Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở...19 1.2.. Chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệmphân tích sự tác động cụ thể của từn Mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sởMối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2HÀ NỘI - 2026
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS NGUYỄN ĐỨC SƠN
2 TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
Trang 4HÀ NỘI - 2026
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Công trình này là nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu và kết quả nghiên cứuđược trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác
Tác giả
Lê Thị Ngọc Thúy
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Đức Sơn và TS.Nguyễn Thị Phương Hoa đã tận tâm, tận tình hướng dẫn, hỗ trợ về chuyên môn, đồngthời luôn động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, gópphần quan trọng vào việc tác giả có thể hoàn thành luận án này
Tác giả trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, Bộ môn Tâm lý học đại cươngcùng toàn thể quý Thầy giáo, Cô giáo của khoa Tâm lý giáo dục, trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ chuyên môn cho tác giả trong quátrình học tập và thực hiện nghiên cứu
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học –trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để tác giảthực hiện và hoàn thành luận án đúng quy định
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo cơ quan, quý Thầy giáo, Cô giáo cùngcác đồng nghiệp tại Viện Tâm lý học (Nay là Viện Xã hội học và Tâm lý học), ViệnHàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã hỗ trợ về thời gian công tác, tạo điều kiệnthuận lợi và đóng góp ý kiến chuyên môn trong suốt thời gian tác giải thực hiện nghiêncứu
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Quý phụ huynh, các em học sinhtrường Trung học cơ sở Trương Công Giai, trường Trung học cơ sở thị trấn Trâu Quỳ
đã nhiệt tình hợp tác, hỗ trợ và tham gia khảo sát, góp phần quan trọng vào việc thuthập dữ liệu và hoàn thiện các kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè vànhững người thân yêu đã luôn quan tâm, động viên và là chỗ dựa tinh thần vững chắccho tác giả trong quá trình thực hiện luận án
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng trong luận án khó tránh khỏi nhữnghạn chế nhất định Tác giả kính mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy giáo, Côgiáo, các nhà khoa học, các anh chị em đồng nghiệp để nghiên cứu được hoàn thiệnhơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của luận án 6
9 Cấu trúc của luận án 7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI LÀM CHA MẸ VỚI LÒNG TỰ TRỌNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu về hành vi làm cha mẹ 8
1.1.2 Những nghiên cứu về lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 15
1.1.3 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 19
1.2 Lý luận về hành vi làm cha mẹ 22
1.2.1 Khái niệm hành vi làm cha mẹ 22
1.2.2 Các biểu hiện của hành vi làm cha mẹ 25
1.2.3 Mức độ hành vi làm cha mẹ 29
1.3 Lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 30
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở 30
1.3.2 Lòng tự trọng 35
1.3.3 Lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 39
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 42
Trang 91.4 Mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung
học cơ sở 44
1.4.1 Khái niệm mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 44
1.4.2 Các lý thuyết góp phần giải thích mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của con 45
1.4.3 Tính chất mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 48
1.4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 50
Tiểu kết Chương 1 53
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54
2.1 Địa bàn và khách thể nghiên cứu 54
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 54
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 55
2.2 Tổ chức nghiên cứu 57
2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 57
2.2.2 Giai đoạn xây dựng công cụ nghiên cứu 58
2.2.3 Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn 62
2.3 Phương pháp nghiên cứu 63
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 63
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 63
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 65
2.3.4 Phương pháp quan sát 65
2.3.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 66
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 66
2.3.7 Phương pháp thống kê toán học 66
Tiểu kết Chương 2 73
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI LÀM CHA MẸ VỚI LÒNG TỰ TRỌNG CỦA HỌC SINH
Trang 10TRUNG HỌC CƠ SỞ 74
3.1 Thực trạng hành vi làm cha mẹ của cha mẹ có con lứa tuổi trung học cơ sở 74
3.1.1 Tự đánh giá của cha/mẹ về hành vi làm cha mẹ 74
3.1.2 Thực trạng hành vi hỗ trợ của cha mẹ đối với con 78
3.1.3 Thực trạng hành vi kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con 80
3.1.4 Thực trạng hành vi kiểm soát hành vi của cha mẹ đối với con 82
3.1.5 So sánh đánh giá của phụ huynh về hành vi làm cha mẹ theo các biến số 84
3.2 Thực trạng lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 91
3.2.1 Tự đánh giá của học sinh về lòng tự trọng của bản thân 91
3.2.2 So sánh tự đánh giá của học sinh về lòng tự trọng của bản thân theo các biến số 94
3.3 Thực trạng mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 97
3.3.1 Tương quan giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 97
3.3.2 Ảnh hưởng của hành vi làm cha mẹ tới lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở .114 3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 122
3.4.1 Các yếu tố liên quan đặc điểm của cha mẹ 122
3.4.2 Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của học sinh 125
3.5 Kết quả nghiên cứu trường hợp và đề xuất các biện pháp điều chỉnh hành vi của cha mẹ và nhận thức của con nhằm nâng cao lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở 129
3.5.1 Kết quả nghiên cứu trường hợp 129
3.5.2 Đề xuất các biện pháp 139
Tiểu kết chương 3 144
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 148
MỤC LỤC THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển lòng tự trọng củahọc sinh như độ tuổi, trí tuệ cảm xúc, môi trường học tập, phong cách, hành vi làmcha mẹ, Trong hệ sinh thái phát triển tâm lý của trẻ em, gia đình được xem là bốicảnh nền tảng – nơi các tương tác đầu đời và mối quan hệ gắn bó cảm xúc đượchình thành Đặc biệt, hành vi làm cha mẹ được xem là yếu tố cốt lõi quy định chấtlượng tương tác giữa cha mẹ và con Thái độ, hành vi ứng xử, mức độ quan tâm, hỗtrợ hay kiểm soát của cha mẹ có tác động trực tiếp đến cách trẻ nhận thức, đánh giá
và hình thành quan niệm về giá trị bản thân Do đó, hành vi làm cha mẹ được xem
là một trong những nhân tố quyết định đến sự phát triển lòng tự trọng của con(Bretherton, 1991; Harter, 1999, 2003; Wylie, 1979)
Lòng tự trọng là một hiện tượng tâm lý cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong tiếntrình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằnglòng tự trọng cao có thể giúp cá nhân có sức khỏe tâm thần tốt, hành vi xã hội tíchcực, học tập hiệu quả và duy trì các mối quan hệ lành mạnh; ngược lại, lòng tựtrọng thấp thường gắn liền với những khó khăn trong học tập, rối loạn tâm lý và cácvấn đề xã hội Đặc biệt, ở lứa tuổi vị thành niên, giai đoạn mà các em đang hìnhthành bản sắc và định vị giá trị bản thân, lòng tự trọng càng có ý nghĩa quyết địnhđối với việc đưa ra lựa chọn, định hướng nhân cách và phát triển toàn diện sau này(Dahl, 2004; Erickson, 1959; Rosenberg, 1986)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cha mẹ và con cũng như tác động của mối quan
hệ này đến sự hình thành, phát triển tâm lý cá nhân nói chung là hướng nghiêncứu cơ bản trong tâm lý học phát triển, góp phần giải thích, dự báo các vấn đềtâm lý của trẻ trong hệ sinh thái gia đình Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọngđặc biệt trong sự phát triển của trẻ vị thành niên (Lê Minh Nguyệt, 2013; ĐinhThị Hồng Vân, 2013), hành vi của cha mẹ đối với con của mình có thể ảnhhưởng đến cách trẻ nhận thức về bản thân Các nghiên cứu trên thế giới đã chứngminh hành vi làm cha mẹ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý của con.Baumrind (1971) khẳng định phong cách nuôi dạy dân chủ giúp trẻ tự tin và có khả
Trang 12năng thích ứng xã hội tốt hơn, trong khi kiểm soát độc đoán dễ dẫn đến lo âu vàlòng tự trọng thấp Barber (1996) chỉ ra rằng cha mẹ kiểm soát tâm lý gây tổn hạiđến ý thức tự chủ và lòng tự trọng của trẻ Các nghiên cứu của Shek & Zhu (2019)
và Pinquart (2016) cũng cho thấy sự ấm áp và hỗ trợ từ cha mẹ là yếu tố có ý nghĩabảo vệ trẻ trước các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần Ngược lại, kiểm soátkhắc nghiệt làm gia tăng các rối loạn nội tâm hóa ở học sinh Tuy nhiên, tại ViệtNam, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và lòng tự trọng củahọc sinh trung học cơ sở còn rất hạn chế Chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệmphân tích sự tác động cụ thể của từng hành vi cha mẹ (bao gồm các khía cạnh hỗtrợ, kiểm soát hành vi và kiểm soát tâm lý) cũng như sự khác biệt trong ảnh hưởngcủa cha và mẹ đối với lòng tự trọng của con mà chủ yếu dừng lại ở việc khảo sátphong cách giáo dục của cha mẹ hoặc mô tả mức độ lòng tự trọng của học sinh…Trong bối cảnh xã hội ngày nay, khi áp lực học tập, tác động từ mạng xã hội và cácnguy cơ về sức khỏe tâm thần ngày càng gia tăng ở lứa tuổi học sinh THCS – giaiđoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi thiếu niên, học sinh có nhu cầu mạnh mẽkhẳng định bản thân và tìm kiếm sự công nhận từ cha mẹ, thầy cô và bạn bè Vìvậy, hành vi làm cha mẹ càng có ý nghĩa quan trọng trong việc nuôi dưỡng hoặckìm hãm sự phát triển lòng tự trọng ở lứa tuổi này Việc làm rõ cơ chế tác động củahành vi làm cha mẹ đến lòng tự trọng của học sinh trở thành một nhu cầu cấp thiết
và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu "Mối quan hệ giữa hành vi làm
cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở" được thực hiện nhằm kiểm
chứng và bổ sung thêm bằng chứng khoa học cho lĩnh vực này trong bối cảnh ViệtNam Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm sáng tỏ cơ chế tác động của hành vilàm cha mẹ đến sự phát triển tâm lý của học sinh, mà còn cung cấp cơ sở khoa học choviệc định hướng giáo dục gia đình, nâng cao kỹ năng làm cha mẹ, cũng như hỗ trợ họcsinh xây dựng lòng tự trọng tích cực, từ đó phát triển nhân cách lành mạnh và toàndiện
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hành vi làm cha mẹ, lòng tự trọng
Trang 13của học sinh THCS, luận án nghiên cứu tính chất và chiều hướng mối quan hệ giữahành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh THCS, đề xuất một số biện phápdành cho cha mẹ có con ở lứa tuổi THCS trong việc điều chỉnh hành vi của bản thânnhằm nhằm nâng cao lòng tự trọng của con.
