Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành luật: Đề tài pháp luật về phá sản ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân quận CG
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3.Mục đích nghiên cứu đề tài 5
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5.Kết cấu của Khóa luận 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ 6
1.1.Một số vấn đề lý luận về phá sản 6
1.1.1.Khái quát sự ra đời của phá sản 6
1.1.2.Khái niệm phá sản 8
1.1.3.Đặc điểm phá sản 13
1.1.4.Các hình thức phá sản 15
1.1.5.Vai trò của phá sản 15
1.2.Một số vấn đề lý luận về pháp luật phá sản 18
1.2.1.Khái niệm về pháp luật phá sản 18
1.2.2.Đặc điểm của pháp luật phá sản 19
1.2.3.Nội dung pháp luật về phá sản 20
1.2.4.Vai trò của pháp luật phá sản 23
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CG 26
2.1 Thực trạng pháp luật về phá sản 26
2.1.1 Nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản 26
2.1.2 Hội nghị chủ nợ 38
2.1.3 Phục hồi hoạt động kinh doanh 44
2.1.4 Tuyên bố phá sản 50
Trang 22.1.5 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp
luật về Phá sản 59
2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật Phá sản tại Tòa án nhân dân quận CG 60
2.2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về nộp đơn yêu cầu 60
2.2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định về Hội nghị chủ nợ 62
2.2.3 Thực tiễn thực hiện các quy định về phục hồi hoạt động kinh doanh 64
2.2.4 Thực tiễn thực hiện các quy định về tuyên bố Phá sản 66
2.2.5 Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện các quy định pháp luật về Phá sản tại Tòa án nhân dân quận CG 67
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN 71
3.1 Một số định hướng 71
3.1.1 Định hướng sửa đổi Luật Phá sản 2014 71
3.1.2 Định hướng về sự thống nhất giữa Luật Phá sản và hệ thống văn bản pháp luật có liên quan 72
3.1.3 Định hướng sửa đổi văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Phá sản 2014 72
3.2 Một số giải pháp 72
3.2.1 Các giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy đinh pháp luật Phá sản 72
3.2.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về Phá sản 74
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế tự cung tự cấp, con người tạo ra sản phẩm để tự phục
vụ, đáp ứng nhu cầu của mình nên chưa có hoạt động mua bán, trao đổi hànghóa vì vậy chưa tồn tại hoạt động thương mại và kéo theo đó là chưa có hiệntượng phá sản
Trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam trướcđây, chủ thể kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh được Nhà nướcthành lập và có tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh được thực hiện đều do Nhà nước lên kế hoạch Các xí nghiệp, hợp tác xãthời kỳ này luôn có sự giúp đỡ của Nhà nước bằng cách khoanh nợ, hoãn nợ,xóa nợ… hoặc sử dụng các giải pháp mang tính chất hành chính như sáp nhập,giải thể để chấm dứt hoạt động kinh doanh thua lỗ Chính vì vậy, các doanhnghiệp, hợp tác xã thời kỳ này sẽ không bị rơi vào trường hợp mất khả năngthanh toán nên hiện tượng phá sản cũng không xảy ra
Nền kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế - xã hội mà ở đó các quan
hệ kinh tế, sự trao đổi, sự mua bán các sản phẩm và nhất là sự phân chia lợi ích,tìm kiếm lợi nhuận đều do các quy luật của thị trường điều tiết và chi phối.Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tự do cạnh tranh và phá sản làhiện tượng tất yếu Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào không đápứng được những đòi hỏi và không chịu được sức ép của môi trường cạnh tranhthì tất yếu sẽ bị đào thải Bởi lẽ, doanh nghiệp cũng là một thực thể xã hội, chính
vì vậy, cũng như các thực thể khác, doanh nghiệp cũng có quá trình sinh ra, pháttriển và diệt vong Hơn nữa, trong hoạt động kinh doanh của mình, lợi nhuậnluôn là mục đích hàng đầu mà các doanh nghiệp đều hướng tới đồng thời cũng
là động lực thúc đẩy doanh nghiệp tham gia vào môi trường cạnh tranh nhằm tối
đa hóa lợi nhuận Thương trường cũng giống như chiến trường, có kẻ mạnh, kẻyếu Những doanh nghiệp mạnh vươn lên chiếm lĩnh thị trường, những doanhnghiệp yếu có hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, không đảm bảo thực hiện
Trang 4được các nghĩa vụ tài chính buộc phải chấm dứt hoạt động, rút khỏi thị trường.Đồng thời, khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp phải chấp nhậnrủi ro, thậm trí có những doanh nghiệp gặp phải rủi ro ngay từ khi mới thành lập.Ngoài ra kinh doanh kém hiệu quả có thể do sự yếu kém về năng lực tổ chức,quản lý hoạt động sản xuất-kinh doanh; Sự thiếu nhạy bén đối với sự thay đổicủa thương trường…
Vì vậy, phá sản là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường, làmột sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nềnkinh tế thị trường
Phá sản là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường, khi doanhnghiệp phá sản không chỉ ảnh hưởng đến bản thân doanh nghiệp mà kéo theo đó
là sự ảnh hưởng đến các chủ thể khác đó là người lao động, đối tác của doanhnghiệp và các thành phần khác của nền kinh tế Từ đó cũng ít nhiều gây ảnhhưởng đến nền kinh tế Mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào quy mô của doanhnghiệp bị phá sản
Để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, mất khả năngthanh toán các khoản nợ đến hạn, đồng thời phòng ngừa, khắc phục những hậuquả, rủi ro mà những doanh nghiệp này có thể gây ra cho nền kinh tế, mỗi quốcgia đều phải xây dựng và thực thi một cơ chế phá sản có hiệu quả Tuy nhiên, dotính chất nhạy cảm và mức độ ảnh hưởng rộng tới nhiều đối tượng khác nhautrong đời sống kinh tế nên cơ chế phá sản luôn đòi hỏi sự can thiệp mềm dẻo,linh hoạt của Nhà nước, phù hợp với những yêu cầu thực tiễn mà hoạt động kinhdoanh đặt ra Pháp luật phá sản đặt ra những mục tiêu dài hạn như tái cấu trúcnền kinh tế thông qua việc đào thải các doanh nghiệp thua lỗ, sử dụng hiệu quảcác nguồn lực kinh tế và xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động…ngoài ra pháp luật phá sản còn có mục tiêu quan trọng đó là điều hòa lợi ích giữachủ nợ và con nợ
Nhà nước thông qua pháp luật phá sản để can thiệp vào quá trình giảiquyết thủ tục phá sản, nhằm giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo
Trang 5đúng bản chất vốn có với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức linhhoạt
Luật phá sản đầu tiên của nước ta có tên gọi là Luật phá sản doanhnghiệp, được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ tư thông qua ngày 30/12/1993 và cóhiệu lực ngày 1/7/1994 Năm 2004, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ năm thôngqua Luật phá sản 2004, có hiệu lực từ ngày 15/10/2004 thay thế Luật phá sảndoanh nghiệp 1993 Tuy nhiên, trong hơn mười năm thực hiện Luật phá sảnnăm 2004 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết Sau một thời gian nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung nhằm khắc phục nhược điểm của Luật phá sản năm 2004 và đáp ứngyêu cầu của nền kinh tế hiện tại, Quốc hội đã họp và thông qua Luật Phá sảnnăm 2014
Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, những thay đổi, bổ sungcủa quy định pháp luật về phá sản, thực tiễn phá sản tại địa phương chính là lý
do em lựa chọn đề tài “Pháp luật về phá sản ở Việt Nam hiện nay và thực tiễnthực hiện tại Tòa án nhân dân quận CG” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốtnghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, em có tìm hiểu và nhận thấy trước đó đã cómột số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau, như:
Luận án tiến sĩ “Luật phá sản năm 2004 - Những quy định mới và tínhkhả thi” của tác giả Lê Ngọc Thắng (2013) Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.Nội dung luận án này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quanđến thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam, mà chủ yếu là các vấn đềliên quan đến tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản
Đề tài “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trườngpháp luật kinh doanh tại Việt Nam” (11/2008) của đồng tác giả PGS, TS.DươngĐăng Huệ và Ths Nguyễn Thanh Tịnh Nội dung đề tài xoay quanh Thực trạnggiải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, những tồn tại, hạn chế của Luật Phá sảnnăm 2004, các văn bản pháp luật có liên quan cũng như các yếu tố khác làm ảnh
Trang 6hưởng đến việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản; Đề tài cũng đưa ra nhữngkiến nghị nhằm tháo gỡ vướng mắc, nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản, gópphần vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004 nhằm hoàn thiện môitrường pháp luật kinh doanh.
