Du lịch nhân văn và vài nét về tài nguyên nhân văn ở Hà Tây
Trang 1Lời mở đầu
Tài nguyên nhân văn là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch, đặc biệt là đối với Việt Nam Trong Pháp lệnh Du lịch đợc Quốc hội nớc ta
thông qua đã nêu rõ: “Nhà nớc Việt Nam xác định Du lịch là một ngành kinh tế
tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng
và xã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế – xã hội của đất n xã hội của đất n ớc” Nh vậy, Pháp lệnh đã thể hiện
rõ nội dung cơ bản của du lịch Việt Nam là du lịch văn hoá Nói cách khác, tài nguyên nhân văn hiện nay đang đợc coi là đối tợng sáng giá, có u thế nổi trội trong quá trình cạnh tranh quốc tế của ngành du lịch Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nhân văn ở nớc ta hiện nay đang bị khai thác
một cách không hợp lý để phục vụ cho phát triển du lịch ở một số nơi, tài
nguyên nhân văn không đợc chú ý nên đang có nguy cơ bị mai một dần Còn ở những nơi khác, tài nguyên nhân văn lại bị lạm dụng vào mục đích kinh tế làm cho bị quá tải và đang có nguy cơ bị thơng mại hoá, làm mất đi giá trị truyền
thống quý báu Trong khi đó, phát triển du lịch bền vững đang là xu hớng chung
của toàn cầu Vì vậy, việc nghiên cứu nguồn tài nguyên nhân văn để khai thác và
sử dụng một cách hợp lý, phục vụ mục đích phát triển du lịch bền vững đang là vấn đề cấp thiết ở nớc ta hiện nay
Nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng của nguồn tài nguyên nhân văn đối với sự
phát triển của du lịch nớc nhà, em quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu làm đề
án môn học Do đề tài có phạm vi rộng, không thể bao quát hết trong một đề án, nên
em chọn Hà Tây làm địa bàn nghiên cứu và chỉ nghiên cứu về hai nguồn tài nguyên nhân văn là lễ hội dân gian truyền thống và làng nghề thủ công truyền thống.
Do giới hạn về thời gian và kiến thức nên đề án này còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận đợc thông cảm và góp ý của các thầy cô Em xin chân
thành cảm ơn Ths Trần Thị Minh Hoà đã giúp em hoàn thành đề án này.
Sinh viên
Nguyễn Hải Hà
1 Tài nguyên nhân văn và mối quan hệ tơng tác giữa tài nguyên nhân văn với phát triển du lịch.
1.1 Giới thiệu chung về tài nguyên du lịch nhân văn và vài nét về tài nguyên nhân văn ở Hà Tây.
Khi nói đến hoạt động du lịch, ngời ta thờng hay nói đến nguồn tài nguyên
du lịch nh một điều kiện cần để phát triển du lịch, bao hàm cả tài nguyên du lịch
tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối
Trang 2t-ợng, hiện tợng trong môi trờng tự nhiên đợc lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục
đích du lịch, còn tài nguyên du lịch nhân văn do chính con ngời tạo ra trong suốt quá trình tồn tại Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, thờng là để thoả mãn các nhu cầu nghỉ dỡng, th giãn hay để hoà mình vào với thiên nhiên; tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị về nhận thức nhiều hơn là giá trị giải trí, nó ít phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, thờng tập trung ở các khu vực quần c và thu hút du khách có nhu cầu nhận thức, nhu cầu hiểu biết về một nền văn hoá hay lịch sử nào đó
Tài nguyên nhân văn bao gồm các giá trị văn hoá, lịch sử, các thành tựu
chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trng cho sự phát triển của du lịch ở một địa