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trunghọc cơ sở
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Mẫu nghiên cứu định lượng: 322 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9, trong đó có 143học sinh đang theo học tại trường THCS Trương Công Giai, Cầu Giấy và 179 họcsinh đang theo học tại trường THCS Thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm cùng 322 cha/mẹcủa những học sinh được nghiên cứu
- Mẫu nghiên cứu định tính: 4 giáo viên chủ nhiệm; 5 cặp cha/mẹ và họcsinh của 4 lớp có học sinh tham gia nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết 1: Các loại hành vi làm cha mẹ có mối tương quan khác nhau với
lòng tự trọng của học sinh THCS, trong đó: Hành vi hỗ trợ, kiểm soát hành vi củacha/mẹ có tương quan thuận, kiểm soát tâm lý của cha/mẹ có tương quan nghịch vớilòng tự trọng của học sinh THCS
Giả thuyết 2: Hành vi làm cha mẹ là yếu tố dự báo cho lòng tự trọng ở học sinh
THCS
Giả thuyết 3: Mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và lòng tự trọng của học
sinh THCS chịu tác động bởi một số yếu tố như giới tính, địa bàn sinh sống của họcsinh, phụ huynh, cảm nhận của học sinh về hành vi làm cha mẹ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự
trọng của học sinh THCS
- Khảo sát thực trạng hành vi làm cha mẹ, lòng tự trọng của học sinh THCS từ
Trang 14đó đánh giá tính chất, chiều hướng mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng
tự trọng của học sinh, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa hành vi làmcha mẹ với lòng tự trọng của học sinh
- Đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý nhằm giúp cha mẹ điều chỉnh hành
vi cho phù hợp với con, từ đó góp phần nâng cao lòng tự trọng của các em
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu giới hạn tìm hiểu hành vi làm cha mẹ với 3 kiểu loại: hỗ trợ, kiểmsoát hành vi, kiểm soát tâm lý; giới hạn đánh giá lòng tự trọng tổng thể của học sinhTHCS Đồng thời nghiên cứu tác động trực tiếp của hành vi làm cha mẹ đến mức độlòng tự trọng của học sinh cũng như một số yếu tố chi phối mối quan hệ này
6.2 Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Giới hạn khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu gồm học sinh từ lớp 6
đến lớp 9; cha hoặc mẹ của những học sinh này
Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 02 trường công
lập (01 trường ở khu vực nội thành, 01 trường ở khu vực ngoại thành) trên địa bàn
Hà Nội, gồm: trường THCS Trương Công Giai, Cầu Giấy ở nội thành, trườngTHCS Thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm ở ngoại thành
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách tiếp cận
Tiếp cận tâm lý học phát triển: Lòng tự trọng được xem là một cấu trúc tâm lý
mang tính động, hình thành và biến đổi trong giai đoạn thiếu niên, thể hiện qua cáchoạt động học tập cũng như các mối quan hệ với bạn bè và gia đình Do đó, việcnghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và lòng tự trọng của học sinh cầnđược đặt trong bối cảnh những đặc điểm phát triển tâm lý đặc trưng của trẻ ở từnggiai đoạn lứa tuổi Trên cơ sở đó, các biện pháp tác động tâm lý nhằm điều chỉnhhành vi làm cha mẹ cũng cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm phát triển củatrẻ ở từng độ tuổi, qua đó, góp phần nâng cao lòng tự trọng của học sinh
Tiếp cận cấu trúc hệ thống: Lòng tự trọng là một thành tố của nhân cách Dưới
Trang 15gó độ cấu trúc hệ thống, LTT là một cấu trúc tâm lý gồm nhiều mặt (nhận thức, cảmxúc, hành vi) có quan hệ tương tác tạo nên mức độ lòng tự trọng chung và có mối quan
hệ với yếu tố tác động bên ngoài là hành vi làm cha mẹ Vì vậy, khi nghiên cứu về mốiquan hệ giữa hành vi làm cha mẹ và lòng tự trọng của học sinh THCS cần đặt trongmối quan hệ với các yếu tố chủ quan và khách quan khác để tránh cách nhìn phiếndiện, đơn yếu tố khi giải thích lòng tự trọng của học sinh
Tiếp cận tâm lý học hoạt động: Các đặc điểm lý của cá nhân hay nhóm không
tồn tại một cách tách rời mà được hình thành, phát triển và bộc lộ thông qua quátrình tham gia vào các hoạt động cụ thể Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá MQHgiữa hành vi làm cha mẹ và lòng tự trọng của học sinh THCS được thực hiện trongbối cảnh tương tác tường nhật các hoạt động giữa cha mẹ và con như: giao tiếp,chăm sóc, giáo dục Chính trong những hoạt động này, hành vi làm cha mẹ được thểhiện rõ nét và có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển lòng tự trọng củahọc sinh
Tiếp cận tâm lý học nhân văn: Dựa trên quan điểm của các nhà tâm lý học
nhân văn như Carl Rogers và Abraham Maslow, cách tiếp cận này coi mỗi học sinh
là một cá thể độc đáo, có tiềm năng phát triển, đồng thời có nhu cầu được tôn trọng,thừa nhận và yêu thương Trong bối cảnh nghiên cứu, cách tiếp cận nhân văn nhấnmạnh rằng mối quan hệ cha mẹ và con không chỉ là sự kiểm soát hay định hướnghành vi mà quan trọng hơn là tạo dựng một môi trường gia đình giàu tính cảm xúc.Trong đó, trẻ cảm nhận được sự hỗ trợ, tôn trọng và chấp nhận để con phát triểnlòng tự trọng Cách tiếp cận này cho phép xem xét mối quan hệ giữa hành vi làmcha mẹ với lòng tự trọng của con từ góc nhìn tích cực, nhấn mạnh tiềm năng pháttriển của học sinh và vai trò của sự yêu thương, tôn trọng, hỗ trợ từ cha mẹ giữ vaitrò nên tảng đề các em hình thành lòng tự trọng vững chắc
Tiếp cận văn hóa: Mỗi cá nhân khi sinh ra và lớn lên đều gắn bó với hệ thống
văn hóa nhất định, từ văn hóa gia đình, cộng đồng địa phương cho đến văn hóavùng miền và văn hóa dân tộc Quá trình hình thành và phát triển các đặc điểm tâm
lý, nhân cách của con người chịu sự tác động sâu sắc từ những yếu tố văn hóa này.Trong đề tài này, các khía cạnh nội dung nghiên cứu đều được xem xét trong bốicảnh văn hóa gia đình, đặc điểm văn hóa vùng miền nhằm làm rõ vai trò của các
Trang 16yếu tố văn hóa với hành vi làm cha mẹ và sự phát triển lòng tự trọng của học sinh.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, các phương pháp nghiên cứu được chúng tôi sử dụngđược liệt kê dưới đây:
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.2.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.2.4 Phương pháp quan sát
7.2.5 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
7.2.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
7.2.7 Phương pháp thống kê toán học
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Về lý luận
Luận án khái quát, chỉ ra xu hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế về hành
vi làm cha mẹ, lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở, mối quan hệ giữa hành vilàm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
Xây dựng khái niệm công cụ của đề tài: mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹvới lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
Trên cơ sở khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, luận án
đã kế thừa và thiết kế được bộ công cụ đo hành vi làm cha mẹ dành cho cha mẹ tựđánh giá Công cụ này bước đầu đáp ứng các tiêu chuẩn về độ tin cậy, độ hiệu lựctrong thiết kế công cụ đo lường
Chỉ ra được một số yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hành vi làm cha
mẹ với lòng tự trọng của học sinh THCS: giới tính, địa bàn sinh sống của học sinh,phụ huynh, cảm nhận của con về hành vi làm cha mẹ
8.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu chỉ ra được thực trạng hành vi làm cha mẹ, lòng tự trọngcủa học sinh THCS, so sánh theo các nhóm đối tượng Tìm ra mối quan hệ giữahành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh THCS Chứng minh được ảnh
Trang 17hưởng của một số yếu tố đến mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tựtrọng của học sinh trung học cơ sở.