Khóa luận tốt nghiệp “Luật phá sản năm 2004 - Thực tiễn áp dụng tạithành phố Hà Nội và phương hướng hoàn thiện” (tháng 5/2009) của tác giả LêHoàng Mai – Chuyên ngành kinh tế đối ngoại Khoa kinh tế và kinh doanh quốc
tế Nội dung luận văn này làm rõ những nội dung cơ bản của Luật phá sản năm
2004, thực tiễn áp dụng luật phá sản tại thành phố Hà Nội từ năm 1993 đến năm
2006, nhằm làm rõ bất cập và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện;
từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp để Luật phá sản năm 2004 có hiệu quảhơn trong thực tiễn
Luận văn thạc sỹ Luật học “Trình tự thủ tục thanh lý tài sản phá sản theopháp luật Việt Nam hiện nay” (2017) của tác giả Phạm Thị Huệ - Học viện khoahọc xã hội Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Công trình đi sâu nghiêncứu một cách có hệ thống và toàn diện về vấn đề thanh lý tài sản phá sản, mộttrong những điểm mới cơ bản của Luật phá sản 2014
Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam,thực tiễn tại Quảng Trị” (2019) của tác giả Trần Văn Phương – Trường Đại họcLuật Đại học Huế Công trình tập trung nghiên cứu về thủ tục phá sản theo quyđịnh của Luật Phá sản 2014 và tình hình thực hiện thực tiễn tại Quảng Trị
Các công trình trên tập trung nghiên cứu một cách khái quát về pháp luậtphá sản 2004, 2014, những vướng mắc, bất cập khi áp dụng vào thực tiễn ápdụng tại Việt Nam Chưa có công trình nào nghiên cứu về phá sản theo pháp luậtViệt Nam hiện hành qua thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận CG Đề tài khóaluận về cơ bản là mới, được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừakết quả nghiên cứu của các công trình đã được nghiên cứu một cách tổng thể,toàn diện vấn đề này trong lý luận và thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trang 7Thông qua việc nghiên cứu, luận giải, đánh giá các quy định pháp luật vềphá sản cũng như thực trạng thực thi pháp luật này trên thực tế tại Tòa án nhândân quận CG để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp luật phá sản Việc nghiên cứunhằm phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về phá sản tạo điều kiệncho việc nhận thức và áp dụng trên thực tế một cách thống nhất, đồng bộ và đạthiệu quả Qua đó, tìm ra những tồn tại, bất cập của các quy định này, đưa ranhững giải pháp hữu ích đóng góp vào quá trình xây dựng hoàn thiện quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành về phá sản.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đối tượng nghiên cứu của khóa luận làcác quy định pháp luật về phá sản và thủ tục phá sản hiện nay qua thực tiển tạiTòa án nhân dân quận CG
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phạm vi nghiên cứu về không gian:Những quy định pháp luật hiện hành về thủ tục phá sản ở Việt Nam theo phápluật hiện hành
Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn quận CG,thời gian từ đầu năm 2017 đến giữa năm 2021
5 Kết cấu của Khóa luận
Kết cấu của khóa gồm ba phần: Lời mở đầu, nội dung và phần kết luận.Nội dung khóa luận bao gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phá sản và pháp luật về phá sảndoanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phá sản và thực tiễn tại Tòa án nhândân quận CG
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định phápluật về phá sản
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ
SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ 1.1 Một số vấn đề lý luận về phá sản
1.1.1 Khái quát sự ra đời của phá sản
Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đương nhiên củaquá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường Việc giải quyết hậu quảcủa quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảomột môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh,đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu
tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộcsống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm vàkhủng hoảng Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sảnhàng loạt của các thương nhân
Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán,chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyếtkhác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặctập thể nào đó Tuy nhiên, đôi khi các phương thức giải quyết tự phát khônghiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định pháp luật và sự can thiệpcần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn,đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp phápcủa các bên liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động
Ngay từ thời Trung cổ, các quốc gia châu Âu đã ban hành những văn bảnLuật Phá sản đầu tiên Lúc đầu, phạm vi áp dụng của những luật này chỉ giới hạntrong lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhưng dần dần đã được đưa vào áp dụng
ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, và cho đến nay, pháp luật vềphá sản đã điều chỉnh cả các quan hệ kinh doanh của các cá nhân, phá sản tiêudùng
Trang 9Có thể nói rằng, về thời điểm xuất hiện Luật Phá sản, về hình thức, tên gọi và
cả phạm vi áp dụng, thủ tục giải quyết cũng rất đa dạng và phong phú, thể hiện đượctính đa dạng của quan hệ xã hội do lĩnh vực pháp luật này điều chỉnh
Về tên gọi, tên gọi thông dụng và phổ biến nhất của tình trạng của doanhnghiệp là tình trạng phá sản, vỡ nợ, mất khả năng thanh toán Văn bản pháp luậtđiều chỉnh quan hệ này thông dụng nhất là Luật Phá sản Tuy nhiên, ở mỗi nướckhác nhau thì có thể có các tên gọi khác nhau: ở Nam Tư có Luật cưỡng chế hoàgiải phá sản (năm 1905); ở Anh có Luật không có khả năng thanh toán, Luật treogiò giám đốc công ty (năm 1986); ở Hàn Quốc có Luật cam kết và Luật tổ chứclại công ty…