điểm, một vùng hoặc một đất nớc Cụ thể, đó là hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá, phong tục tập quán, lễ hội, các món ăn thức uống dân tộc, các loại hình nghệ thuật, các lối sống, nếp sống của các tộc ngời mang bản sắc độc đáo còn lu giữ đợc đến ngày nay Các di tích lịch sử văn hoá là những bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi đất nớc, nó chứa
đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia Chúng có thể là các di tích văn hoá khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hoá nghệ thuật (kiến trúc nghệ thuật) hay còn là các danh lam thắng cảnh tự nhiên hoà quyện cùng với các công trình văn hoá- lịch sử, di tích nhân văn và các hoạt động lễ hội khác.Các hoạt
động lễ hội này chủ yếu phản ánh tính cách văn hoá tôn giáo, văn hoá tín ngỡng trong dân gian, thu hút đợc nhiều ngời đến tham quan
Trên thế giới, tài nguyên nhân văn đợc phân loại theo chiều thời gian lịch sử
từ cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại nh: văn minh cổ đại Ai Cập với Kim tự tháp nổi tiếng; văn hoá cổ đại Hy Lạp với nhiều thành tựu đặc sắc về văn hoá nghệ thuật, toán học, vật lý, ; văn hoá Phục hng với những di sản và tên tuổi vĩ đại
nh Leona Dvinci, Sechpia,… Hoặc đợc phân theo vùng không gian địa lý nh văn
hoá Trung Hoa, văn hoá Pháp, văn hoá Đức, văn hoá Trung cận đông, văn hoá Phi châu, văn hoá Phơng tây, văn hoá Phơng đông,
ở Việt Nam, chúng ta có nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú,
độc đáo, đặc sắc để phát triển du lịch, trải dài từ cổ đại đến hiện đại, phân bố trên phạm vi cả nớc Thời cổ đại với các di chỉ đồ đá nh Núi Đọ, Hoà Bình, Bắc Sơn, Hạ Long Di chỉ đồ đồng nh Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Đông Sơn, Bớc vào thời kỳ Vua Hùng dựng nớc đến nay, đã sản sinh, phát huy và lu giữ một hệ thống di tích lịch sử – xã hội của đất n văn hoá, phong tục tập quán lễ hội, hết sức phong phú
đặc sắc nh khu Đền Hùng, thành Cổ Loa, đền thờ Hai Bà Trng, Cố đô Hoa L, văn
Trang 3hoá Thăng Long, Tài nguyên nhân văn của nớc ta còn đợc phân theo từng vùng, mang tính đặc sắc riêng: văn hoá Thăng Long, văn hoá Huế, văn hoá làng bản rẻo cao, văn hoá Tây Bắc, văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Khơ me- Nam bộ, Tất cả tạo thành một tổng thể vừa mang tính thống nhất, vừa có bản sắc riêng
độc đáo- là tiềm năng dồi dào để phát triển du lịch
Hà Tây là một tỉnh nằm ở vị trí liền kề thu đô Hà Nội, bao quanh về phía
Tây Nam của thủ đô với các cửa ngõ chính qua các quốc lộ 1,6, 32 và đờng cao tốc Láng- Hoà Lạc; là mảnh đất có nhiều sự tích và huyền thoại gắn với truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam; là nơi “ Tụ khí anh hoa”, “Địa linh nhân kiêt” với những địa danh và con ngời đã đi vào lịch sử của đất nớc.Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, Hà Tây đứng thứ 3 trong cả nớc về số lợng di tích lịch
sử quý giá gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc ( có tới 2.388 di tích văn hoá văn hoá, lịch sử, tôn giáo) trong đó có 12 di tích đợc Bộ văn hoá thông tin xếp vào loại đặc biệt quan trọng nh : chùa Hơng có “ Nam thiên đệ nhất động”, chùa Thầy, chùa Tây Phơng, chùa Mía, chùa Đậu, chùa Trăm Gian, chùa Trầm,
đền thờ Nguyễn Trãi, đền Phùng Hng, lăng Ngô Quyền, nhà lu niệm chiếc gậy Trờng Sơn( Hoà Xá- ứng Hoà), đền Hát Môn, đình Tây Tằng, đình Mông Phụ, Đặc biệt, từ xa xa, núi tản viên có đền Thợng thờ tam vị Thánh Tản Viên, nay
có đền thờ Bác Hồ và khu di tích K9,
Hà Tây còn có một kho tàng các lễ hội truyền thống rất đặc trng cho vùng