Bên cạnh đó, luận án đề xuất được một số biện pháp tác động tâm lý - giáo dụctrong điều chỉnh hành vi làm cha mẹ nhằm nâng cao lòng tự trọng của con ở lứa tuổihọc sinh THCS
Luận án là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho phụ huynh có con trong lứa tuổitrung học cơ sở; các thầy giáo, cô giáo, cán bộ tham vấn học đường trong trường trunghọc cơ sở
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục tài liệutham khảo, danh mục các công trình nghiên cứu liên quan tới luận án đã đượccông bố và các Phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu chặt chẽ, bao gồm bachương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tựtrọng của học sinh trung học cơ sở
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về mối quan hệ giữa hành vi làm cha
mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
Trang 18
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI LÀM CHA MẸ VỚI LÒNG TỰ TRỌNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về hành vi làm cha mẹ
- Nghiên cứu các kiểu loại hành vi làm cha mẹ
Trong thập niên 1930 - 1950, Freud và Erikson đã đặt nền móng lí thuyết vềảnh hưởng của mối quan hệ giữa cha mẹ và con đến sự phát triển nhân cách củacon Tiếp đó, Bowlby với Lý thuyết gắn bó (Attachment Theory) đã nhấn mạnh vaitrò của sự chăm sóc nhất quán đối với trẻ Ở thời kỳ này, các nhà nghiên cứu chỉ tậptrung vào tầm quan trọng của cha mẹ hay vai trò của cha mẹ nói chung, chưa phântách rõ hành vi hay phong cách làm cha mẹ
Đến thập niên 1960 - 1980, các nhà tâm lý học bắt đầu đặt trọng tâm nghiêncứu vào PCLCM (Parenting Style - mà ở Việt Nam thường gọi là phong cách giáodục) với các nghiên cứu kinh điển của Diana Baumrind, Maccoby và Martin Trongthập niên 1990, hàng loạt các nghiên cứu tập trung chứng minh ảnh hưởng củaPCLCM đến thành tích học tập, hành vi chống đối xã hội, khả năng thích ứng xã hộicủa trẻ Các nghiên cứu xuyên văn hóa cũng bắt đầu kiểm nghiệm mô hìnhBaumrind ở các quốc gia khác PCLCM trở thành "khung lý thuyết chuẩn" trongnghiên cứu
Tuy nhiên từ những năm 2000 đến nay, xuất hiện xu hướng nghiên cứu hành
vi làm cha mẹ Các nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu các hành vi làm cha mẹ cụthể đề từ đó đề xuất các chương trình giáo dục cha mẹ Hiện tại, các nhà tâm lý họckết hợp nghiên cứu cả phong cách và hành vi làm cha mẹ
PCLCM là khuôn mẫu ổn định, dễ mô tả, dễ khái quát (ví dụ: dân chủ, độcđoán, dễ dãi, bỏ mặc) Tuy nhiên, phong cách có thể không phản ánh chính xác cáchcha mẹ ứng xử trong từng tình huống (ví dụ: cha mẹ dân chủ nhưng đôi khi vẫnquát mắng, sử dụng những biện pháp độc đoán, cứng rắn khi con nguy hiểm; cha
mẹ độc đoán vẫn có thể dễ dãi, nuông chiều khi con ốm mệt…) Nhiều nghiên cứu
ở Việt Nam cho thấy các bố mẹ không thể hiện một phong cách giáo dục rõ ràng,
Trang 19mà thường có sự pha trộn giữa các phong cách Chính vì vậy, từ khoảng thập niên
2000 trở lại đây, các nhà tâm lý có xu hướng nghiên cứu các HVLCM cụ thể(Parenting Behavior) Hơn nữa, HVLCM là đơn vị nhỏ, quan sát được, dễ can thiệptrong các chương trình giáo dục cha mẹ Như vậy, có thể nói rằng, HVLCM lànhững đơn vị nhỏ, cụ thể; còn PCLCM là khuôn mẫu giáo dục chung, được cấuthành từ nhiều HVLCM được lặp đi lặp lại theo cách nhất quán Do đó, khi tổngquan các nghiên cứu về HVLCM không thể không kể đến các nghiên cứu vềPCGD
Một trong những người đầu tiên nghiên cứu về PCLCM là Diana Baumrind Bà
đã xây dựng một mô hình phân loại gồm 3 kiểu phong cách nhằm mô tả sự khác biệttrong hành vi nuôi dạy con trong các gia đình bao gồm: phong cách độc đoán, phongcách có thẩm quyền và phong cách dễ dãi Theo Baumrind (1971), cha mẹ độc đoánthường nhấn mạnh việc định hướng, kiểm soát và đánh giá hành vi của con dựa trênnhững chuẩn mực cứng nhắc và tuyệt đối; ngược lại, cha mẹ theo phong cách dễ dãi
có xu hướng thể hiện sự ấm áp và cho phép con có mức độ tự chủ cao hơn so với việc
áp đặt kiểm soát Từ đó, bà đề xuất cấu trúc tâm lý của hành vi nuôi dạy con có thểđược xem xé thông qua ba thành tố cơ bản: sự hỗ trợ (support), kiểm soát hành vi(behavioral control) và kiểm soát tâm lý (psychological control) [37]
Nghiên cứu của tác giả Scharfer (1959) đã đề xuất hai mô hình nhằm mô tảcách thức ứng xử của cha mẹ đối với con, bao gồm tự chủ - kiểm soát và thù hận -yêu thương Theo tác giả, những cha mẹ có kiểu ứng xử thiên về thù hận kết hợpvới kiểm soát thường đặt ra yêu cầu cao, thể hiện khuynh hướng độc đoán và áp đặttrong mối quan hệ với con Ngược lại, cha mẹ có cách ứng xử tự chủ và yêu thươngthường lựa chọn phương thức nuôi dạy theo hướng dân chủ, chú trọng khuyến khích
sự hợp tác đồng thời tôn trọng quyền tự chủ và tính độc lập của trẻ [106]
Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Sơn và cộng sự (2022) chỉ ra rằng: "giáodục gia đình tại Việt Nam hiện nay đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ sang phongcách quyết đoán với khoảng 70 – 80% phụ huynh ưu tiên sự thấu hiểu và tôn trọngquyền tự chủ của con cái thay vì áp đặt quyền uy tuyệt đối Tuy nhiên, các giá trịtruyền thống vẫn duy trì tầm ảnh hưởng lớn thông qua sự kỳ vọng về học vấn, "
Trang 20Cùng với các kiểu PCLCM, nhiều công cụ đã được thiết kế và đề xuất Tuynhiên, với công cụ đánh giá PCLCM đa phần gặp khó khăn trong việc đánh giátừng khía cạnh hành vi giáo dục của cha mẹ đối với sự phát triển của con Thêmvào đó, khía cạnh kiểm soát tâm lý hiếm khi được mô hình hóa rõ ràng và có rất íthiểu biết sâu sắc về các PCLCM chung đồng thời đặc trưng cho các hoạt động của
mẹ và cha cũng như tác động của chúng đến sự phát triển của trẻ Chính vì vậy,nhiều nghiên cứu đánh giá PCLCM theo cấu trúc tâm lý thông qua các biểu hiệnHVLCM theo ba chiều cạnh: hỗ trợ, kiểm soát hành vi và kiểm soát tâm lý
Trong nghiên cứu về phong cách nuôi dạy con của Chao (1994) về các bà
mẹ người Mỹ gốc Trung Quốc cho thấy rằng "các cha mẹ châu Á vẫn duy trìnhiều đặc điểm của quan điểm giáo dục truyền thống, thể hiện qua việc đề cao uyquyền của cha mẹ, kiểm soát hành vi của trẻ cà áp dụng các biện pháp kỷ luậtnghiêm khắc Tuy nhiên, những hành vi này không nhất thiết mang ý nghĩa tiêucực trong bối cảnh văn hóa châu Á" Tác giả cho rằng các mô hình phân loạiphong cách nuôi dạy con của Baumrind có thể không phản ánh đầy đủ thực tiễnnuôi dạy con đối với người châu Á do quan niệm khác nhau về sự kiểm soát và
sự chăm sóc của cha mẹ Theo đó, tác giả khẳng định người Trung Quốc nuôidạy con theo kiểu "giáo dục" và "quản lý" – một mô hình vừa chú trọng kỷ luậtvừa thể hiện sự quan tâm sâu sắc và có thể mang lại những kết quả phát triển tíchcực cho trẻ dù khác với phương pháp "dân chủ" và "độc đoán" của Baumrind[51]
Tiếp tục làm rõ vai trò của yếu tố văn hóa trong phong cách nuôi dạy con,nghiên cứu của Chang Mimi (2007) đã chỉ ra sự khác biệt đáng kể trong việc sửdụng PCLCM giữa cha mẹ người Mỹ gốc Trung Quốc với người Mỹ chính thống.Kết quả cho thấy: "các cha mẹ gốc Trung Quốc có xu hướng sử dụng uy quyềncủa mình để quản lý con, phù hợp với định hướng giáo dục truyền thống của vănhóa Á Đông Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội phương Tây, cách tiếp cận này cóthể dẫn đến những xung đột về giá chị và chuẩn mực văn hóa giữa cha mẹ và controng các gia đình người Mỹ gốc Trung Quốc, qua đó ảnh hưởng đến sự thích nghitâm lý và mối quan hệ gia đình của trẻ" [50] Những phát hiện này cho thấy tác
Trang 21động của phong cách nuôi dạy con không chỉ phụ thuộc vào bản thân hành vi củacha mẹ mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của bối cảnh văn hóa, xã hội mà trẻđang sinh sống.
Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về PCLCM cũng như HVLCM.Tác giả Lê Thanh Hà (2019) thực hiện nghiên cứu trên 624 học sinh THCS tìm hiểucác khía cạnh tâm lý của phong cách giáo dục: hỗ trợ, KSTL, KSHV Trong nghiêncứu này, tác giả không đo tách riêng bố - mẹ mà để học sinh đánh giá chung nhữnghành vi cha mẹ thường làm Kết quả cũng chỉ rõ có sự pha trộn các hành vi khác nhautrong giáo dục con của bố mẹ [3]
Vũ Thị Khánh Linh (2012) đã chỉ ra ba PCGD của cha mẹ, bao gồm phongcách dân chủ, phong cách độc đoán và phong cách tự do Kết quả nghiên cứ chothấy "phong cách dân chủ là phong cách chiếm ưu thế so với hai phong cách cònlại Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra sự chênh lệch đáng kể giữa nhận định củacha mẹ về phong cách giáo dục của bản thân và nhận định của học sinh về phongcách giáo dục của cha mẹ các em Sự khác biệt này có liên quan đến mức độ lòng tựtrọng của học sinh, gợi ý rằng cách nhìn nhận phong cách giáo dục của cha mẹ từphía trẻ em có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển lòng tự trọng"[12]
Tác giả Lê Thị Ngọc Lan (2020) sử dụng thang đo HVLCM được đề xướngbởi nhóm tác giả Barber, Stolz, Olsen, Collins & Burchinal (2005), gồm 23 item sau
đó bổ sung thêm 5 item cho phù hợp với thực tế ứng xử tại Việt Nam Tác giả thựchiện khảo sát đánh giá của học sinh về hành vi của cha, hành vi của mẹ trong quátrình nuôi dạy con Kết quả nghiên cứu cho thấy: "theo đánh giá của học sinh, điểmtrung bình chung của mẹ cao hơn của cha trên tất cả các tiểu thang đo" Những kếtquả này phản ánh xu hướng giáo dục con theo hướng tiến bộ, dân chủ và hiện đạicủa cha mẹ Việt Nam hiện nay Nhóm cha mẹ hỗ trợ thường có kiến thức nuôi dạycon, am hiểu tâm lý trẻ, thể hiện phong cách dân chủ, nồng ấm, yêu thương, tintưởng, tôn trọng cảm xúc, suy nghĩ của con Bên cạnh đó, sự hỗ trợ không tách rờiviệc kiểm soát hành vi và định hướng tâm lý của con ở mức độ phù hợp Ngượclại, nhóm cha mẹ kiểm soát tâm lý con thường có xu hướng độc đoán, áp đặt và
Trang 22hạn chế tính dân chủ trong mối quan hệ với con [10].
