, cao đẳng, đến trung học chuyên nghiệp và dạynghề.Có như vậy mới tạo nhanh được một đội ngủ lao động đủ năng lực chiếmlĩnh được những công đoạn mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung cấpdịch vụ du lịch của khu vực và toàn cầu Phải gấp rút trang bị cho đội ngủ laođộng đủ năng lực chiếm lĩnh được những công đoạn mang lại giá trị gia tăng caotrong chuỗi cung cấp diạch vụ du lịch của khu vực và toàn cầu.Phải gấp rúttrang bị cho đội ngủ lao động du lịch am hiểu các cam kết đa phương và songphương, các hệ thông luật lệ, cac kỹ nămg đàm phán, tranh tụng quốc tế, hiểubiết văn hoá của ta và của bạn, giỏi tin học,ngoại ngữ, để nắm được thông tinnhanh, chính xác, biết mình biết người hiểu được yêu cầu của khách hang và đốitác làm ăn, quản lý nhà nước tốt và quản trị doanh nghiệp đạt trình độ quốctế.Chưa hội nhập sâu và toàn diện đã phải làm việc này, hội nhập sâu và toàndiện thì càng cần phải làm khẩn trương hơn, nhưng thận trọng và kỹ lưỡng hơn

“Ăn xổi ở thì” trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch chắc chắn khôngthể trụ được khi hội nhập sâu và toàn diện sẽ thua ngay trên sân nhà

Thực tế ở Việt Nam nguồn nhân lực cho du lịch chưa được đào tạo mộtcách có hệ thống về chuyên môn kỹ năng nghề nghiệp Năng lực ngoại ngữ, kỹnăng công nghệ thông tin và khả năng giao tiếp còn hạn chế.Các cơ sở đào tạo

du lịch phân bổ không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn Mặc dù

Trang 15

có sự bùng nổ về số lượng các công ty du lịch lữ hành trong nước, song cáccông ty này cạnh tranh thiếu lành mạnh về giá, giảm chất lượng dịch vụ, viphạm các yêu cầu về giấy phép hành nghề.

1.3 Thực trạng về đầu tư quảng bá du lịch Việt Nam

Trong thời gian qua, hoạt động xúc tiến du lịch của nước ta đã có nhữngtiến bộ đáng kể, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đã để lại ấn tượng tốtđối với du khách trong và ngoài nước.Kết quả đó là dịp nhà nước đưa ra chínhsách mở cửa, hội nhập, cùng với những nổ lực của ngành du lịch trong việcquảng bá hình ảnh đất nước với bạn bè quốc tế.Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thếnào chúng ta có thể phát huy thế mạnh vốn có để nâng nghành công nghiệpkhông khói lên một tầm cao hơn qua việc tạo dựng, phát triển và quảng báthương hiệu du lịch Việt Nam ra khắp thế giới

Xuất phát từ yêu cầu hội nhập toàn diện của đất nước, đã đặt ra một vấn

đề mà nhiều doanh nghiệp trước đây hầu như chưa quan tâm, đó là thươnghiệu.Những vụ kiện tụng gần đây đã khiến chúng ta nhận thức rõ hơn về thươnghiệu Đối với ngành du lịch - một trong những ngành vốn được coi là mang lạinhiều ngoại tệ cho đất nước, thì trong bối cảnh hiện nay, vấn đề thương hiệuđang được đặt ra rất cấp thiết

Trong thời gian qua, hoạt động xúc tiến du lịch của nước ta đã có nhữngtiến bộ đáng kể, hình ảnh đất nước, con người VIệt Nam đã để lại ấn tượng tốtđối với du khách trong và ngoài nước