đồng bằng Bắc bộ Việt Nam Mỗi lễ hội nh một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trng văn hoá dân tộc nh : những nghi lễ tôn thờ các vị thần linh của c dân nông nghiệp để cầu cho ma thuận gió hoà, mùa màng bội thu hay để tôn vinh, tởng nhớ những vị anh hùng dân tộc, những ngời có công với đất nớc đợc tôn làm phúc thần bảo hộ Lễ hội cũng là dịp để du khách và nhân dân tham gia các trò chơi dân gian nh đấu vật, đánh cờ ngời, thôỉ cơm thi, kéo co, hội thả diều, hội chọi gà, hay xem các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống nh hát dô, hát chèo tầu, múa rối nớc, múa rối cạn,
Hà Tây có một số lễ hội nổi bật nh: hội chùa Trăm gian, hội chùa Hơng,
hội chùa Đậu, hội làng Chuông, hội Dô, hội đình Tây Tằng, hội đền Và, hội hát chèo tầu, hội chùa Thầy, hội chùa Tây Phơng, hội đền Hát Môn,
Ngoài ra, Hà Tây đợc mệnh danh là “ đất trăm nghề” với 120 làng nghề cổ
truyền( chiếm 10% tổng số làng nghề của toàn quốc) với những sản phẩm đặc sắc và đợc nhiều ngời a chuộng nh lụa Vạn Phúc, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, hàng mây tre Phú Vinh, đồ mộc Tràng Sơn, Tợng gỗ Sơn Đồng, Mỗi làng nghề không chỉ là một đơn vị sản xuất mà còn là một cộng đồng
Trang 4văn hoá với đình, chùa, miếu, lễ hội truyền thống Du khách đến đây không chỉ
đợc xem các nghệ nhân làm nghề, mua sản phẩm mà còn đợc tham dự các hoạt
động xã hội
Nh vậy, có thể thấy, Hà Tây có rất nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch nhân văn tạo điều kiện tốt để phát triển loại hình du lịch văn hoá
1.2 Tác động của tài nguyên nhân văn đối với sự phát triển du lịch.
1.2.1 Những tác động tích cực
Trớc hết, tài nguyên nhân văn là một trong những điều kiện cần để phát triển du lịch Nó tạo nên loại hình du lịch văn hoá, làm phong phú thêm cho hoạt
động du lịch Với mức sống ngày càng đợc nâng cao đáp ứng đủ những nhu cầu sinh lý nh ăn mặc, đi lại, nhu cầu thởng thức cái đẹp, th giãn tinh thần, nâng cao hiểu biết xã hội, cũng trở nên bức thiết đối với mỗi ngời Với lợng cầu về
du lịch ngày càng tăng cùng với sự phong phú của hệ thống nhu cầu nh vậy, cần phải có rất nhiều loại hình du lịch với nhiều sản phẩm đặc sắc thì mới đáp ứng
đ-ợc Tài nguyên nhân văn đã góp phần làm thoả mãn một phần rất lớn nhu cầu của du khách, thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển Hơn nữa, chính sự khác nhau giữa tài nguyên nhân văn ở các nơi đã thúc đẩy mọi ngời đi du lịch để khám phá sự mới lạ của văn hoá địa phơng, dân tộc khác tài nguyên nhân văn chính là những u thế mà ngành du lịch một địa phơng, một dân tộc có so với những địa phơng, dân tộc khác
Khác với một số ngành kinh tế khác, ngành du lịch phải dựa trên và xuyên suốt nền tảng văn hoá dân tộc Các tài nguyên nhân văn chính là nguồn lực sáng giá, có u thế nổi trội trong quá trình cạnh tranh quốc tế của ngành du lịch Việt Nam hiện nay Nó làm phong phú, đa dạng các chơng trình du lịch, thu hút đông
đảo nhiều đối tợng khách du lịch đến với các công ty du lịch, tăng doanh thu cho
họ Hoạt động mua bán cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch Những sản phẩm của tài nguyên nhân văn nh là những mặt hàng thủ công truyền thống, những loại hình nghệ thuật dân gian luôn có sức hút ghê gớm đối với du khách, kích thích họ muốn đi du lịch
Nh vây, tài nguyên nhân văn không chỉ là một điều kiện để phát triển du lịch mà bản thân nó chứa đựng những yếu tố kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển du lịch