- Nghiên cứu vai trò của hành vi làm cha mẹ đối với sự phát triển của con
Phần lớn các nghiên cứu quan tâm tìm hiểu vai trò làm cha mẹ nói chung Cónghiên cứu tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với các hành vilệch chuẩn của con Shek và Zhu (2019) tiến hành nghiên cứu trên mẫu 2.669 thanhthiếu niên trong độ tuổi 12 đến 14 nhằm kiểm định ảnh hưởng của HVLCM cũngnhư chất lượng mối quan hệ giữa cha mẹ và con đối với mức độ và tốc độ gia tănghành vi phạm pháp ở giai đoạn đầu tuổi vị thành niên Kết quả cho thấy "mức độkiểm soát hành vi của cha mẹ và chất lượng mối quan hệ của họ với con có khảnăng dự báo tiêu cực đối với hành vi phạm pháp lần đầu của thanh thiếu niên"[107] Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sự kiểmsoát hành vi phù hợp của cha mẹ và mối quan hệ cha mẹ - con tích cực có tác dụnglàm giảm nguy cơ xuất hiện các hành vi có vấn đề ở trẻ em và thanh thiếu niên[66; 116; 65] Đồng thời, nghiên cứu của Shek và Zhu (2019) cũng chỉ ra rằng
"kiểm soát tâm lý của cả cha và mẹ không tác động đến mức độ phạm pháp banđầu của thanh thiếu niên Tác giả lý giải rằng trong bố cảnh văn hóa Trung Quốchiện tại, thanh thiếu niên có xu hướng không coi sự kiểm soát tâm lý của cha mẹ
là hình thức nuôi dạy tiêu cực mà xem đây là biểu hiện của sự quan tâm và yêuthương" [107] Cách lý giải này khác biệt với nhiều kết quả nghiên cứu ở các nướcphương Tây, nơi quyền tự chủ và tính độc lập cá nhân được đề cao Các nghiêncứu ở bối cảnh này đã chỉ ra rằng sự KSTL của cha mẹ có thể làm suy giảm cảmgiác tự chủ, ảnh hưởng tiêu cực đến khía cạnh bản sắc cá nhân, lòng tự trọng; từ
đó, gây tổn hại đến sức khỏe tâm lý của trẻ em và làm gai tăng các hành vi có vấn
đề ở trẻ em và thanh thiếu niên [66; 69] Trong công trình của Barnes và Farrell(1992) cho thấy sự hỗ trợ và kiểm soát của cha mẹ là những yếu tố dự báo quantrọng đối với hành vi uống rượu, phạm pháp và các hành vi có vấn đề khác ởthanh thiếu niên [39] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh (2012) cũngkhẳng định rằng những khác biệt trong quan niệm, kỳ vọng, cách thức giáo dục vàứng xử của cha mẹ cũng như điều kiện chăm sóc trong gia đình có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ em [18]
Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu khác như nghiên cứu của Luebbe và cộng sự,
Trang 23Shek và cộng sự, phát hiện ra rằng sự kiểm soát về mặt tâm lý của cha mẹ TrungQuốc cũng dẫn đến các vấn đề nội tâm hóa như trầm cảm, tuyệt vọng, nghiệnInternet ở con họ [81; 109; 108]
Gần đây, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu so sánh tác động của mẹvới tác động của cha đối với con với mong muốn thực hiện nhiều nghiên cứu hơn đểphân biệt giữa vai trò của cha và vai trò của mẹ, so sánh khác biệt giữa cha và mẹđối với sự phát triển toàn diện của thanh thiếu niên [66]
Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích riêng khía cạnh KSTL củacha mẹ và tác động của nó đối với sự phát triển tâm lý của con Trong nghiên cứucủa Rogers và cộng sự (2003), mối quan hệ giữa nhận thức của vị thành niên vềmức độ KSTL của cha mẹ và các triệu chứng nội tâm hóa cũng như ngoại tâmhóa được xem xét trong bốn cặp quan hệ cha/mẹ và con Kết quả cho thấy, theochiều ngang, KSTL của cha chỉ dự báo mức độ nội tâm hóa cao hơn ở cả họcsinh nam và nữ khi người mẹ cũng được trẻ nhận thức là có khả năng kiểm soáttâm lý cao Tương tự, nhưng chỉ ở học sinh nữ, KSTL của cha chỉ dự báo mức độngoại tâm hóa cao hơn khi kiểm soát tâm lý của mẹ cũng ở mức cao Những pháthiện này phù hợp với tổng quan nghiên cứu của Pinquart (2016): "sự ấm áp củacha mẹ, kiểm soát hành vi, trao quyền tự chủ và nuôi dạy con có thẩm quyền chothấy mối liên hệ tiêu cực đồng thời và theo chiều dọc từ rất nhỏ đến rất nhỏ vớicác triệu chứng nội tâm hóa Ngược lại, sự kiểm soát khắc nghiệt, kiểm soát tâm
lý, độc đoán và một phần là nuôi dạy con theo kiểu bỏ bê có liên quan đến mức
độ cao hơn của các triệu chứng nội tâm hóa Sự ấm áp của cha mẹ, kiểm soáthành vi, kiểm soát khắc nghiệt, kiểm soát tâm lý, trao quyền tự chủ và nuôi dạycon có thẩm quyền dự đoán sự thay đổi trong các triệu chứng nội tâm hóa theothời gian, với mối liên hệ giữa các triệu chứng nội tâm hóa với sự ấm áp của cha
mẹ, kiểm soát tâm lý và nuôi dạy con có thẩm quyền là song phương" [117].Tại Việt Nam, từ năm 2008, nghiên cứu của Lưu Song Hà về mối quan hệgiữa phong cách và HVLCM với các hành vi lệch chuẩn của con đã chỉ ra rằng:
"những trẻ có cha mẹ thờ ơ, thiếu gắn kết và ít quan tâm thường có xu hướng viphạm nhiều chuẩn mực hành vi nhiều hơn so với những trẻ được nuôi dạy trong giađình đề cao sự tin tưởng và bình đẳng" [6] Tiếp nối hướng nghiên cứu này, trong
Trang 24nghiên cứu của Trần Thành Nam (2015) đã khẳng định rằng: "phong cách vàHVLCM có ảnh hưởng đáng kể đến các rối loạn hành vi, cảm xúc của thanh thiếuniên (bao gồm: rối loạn lo âu, trầm cảm, thu mình trầm cảm, than phiền cơ thể, cácvấn đề xã hội, tư duy, chú ý, cũng như các hành vi xâm kích và hành vi pháp luật)"[21] Gần đây hơn, nhóm tác giả Trần Thu Hương và cộng sự (2022) tiếp tục cungcấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy: "Hành vi hỗ trợ ở mức cao từ cả cha và mẹ
có khả năng dự báo sự suy giảm các hành vi lệch chuẩn học đường nói chung.Ngược lại, sự kiểm soát tâm lý ở mức cao từ phía cha mẹ sẽ dự báo sự gia tănghành vi lệch chuẩn trong môi trường nhà trường; trong khi kiểm soát hành vi của
cả cha và mẹ không cho thấy vai trò dự báo đáng kể đối với sự thay đổi của cáchành vi này Bên cạnh đó, các yếu tố bối cảnh như kết quả học tập trong năm học,tình trạng hôn nhân của cha mẹ, giới tính của trẻ, thứ tự sinh trong gia đình và môitrường học tập cũng được xác định là những yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ tuânthủ hay vi phạm các quy định của nhà trường ở học sinh" [9]
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa HVLCM
và kết quả học tập của con Cụ thể, sự hỗ trợ và kiểm soát của cha mẹ được ghinhận là có tác động tích cực, giúp trẻ có thành tích học tập tốt hơn Trong khi đó,kiểm soát tâm lý của cha mẹ khiến trẻ đạt kết quả học tập thấp hơn (River và cộng
sự, 2012; Batool, 2020; Yau và cộng sự, 2022)
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi làm cha mẹ
Các nghiên cứu cho thấy trạng thái cảm xúc của cha mẹ có mối liên hệ đángtin cậy với hành vi nuôi dạy con nói chung Trong đó, những cảm xúc tiêu cựcthường gắn liền với các cách thức nuôi dạy con mang tính thù địch, còn những cảmxúc tích cực lại có mối liên hệ chặt chẽ hơn với cấc hành vi nuôi dạy con mang tính
hỗ trợ [96] Bên cạnh yếu tố cảm xúc, những khác biệt về đặc điểm nhân khẩu – xãhội của cha mẹ như tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa có những ảnh hưởng nhấtđịnh đến việc hình thành ở họ những PCGD khác nhau [12]
Những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cách thức quản lý và nuôi dạy con
là đặc điểm tâm lý của cha mẹ [42] Những cha mẹ thường xuyên trải nghiệm các
Trang 25trạng thái cảm xúc tiêu cực (có thể là trầm cảm, cáu kỉnh hoặc tức giận) có xuhướng thể hiện cách nuôi dạy kém nhạy cảm, ít phản ứng, khắc nghiệt hơn so vớicác cha mẹ khác; và điều này có vẻ đúng cho dù họ đang nuôi dạy trẻ sơ sinh/trẻmới biết đi [92], trẻ lớn hơn [70] hoặc thanh thiếu niên [48] Khi cha mẹ hướngngoại, tức là thường xuyên trải qua những cảm xúc tích cực và thích giao lưu xãhội, cách nuôi dạy con của họ có xu hướng nhạy cảm về mặt cảm xúc, phản ứng
và kích thích trong những năm đầu đời [43; 44] và sau này [80] Mức độ dễ chịucủa cha mẹ cũng có vẻ tạo nên sự khác biệt, vì những người hay hoài nghi, trả thù
và thao túng hơn và ít tin tưởng, hữu ích và dễ tha thứ hơn thì kiểm soát tiêu cựchơn những cha mẹ khác [80], đặc biệt là trong các tình huống kỷ luật [53]
1.1.2 Những nghiên cứu về lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
- Nghiên cứu thực trạng lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