Ở Việt Nam, pháp luật phá sản đã tồn tại từ thời thực dân Pháp nên chịuảnh hưởng nhiều của hệ thống pháp luật thực dân Trên thực tế cũng rất ít được
áp dụng Chế độ Sài Gòn trước đây cũng có những quy định về khánh tận, thanhtoán tư pháp trong Bộ luật thương mại 1972 Khi nước nhà thống nhất, ViệtNam xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không có sự cạnh tranh giữacác thành phần kinh tế Do vậy, không có hiện tượng phá sản Những đơn vịkinh doanh yếu kém trong thời kỳ này được áp dụng các quy định về giải thể vàmọi hậu quả do Nhà nước gánh chịu
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thừa nhận sân chơibình đẳng giữa các thành phần kinh tế Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh
do chủ thể kinh doanh phải tự chịu trách nhiệm Lúc này, cùng với việc xâydựng hệ thống các văn bản pháp luật tạo khung pháp lý cho nền kinh tế thịtrường, Nhà nước đã ban hành Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 để giảiquyết tình trạng khó khăn, thua lỗ của các doanh nghiệp Quan niệm về phá sản
và việc áp dụng Luật phá sản vẫn còn rất mới mẻ tại Việt Nam Luật phá sảndoanh nghiệp năm 1993 ra đời đã đáp ứng phần nào yêu cầu của nền kinh tế thịtrường để giải quyết các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, tạo môitrường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, về cơ bản
Trang 10việc áp dụng đạo luật này vào thực tiễn là hết sức khó khăn, vướng mắc Điều đó
đã làm cản trở việc xử lý các doanh nghiệp có khó khăn về tài chính, khôngthanh toán được các khoản nợ đến hạn Nhiều doanh nghiệp đã thực sự lâm vàotình trạng phá sản nhưng nếu vận dụng các quy định của luật vẫn không giảiquyết được hoặc việc giải quyết bị kéo dài, không triệt để Thực tế, số doanhnghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì nhiều nhưng số vụ việc mà các Tòa án địaphương thụ lý lại rất ít Sau một thời gian thực hiện, Luật phá sản doanh nghiệpnăm 1993 được thay thế bởi luật phá sản 2004 Được đánh giá là một bước tiến
bộ lớn so với Luật phá sản doanh nghiệp 1993, đạo luật này đã góp phần nângcao hiệu quả của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hiện tượng phá sản bằngcách khắc phục những bất cập, hạn chế của Luật phá sản doanh nghiệp 1993, bổsung những nội dung phù hợp cho việc giải quyết tình trạng con nợ khi không cókhả năng thanh toán nợ Luật phá sản 2004 đã hoàn thiện hơn khái niệm “lâm vàotình trạng phá sản” Luật phá sản 2004 cũng nhìn nhận nợ đối với Nhà nước như nợđối với các chủ thể khác, vì thế bảo vệ bình đẳng và triệt để hơn cho lợi ích của cácchủ nợ
Sau gần mười năm thực hiện, Luật phá sản 2004 cũng đã bộc lộ một sốhạn chế tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp,hợp tác xã Với sự cần thiết phải xác định cụ thể, rõ ràng hơn tình trạng mất khảnăng thanh toán, điều kiện, trình tự áp dụng chuyển đổi các thủ tục trong phásản, sự logic của việc tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản của con nợ, sự cầnthiết của việc xã hội hóa vấn để giải quyết phá sản… đặt trước yêu cầu phải sửađổi luật phá sản 2004 Sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của nền kinh tếcùng với những thiếu vắng của các quy định trong Luật phá sản đã dẫn đến sự rađời của đạo Luật Phá sản 2014 Luật Phá sản 2014 đã được Quốc hội khóa XIII,
kỳ hợp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014
1.1.2 Khái niệm phá sản
Cũng giống như một thực thể sống “có sinh, có tử”, doanh nghiệp cũng
có chu kỳ sống của nó Theo các nhà kinh tế, chu kỳ sống của doanh nghiệp trải
Trang 11qua bốn giai đoạn tiêu biểu là: khởi nghiệp, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái.Nếu bước qua giai đoạn tăng trưởng, nhà quản trị không biết “nhìn xa trôngrộng” và dự liệu những tình huống xấu xảy ra để kịp thời đối phó thì doanhnghiệp sẽ bước vào thời kỳ suy thoái Tính chu kỳ này cũng cho thấy sự suyvong và phá sản có thể là một giai đoạn sẽ xảy ra với bất cứ một doanh nghiệpnào.
Về nguồn gốc, thuật ngữ phá sản được diễn đạt bằng từ "bankruptcy"hoặc "banqueroute" mà nhiều người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ "BancaRotta" trong tiếng La Mã cổ, trong đó banca có nghĩa là chiếc ghế dài, còn rotta
có nghĩa là bị gãy Banca rotta có nghĩa là "băng ghế bị gãy" Cũng có ý kiếncho rằng, từ phá sản bắt nguồn từ chữ ruin trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự
“khánh tận”
Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: phá sản, vỡ nợ, khánhtận… Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sảnchẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” làlâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tàisản mà vẫn không đủ để trả nợ Như vậy, trong cách hiểu thông thường, kháiniệm phá sản là để chỉ cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản màvẫn không đủ trả nợ”
Từ điển Luật học định nghĩa phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân,pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Theo quan điểm này, kháiniệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủthể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Nói cách khác, “phá sản”được hiểu tương đương với “mất khả năng thanh toán”
Như vậy, từ các phân tích trên đây có thể thấy về mặt pháp lý, khái niệm
“phá sản” có thể được hiểu theo hai khía cạnh sau đây:
Một là, phá sản là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năngthanh toán và bị cơ quan nhà nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên
Trang 12bố phá sản Hậu quả của quyết định này là sự chấm dứt hoạt động của doanhnghiệp.