1.2.2 Những tác động tiêu cực.
Tài nguyên nhân văn với những giới hạn về không gian, thời gian, sức chứa làm đẩy lùi sự phát triển của du lịch Điều này làm cho các nhà quản lý, tổ chức
Trang 5khó khăn trong điều phối, kiểm soát Tài nguyên nhân văn là do con ngời tạo ra,
nó có giới hạn về khả năng đón tiếp khách Để bảo tồn nguồn tài nguyên này phục vụ mục đích phát triển bền vững, những ngời tổ chức phải nghiên cứu, đa ra những giới hạn về lu lợng khách đón tiếp trong một khoảng thời gian nhất định Nhiều khi, lợng khách đón tiếp ít hơn lợng khách có nhu cầu đi tham quan Điều này làm cho doanh thu ngành du lịch giảm, chi phí nghiên cứu, quản lý lại lớn làm cho ngành du lịch hoạt động kém hiệu quả
Ngoài ra, những mặt tiêu cực của tài nguyên nhân văn làm cho du khách giảm bớt sự thiện cảm khi đi du lịch Có thể lấy ví dụ nh việc đi dự các lễ hội, lu lợng ngời đông, việc thắp quá nhiều nhang, đốt tiền giấy làm cho nhiều du khách ngạt thở, thậm chí bị châm thủng cả quần áo, từ đó họ có ấn tợng rất xấu về việc
đi hội Hay nh sự ô nhiễm môi trờng, hệ thống giao thông chật hẹp của các làng nghề làm cho du khách khi đi tham quan cảm thấy mất hết thiện cảm, không yên tâm khi mua những mặt hàng không sạch
1.3 Tác động của việc phát triển du lịch tới nguồn tài nguyên nhân văn.
1.3.1 Những tác động tích cực.
Việc phát triển du lịch không chỉ mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho
ng-ời dân mà còn góp phần to lớn vào việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên nhân văn của đất nớc
Trớc hết, phải kể đến việc phát triển du lịch mang lại một nguồn thu cho
địa phơng nơi sở hữu những nguồn tài nguyên nhân văn đó Một phần của nó sẽ
đợc trích để tái đầu t và tôn tạo, bảo tồn, giữ gìn các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, Nhờ vậy mà các công trình văn hoá vật thể đợc bảo tồn và phát triển Hơn thế nữa, để đạt đựơc mục đích thu hút khách du lịch, các địa phơng có
ý thức hơn trong việc bảo vệ các di sản văn hoá, khai thác chúng một cách hữu hiệu phục vụ sự phát triển du lịch bền vững Có thể lấy ví dụ về chùa Hơng, đây
là nơi diễn ra lễ hội dài nhất Việt Nam, kéo dài từ đầu tháng giêng tới cuối tháng
ba âm lịch hàng năm Mỗi năm, chùa Hơng thu hút khoảng nửa triệu khách du lịch từ khắp mọi miền đất nớc về đây trẩy hội tạo ra nguồn thu lớn cho địa
ph-ơng Để thu hút ngày càng nhiều du khách, ban quản lý, ban tổ chức lễ hội chùa Hơng đã đầu t khơi thông dòng suối Yến, làm cho suối Yến rộng hơn, thuận lợi cho thuyền đò đi lại, rồi tới đây sẽ xây dựng hệ thống cáp treo để phục vụ du khách khỏi nhọc nhằn khi đi từ Thiên Trù lên động chính Chùa Hơng chắc chắn
sẽ thu hút ngày càng nhiều khách du lịch hơn nữa trong tơng lai
Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu của du khách, nhiều hình thức văn hoá dân gian truyền thống nh chèo, múa rối, và các làng nghề truyền thống đợc
Trang 6khôi phục và phát triển Cũng nhờ phát triển du lịch mà ngời dân nhận thức đợc
sự quý giá của bản sắc văn hoá dân tộc, có ý thức bảo vệ, giữ gìn nó, không chỉ dùng nó để thu hút khách du lịch mà còn biến nó thành nếp sinh hoạt bình thờng của mình
Ngoài ra, du lịch còn đem đến cho tài nguyên nhân văn một sắc thái mới, một sức sống mới; đem đến môi trờng, điều kiện để tài nguyên nhân văn đợc phô
diễn những giá trị mà nó hàm chứa Du lịch góp phần phổ biến rộng rãi văn hoá của các địa phơng tới mọi miền đất nớc, truyền bá văn hoá dân tộc ra thế giới, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trờng quốc tế và trong lòng bạn bè thế giới Du lịch góp phần tạo ra sự giao thoa và đan xen văn hoá, làm giàu kho tàng văn hoá Việt Nam Đồng thời, thông qua du lịch để kiểm chứng, thẩm định các giá trị của tài nguyên nhân văn từ đó thấy đợc những điểm mạnh, điểm yếu, những tích cực, tiêu cực để bảo tồn và đổi mới cho phù hợp với thời đại mới