Các công trình nghiên cứu cơ bản về lòng tự trọng của học sinh chủ yếu đượctriển khai theo hướng tiếp cận đơn tuyến, tiêu biểu là các công trình của Rosenberg(1965, 1979), Coopersmith (1967) Trong đó, lòng tự trọng được xem như một đặcđiểm tâm lý mang tính tổng thể, không phân chia thành các thành tố riêng biệt.Rosenberg (1965) quan niệm lòng tự trọng như một sự đánh giá mang tính tổngquát của cá nhân đối với chính bản thân mình Trên nền tảng lý thuyết này, ông đãxây dựng thang đo "Rosenberg Self-Esteem Scale"(RSE), tập trung đo lường mộtyếu tố duy nhất là mức độ đánh giá bản thân ở bình diện chung Các công trình củaRosenberg và thang đo RSE đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều bối cảnh nghiêncứu khác nhau, qua đó khẳng định vai trò của việc đo lường một thái độ cảm xúctổng quát đối với bản thân trong mối quan hệ với nhiều khía cạnh khác nhau củanhân cách Theo Rosenberg, lòng tự trọng là "một thái độ tích cực hay tiêu cực đốivới một đối tượng cụ thể, cụ thể là chính mình" Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vào
"các tác động nhất định của yếu tố xã hội đến lòng tự trọng và chỉ ra ảnh hưởng củalòng tự trọng về thái độ và các hành vi xã hội quan trọng của cá nhân [100]"
Trong nỗ lực tìm kiếm khả năng tồn tại của sự khác biệt về lòng tự trọng ởcác lĩnh vực trải nghiệm khác nhau, Coopersmith (1967) tiến hành khảo sát mộtnhóm trẻ gồm 56 trẻ ở độ tuổi từ 10 đến 12 bằng một bảng hỏi gồm 50 item, nhằmđánh giá lòng tự trọng của trẻ trên 4 phương diện là: học đường, gia đình, quan hệ
Trang 26với bạn cùng trang lứa và các đánh giá chung về bản thân Kết quả cho thấy, không
có sự khác biệt đáng kể trong việc tự đánh giá lòng tự trọng giữa các phương diệnnày Từ đó, tác giả cho rằng trẻ em có xu hướng hình thành một sự đánh giá chung,mang tính toàn diện về bản thân hơn là những đánh giá tách biệt theo từng lĩnh vực
cụ thể Cách tiếp cận coi lòng tự trọng như một cấu trúc đơn nhất chiễm ưu thế vàthu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà nghiên cứu [55]
Có thể thấy, điểm khác biệt cơ bản giữa Rosenberg và Coopersmith nằm ởtrọng tâm nghiên cứu: Rosenberg nhấn mạnh lòng tự trọng như một thái độ cảm xúctổng quát gắn với các yếu tố xã hội và hành vi, trong khi Coopersmith tập trung vàoviệc kiểm nghiệm cấu trúc của lòng tự trọng thông qua các lĩnh vực trải nghiệm cụthể trước khi khẳng định tính đơn nhất của cấu trúc này Dù xuất phát từ nhữnghướng tiếp cận khác nhau, các công trình của cả hai tác giả đều góp phần đặt nềnmóng quan trọng cho nghiên cứu lòng tự trọng và có ảnh hưởng sâu rộng đến cácnghiên cứu sau này
Trong nghiên cứu của Aremu và cộng sự (2019) đo lường lòng tự trọng của
504 thanh thiếu niên trong số các thanh thiếu niên đang đi học tại Ibadan, bang Oyo,Nigeria thông qua câu trả lời bảng câu hỏi về lòng tự trọng được điều chỉnh theothang điểm Rosenberg Lòng tự trọng được chấm điểm theo thang điểm (12-30);điểm ≥ 26 cho thấy lòng tự trọng cao và điểm ≤ 25 cho thấy lòng tự trọng thấp Kếtquả cho điểm trung bình lòng tự trọng là 24,0 ± 3,3 [33]
Khác với hướng tiếp cận đơn tuyến, các nhà nghiên cứu như Harter (1985) vàMarsh (1985) cho rằng LTT là một cấu trúc tâm lý mang tính đa chiều, được hìnhthành từ sự tự đánh giá của cá nhân trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống.Theo Harter, LTT toàn thể không tồn tại một cách độc lập mà được xây dựng trên
cơ sở những đánh giá cụ thể về năng lực học tập, quan hệ xã hội, hình ảnh bản thân
và các lĩnh vực trải nghiệm có ý nghĩa đối với cá nhân Tương tự, Marsh nhấn mạnhcấu trúc thứ bậc của LTT, trong đó các đánh giá bản thân theo từng lĩnh vực cụ thểvừa có tính độc lập tương đối, vừa đóng góp vào việc hình thành LTT chung Cáchtiếp cận này cho phép giải thích sự khác biệt trong LTT của học sinh khi các em cóthể cảm nhận tích cực ở một lĩnh vực nhưng tiêu cực ở lĩnh vực khác Nhờ đó, tiếpcận đa chiều mở rộng khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến LTT và cung
Trang 27cấp cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc thiết kế các biện pháp can thiệp tâm lý phùhợp với từng lĩnh vực phát triển của học sinh
- Vai trò của lòng tự trọng đối với sự phát triển của học sinh trung học cơ sở
Lòng tự trọng với tư cách là cấu trúc tâm lý thường được nghiên cứu trongmối quan hệ với các cấu trúc và chức năng tâm lý khác của cá nhân
+ Trong bối cảnh trường học, nhiều nghiên cứu khẳng định lòng tự trọng giữ vaitrò quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh Theo đó, những học sinh có mức
độ tự trọng cao thường đạt thành tích học tập tốt hơn đáng kể [90; 56; 30; 29; 73].Mối quan hệ tích cực này được ghi nhận rõ rệt ở cấp THCS, đặc biệt là học sinh từlớp 7 trở lên (Peixoto và Almeida (2010), Martins và cộng sự, 2002) Nghiên cứucủa Imani Akin; Leondra Radford (2018) về sự phát triển của lòng tự trọng ở họcsinh khu vực thành thị cho thấy các yếu tố thuộc môi trường học được, đặc biệt làgiáo viên giáo viên, môi trường học tập đều có khả năng thúc đẩy lòng tự trọng củahọc sinh, từ đó nâng cao kết quả học tập [29]
Một số nghiên cứu khác xem xét lòng tự trọng như một yếu tố dự báo quantrọng đối với sức khỏe tâm thần và thể chất của học sinh, đồng thời nhấn mạnh rằngviệc tăng cường lòng tự trọng có thể được xem là nhân tố then chốt nhằm cải thiệnkết quả học tập (Crocker and Parks (2004), Merianos và cộng sự, 2013) [56; 87].Morvitz, Robert W Motta (1992) nghiên cứu lòng tự trọng như là yếu tố dự báo kếtquả học tập, sự chấp nhận của phụ huynh và cảm nhận của học sinh về sự chấp nhậncủa bố mẹ với bản thân [90] Leena Holopainen, Katariina Walzer, Nhi Hoang,Kristiina Lapalainen (2020) phát hiện ra tác động của lòng tự trọng đối với các khókhăn học tập ở trường của học sinh và tác động tới cảm nhận hạnh phúc chủ quancủa học sinh [68] Đồng thời, lòng tự trọng bị tác động bởi các yếu tố giới tính, thunhập của cha mẹ
+ Trong bối cảnh gia đình, lòng tự trọng của học sinh thường được tiếpcận như một yếu tố dự báo quan trọng đối với mức độ chấp nhận của phụ huynh
và cảm nhận của học sinh về sự chấp nhận từ cha mẹ [90] Ngược lại, nhiềunghiên cứu nhấn mạnh vai trò của môi trường gia đình với vai trò nền tảngquyết định đối với sự hình thành và phát triển lòng tự trọng của trẻ (Orth, 2018)
Trang 28[94] Trong nghiên cứu một số nghiên cứu theo chiều dọc cho thấy, "hành vinuôi dạy con cùng với những đặc điểm khác như chất lượng mối quan hệ giữacha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình hay sự hiện diện của người cha, đều cómối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển lòng tự trọng của trẻ theo thời gian "(Amato và Fowler, 2002; Brummelman và cộng sự, 2015; Krauss và cộng sự,2020)
+ Đối với các vấn đề tâm lý khác của học sinh, lòng tự trọng có thể coi là yếu
tố dự báo những vấn đề sức khỏe tâm thần [79; 84; 56; 87] và sức khỏe thể chất ởhọc sinh [56; 87] Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, lòng tự trọng có mối quan hệnghịch chiều với các trạng thái tâm lý tiêu cực như cảm giác cô đơn [2]; lo âu [21];đồng thời có mối liên hệ tích cực với sự hài lòng trong cuộc sống [89] và cảm nhậnhạnh phúc chủ quan [17; 5]
Có thể thấy, các nghiên cứu của Việt Nam và nước ngoài đều khẳng định lòng
tự trọng có ảnh hưởng tích cực đến các yếu tố tâm lý cá nhân Học sinh có lòng tựtrọng cao có sức khỏe tinh thần và thể chất tốt hơn, làm tăng cảm nhận hạnh phúc,hài lòng với cuộc sống, kết quả học tập tốt, mối quan hệ với giáo viên, bạn bè vàcha mẹ cũng tích cực hơn Mặc dù vậy, dường như các nghiên cứu kể trên mới chỉ
ra những tác động của lòng tự trọng đến các yếu tố cá nhân riêng lẻ mà chưa tìm ramối liên hệ một cách tổng thể với nhiều yếu tố tâm lý khác Chính vì thế, đây cũng
là điểm trống cần tiếp tục được triển khai nghiên cứu nhiều hơn
- Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
Các nghiên cứu chỉ ra nhiều yếu tố có thể tham gia và tác động đến lòng tựtrọng của học sinh như: độ tuổi, giới tính, trí tuệ cảm xúc, PCLCM của cha mẹ, giáoviên, môi trường học tập…
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận sự khác biệt về mức độ lòng tự trọng ở HS nam
và HS nữ Nhìn chung, học sinh nam thường có mức lòng tự trọng cao hơn so vớihọc sinh nữ [89; 4; 16] Ở giai đoạn thanh thiếu niên, lòng tự trọng còn chịu sự chiphối đáng kể của hình ảnh cơ thể, phản ánh vai trò của cảm nhận về ngoại hìnhtrong quá trình tự đánh giá bản thân [5; 75] Bên cạnh đó, trí tuệ cảm xúc cũng cómối tương quan thuận với lòng tự trọng của thanh thiếu niên, cho thấy năng lực
Trang 29nhận diện, điều chỉnh cảm xúc góp phần củng cố giá trị bản thân [28].