Hiện nay, theo nhiều du khách và các doanh nghiệp du lịch trong nước,sản phẩm du lịch của Việt Nam còn đơn điệu cả về số lượng lẫn chất lượng Đó

là lý do khiến không ít du khách du lịch đến Việt Nam không hào hứng mua cáclaọi đồ lưu niệm như khi đến Thái Lan, Trung Quôc.Chúng ta luôn nói “đa dạngcác sản phẩm vui chơi , giải trí, du lịch” nhưng thực ra, đó chỉ là sự sao chép lạicủa các nước khác ( chẳng hạn như môn thể thao tennis, nhảy du, lặn biển,

Trang 16

casino,…), trong khi đó, các sản phẩm mang tính truyền thống và riêng biệt

“made in Việt Nam” thì hầu như rất hiếm

Việc tạo dựng thương hiệu cho du lịch cho du lịch sẽ tạo ra” một chỗđứng vững chắc” đối với ngành du lịch Việt Nam trên thương trường quốc tế.Thực tế cho thấy, vấn đề thương hiệu cho du lịch Việt Nam đã được các doanhnghiệp đề cập.Vấn đề an toàn được du khách đặt lên hằng đầu thì tại sao chúng

ta không nhấn mạnh sự than thiện cảu con người Việt Nam trong các chiến dịchquảng bá rằng Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới, là nơi có nhiều đặcsản trái cây như dừa, cam, vải, nhãn…nổi tiếng nhưng vẫn chưa khai thác hiệuquả?

Theo một số doanh nghiệp lữ hành, cần phải nghiên cứu thế mạnh củatừng vùng, trên cơ sở tạo ra sản phẩm đặc trưng riêng của vùng đó.Mỗi sảnphẩm có thể gắn với một sự tích hay câu chuyện thú vị nào đó của mỗi vùng,gây sự chú, tò mò, vì đó cũng là điều khiến những du khách ưa thích du lịch vănhoá tìm hiểu

Từ việc phát triển sản phẩm du lịch đặ trưng, qua đó gắn cho chúngnhững “ thương hiệu riêng” để mỗi khi du khách dến vùng đó sẽ có nhữnggì.Chẳng hạn, khi nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến chiếc nón bài thơ với tà

áo tím thướt tha, với sông Hương thơ mộng …

Tuy nhiên, để làm được điều này không phải là việc một sớm một chiều

mà cần có một quá trình nghiên cứu, nghiêm túc, đầu tư và tạo dựng sản phẩmhiệu quả, tránh việc tạo dựng tràn lan, mất long tin đối với du khách

Hơn nữa, đối với sản phẩm du lịch, không nên quá bắt chước các nướckhác, hoặc nghĩ đến những thứ quá cao xa.Chẳng hạn, nhiều khi sản phẩm chỉ làmột món ăn ngon, một giọng hò, điệu ví, trang phục đặc sắc, quà lưu niệm độcđáo…,tất cả đều có thể thu hút khách du lịch đến thăm quan thưởng thức, nếu có

sự đầu tư,khai thác hiệu quả và có một thương hiệu được nhiều người biết đến

Trang 17

2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch

Đứng trước tình hình ngành du lịch Việt Nam còn nhiều thiếu sót và bấtcập Định hướng vĩ mô của chính phủ cũng như chính sách tăng cường thu hútvốn đầu tư vào du lịch của mỗi địa phương, đạt được nhiều kết quả nhưng cũnggặp phải nhiều hạn chế

2.1 Những thành quả đạt được

2.1.1 Giai đoạn 2003-2005

Vốn đầu tư trực tiếp của khu vực kinh tế nhà nước vào lĩnh vực khách sạn

và nhà hang theo giá so sánh năm 1994 phân theo ngành kinh tế.Năm 2003 là

1204 tỷ đồng, năm 2004 là 444 tỷ đồng, năm 2005 là 487 tỷ đồng năm 2006 là

512 tỷ đồng (theo niên gián thống kê năm 2006)

Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép năm 1988-2006đầu tư vào lĩnh vực nhà hang du lịch phân theo ngành kinh tế.Phân theo ngànhkinh tế.Số dự án thực hiên 253/8266 với tổng số vốn là 5652.5 triệuUSD/78248.2 triệu USD.Trong đó tổng vốn đăng ký là 2441.9 triệuUSD/34945.4 triệu USD.Tổng vốn pháp định do Việt Nam góp là 625.4 triệuUSD/5331.7 triệu USD, vốn pháp định do nước ngoài góp là 1816.5 triệu USD/29613.7 triệu USD.(Theo niên gián thống kê 2006)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép năm 2006.Số dự án 20/987 với

số vốn đăng ký là 498.4 triệu USD/12003.8 triệu USD.Trong đó nước ngoài đầu

tư là 466.0 triệu USD/9096.8 triệu USD.Việt Nam đầu tư là 32.4 triệuUSD/2907.0 triệu USD.(Theo niên gián thống kê 2006)

Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh khách sạn và nhàhàng tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo ngành kinh tế là 3287 doanhnghiệp /72012 doanh nghiệp (năm 2003), 3957 doanh nghiệp/ 94755 doanhnghiệp (năm 2004), 4750 doanh nghiệp/112952 đoanh nghiệp (năm 2005)

Trang 18

Trước tình hình thu hút nguồn vốn ngày càng gia tăng đã mang lại chongành du lịch kết quả khá cao.

Khách do các cơ sở lữ hành

Nguồn từ: “ Niên gián thống kê 2006”

Doanh thu du lịch lữ hành theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế(tỷ đồng)

Nguồn: Niên gián thống kê 2006

Trang 19

Cơ cấu doanh thu (%)

Nguồn: Niên gián thống kê 2006

Tuy tiềm năng du lịch của Việt Nam rất dồi dào nhưng trong giai đoạnnày ngành du lịch Việt Nam chưa thực sự là ngành kinh tế “ mũi nhọn”

Hàng loạt dự án đầu tư lớn Theo Tổng cục Du lịch, dẫn đầu về qui môđầu tư trực tiếp vào du lịch Việt Nam từ đầu năm tới nay là dự án khu nghỉ mát

đa năng Đan Kia - Suối Vàng thuộc thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng do bốn tậpđoàn đầu tư lớn của Nhật Bản là Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo và Limtec liêndoanh đầu tư Đây là dự án rất lớn với số vốn đầu tư lên tới 1,2 tỷ USD

Một tổ hợp khách sạn - căn hộ - trung tâm thương mại 5 sao có số vốn đầu

tư 200 triệu USD tại Tp.HCM do Tập đoàn Kumho Asiana của Hàn Quốc làmchủ đầu tư đã được triển khai Tập đoàn Winvest LLC (Mỹ) cũng đã nhận giấyphép đầu tư khu du lịch 5 sao Saigon Atlantic tại Vũng Tàu với số vốn đầu tư

300 triệu USD

Trang 20

Cũng tại Vũng Tàu, tập đoàn Plantium Dragon Empire đang khảo sát đểđầu tư dự án khu du lịch vui chơi giải trí với số vốn lên đến 550 triệu USD.

Công ty Rockingham (Anh) cũng đã trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự ánxây dựng khu du lịch biển có qui mô lên đến 1 tỷ USD tại Phú Quốc Bên cạnhviệc các tập đoàn nước ngoài đầu tư trực tiếp thì làn sóng đầu tư gián tiếp vàolĩnh vực du lịch - dịch vụ cũng rất sôi động Quĩ VinaLand đã chính thức mualại 70% cổ phần của Sofitel Metropole, khách sạn lâu đời, sang trọng và đắtkhách nhất Hà Nội hiện nay

Còn Quỹ VinaCapital cũng không chịu thua kém khi mua 52,5% cổ phầncủa khách sạn 5 sao Hilton Hà Nội, nâng tổng số cổ phần của Quỹ tại khách sạnnày lên tới 70%