1.3.2 Những tác động tiêu cực.
Một trong những nhu cầu của du khách khi đi du lịch là muốn đợc thâm nhập vào các hoạt động văn hoá của địa phơng Song, nhiều khi sự thâm nhập với
mục đích chính đáng bị lạm dụng và biến thành sự xâm hại, làm cho ngời dân
địa phơng thấy khó chịu và bất bình Điều này có thể thấy qua các lễ hội: với
thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội truyền thống thì chỉ phù hợp với
điều kiện riêng của các địa phơng Do đó, khi khách du lịch tới đông sẽ làm ảnh hởng, thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt động bình thờng của địa phơng nơi có lễ hội Du khách với nhiều thành phần khác nhau, có những điều kiện, nhu cầu khác nhau, hoạt động của họ có thể tác động không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phơng nơi có lễ hội
Mặt khác, để phục vụ nhu cầu của khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trớc mắt
nên các hoạt động văn hoá truyền thống đợc trình diễn một cách thiếu tự nhiên, hoặc chuyên nghiệp hoá hoặc mang ra làm trò cời cho du khách Trong nhiều
tr-ờng hợp, do thiếu hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa của các hành vi trong phong tục tập quán, ngời ta giải thích một cách sai lệch hoặc thậm chí bậy bạ về nó làm giảm giá trị của văn hoá địa phơng Nh vậy, giá trị văn hoá đích thực của một cộng đồng, đáng lý phải đợc trân trọng thì lại bị đem ra làm trò tiêu khiển, mua vui cho du khách Giá trị truyền thống dần bị lu mờ do sự lạm dụng vì mục đích
kinh tế Bên cạnh đó, do chạy theo số lợng, không ít mặt hàng truyền thống bị
làm sơ sài, thiếu công đoạn và đợc bán cho khách làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh của một nền văn hoá bản địa
Trang 7Một tác động tiêu cực nữa của việc phát triển du lịch đối với tài nguyên
nhân văn là sự lai căng văn hoá Việc đón khách từ những nớc giàu làm cho ngời
dân bản xứ, đặc biệt là giới trẻ ngày càng chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sông theo mốt của du khách Có hai yếu tố đợc coi là nguyên nhân chính của hiện tợng này Một là trong hoạt động kinh doanh, ngời dân bản xứ dùng những cái chuẩn của du khách để làm vừa lòng họ, nhằm thu hút đợc tối đa lợi nhuận cho mình Thứ hai là t tởng ngoại vọng, ngời dân bản xứ đánh giá cao lối sống của du khách, cho đây là biểu hiện của văn minh, giàu có và bắt chớc theo Điều này thể hiện rõ nhất trong giới trẻ ngày nay
ảnh hởng của hoạt động du lịch đến tài nguyên nhân văn còn đợc thể hiện
qua quan hệ giữa du khách và ngời dân địa phơng Theo thời gian, thái độ của
dân c sở tại đối với du khách thay đổi dần từ tích cực sang tiêu cực Ban đầu, khi những du khách đầu tiên xuất hiện, ngời dân địa phơng tỏ ra vô cùng nồng nhiệt
đón tiếp với tất cả lòng mến khách Nhng theo thời gian, sự nồng hậu đón khách giảm dần, thay vào đó là quan hệ buôn bán, đón tiếp theo nghi lễ xã giao Không chỉ thế, thái độ khó chịu của ngời dân do sự xuất hiện quá nhiều của du khách đã
ảnh hởng đến cuộc sống thờng ngày của họ, làm thay đổi tập tục của họ, xâm hại tới những giá trị văn hoá của địa phơng họ,