Ngoài các yếu tố cá nhân, những yếu tố từ môi trường xã hội, giáo dục cũng
có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển lòng tự trọng của học sinh, bao gồm vai tròcủa giáo viên, môi trường học tập [29] và mối quan hệ với bạn bè [74] Việc sửdụng mạng internet cũng có những ảnh hưởng nhất đinh đến lòng tự trọng củathanh thiếu niên: thanh niên càng thường xuyên chia sẻ nhiều loại thông tin trênFacebook, chia sẻ những thông tin tích cực, hài hước, mới lạ; đồng thời càng sửdụng phương thức chia sẻ với tất cả bạn bè hoặc gắn thẻ bạn bè trên Facebook cánhân thì càng tự tin [8]
Như vậy, các nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố tác động đến lòng tự trọngcủa học sinh, bao gồm độ tuổi, giới tính, trí tuệ cảm xúc, mối quan hệ với cha mẹ,giáo viên, môi trường học tập, sử dụng mạng internet Tuy nhiên, những nghiên cứu
về thực nghiệm nhằm nâng cao lòng tự trọng của học sinh cũng như những nghiêncứu về lòng tự trọng của các em trong việc sử dụng mạng xã hội còn hạn chế Kết quảcủa các nghiên cứu trên đây là cơ sở để tiếp tục tiến hành các nghiên cứu tiếp theo
1.1.3 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
- Mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của cha mẹ với lòng tự trọng của con
Sự hỗ trợ của cha mẹ bao gồm các hành vi như chấp nhận, ấm áp, tham gia,khen ngợi và sự quan tâm tích cực chung đối với trẻ Bằng chứng về tác động có lợicủa sự hỗ trợ đối với nhận thức về bản thân ở thanh thiếu niên là rất mạnh mẽ.Trong một mẫu có độ tuổi trung bình là 11,86 tuổi, Garber và Flynn (2001) pháthiện ra rằng sự chấp nhận của mẹ dự đoán đáng kể về lòng tự trọng cao hơn, trongkhi Doyle và Markiewicz (2005) phát hiện ra rằng sự ấm áp của cha mẹ dự đoán sựgia tăng đáng kể về lòng tự trọng (tuổi trung bình của mẫu là 13 tuổi) Ojanen vàPerry (2007) đã kiểm tra trẻ em từ 11 đến 13 tuổi và phát hiện ra rằng sự tiếp xúctrìu mến của mẹ dự đoán đáng kể về lòng tự trọng ở các bé gái, mặc dù không phải
ở các bé trai Han và Grogan-Kaylor (2013) phát hiện ra rằng sự ấm áp của cha mẹ
dự đoán đáng kể về lòng tự trọng/sự tự tin tăng lên Người ta cũng thấy rằng sự tựphê bình có thể được dự đoán bởi sự hỗ trợ thấp hơn của cha mẹ ở thanh thiếu niên
Trang 30có nguy cơ cao (Thompson, Zuroff, & Hindi, 2012) Các mối tương quan cho thấynhững bậc cha mẹ ủng hộ con nhiều hơn (theo cảm nhận của con) thường có con cólòng tự trọng cao hơn và sự ủng hộ của cha dường như đặc biệt có lợi cho lòng tựtrọng của các bé trai và giảm bớt sự tự phê bình ở các bé gái, ở một mức độ nào đó,theo thời gian (Gittins và Hunt (2019))
- Mối quan hệ giữa kiểm soát tâm lý của cha mẹ với lòng tự trọng của con
Về mặt lý thuyết, kiểm soát tâm lý có liên quan chặt chẽ đến nhận thức về bảnthân vì nó làm giảm ý thức về bản thân của trẻ (Barber, 1996), do đó, việc kiểm soáttâm lý đặc biệt quan trọng Ojanen và Perry (2007) phát hiện ra rằng kiểm soát tâm
lý dự đoán lòng tự trọng giảm ở trẻ trai nhưng không phải ở trẻ gái Cheung vàPomerantz (2011) phát hiện ra rằng kiểm soát tâm lý dự đoán năng lực học tập đượcnhận thức giảm theo thời gian ở thanh thiếu niên Trung Quốc, mặc dù hiệu ứng nàykhông được thấy ở thanh thiếu niên Mỹ Các nghiên cứu khác không tìm thấy tácđộng nào đến lòng tự trọng hoặc giá trị bản thân (Doyle & Markiewicz, 2005;Garber & Flynn, 2001) Nghiên cứu cắt ngang cho thấy kiểm soát tâm lý có thể làmtăng sự tự phê bình (Ahmad & Soenens, 2010), những trẻ cảm nhận được sự ấm áp
và chấp nhận từ cha mẹ sẽ có biểu hiện của lòng tự trọng cao hơn so với trẻ bị kiểmsoát bởi cha mẹ [40; 95]
- Mối quan hệ giữa kiểm soát hành vi của cha mẹ với lòng tự trọng của con
Trong giai đoạn vị thành niên, một trong những lĩnh vực chính mà kiểm soáthành vi có thể ảnh hưởng là sự phát triển của nhận thức về bản thân Đặc biệt, cha
mẹ là những người có ảnh hưởng quan trọng đến con (Bowlby, 1969, 1972) Các tàiliệu cho thấy, mức độ kiểm soát hành vi của cha mẹ có thể trở nên mâu thuẫn vớimong muốn của con, điều này trở nên rõ ràng hơn khi trẻ bước vào tuổi vị thànhniên Barber và cộng sự (1994) chỉ ra, trẻ em một mặt cần có khả năng kiểm soáthành vi của cha mẹ để trở thành một thành viên tốt của xã hội nhưng một mặt lạicần có sự tự chủ để phát triển tính tự lập và năng lực của bản thân
Lý thuyết phát triển lòng tự trọng của Coopersmith (1967) khẳng định rằngkiểm soát hành vi có lợi cho nhận thức về bản thân này Bằng cách thực hiện cácquy tắc một cách rõ ràng và nhất quán, cha mẹ giúp con của mình hành xử hiệu quả,điều này làm tăng thành công và giảm lo lắng, từ đó xây dựng lòng tự trọng Tương
Trang 31tự như vậy, Blatt và các đồng nghiệp (Blatt & Homann, 1992; Blatt & Luyten, 2009;Luyten & Blatt, 2013) đã lập luận, phù hợp với cách tiếp cận của Erikson, rằng việccha mẹ tạo cơ hội cho trẻ em đạt được mục tiêu của mình và do đó phát triển ý thứctích cực về bản thân là yếu tố chính trong việc phát triển khái niệm về bản thân Cóthể lập luận rằng, kiểm soát hành vi của cha mẹ có thể hỗ trợ quá trình này
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa phong cách giáodục của cha mẹ và mức độ lòng tự trọng của trẻ Cụ thể, "trẻ vị thành niên tronggia đình có phong cách giáo dục dân chủ và tự do thường có mức độ tự đánh tronglĩnh vực học đường và lòng tự trọng về thể chất cao hơn so với trẻ trong gia đìnhđộc đoán và bỏ mặc Trong lĩnh vực cảm xúc, trẻ vị thành niên thuộc các gia đình
có phong cách giáo dục tự do và bỏ mặc lại thể hiện mức độ lòng tự trọng cao hơn
so với trẻ trong các gia đình có phong cách giáo dục độc đoán và dân chủ Tuynhiên, ở lĩnh vực xã hội, trẻ vị thành niên trong gia đình có phong cách giáo dục bỏmặc có lòng tự trọng về lĩnh vực xã hội thấp nhất so với trẻ trong các gia đình cóphong cách khác Đối với lĩnh vực gia đình, trẻ sống trong gia đình có phong cáchgiáo dục tự do thường có mức độ lòng tự trọng cao hơn so với trẻ đến từ các giađình có phong cách giáo dục khác"
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định vaitrò quan trọng của hành vi làm cha mẹ và lòng tự trọng của học sinh, song vẫn tồntại những khoảng trống cần tiếp tục được làm rõ:
Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu trước đây mới tập trung phân tích PCLCM
ở góc độ chung, ít tách biệt cụ thể hành vi của cha và mẹ cũng như ảnh hưởng khácnhau của từng người đối với sự phát triển tâm lý của trẻ
Thứ hai, các nghiên cứu về lòng tự trọng của học sinh chủ yếu xem xét mốiquan hệ giữa lòng tự trọng với từng yếu tố tâm lý hoặc bối cảnh riêng lẻ, mà chưa
có cách tiếp cận tổng hợp, hệ thống để thấy rõ tác động đa chiều
Thứ ba, kết quả các nghiên cứu quốc tế về tác động của kiểm soát hành vi haykiểm soát tâm lý của cha mẹ đến lòng tự trọng còn chưa thống nhất, nhiều khi mangtính đặc thù văn hóa, khó áp dụng trực tiếp cho bối cảnh Việt Nam
Cuối cùng, tại Việt Nam, những nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi làmcha mẹ và lòng tự trọng của học sinh THCS còn khá hạn chế, chưa nhiều bằng
Trang 32chứng thực nghiệm, đặc biệt là các nghiên cứu so sánh, đối chiếu hoặc kiểm chứng
mô hình lý thuyết đã có trên thế giới Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề nàytrong bối cảnh văn hóa – xã hội Việt Nam vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có giá trị thựctiễn
1.2 Lý luận về hành vi làm cha mẹ
1.2.1 Khái niệm hành vi làm cha mẹ
Hành vi là ứng xử của cá nhân đáp ứng với các kích thích trong hoàn cảnh,tình huống nào đó Hành vi bao gồm các yếu tố tâm lý của chủ thể mà thông quahành vi ta có thể hiểu người đó như thế nào Hành vi diễn ra đa dạng trong cuộcsống như: hành vi giao tiếp; hành vi ứng xử giữa con người với con người; hành vichấp hành quy tắc xã hội; trong số những hành vi đó có hành vi làm cha mẹ.Thuật ngữ hành vi làm cha mẹ trong tiếng Anh là "parenting behavior" đãđược nhiều tác giả đưa ra khái niệm cụ thể Từ những năm 1948, trong nghiên cứucủa mình, Baldwin cho rằng: HVLCM được xem như những kiểu mẫu hành xử củacha mẹ trong quá trình nuôi dạy con Tới năm 1957, Sears, Maccoby và Levin xemHVLCM như các thực hành giáo dục gia đình, nhấn mạnh đến việc cha mẹ áp dụngcác hình thức thưởng - phạt, hướng dẫn và giao tiếp để hình thành hành vi cho con.Trong nghiên cứu của Schaefer (1959), tác giả cho rằng: hành vi làm cha mẹ là cácchiều tác động tâm lý xã hội thể hiện qua mức độ yêu thương/chấp nhận và kiểmsoát/kỷ luật mà cha mẹ đối với con [106]
Theo Baumrind (1948, 1971, 1991), hành vi làm cha mẹ là tổ hợp những mẫuhành xử nhất quán thể hiện trong cách cha mẹ định hướng, điều chỉnh và đáp ứngnhu cầu của con [34; 37; 36]
Durbin, Darling và Steinberg (1993) cho rằng: hành vi làm cha mẹ là nhữnghành động cụ thể, có thể quan sát được mà cha mẹ thực hiện trong quá trình tươngtác hàng ngày với con, phản ánh mức độ hỗ trợ, giám sát và kiểm soát của cha mẹđối với cuộc sống và sự phát triển của trẻ [59]
Tác giả Barber (1996, 2002) nhận định, hành vi làm cha mẹ là những cáchthức cụ thể mà cha mẹ sử dụng để tác động tới nhận thức, cảm xúc và hành vi củacon, bao gồm cả những hành vi mang tính hỗ trợ và những hành vi hạn chế quyền tự
Trang 33Nhóm tác giả Skinner, Johnson & Snyder (2005) xem hành vi làm cha mẹ làtập hợp các chiến lược và hành động được cha mẹ sử dụng có chủ ý hoặc vô thức đểđịnh hướng hành vi và cảm xúc của trẻ
Bornstein (2002, 2015) coi hành vi làm cha mẹ như một tập hợp các hành vinhằm mục tiêu xã hội hóa con, chịu ảnh hưởng bởi văn hóa, bối cảnh xã hội và sựphát triển của đứa trẻ
Kochanska và Aksan (2004) nhấn mạnh tính điều chỉnh cảm xúc và địnhhướng giá trị, coi hành vi làm cha mẹ như sự tác động song hành giữa yêu thương,gắn bó và định hướng đạo đức
Grusec & Davidov (2010) đề xuất mô hình năm lĩnh vực nuôi dạy (domains ofparenting): chăm sóc, kiểm soát, dạy dỗ, giao tiếp, và định hướng văn hóa – xã hội.Tại Việt Nam, các nghiên cứu vẫn chủ yếu kế thừa khái niệm từ các nghiêncứu nước ngoài, tập trung vào ứng dụng và đo lường thực trạng
Như vậy, có thể thấy, khái niệm hành vi làm cha mẹ đã được các nhà nghiêncứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Các nghiên cứu ban đầu (Baldwin, 1948;Sears và cộng sự, 1957) chủ yếu nhấn mạnh đến những biểu hiện cụ thể của cha mẹtrong việc giáo dục và kiểm soát con Tiếp đó, Baumrind (1966, 1971, 1991) vàMaccoby & Martin (1983) mở rộng cách tiếp cận theo hướng phong cách nuôi dạy,xem hành vi cha mẹ như những khuôn mẫu nhất quán gắn với hai chiều cơ bản làkiểm soát và hỗ trợ Ở giai đoạn sau, Darling & Steinberg (1993) và Barber (1996,2002) đã phân tách rõ hơn giữa hành vi cụ thể và bối cảnh cảm xúc, đồng thời nhấnmạnh đến những yếu tố như kiểm soát tâm lý Các nghiên cứu hiện đại (Bornstein,
2002, 2015; Kochanska & Aksan, 2004; Grusec & Davidov, 2010) lại mở rộng kháiniệm theo hướng đa chiều và gắn với bối cảnh văn hóa – xã hội, coi hành vi làm cha
mẹ không chỉ là cách ứng xử nhất thời mà còn là chiến lược xã hội hóa toàn diện,kết hợp giữa chăm sóc, kiểm soát, dạy dỗ, giao tiếp và định hướng giá trị
Trên cơ sở phân tích khái niệm hành vi làm cha mẹ theo các quan điểm của
các tác giả trên thế giới và Việt Nam, trong luận án này, hành vi làm cha mẹ là một
hệ thống các ứng xử của cha mẹ đối với con được biểu hiện qua sự hỗ trợ và
Trang 34kiểm soát mà cha mẹ thực hiện trong các tình huống tương tác hàng ngày cùng con.