Hai là, phá sản là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh đểgiải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó Thủ tục pháp lýnày được quy định bởi Luật phá sản và pháp luật có liên quan, được tiến hành từkhi có dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm vào tình trạng mất khả năng thanhtoán (insolvency) và quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toánđược thực hiện có thể đưa đến những hệ quả khác nhau là phục hồi tổ chức kinhdoanh (reorganization) hoặc thanh lý tài sản và chấm dứt hoạt động của tổ chứckinh doanh (liquidation hoặc winding-up)
Trong pháp luật Việt Nam, cả Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 vàLuật Phá sản năm 2004 đều không đưa ra định nghĩa về phá sản mà sử dụng kháiniệm “tình trạng phá sản” Nếu áp dụng vào quan niệm của phần đông ngườidân, khái niệm lâm vào tình trạng phá sản dễ gây ra sự “hiểu nhầm” là doanhnghiệp “lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì” Tuy vậy, các luật phá sản củaViệt Nam vừa nêu đều có các quy định nhằm phục hồi doanh nghiệp chứ khôngchỉ có các quy định về tuyên bố phá sản và thanh lý doanh nghiệp Do vậy, kháiniệm tình trạng phá sản chưa phản ánh đầy đủ nội hàm như được quy định trongcác luật này
Khác với các văn bản luật phá sản trước đây của Việt Nam đều không đưa
ra định nghĩa cho khái niệm phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã đưa ra một địnhnghĩa pháp lý về phá sản, theo đó, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợptác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phásản” Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới góc độ là một quyết định của tòa
án chứ không phải là quá trình ban hành ra quyết định đó (thủ tục phá sản)
Về cơ bản, cả trong học thuật lẫn trong pháp luật nhiều nước đều xác địnhtình trạng mất khả năng thanh toán là tình trạng con nợ không trả được cáckhoản nợ Tuy nhiên, thế nào là “không có khả năng thanh toán được các khoảnnợ” là nội dung không chỉ gây tranh luận trong giới học thuật mà còn được ghi
Trang 13nhận có ít nhiều sự khác biệt trong pháp luật ở các nước khác nhau Thậm chí,trong cùng một nước, nội dung này ở mỗi thời kỳ khác nhau cũng có cách hiểukhác nhau Về lý thuyết có thể sử dụng một, hoặc phối hợp một số tiêu chí khácnhau để xác định tình trạng phá sản Các tiêu chí thông thường có thể được sửdụng là:
Xác định tình trạng phá sản theo tiêu chí định lượng: theo tiêu chí này,một doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán khi không thanh toán đượcmột món nợ đến hạn có giá trị tối thiểu được luật phá sản ấn định Ví dụ Luậtphá sản Singapore năm 1999 quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản khikhông trả được số nợ đến hạn ít nhất là 5.000 đô la Singapore (Theo Luật sửađổi năm 2005 là 10.000 đô la) Có thể nói việc sử dụng tiêu chí định lượng đểxác định tình trạng “mất khả năng thanh toán” có tác dụng giảm các đối tượngcần áp dụng các quy định của luật phá sản Bởi vì nếu các khoản nợ của doanhnghiệp bị mất khả năng thanh toán là quá nhỏ thì không cần thiết phải tiến hànhthủ tục phá sản phức tạp, mất nhiều thời gian và tốn kém Cơ quan giải quyếtphá sản chỉ mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp có khoản nợ đạtngưỡng áp dụng luật phá sản Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm tới yếu tố định lượng
sẽ bộc lộ hạn chế khi không đánh giá được chính xác tình trạng tài chính củadoanh nghiệp mắc nợ vì doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán nhất thời
do những nguyên nhân khác nhau Việc bị mở thủ tục phá sản có thể tạo ra sức
ép doanh nghiệp buộc phải bán tài sản của mình với mức giá quá thấp hoặc buộcphải tham gia vào những thỏa hiệp có tính chất bất bình đẳng trước sức ép củachủ nợ Chính vì vậy, nếu chỉ đơn thuần dựa vào tiêu chí này thì việc xác địnhmức nợ đến bao nhiêu mới bị mở thủ tục phá sản thật sự khó đạt được sự thuyếtphục
Xác định tình trạng phá sản theo tiêu chí kế toán: Theo tiêu chí này thìviệc xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thực hiệnthông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp mắc nợ Doanh nghiệp bị coi là lâmvào tình trạng phá sản nếu như số liệu kế toán của doanh nghiệp cho thấy tổng
Trang 14giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có So với tiêu chí định lượng thì tiêuchí kế toán dường như đánh giá chính xác hơn tình trạng tài chính thực tế củadoanh nghiệp, đồng thời, dựa vào tiêu chí này có thể thu hẹp hơn phạm vi nhữngđối tượng có thể bị áp dụng luật phá sản Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào tiêu chí kếtoán cũng bộc lộ hạn chế là việc mở thủ tục phá sản doanh nghiệp chỉ đặt ra khitổng giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp nhỏ hơn khoản nợ Điều này cũngđòi hỏi trước khi mở thủ tục phá sản, tòa án phải có kết quả kiểm toán và thựchiện phép thử về khả năng thanh toán Trên thực tế, có những doanh nghiệp do
sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản cố định và tài sản lưu động làm cho xét
về mặt kế toán thì tài sản còn lại đủ, thậm chí thừa để trả nợ, nhưng xét về mặtthực tế họ lại khó có thể thanh toán nợ do những tài sản cố định của họ thiếu tínhthanh khoản, không thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt Nếu không có giảipháp cứu chữa kịp thời thì khả năng doanh nghiệp bị phá sản có thể xảy ra Đây
là hạn chế lớn nếu chỉ áp dụng theo tiêu chí này
Xác định tình trạng phá sản theo tiêu chí “dòng tiền”: Tiêu chí này quantâm đến tính tức thời của việc trả nợ, quan tâm đến dòng tiền (cash flow) củadoanh nghiệp khi đánh giá khả năng thanh toán Với cách xác định dựa trên tínhtức thời của việc trả nợ, tiêu chí này không quan tâm đến tài sản hiện có củadoanh nghiệp có đủ để trả nợ hay không Việc quy định về tình trạng phá sảnnhư vậy dựa trên triết lý có nợ thì phải thanh toán Việc doanh nghiệp bị ngưngtrả nợ có thể bị suy đoán là bị lâm vào tình trạng phá sản Căn cứ vào tiêu chínày thì luật phá sản có thể áp dụng cho cả đối với các doanh nghiệp có thể cònnhiều tài sản có nhưng không thể trả nợ do chưa thể “hiện kim” số tài sản củamình
So với hai tiêu chí định lượng và kế toán đã nêu ở trên, tiêu chí “địnhtính” cho phép một thủ tục phá sản có thể được mở ra sớm hơn Điều này phùhợp với quan niệm hiện đại của luật phá sản là ngày càng có xu hướng tạo điềukiện cho doanh nghiệp được phục hồi thay vì tuyên bố phá sản Vì vậy, muốntạo điều kiện phục hồi doanh nghiệp bị khó khăn thì cần “định bệnh” từ sớm
Trang 15Đây cũng là giải pháp tốt hơn cho việc bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, bản thândoanh nghiệp mắc nợ, người lao động và cả xã hội, tránh nguy cơ phải tuyên bốphá sản doanh nghiệp, từ đó tránh đi những hậu quả không mong muốn trong vụphá sản như thất nghiệp, phá sản dây chuyền
Ở Việt Nam, việc xác định tình trạng “mất khả năng thanh toán” đã đượcpháp luật quy định khá khác biệt nhau trong các văn bản pháp luật về phá sản Ởnhững giai đoạn khác nhau, pháp luật Việt Nam có khi chỉ sử dụng một tiêu chí
để xác định tình trạng phá sản hoặc có khi lại phối hợp nhiều tiêu chí
Như vậy, bản chất của “tình trạng mất khả năng thanh toán” là việc con
nợ không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình Về cơ bản,khi con nợ ngừng trả nợ thì coi như là đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanhtoán và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lý để làm đơn yêu cầu tòa án thụ lý
và giải quyết vụ việc phá sản Tuy nhiên, tùy quan điểm của mỗi quốc gia và ởmỗi thời kỳ khác nhau, đặc biệt là tùy thuộc vào mục tiêu của luật phá sản là bảo
vệ chủ nợ hay con nợ, có đặt mục tiêu phục hồi doanh nghiệp hay không mà luậtpháp các nước, trong những giai đoạn khác nhau có thể đưa ra tiêu chí cụ thể đểxác định tình trạng phá sản là khác nhau
1.1.3 Đặc điểm phá sản
Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết và tuyên bố phá sản đối vớicon nợ Tùy theo quy định pháp luật của các nước, việc tuyên bố phá sản mộtcon nợ có thể do tòa phá sản hay một tòa khác đảm nhận nhưng vấn đề này luônđược xác định thuộc thẩm quyền của Tòa án Từ đó, cũng có thể thấy rằng, việcgiải quyết phá sản được tiến hành theo thủ tục tư pháp Trong khi đó, việc raquyết định giải thể một cơ sở kinh doanh lại luôn thuộc về cơ quan nhà nước đãcấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho cơ sở kinh doanh đó
Khi mất khả năng thanh toán và bị mở thủ tục giải quyết phá sản, con nợvẫn tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh nhưng phải chịu sự kiểm tra,giám sát của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Do vậy, bị hạn chế quyền quản lý,định đoạt tài sản của mình, nghĩa là bị hạn chế quyền tự do trong kinh doanh
Trang 16Chỉ đến khi không thể phục hồi hoạt động kinh doanh, con nợ mới bịtuyên bố phá sản và chấm dứt tư cách pháp lý Nói cách khác, con nợ mất khảnăng thanh toán thì có thể được phục hồi hoạt động kinh doanh còn con nợ đã bịtuyên bố phá sản thì không còn được cơ hội đó.