2 Thực trạng tài nguyên nhân văn và phát triển du lịch văn hoá ở Hà Tây
2.1 Thực trạng tài nguyên nhân văn Hà Tây.
2.1.1 Thực trạng các làng nghề ở Hà Tây.
Trên thực tế, hiện nay các làng nghề ở Hà Tây đều phát triển tự phát, cha
có sự quy hoạch và sắp xếp tổ chức hớng dẫn nên đã phát sinh những mâu thuẫn,
đặc biệt là vấn đề môi trờng Đến một số làng nghề đã thấy sự báo động về chất
lợng môi trờng, không khí, đất, nớc đều bị ảnh hởng Các hộ làm nghề chỉ chăm
lo tăng doanh số mặt hàng sản phẩm mặc cho chất tồn đọng, phế thải chất đống, ngổn ngang làm cho môi trờng bị ô nhiễm Nguy cơ ô nhiễm và mất vệ sinh từ các làng nghề đã trở nên bức xúc, trở thành cấp bách và ở nhiều địa phơng đã trở nên báo động Qua số liệu, phân loại cho thấy các dạng ô nhiễm nặng ở làng nghề bao gồm:
ở các làng nghề chế biến thực phẩm chất thải lớn, nguồn nớc bị ô nhiễm
do các chất CoD, BoD5, SS, H2S đều rất ca Mùi chua, hôi, từ khu vực sản xuất, lắng đọng qua cống rãnh hệ thống nớc thải đã ảnh hởng đến môi trờng
Trang 8 Các làng nghề cơ kim khí nh Phùng Xá ở Thạch Thất, Thanh Thuỳ ở Thanh Oai, lại bị ảnh hởng do nớc thải từ công đoạn mạ, các bể mạ để sẵn trong các hộ dân c nên các chất SS, CoD đều rất cao
Các làng nghề dệt nhuộm nh Vạn Phúc ở Hà Đông, Dơng Nội, La Phù ở Hoài Đức, thì ô nhiễm lại do nớc thải, tiếng ồn
Các làng nghề sơn mài, mây, tre, giang đan lại gây ô nhiễm chủ yếu là không khí do mùi của các dung môi sơn,
Ngoài ra, những khó khăn để phát triển du lịch làng nghề chính là do cơ sở hạ tầng nh đờng giao thông còn kém chất lợng, vào nhiều làng nghề rất khó khăn
do đờng xá chật hẹp, không có chỗ đỗ cho xe, chất lợng dịch vụ, môi trờng tham quan và thị hiếu đón khách còn cha đáp ứng đợc nhu cầu của khách du lịch Đặc biệt, môi trờng cảnh quan ở các làng nghề có tác động mạnh đến tâm lý của du khách Nhìn thấy môi trờng ô nhiễm, mùi không khí sặc sụa làm cho sự thiện cảm của du khách giảm nhiều ở các làng nghề không có không gian thử nghiệm cho khách du lịch và không có giới thiệu dịch vụ t vấn cho khách du lịch nên cha giữ chân đợc khách Du khách không thoải mái khi tham quan hoặc thấy các sản phẩm không sạch đợc tạo ra từ các làng nghề có vấn đề về môi trờng sẽ làm hạn chế phát triển du lịch làng nghề
Làng nghề ở Hà Tây phát triển theo 3 nhóm gồm những làng nghề phát triển tốt; những làng nghề hoạt động cầm chừng, không phát triển đợc; những làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một, mất nghề
Nhóm thứ nhất bao gồm các làng nghề chế biến lơng thực thực phẩm( bánh
giầy Quán Gánh, ), chế biến gỗ( mộc Chàng Sơn), mây tre đan( Làng mây tre
đan Ninh Sở, Phú vinh), khảm trai Chuyên Mỹ, Đối với nhóm làng nghề này, bên cạnh sự phát triển của các làng nghề thì đã bắt đầu xuất hiện một số yếu tố không lành mạnh Đó là do chạy theo lợi nhuận, phần lớn sản phẩm làm ra kém
về chất lợng do nhiều công đoạn đã bị rút ngắn, nguyên liệu để sản xuất không