* Phân biệt giữa hành vi làm cha mẹ và phong cách làm cha mẹ
Phong cách làm cha mẹ là khuynh hướng nuôi dạy con mang tính ổn định,nhất quán, thể hiện cách cha mẹ thường xuyên sử dụng trong việc giáo dục con.Đây là mô hình tổng thể gồm thái độ, định hướng giá trị, niềm tin và phương thứcứng xử của cha mẹ (Baumrind, 1967; Maccoby & Martin, 1983) Trong khi đó,HVLCM: là các ứng xử cụ thể của cha mẹ trong từng tình huống nuôi dạy con, baogồm cách phản hồi trước nhu cầu của con, cách giao tiếp, kỷ luật, mà tựu trung là
hỗ trợ và kiểm soát con
Hộp 1: Các tiêu chí so sánh giữa hành vi làm cha mẹ và phong cách làm cha mẹ
Tiêu chí Phong cách làm cha mẹ
(Parenting Style)
Hành vi làm cha mẹ (Parenting Behavior)
Bản chất Thể hiện triết lý, khuynh hướng
nhất quán trong cách nuôi dạy con
Thể hiện cách cha mẹ phản ứngtrong từng tình huống thực tế
Ví dụ Phong cách dân chủ, phong cách
độc đoán, phong cách dễ dãi, phong
cách bỏ bê
Cha mẹ khen ngợi khi con làmtốt, trừng phạt khi con phạmlỗi, lắng nghe con tâm sự, kiểmsoát giờ học của con
Khả năng
đo lường
Được đánh giá thông qua các bảng
hỏi khái quát về khuynh hướng
nuôi dạy con
Có thể quan sát trực tiếp, đolường bằng thang đo hành vi cụthể
Quan hệ
với trẻ
Quy định khung tương tác chung
giữa cha mẹ và con
Tác động trực tiếp và tức thờiđến cảm xúc, nhận thức, lòng
tự trọng của trẻ
Trong nghiên cứu này, hành vi làm cha mẹ được lựa chọn làm trọng tâm phântích vì những lý do sau:
Trang 35Một là, lòng tự trọng là một cấu trúc tâm lý được hình thành và củng cố thôngqua những trải nghiệm tương tác cụ thể và lặp đi lặp lại trong đời sống hàng ngàycủa trẻ Vì vậy, hành vi làm cha mẹ thể hiện ở những phản hồi trực tiếp của cha mẹnhư khen ngợi, phê bình, lắng nghe, kiểm soát hay phớt lờ nhu cầu của con chính lànhững tín hiệu tâm lý giúp trẻ hình thành cách nhìn nhận và đánh giá giá trị bảnthân
Hai là, học sinh trung học cơ sở đang ở giai đoạn vị thành niên, giai đoạn màlòng tự trọng còn mang tính chưa ổn định, dễ dao động trước những đánh giá từnhững người có ý nghĩa, đặc biệt là cha mẹ Do đó, không chỉ khuynh hướng nuôidạy chung mà chính những ứng xử của cha mẹ trong từng tình huống cụ thể mới làyếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm xúc, nhận thức và hành vi của trẻ Nghiên cứuhành vi làm cha mẹ giúp nhận diện rõ hơn cơ chế tác động của gia đình đến lòng tựtrọng của trẻ ở giai đoạn này
Ba là, so với phong cách làm cha mẹ mang tính khái quát và ổn định trong thờigian dài thì hành vi làm cha mẹ có ưu thế trong nghiên cứu thực tiễn vì dễ lượnghóa, dễ can thiệp và hỗ trợ điều chỉnh Việc tập trung đánh giá thực trạng các hành
vi cụ thể như hỗ trợ, kiểm soát tạo cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tâm lý giáodục nhằm nâng cao kỹ năng làm cha mẹ và hỗ trợ học sinh phát triển lòng tự trọng
1.2.2 Các biểu hiện của hành vi làm cha mẹ
Mặc dù nhiều chiều hướng nuôi dạy con đã được đề xuất (Holden, 1997), haichiều hướng chính, hỗ trợ và kiểm soát, đã được sử dụng để đánh giá chất lượnghành vi nuôi dạy con (Maccoby và Martin, 1983) Chiều hướng hỗ trợ (còn đượcmột số học giả gọi là sự ấm áp, sự đáp ứng hoặc sự chấp nhận-), đề cập đến hành vicủa cha mẹ đối với trẻ khiến trẻ cảm thấy thoải mái, được chấp nhận và chấp thuận(Rollins và Thomas, 1979) Chiều hướng hỗ trợ có thể được biểu thị bằng một loạtcác khía cạnh hành vi tích cực và tiêu cực như chấp nhận, tình cảm, tình yêu, hỗ trợ,
sự ấm áp, sự đáp ứng, sự nhạy cảm, giao tiếp và sự thân mật, mà còn là sự thù địch,
sự thờ ơ và sự từ chối (Rohner, 2004; Ten Haaf, 1993; Rollins và Thomas, 1979).Những khía cạnh khác nhau này của sự hỗ trợ của cha mẹ, cho dù tiêu cực hay tíchcực, có thể được đặt dọc theo chuỗi liên tục từ sự hỗ trợ thấp đến cao và thường
Trang 36được coi là đơn chiều (Ten Haaf và cộng sự 1994) Ví dụ, sự từ chối được thể hiệnbằng điểm số thấp và sự chấp nhận được thể hiện bằng điểm số cao Nhìn chung,hành vi nuôi dạy con hỗ trợ có liên quan tiêu cực đến hành vi phạm pháp, cho thấymức độ hỗ trợ và sự ấm áp cao có liên quan đến mức độ phạm pháp thấp và mức độ
hỗ trợ thấp hoặc thậm chí là sự từ chối có liên quan đến mức độ phạm pháp cao (vídụ: Barnes và Farrell 1992; Juang và Silbereisen 1999; Simons và cộng sự 1989).Chiều kiểm soát (còn được gọi là tính đòi hỏi) được định nghĩa là đặt ranhững yêu cầu và kiểm soát trẻ Một số học giả đã lập luận rằng kiểm soát khôngnên được coi là một chiều, vì chiều này có thể được chia thành các cấu trúc riêngbiệt với các ý nghĩa khác nhau Một cách tiếp cận phổ biến là phân biệt giữakiểm soát có thẩm quyền và kiểm soát độc đoán (Baumrind 1968, 1971) Kiểmsoát có thẩm quyền phản ánh các kỹ thuật kỷ luật hướng đến trẻ em và quy nạpnhư hướng dẫn hành vi của trẻ về mặt nhận thức, cung cấp thông tin và kíchthích hành vi có trách nhiệm của trẻ, trong khi kiểm soát độc đoán đề cập đếncác kỹ thuật kỷ luật theo định hướng người lớn, cưỡng chế, hạn chế và cứng rắn
và nhấn mạnh các khía cạnh tiêu cực của kiểm soát như hình phạt khắc nghiệt vàrút lui tình yêu (ví dụ: Baumrind 1968 , 1971) Nhìn chung, kiểm soát có thẩmquyền có tác động tích cực đến hành vi của trẻ em, trong khi kiểm soát độc đoánđược phát hiện có tác động tiêu cực đến trẻ em (Baumrind 1966) Kiểm soát độcđoán quá nghiêm ngặt (Farrington 1989) và hình phạt khắc nghiệt (Farrington vàcộng sự 2003) dường như có liên quan đến mức độ cao của hành vi phạm pháp
và phản xã hội, mặc dù quy mô tác động khác nhau đáng kể giữa các nghiên cứu(Loeber và Stouthamer-Loeber 1986)
Gần đây hơn, Barber và các đồng nghiệp đã tranh luận về việc tập trung vàokiểm soát hành vi và tâm lý thay vì kiểm soát theo kiểu chuyên quyền và độc đoán(ví dụ: Barber 1996 ; Barber và cộng sự 2005) KSHV được định nghĩa là những
nỗ lực của cha mẹ nhằm kiểm soát và điều chỉnh hành vi của con họ thông quaviệc đặt ra và giám sát các quy tắc Các khía cạnh của KSHV như giám sát(Fischer 1983) và tính nhất quán trong kỷ luật (Coughlin và Vuchinich 1996) cóliên quan đến mức độ phạm pháp thấp (xem thêm Patterson 1982) KSTL đề cập
Trang 37đến sự xâm phạm vào sự phát triển tâm lý của trẻ, chẳng hạn như rút lui tình yêu,khiến trẻ phụ thuộc và sử dụng cảm giác tội lỗi để kiểm soát trẻ KSHV có liên
hệ chặt chẽ hơn với các vấn đề bên ngoài ở thanh thiếu niên, trong khi KSTL cóliên hệ chặt chẽ hơn với các vấn đề bên trong (Barber và cộng sự 1994) Do đó,kiểm soát theo chiều hướng nuôi dạy con thường được coi là một khái niệm đachiều Trong phân tích hiện tại, chiều hướng này được chia thành kiểm soát cóthẩm quyền và kiểm soát chuyên quyền hoặc KSHV và KSTL
Theo Barber và Xia (2013), kiểm soát của cha mẹ là một khái niệm đa chiềubao gồm hai cấu trúc: KSHV và KSTL [38] Kiểm soát hành vi thể hiện những nỗlực của cha mẹ nhằm điều chỉnh và quản lý hành vi của con họ bằng cách hướng dẫnchúng cư xử theo cách được xã hội chấp nhận, đặt ra các quy tắc và hạn chế, theo dõicác hoạt động của chúng Bởi vì KSHV chỉ ra kỷ luật nhất quán và giám sát tích cựcđược thực hiện theo cách ấm áp nên nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trẻ
em khỏi các hành vi có vấn đề và dẫn đến kết quả là trẻ phát triển thuận lợi Do đó,KSHV trực tiếp cho phép cha mẹ giao tiếp với trẻ về hành vi nào là không thể chấpnhận được và hạn chế hành vi phạm pháp trong tương lai ở trẻ em [111] KSTL làkiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của trẻ thông qua các khía cạnh như gâycảm giác tội lỗi ở trẻ, gây cảm giác trẻ sẽ bị mất đi tình yêu thương nếu không nghelời, thiếu tôn trọng cảm xúc, suy nghĩ của trẻ