Khi có quyết định mở thủ tục phá sản, các vụ kiện đòi nợ riêng lẻ đối vớicon nợ đều bị đình chỉ để giải quyết chung trong thủ tục phá sản Giải quyết phásản thực chất là quá trình giải quyết mối quan hệ của con nợ với các bên liênquan khi con nợ đang trong tình trạng khó khăn về tài chính, do vậy, việc giảiquyết nợ đòi hỏi phải tiến hành một cách công khai, bình đẳng tại tòa án có thẩmquyền giải quyết phá sản
Nếu con nợ không có khả năng phục hồi thì toàn bộ tài sản còn lại củacon nợ được đưa vào một quỹ chung để thực hiện việc thanh toán theo một thứ
tự ưu tiên nhất định Nhìn chung, thứ tự ưu tiên trước hết được giành cho chi phíphá sản rồi đến các quyền lợi của người lao động Quan hệ với các loại chủ nợ sẽđược thanh toán sau so với các khoản nói trên Trong nhiều trường hợp, tài sảncủa con nợ không còn đủ để thanh toán các khoản nợ Điều này khác với việcgiải thể một cơ sở kinh doanh Khi tiến hành giải thể, cơ sở kinh doanh đó phảibảo đảm thanh toán hết các khoản nợ Cùng là sự chấm dứt hoạt động của các cơ
sở kinh doanh nhưng trong trường hợp bị phá sản khác với giải thể
Sau khi thanh toán các khoản nợ bằng tài sản còn lại của mình, con nợ bị
“xóa sổ” và chấm dứt hoạt động Mọi khoản nợ đối với con nợ dù chưa thanhtoán được cũng không còn tồn tại đối với con nợ Nói cách khác, con nợ đượcgiải thoát khỏi nợ nần bằng thủ tục phá sản
1.1.4 Các hình thức phá sản
Trên cơ sở nguyên nhân gây ra phá sản có phá sản trung thực và phá sản
gian trá Phá sản trung thực là hậu quả của việc mất khả năng thanh toán do
những nguyên nhân khách quan hay những rủi ro bất khả kháng gây ra Phá sảntrung thực cũng có thể từ những nguyên nhân chủ quan nhưng không phải do sựchủ ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Ví dụ: như sự yếu kém về năng
Trang 17lực tổ chức, quản lý hoạt động; sự thiếu khả năng thích ứng với những biến độngtrên thương trường… Phá sản gian trá là hậu quả của những thủ đoạn gian trá,
có sắp đặt trước nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Ví dụ: có hành vi gianlận trong khi ký hợp đồng, tẩu tán tài sản, cố tình báo cáo sai… để qua đó tạo ra
lý do phá sản không đúng sự thật
Trên cơ sở phát sinh quan hệ pháp lý có phá sản tự nguyện và phá sản bắtbuộc: Cụ thể là dựa trên căn cứ ai là người làm đơn yêu cầu phá sản Phá sản tựnguyện là do phía doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ tự làm đơn yêu cầu phá sảnkhi thấy mình mất khả năng thanh toán, không có điều kiện thực hiện nghĩa vụtrả nợ đối với chủ nợ Phá sản bắt buộc là do phía các chủ nợ làm đơn yêu cầuphá sản doanh nghiệp mắc nợ nhằm thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp mắcnợ
Dựa vào đối tượng bị giải quyết phá sản Gồm phá sản cá nhân và phá sảnpháp nhân Tuỳ theo pháp luật ở mỗi nước mà đối tượng bị giải quyết phá sản cóquy định khác nhau Ở nước ta áp dụng cho doanh nghiệp và hợp tác xã TrungQuốc: áp dụng với thành phần kinh tế quốc doanh Úc: áp dụng với cả cá nhân.Phá sản cá nhân: theo quy định này cá nhân bị phá sản phải chịu trách nhiệm vôhạn đối với các khoản nợ Phá sản pháp nhân: đó là phá sản một tổ chức, tổ chứcnày phải gánh chịu hậu quả của việc phá sản Việc trả nợ cho chủ nợ của phápnhân dựa trên tài sản của pháp nhân
1.1.5 Vai trò của phá sản
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường ngàycàng phong phú và trở nên phức tạp hơn trước những thay đổi nhanh chóng củanền kinh tế Các quy định đó của pháp luật có mối liên hệ mật thiết để điều chỉnhtoàn bộ quá trình kinh doanh của các chủ thể Pháp luật phá sản chỉ là một bộphận trong toàn bộ hệ thống pháp luật kinh tế Bộ phận pháp luật này đóng vaitrò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Pháp luật phá sản bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích của các chủ nợ,đồng thời bảo vệ chính bản thân con nợ Không chỉ pháp luật phá sản tham gia
Trang 18vào việc bảo vệ lợi ích của chủ nợ mà lợi ích đó còn được điều chỉnh bởi các quyđịnh khác của pháp luật, nhưng do tính chất đặc biệt của thủ tục phá sản mà lợiích của chủ nợ được bảo vệ bởi biện pháp mang tính chát tập thể Luật phá sản
đã đưa ra các giải pháp để các chủ nợ thu hồi nợ bằng cách chia nhau tài sản củacon nợ một cách có trật tự, công bằng, tránh tình trạng tẩu tán tài sản của con nợ.Bên cạnh đó, pháp luật phá sản còn cung cấp một thủ tục đòi nợ công khai, bìnhđẳng Thủ tục phá sản giúp cho các chủ nợ được thanh toán bình đẳng phần nợcủa mình trong phạm vi tài sản còn lại của con nợ Chủ nợ không có quyền khởikiện để yêu cầu trả nợ riêng cho mình Một chủ nợ không thể yêu cầu đượcthanh toán toàn bộ nợ trong khi các chủ nợ khác lại không được thanh toán Luậtphá sản tạo ra thủ tục pháp lý mà ở đó các chủ nợ có khả năng kiểm soát đượctình trạng của con nợ, tránh việc sử dụng sai mục đích hoặc tẩu tán tài sản củacon nợ dưới mọi hình thức Thủ tục đó còn phải giúp cho các chủ nợ có khảnăng thu hồi nợ một cách tối đa, đặc biệt thông qua việc phục hồi con nợ trongquá trình giải quyết phá sản Đối với con nợ, pháp luật phá sản tạo điều kiện chocon nợ có thể phục hồi khả năng kinh doanh hoặc rút ra khỏi thương trường.Khó khăn trong kinh doanh, không còn khả năng thanh toán nợ là điều nằmngoài mong muốn của các nhà kinh doanh song điều đó lại hoàn toàn có thể xảy
ra bởi sự rủi ro chứa đựng ngay trong hoạt động của họ Một chủ thể kinh doanhkhông thanh toán được nợ, bị phá sản sẽ gây ra rất nhiều các hậu quả nguy hạicho xã hội Vì thế, việc ưu tiên phục hồi con nợ bằng các cách thức khác nhauđều được pháp luật phá sản quan tâm Chỉ khi khả năng phục hồi không đạtđược, con nợ mới phải thực hiện việc thanh lý tài sản để trả nợ theo một thứ tựu
ưu tiên nhất định Nếu tài sản còn lại của con nợ không đủ để trang trải cáckhoản nợ thì những khoản nợ chưa thanh toán cũng được coi là đã thanh toánxong Pháp luật phá sản có vai trò giúp chủ thể kinh doanh thoát khỏi tư cáchcon nợ để rút khỏi thương trường
Pháp luật phá sản góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động.Nguy cơ mất việc làm và thu nhập là sự đe dọa đối với người lao động trong các
Trang 19tổ chức kinh doanh trong quá trình giải quyết phá sản Trong khi đó, thị trườnglao động lại không dễ dàng tạo ngay cơ hội tìm kiếm nơi làm việc mới cho họ.Phá sản là một trong những nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp Phá luật phásản tham gia vào việc tạo điều kiện cho người lao động có một cuộc sống ổnđịnh hơn bằng khả năng đòi lại các khoản tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm
xã hội và các quyền lợi của họ Quyền lợi đó được bảo đảm bằng khả năng gửiđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, cử đại diện tham gia hội nghị chủ nợ, được ưutiên thanh toán so với các chủ nợ khác
Pháp luật phá sản góp phần tổ chức lại nền kinh tế Việc tiến hành thủ tụcphá sản không chỉ nhằm thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản đối với con nợ màmục tiêu còn là giúp con nợ đang trong tình trạng mất khả năng thanh toán cóthể thoát ra khỏi sự khó khăn về tài chính Tổ chức lại một doanh nghiệp lâmvào tình trạng mất khả năng thanh toán đã góp phần vào việc cơ cấu lại nền kinh
tế Pháp luật phá sản tạo ra cơ sở pháp lý để laoij bỏ những chủ thể kinh doanhyếu kém, không đứng vững được trong cạnh tranh, đồng thời duy trì những chủthể kinh doanh có hiệu quả Ý thức kinh doanh từ đó được nâng cao, buộc họphải có sự tính toán, cân nhắc và thận trọng trong định hướng kinh doanh, tôntrọng các quy luật kinh tế cơ bản cho hoạt động của mình
Pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo đảm trật tự, kỷ cương của xã hội.Cùng với những quy định khác của pháp luật tham gia điều chỉnh các hoạt độngkinh doanh, pháp luật phá sản cũng thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệtrật tự, kỷ cương xã hội Phá sản là hiện tượng xảy ra có ảnh hưởng rất lớn đếnđời sống kinh tế - xã hội Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật đốivới hiện tượng này, nó có thể gây ra những mâu thuẫn, tình trạng hỗn loạn, mấttrật tự, ổn định xã hội bởi sự lộn xộn trong việc tranh giành tài sản của con nợ từphía các đối tượng khác nhau Tòa án là cơ quan đại diện cho Nhà nước để tiếnhành thủ tục phá sản, quyết định trách nhiệm, quyền lợi của các bên, tránh đếnmức thấp nhất sự mất trật tự, ổn định trong xã hội
1.2 Một số vấn đề lý luận của pháp luật phá sản
Trang 201.2.1 Khái niệm về pháp luật phá sản
Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ 4 thôngqua ngày 30.12.1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/1994 Đối tượng vàphạm vi điều chỉnh của Luật là tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sởhữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam khi lâm vào tình trạngphá sản Đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh vàdịch vụ công cộng quan trọng thì Chính phủ sẽ có quy định riêng về việc ápdụng Luật phá sản doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp liên doanh, doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài, khi giải quyết việc phá sản phải thực hiện theocác quy định của Luật phá sản doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam, các văn bản hướng dẫn cụ thể việc giải quyết phá sản phù hợp với đặc thùcủa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trừ trường hợpđiều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gia có những quy định khác
Phá sản là hệ quả tất yếu của kinh tế thị trường Ở đâu có cạnh tranh gaygắt, sâu sắc, thì ở đó, phá sản cũng trở nên phổ biến và nghiêm trọng Để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và những người
có liên quan, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ, bảo vệ quyền, lợiích của người lao động và trật tự, kỉ cương xã hội, góp phần thúc đẩy các doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả, Luật phá sản doanh nghiệp đã ra đời
Sau hơn 10 năm thi hành, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã đượcthay thế bằng Luật phá sản mới, được Quốc hội Khoá XI, kì họp thứ 5 thông quangày 15/06/2004 Hiện nay, áp dụng luật phá sản năm 2014 để giải quyết cácvấn đề liên quan đến phá sản doah nghiệp, hợp tác xã
Như vậy, pháp luật phá sản có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật
do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trìnhgiải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật phá sản.
Pháp luật phá sản là một chế định đặc thù trong luật thương mại Tính đặcthù thể hiện ở chỗ trong chế định này vừa chứa đựng các quy phạm của pháp
Trang 21luật nội dung, vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật hình thức Là phápluật nội dung, pháp luật phá sản điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa chủ nợ vàcon nợ Là pháp luật hình thức, pháp luật phá sản điều chỉnh quan hệ tố tụnggiữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chủ nợ, con nợ và những người cóliên quan, quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể, trình tự, thủ tụcgiải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Như vậy, pháp luật phá sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ: (1) Quan hệ tàisản giữa chủ nợ - con nợ và (2) Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quannhà nước có thẩm quyền
Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ có bản chất là quan hệ tài sản, được hìnhthành trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chỉ được coi là quan hệpháp luật phá sản kể từ khi con nợ mất khả năng thanh toán các khoản nợ trongthời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán có nghĩa là kể từ thời điểm đópháp luật phá sản mới điều chỉnh các quan hệ đó Chủ thể tham gia các quan hệtài sản này là chù nợ và con nợ Chủ nợ là các tổ chức, cá nhân có khoản nợ chưađược doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thanh toán Chủ nợ được chia ra làm baloại: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm mộtphần Con nợ chính là doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, khôngthực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đếnhạn thanh toán Khách thể của quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là tài sản của con
nợ Nội dung của quan hệ tài sản giữa con nợ và chủ nợ chính là những quyền vànghĩa vụ tài sản của các chủ thể đó
Khác với quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ, quan hệ tố tụng giữa cácđưong sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có những dấu hiệu riêng của nó
Về chủ thể: Một bên là các đương sự gồm chủ nợ, con nợ và những người cóliên quan như người lao động, cổ đông công ty cổ phần (trong trường hợp họnộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản); Một bên là các cơ quan nhà nước có thẩmquyền như Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Quản tài viên, doanhnghiệp quản lý, thanh lý tài sản, cơ quan thi hành án dân sự Khách thể của quan
Trang 22hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính là quátrình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Nội dung của quan hệnày là những quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trước Nhà nước hoặc
là các hành vi tố tụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.3 Nội dung pháp luật về phá sản
1.2.3.1 Đối tượng áp dụng pháp luật phá sản
Đối tượng áp dụng Luật phá sản là doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệphợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Các doanhnghiệp, hợp tác xã có thể hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, từcông nghiệp đến xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ kể cả tổ chức tín dụng,
… khi lâm vào tình trạng phá sản sẽ giải quyết theo quy định, trình tự của Luậtphá sản Chủ thể không thuộc đối tượng áp dụng Luật phá sản là hộ kinh doanh.Đây là chủ thể kinh doanh không có tư cách doanh nghiệp mà với tư cách cánhân vì thế không thuộc đối tượng áp dụng Luật phá sản Khi kinh doanh thua
lỗ, cá nhân, nhóm người hoặc hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình đến khi hết nợ Hộ kinh doanh chấm dứt hoạtđộng thông qua việc nộp lại giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho cơquan đăng ký đã cấp
1.2.3.2 Mục đích ban hành Luật Phá sản
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ: Theo các quy định củaLuật phá sản thì khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ, thìchủ nợ có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộtài sản còn lại của doanh nghiệp để trả nợ cho các chủ nợ Hơn nữa Luật phá sảncòn đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ nợ trong việc đòi nợ, theo đó tất cả cácchủ nợ không bảo đảm đều phải đợi đến khi Toà án tuyên bố phá sản doanhnghiệp thì mới cùng nhau được chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sảntheo tỷ lệ Bảo vệ lợi ích của chính doanh nghiệp mắc nợ: Luật phá sản khôngnhững bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền lợi cho cả doanhnghiệp mắc nợ Nhờ có pháp luật về phá sản với quan điểm kinh doanh là mang