đảm bảo, làm dối, làm ẩu, ít dùng thợ lành nghề để làm giảm chi phí sản xuất Những điều này có thể làm cho các làng nghề mai một uy tín, có nguy cơ bị th
-ơng mại hoá và dần dần mất đi tính truyền thống của mình
Nhóm thứ hai bao gồm những làng nghề nh dệt may( làng lụa Vạn Phúc, La
khê- La Cả), làm giấy An Cốc, làng may áo dài truyền thống ở Trạch Xá( Hoà Lâm, ứng Hoà), Đối với những làng nghề này, hiện nay, số nghệ nhân còn lại không nhiều ở làng Vạn Phúc, nghề dệt là một nghề dễ học nhng khó làm, vì vậy, rất ít ngời muốn kế tục nghề này Do đó, trong làng bây giờ rất nhiều nhà mở xởng nhng lại thuê thợ dệt từ nơi khác đến Hay nh làng nghề may áo dài truyền thống thì
Trang 9những ngời thợ khi đã lành nghề thì đều rời quê lên các thị xã, thành phố để lập nghiệp vì nghề may áo dài gắn liền với phục vụ nhu cầu của ngời thành thị, có thu nhập và đời sống cao, vì thế mà nghệ nhân trong làng cứ giảm dần Những ngời làm tại nhà cũng không nhiều, chủ yếu là ngời già, trẻ em còn đang đi học, ngời đã nghỉ hu, những ngời còn gắn bó với ruộng đất Nguyên nhân của sự vắng thợ lành nghề này cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển của các làng nghề truyền thống Đầu tiên, phải kể đến là đờng giao thông khó khăn nh đã kể trên Vấn
đề tiếp theo là vốn đầu t không có và không có điều kiện để áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì thế mà các làng nghề chỉ dừng lại ở các mô hình sản xuất gia
đình với quy mô nhỏ lẻ
Nhóm thứ ba bao gồm các làng nh làng quạt Vác, ở đây, nghề làm quạt
giấy dờng nh đã lùi vào di vãng, chỉ còn laị 2 nghệ nhân cuối cùng tuổi cũng đã ngoài 80 vẫn trung thành với nghề Thay vào đó, làng Vác bây giờ chuyển sang làm lồng chim và chẳng còn lâu nữa khi những nghệ nhân cuối cùng của làng trở
về với cõi vĩnh hằng cùng tổ tiên thì huyền thoại về những chiếc quạt nan dài tới
90 cm chuốt từ sừng trâu, huyền thoại về những cây quạt có tuổi dài hơn đời
ng-ời sẽ mãi mãi đi vào dĩ vãng
2.1.2 Thực trạng các lễ hội ở Hà Tây.
Nh đã trình bày ở trên, Hà Tây có rất nhiều lễ hội mang đặc trng của lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc bộ Việt Nam Tuy nhiên, ngoài lễ hội chùa Hơng có quy mô lớn, thu hút du khách không chỉ trong nớc và quốc tế, các lễ hội khác thờng
có quy mô nhỏ, chủ yếu ở mức phục vụ nhân dân địa phơng và một số du khách từ các vùng lân cận Nhiều địa phơng đã cố gắng làm đẹp cảnh quan, di tích, tổ chức tốt các lễ hội, nhiều lễ hội diễn ra bài bản, công phu, làm hài lòng khách thập
ph-ơng Tuy nhiên, do trình độ tổ chức và lực lợng có hạn, ngời đi hội lại đông, nên nhiều địa phơng cha làm tốt công tác tổ chức, quản lý các lễ hội Nhiều lễ hội lộn xộn, đắt đỏ hoặc thực phẩm kém an toàn, gây d luận bất bình Không ít lễ hội thiếu vắng các trò chơi, biểu diễn nghệ thuật khiến cho lễ hội trở nên nghèo nàn, buồn tẻ Thậm chí có nơi không kiểm soát đợc các hoạt động trong lễ hội, để diễn
ra các tiêu cực nhuốm màu “ thơng mại hoá” về dịch vụ đi lại, mua sắm, ăn uống, lễ bái nh tăng giá bắt chẹt khách, quy định tiền đặt lễ, đặt hòm công đức tràn lan Nhiều nơi diễn ra công khai các hoạt động mê tín dị đoan nh khấn thuê lễ mớn, viết