Chiều kích kiểm soát đã được chia thành KSTL và KSHV (Barber, 1996;Schaefer, 1965; Steinberg, 1990) KSHV của cha mẹ bao gồm hành vi nuôi dạy con
cố gắng kiểm soát, quản lý hoặc điều chỉnh hành vi của trẻ, thông qua việc thực thicác yêu cầu và quy tắc, chiến lược kỷ luật, kiểm soát phần thưởng và hình phạt hoặcthông qua các chức năng giám sát (Barber, 2002; Maccoby, 1990; Steinberg, 1990).Một lượng KSHV phù hợp đã được coi là ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển củatrẻ, trong khi KSHV không đủ (ví dụ: cha mẹ giám sát kém) hoặc KSHV quá mức (vídụ: cha mẹ trừng phạt thể xác) thường liên quan đến kết quả phát triển tiêu cực củatrẻ, chẳng hạn như hành vi lệch lạc, hành vi sai trái, trầm cảm và tình cảm lo lắng(Barnes và Farrell, 1992; Coie và Dodge, 1998) Trong khi KSHV của cha mẹ đề cậpđến việc KSHV của trẻ, KSTL của cha mẹ liên quan đến một loại kiểm soát xâm
Trang 38phạm trong đó cha mẹ cố gắng thao túng suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của trẻ(Barber, 1996; Barber và cộng sự, 2005) Do bản chất thao túng và xâm phạm của nó,KSTL hầu như chỉ liên quan đến các kết quả phát triển tiêu cực ở trẻ em và thanhthiếu niên, chẳng hạn như trầm cảm, hành vi chống đối xã hội và thoái lui quan hệ(Barber và Harmon, 2002; Barber và cộng sự, 2005) Ba chiều kích nuôi dạy con (hỗtrợ, KSTL và KSHV) đã được dán nhãn là riêng biệt về mặt khái niệm, mặc dù chúng
có liên quan ở một mức độ nào đó (Barber và cộng sự, 2005)
a Hành vi hỗ trợ của cha mẹ liên quan đến bản chất tình cảm của mối quan
hệ cha mẹ - con, với những biểu hiện cụ thể như:
- Cha mẹ quan tâm chăm sóc con
- Cha mẹ sẵn sàng chia sẻ khi con cần, trợ giúp con khi con gặp khó khăn(trong quan hệ với bạn bè, thầy cô, ),
- Cha mẹ an ủi, khích lệ động viên con
- Cha mẹ sẵn sàng tham gia vào các hoạt động của con, giúp con cảm nhậnđược sự ấm áp và yêu thương
- Cha mẹ định hướng, tư vấn cho con trong học tập cũng như trong cuộc sống
b Hành vi kiểm soát tâm lý được biểu thị bằng việc cha mẹ kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của trẻ thông qua các biểu hiện như:
- Cố gắng thay đổi những cảm nhận, suy nghĩ của trẻ
- Gây cảm giác tội lỗi ở trẻ
- Ngó lơ trẻ, gây cảm giác trẻ sẽ bị mất đi tình yêu thương nếu không nghe lời
- Thiếu tôn trọng cảm xúc, suy nghĩ của trẻ
c Hành vi kiểm soát hành vi được biểu thị bằng việc cha mẹ kiểm soát những hoạt động của con thông qua các biểu hiện như:
- Nắm được hoạt động của con sau giờ tan học, trong thời gian rảnh hayvào buổi tối
- Kiểm soát việc con sử dụng tiền
- Kiểm soát việc con kết bạn
- Kiểm soát việc con sử dụng thiết bị điện tử
Trang 391.2.3 Mức độ hành vi làm cha mẹ
Mức độ hành vi làm cha mẹ được hiểu là sự biểu hiện cụ thể về tần suất,cường độ và tính nhất quán của các hành vi mà cha mẹ sử dụng trong quá trình nuôidạy con Không chỉ dừng lại ở số lượng hành vi được thể hiện, mức độ còn phảnánh chất lượng của hành vi, tức là mức độ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ, sựcân bằng giữa kiểm soát và đáp ứng, giữa tình yêu thương và kỷ luật Như vậy,nghiên cứu mức độ HVLCM giúp chúng ta không chỉ nhận diện cha mẹ có haykhông thực hiện các hành vi nhất định, mà còn đánh giá được họ thực hiện các hành
vi đó thường xuyên đến đâu, có nhất quán không và có phù hợp với sự phát triểntâm lý của con không
Nhiều nhà nghiên cứu đã có những cách tiếp cận khác nhau để xác định mức
độ hành vi làm cha mẹ Baumrind (1971) cho rằng mức độ hành vi làm cha mẹ cóthể được xem xét trên hai chiều: mức độ kiểm soát (control) và mức độ đáp ứng(responsiveness) Trên cơ sở đó, bà đã phân loại các phong cách nuôi dạy như dânchủ, độc đoán, nuông chiều – mỗi phong cách phản ánh một sự kết hợp khác nhaucủa hai mức độ này Tiếp nối, Maccoby và Martin (1983) bổ sung thêm phong cách
bỏ mặc (neglectful), qua đó cho thấy hành vi cha mẹ có thể dao động từ mức độ rấtthấp (thiếu quan tâm, bỏ bê) đến mức độ rất cao (kiểm soát chặt chẽ, độc đoán).Darling và Steinberg (1993) lại phân biệt giữa phong cách nuôi dạy (style) – phảnánh mức độ ổn định, định hướng bao trùm – và thực hành nuôi dạy (practice) –phản ánh mức độ cụ thể, tần suất các hành vi trong đời sống hàng ngày Cách tiếpcận này cho phép nghiên cứu vừa nhìn vào chiều sâu, vừa đánh giá mức độ bề mặtcủa hành vi cha mẹ Bổ sung vào đó, Barber (1996) nhấn mạnh sự khác biệt giữamức độ KSHV (behavioral control) và mức độ KSTL (psychological control), chothấy không phải hành vi nào càng thực hiện nhiều càng tốt, mà quan trọng là mức
độ phù hợp với sự phát triển tâm lý – xã hội của trẻ
Trong thực tiễn nghiên cứu, mức độ HVLCM thường được đánh giá thông quacác công cụ đo lường chuẩn hóa Chẳng hạn, thang đo Alabama ParentingQuestionnaire (APQ) cho phép đánh giá các mức độ của 5 khía cạnh trong việc nuôidạy con như khen thưởng tích cực, giám sát, kỷ luật không nhất quán, trừng phạt thể
Trang 40chất hay bỏ bê Thang APQ có 02 phiên bản, một cho phụ huynh có con từ 6 – 18tuổi và một cho trẻ em từ 6 – 18 tuổi Cả hai phiên bản đều có 42 item Thang đoParental Bonding Instrument (PBI) của Parker, Tupling và Brown tập trung vàohai chiều mức độ: chăm sóc (care) và bảo vệ/quá kiểm soát (overprotection) với 25item, bao gồm 12 item về chăm sóc và 13 item về kiểm soát Các công cụ nàythường được lượng hóa bằng điểm trung bình, phản ánh cha mẹ có thường xuyênhay ít khi sử dụng các hành vi nuôi dạy nhất định.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu được triển khai gần đây cũng đã tiếp cận vấn đềmức độ hành vi cha mẹ theo hướng vận dụng các công cụ quốc tế, đồng thời chỉ ranhững đặc điểm riêng trong bối cảnh văn hóa Nghiên cứu của Lê Thị Thơm (2021)cho thấy cha mẹ ở thành thị thường thể hiện mức độ tham gia vào hoạt động củacon, giáo dục tích cực và giám sát cao hơn so với cha mẹ ở nông thôn Trần ThànhNam (2015) khi khảo sát ở nhóm học sinh giáo dưỡng nhận thấy mức độ nuôngchiều hoặc kiểm soát thiếu nhất quán có liên quan đến rối loạn hành vi – cảm xúccủa trẻ Đặc biệt, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về mức độ tham giagiữa cha và mẹ: mẹ thường có mức độ hiện diện trong hoạt động cùng con cao hơn,trong khi cha thường được đánh giá cao về sự ấm áp hoặc mức độ định hướng
1.3 Lý luận về lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở
Học sinh THCS là nhóm trẻ ở độ tuổi từ 11 đến 15, tương ứng với các lớp từlớp 6 đến lớp 9 trong hệ thống giáo dục phổ thông tại Việt Nam Đây cũng là giaiđoạn thiếu niên, một thời kỳ có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển về thểchất và tâm lý của trẻ gắn liền với sự khởi phát của hiện tượng dậy thì Những biếnđổi rõ rệt về sinh lý trong giai đoạn này kéo theo hàng loạt thay đổi khác về tâm lý,góp phần hình thành các đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi này
- Về nhận thức
Ở tuổi thiếu niên, các em có nhiều thay đổi về mặt tư duy, trí nhớ, tưởng tượng,ngôn ngữ…, đặc biệt đã dần có những quan điểm, suy nghĩ riêng dựa trên sự hiểu biếtcủa các em Những dấu hiệu này của giai đoạn tuổi thiếu niên là tiền đề chuẩn bị choviệc độc lập về mặt nhận thức Mặc dù vậy, biểu hiện thái quá của nó chính là sự bảo
vệ, kiên quyết giữ lập trường suy nghĩ của mình, ngay cả khi giới hạn khả năng