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư du lịch, trong bối cảnh ViệtNam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, nhiều tập đoàn kinh doanhkhách sạn nước ngoài coi Việt Nam là địa bàn hấp dẫn để triển khai các dự ánxây dựng khách sạn cao cấp, nhằm đáp ứng nhu cầu của dòng khách du lịchđang đổ vào Việt Nam ngày càng đông

Một số tập đoàn lớn đã lên những kế hoạch cụ thể để chuẩn bị đầu tư vàoViệt Nam Trước hết phải kể đến Tập đoàn quản lý khách sạn lớn nhất thế giớiInter Continential Hotels Groups đã công bố sẽ xây dựng khách sạn đầu tiên của

hệ thống khách sạn này tại Việt Nam vào đầu năm 2009

Tập đoàn Hyatt đã khai trương khách sạn đầu tiên tại Tp.HCM vào nămngoái và hiện đang lên kế hoạch chuẩn bị đầu tư xây dựng các khách sạn tiếptheo Tập đoàn Starwood đã đầu tư vào Việt Nam từ năm 2003 và đang điềuhành hai khách sạn Sheraton tại Hà Nội và Tp.HCM cũng đã lên kế hoạch đểchuẩn bị đầu tư tiếp

Các tập đoàn trên đều hướng sự đầu tư vào các khu nghỉ ven biển tại ĐàNẵng, Nha Trang và Hội An.

Trang 21

Làn sóng đầu tư đang gia tăngTổng cục Du lịch cho biết, cùng với những

dự án đã và đang bắt đầu triển khai thì trong thời gian gần đây có nhiều nhà đầu

tư nước ngoài có ý định và đã có những bước tiến hành cụ thể để nhanh chóngtham gia đầu tư tại Việt Nam

Mới đây, UBND Tp.Đà Nẵng và Tập đoàn quốc tế Millenium (MilleniumInternational Group) đã thống nhất và đi đến việc ký kết bản thoả thuận nguyêntắc quy định các điều kiện và nguyên tắc hợp tác phát triển dự án khu du lịch 5sao tại phường Hoà Hải - quận Ngũ Hành Sơn Dự án có tổng diện tích 15ha vớitổng vốn đầu tư dự kiến là 80 triệu USD

Theo quy định trong bản thoả thuận, sau thời gian 6 tháng kể từ khi đượccấp giấy chứng nhận đầu tư và được bàn giao mặt bằng, dự án phải được triểnkhai Công trình phải được xây dựng hoàn tất trong thời gian từ 2 đến 3 năm để

dự án chính thức đi vào hoạt động

Mới đây UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng đã có buổi tiếp xúc với đạidiện Công ty MH Golden Sands (Mỹ), nghe công ty này trình bày ý định đầu tưkhu du lịch phức hợp tiêu chuẩn 6 sao tại huyện Côn Đảo Theo đó, Công ty MHGolden Sands xin UBND tỉnh cho chủ trương được quy hoạch chi tiết tỷ lệ1/2000 khu vực Cỏ Ống - Đầm Trầu (Côn Đảo) thành một khu đô thị cao cấpvới trung tâm thương mại - dịch vụ tài chính - dịch vụ du lịch.Đồng thời, Công

ty MH Golden Sands xin được đầu tư trực tiếp xây dựng phát triển khu du lịchĐầm Trầu - Suối ớt trên diện tích khoảng 100ha, theo tiêu chuẩn 6 sao quốc tếđầu tiên ở Việt Nam với tổng mức đầu tư dự kiến 50 triệu USD

Quy mô dự kiến của dự án này là 65 biệt thự nghỉ dưỡng và 45 Codos ởĐầm Trầu, 81 phòng Asian Suite và 35 Pool Villas ở Suối ớt, cùng các dịch vụvui chơi giải trí khép kín như: sân tennis, sân mini golf, nhà thuyền du lịch biển,các môn lặn biển, câu cá đại dương, thuyền buồm, lướt ván, nhảy dù bãi biển,nhà giữ trẻ, thư viện, trung tâm mua sắm, bể bơi trên núi

Ngày đăng: 01/02/2013, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w