sớ, xóc thẻ, bói toán tử vi, đồng cốt,
Một ví dụ tiêu biểu là tại lễ hội chùa Hơng, một lễ hội lớn nhất, đợc tổ chức
khá là công phu, kỹ lỡng Vào dịp lễ hội, nơi đây tràn ngập những hàng bán thuốc nam, cây cảnh, rau sắng giả khiến không ít khách du xuân phải bực mình
Trang 10bởi họ vừa mất tiền mua vừa mất công mang về mà không đợc tác dụng gì Việc
đi thuyền đò trên suối Yến từ lâu đã là sự ám ảnh với du khách bởi nạn bắt chẹt,
ép khách Mặc dù không còn cảnh phải mua thêm vé tại đò nhng nạn ép tiền bồi dỡng (bo) sau khi lên bờ trong mùa lễ hội này khá phổ biến Số tiền bo không phải theo ý khách mà phải đợc chủ đò chấp nhận Theo lời kể của sinh viên Nguyễn ánh, trờng ĐH Khoa học xã hội nhân văn: “ Nhóm chúng em đi theo một ngời địa phơng, họ đa đợc từng ngời vào bến Đục bằng lợng vé thắng cảnh
ít hơn số ngời Sau đó, xuống đò rồi thì chúng em phải trả gấp đôi số tiền vé cho ngời lái đò vì bị doạ là thiếu vé sẽ không đợc đi tiếp Lúc ra lại bị ép bo thêm 50.000 đồng, càng thấy bực mình hơn”
Đánh trúng vào lòng thành của nhiều con nhang đệ tử, dịch vụ xin tiền vàng, chữ nho tại ban thờ các động Phật Tích, Tiên Sơn, xuất hiện Để có một lá tiền vàng, ngời xin sau đó phải thành tâm lại khoảng 5.000 – xã hội của đất n 10.000 đồng Ngoài ra, dịch vụ cho thuê khay đặt lễ, khấn thuê, sóc quẻ, thẻ, khá lộn xộn,
du khách rất dễ bị mất tiền đặt cọc hoặc bỏ thêm tiền nếu không trả giá trớc Tại đây, có tới hàng nghìn quán ăn, sạp bán đồ ăn, đều bán với giá cao gấp 1.5- 2 lần giá trị thực Thậm chí, nếu không trả giá trớc thì có thể phải trả cao gấp
3-5 lần Dù rất bất bình và tiếc tiền nhng du khách vẫn phải rút tiền ra trả chứ không thể đôi co với chủ quán, không những không thay đổi đợc gì mà có khi còn thiệt về mình
Hay nh ở lễ hội chùa Thầy, các hàng lu niệm, quán ăn đợc bày bán không theo trật tự Vẫn còn có cảnh chèo kéo du khách, thái độ bán hàng thô tục, không lịch sự Các hàng ăn thờng đổ rác và thức ăn thừa xuống ao Rồng, gây ô nhiễm môi trờng Theo lời của s trụ trì chùa- Hoà thợng Thích minh Hiển, cứ vài hôm nhà chùa lại phải cho ngời vớt rác xung quanh hồ Các hàng lu niệm, các quầy bán hơng hoa, các bàn bán vé số đợc bày bán suốt từ đờng cái vào đến tận sân chùa, gây mất mỹ quan và làm hẹp đờng đi lại, gây cảnh chen lấn, xô đẩy cho ngời đi dự hội
Những vấn đề trên không chỉ diễn ra ở chùa Hơng, chùa Thầy mà hầu nh ở tất cả các lễ hội Chỉ có điều, tuỳ theo quy mô và mức độ chặt chẽ trong tổ chức
và quản lý mà những hiện tợng đó diễn ra ít hay nhiều, ảnh hởng lớn hay nhỏ
đến cái nhìn của du khách đối với lễ hội
Bên cạnh những vấn đề trên thì còn nhiều vấn đề gây bức xúc Một trong những vấn đề cần chú ý mà tác động không nhỏ tới hình ảnh của các lễ hội là việc tự ý tạo dựng các “di tích mới” để thu tiền lễ, hay một số “tổ chức” tự xng là ban quản lý để bán vé thu tiền bất chính khách trẩy hội Những hoạt động này đã