Trang 23lại lợi ích cho xã hội; đồng thời kinh doanh là công việc rất khó khăn đầy rủi ro;
do đó pháp luật phải đối xử nhân đạo với người kinh doanh bị phá sản, khôngđược truy cứu pháp luật nếu họ không phạm tội; ngăn cấm các chủ nợ có hành vixúc phạm đến thể xác hay tinh thần của họ, tạo điều kiện cho con nợ khắc phụckhó khăn để khôi phục sản xuất kinh doanh, chỉ khi nào không thể cứu vãn nổimới tuyên bố phá sản Bảo vệ lợi ích của người lao động: Sự bảo vệ của Luậtphá sản đối với người lao động thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người laođộng được quyền làm đơn yêu cầu hoặc phản đối Toà án tuyên bố phá sản doanhnghiệp mà mình đang làm; được cử đại diện của mình tham gia tổ quản lý tài sản
và tổ thanh toán tài sản, được tham gia Hội nghị chủ nợ, được ưu tiên thanh toántrước từ tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Bảo đảm trật tự xã hội: Khidoanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn thu được càng nhiều càng tốttài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ Khi đó nếu không có luật thì sẽ xảy ratình trạng lộn xộn mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa các chủ nợ với nhau, giữachủ nợ và con nợ Bằng việc giải quyết công bằng, thoả đáng các mối quan hệnày, pháp luật về phá sản doanh nghiệp góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chếnhững căng thẳng có thể xảy ra, nhờ đó đảm bảo trật tự kỷ cương của xã hội.Góp phần cơ cấu lại nền kinh tế: Phá sản bao giờ cũng gây ra những hậu quảkinh tế xã hội nhất định, trong đó có cả những hậu quả tích cực như 1 giải pháphữu hiệu để cơ cấu lại nền kinh tế vì nó là sự đào thải tự nhiên đối với các doanhnghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn cóhiệu quả Luật phá sản là cơ sở pháp lý để xoá bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗtạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn đầutư
1.2.3.3 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản
Theo thông lệ chung, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tuyên bố phá sảndoanh nghiệp là Toà án Tuy nhiên, do tổ chức hệ thống Toà án và cơ quan tàiphán ở mỗi nước khác nhau nên việc giao cho Toà án nào giải quyết yêu cầu phásản không giống nhau
Trang 24Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật Công ti năm
1990 nghi nhận thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản thuộc Trọng tài kinh tếnhà nước Theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, quyền giải quyết phá sảnđược quy định thuộc về Toà án, nhưng chỉ có Toà án kinh tế cấp Tỉnh mới cóthẩm quyền giải quyết phá sản Hiện nay, theo Luật Tổ chức Toà án nhân dânnăm 2014 cũng như Luật Phá sản 2014, thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sảndoanh nghiệp, hợp tác xã thuộc về Toà án nhân dân địa phương Dựa trên cácnguyên tắc: Theo trụ sở chính, theo nơi đăng ký kinh doanh và theo tính chấtphức tạp của vụ việc phá sản
1.2.3.4 Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản
Thủ tục phá sản hiện nay gồm hai thủ tục chính là thủ tục phục hồi hoạtđộng kinh doanh và thủ tục tuyên bố phá sản Thanh lý tài sản được thực hiệnsau khi có quyết định tuyên bố phá sản chứ không còn là một thủ tục riêng biệtđược tiến hành trước khi ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản như trướcđây Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ, không nhất thiết phảithực hiện lần lượt hai thủ tục này để được phá sản
1.2.4 Vai trò của pháp luật phá sản
1.2.4.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Giúp loại bỏ các doanh nghiệp, hợp tác xã yếu kém ra khỏi môi trườngkinh doanh theo trình tự, thủ tục chuyên biệt Bảo vệ quyền lợi của tất cả các chủthể liên quan trong quan hệ phá sản Bảo đảm môi trường kinh doanh, giúp chodoanh nghiệp, hợp tác xã có điều kiện phát triển tốt nhất
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mức độ phụ thuộc của các doanhnghiệp đối với nhau ngày càng lớn, vì vậy, khi một doanh nghiệp bị phá sản tấtyếu sẽ có rất nhiều doanh nghiệp khác là chủ nợ hoặc bạn hàng có quan hệ vớidoanh nghiệp đó phải chịu tác động xấu Đặc biệt nếu con nợ là những doanhnghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, tín dụng, bảo hiểm… việc phásản của con nợ đó có thể kéo theo sự đổ vỡ của cả một hệ thống doanh nghiệpkhác có liên quan Vì vậy Luật phá sản có vai trò giúp cơ quan quản lý nhà nước
Trang 25thực hiện thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp một cách đúng đắn và phù hợp,ngoài ra trong các trường hợp áp dụng được thủ tục phục hồi kinh doanh để cứucon nợ thì sẽ hạn chế được tối đa tổn thất đối với tất cả các chủ thể có liên quan.Giảm bớt gánh nặng giải quyết các hệ lụy mà việc phá sản doanh nghiệp, hợptác xã để lại Từ đó mang lại hiệu quả trong quá trình quản lý của cơ quan quản
lý nhà nước
Ngoài ra, khi một doanh nghiệp bị phá sản, những người lao động làmviệc trong doanh nghiệp đó sẽ bị mất việc làm và điều đó cũng đồng nghĩa vớiviệc họ sẽ mất đi nguồn thu nhập để duy trì cuộc sống của họ và gia đình Giảiquyết bài toán thất nghiệp hay tái đào tạo lại nghề cho những người lao động sẽ
là một sức ép lớn đồi với Nhà nước và xã hội Việc phục hồi doanh nghiệp lâmvào tình trạng phá sản sẽ góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đối với xãhội Đặc biệt, nếu giải quyết thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa chủ nợ và con
nợ thông qua thủ tục phục hồi sẽ góp phần hạn chế những mâu thuẫn, căngthẳng có thể có giữa những chủ thể này với nhau, từ đó góp phần duy trì trật tự,
ổn định xã hội và lành mạnh hóa môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp
1.2.4.2 Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho doanh nghiệp,hợp tác xã mắc nợ, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút khỏi thương trường mộtcách hợp pháp
Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích cho doanh nghiệp, hợp tác xãmắc nợ thông qua các qui định như: ấn định thời gian ngừng trả nợ, tạo điều kiệncho doanh nghiệp, hợp tác xã thương lượng với các chủ nợ để được xóa nợ, mua
nợ, giảm nợ… Đồng thời qui định cơ chế, biện pháp để doanh nghiệp, hợp tác
xã khôi phục lại hoạt động kinh doanh, thanh lí tài sản nhằm bảo đảm cho doanhnghiệp, hợp tác xã tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc rút khỏi thịtrường
Trang 261.2.4.3 Đối với chủ nợ, người lao động, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, chủ nợ là nhữngngười đầu tiên có nguy cơ không đòi được các khoản nợ Do vậy, pháp luật phásản đã đặt yêu cầu bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Pháp luật phá sản quy định cácchủ nợ có quyền chủ động yêu cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời cho phép cácchủ nợ được bảo vệ tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra, giám sát hoạt động củadoanh nghiệp, hợp tác xã, giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyềnlợi của mình, khiếu nại các quyết định của Tòa án, nhằm mục đích thu hồi cáckhoản nợ của các chủ nợ
Bằng các qui định cụ thể, pháp luật phá sản xác định rõ cơ sở pháp lí đểngười lao động bảo vệ lợi ích của mình thông qua việc nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản, tham gia hội nghị chủ nợ, qui định thứ tự ưu tiên phân chia giá trị tàisản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã
Tiểu kết chương 1
Phá sản là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường Hiện nay, phásản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bịTòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản Khái niệm phá sản này đượcxem là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán và tìm nhữnggiải pháp phục hồi doanh nghiệp trước khi quyết định tuyên bố phá sản, tạo điềukiện để doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường một cách có trật tự và hợp pháp.Pháp luật phá sản có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hộicủa mỗi quốc gia
Khái quát dưới góc độ pháp luật về trình tự thủ tục phá sản là trình tự
mở thủ tục sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, được tiến hành bởiTòa án Và đây là một thủ tục tư pháp “đặc biệt” vì nó không phải là một vụ án
và không tiến hành thủ tục giống như giải quyết một vụ án thông thường mà đó
là việc đòi nợ tập thể, hậu quả làm cho con nợ triệt tiêu hoặc phục hồi kinhdoanh vì vậy do tính chất đặc biệt này nên trong pháp luật tố tụng các nước, thủ
Trang 27tục phá sản bao giờ cũng được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luậtriêng biệt quy định rõ trình tự thủ tục trong quá trình phá sản và các cơ quan, chủthể tham gia vào quan hệ phá sản.
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CG
2.1 Thực trạng pháp luật về phá sản
2.1.1 Nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản
2.1.1.1 Nội dung các quy định về nộp đơn và thụ ký đơn yêu cầu giải quyết Phá sản
Luật phá sản 2014 quy định những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêucầu Tòa án mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã tại Điều 5 bao gồmnhững người sau đây:
Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn ba tháng kể từ ngày khoản nợđến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Chủ
nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanhnghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảođảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba Chủ nợ
có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanhnghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảmbằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tàisản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó
Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp ở nhữngnơi chuea thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phásản khi hết thời hạn ba tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, cáckhoản nợ khác đến hạn đối với doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán
Cổ đông các công ty cổ phần Cổ dông hoặc nhóm cổ đônh sở hữu từ 20
% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyềnnộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanhtoán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong
Trang 29thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảnkhi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công tyquy định.
Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của liên hiệphợp tác xã có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã mất khả năng thanh toán
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán
Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổphần, Chủ tịch hội đồng thành viên của công ty trách nhiện hữu hạn một thànhviên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Ngoài các đồi tượng trên đây thì không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cóquyền yêu cầu mở thủ tục phá sản Khi phát hiện doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán, cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thông báo bằng văn bảncho những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sẩn để nhữngngười đó thực hiện quyền hay nghĩa vụ của mình
Người yêu cầu mở thủ tục phá sản làm đơn nộp cho Tòa án nhân dân cóthẩm quyền Người nộp đơn còn phải gửi kèm các giấy tờ, tài liệu theo quy địnhcủa pháp luật và phải có chứng cứ để chứng minh các khoản nợ đến hạn Nộidung của đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và các giấy tờ, tài liệu kèm theo đượcquy định tại Điều 26, 27, 28 Luật Phá sản 2014 Người có yêu cầu mở thủ tụcphá sản phải nộp đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án bằng phươngthức nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đến Tòa án qua bưu điện
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp lệ phí phá sản, tạmứng chi phí phá sản theo quyết định của Tòa án Lệ phí phá sản được nộp cho cơquan thi hành án dân sự, tiền tạm ứng chi phí phá sản được nộp vào tài khoản doTòa án nhân dân mở tại ngân hàng
Trang 30Điều 26, Luật Phá sản 2014 quy định: Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảncủa chủ nợ phải có các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm; Tên Tòa ánnhân dân có thẩm quyền giải quyết phá sản; Tên, địa chỉ của người làm đơn;Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản; Khoản
nợ đến hạn; Kèm theo đơn phải có chứng cứ để chứng minh khoản nợ đến hạn;Trường hợp có đề xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lýtài sản thì đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ của Quản tài viên,doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
Điều 27, Luật Phá sản 2014 quy định: Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảncủa người lao động, đại diện công đoàn phải có các nội dung chủ yếu sau: Ngày,tháng, năm; Tên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết phá sản; Tên, địa chỉcủa người làm đơn; Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủtục phá sản; Tổng số tiền lương và các khoản nợ khác đã đến hạn mà doanhnghiệp, hợp tác xã không trả cho người lao động Kèm theo đơn phải có chứng
cứ để chứng minh lương và các khoản nợ khác đến hạn Trường hợp có đề xuấtchỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thì đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,thanh lý tài sản Kể từ ngày nộp đơn, người lao động, đại diện công đoàn cóquyền, nghĩa vụ như chủ nợ theo quy định của Luật phá sản 2014
Điều 28, Luật Phá sản 2014 quy định: Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảncủa doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải có các nội dung chủyếu sau: Ngày, tháng, năm; Tên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết phásản; Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã; Tên, địa chỉ của người làm đơn;Căn cứ yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau:Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong 03 năm gần nhất Trườnghợp doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thìkèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong toàn bộ thời gianhoạt động; Bản giải trình nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh
Trang 31toán; báo cáo kết quả thực hiện các biện pháp khôi phục doanh nghiệp, hợp tác
xã mà vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán; Bảng kêchi tiết tài sản, địa điểm có tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; Danh sách chủ
nợ, danh sách người mắc nợ, trong đó phải ghi rõ tên, địa chỉ của chủ nợ, ngườimắc nợ, khoản nợ, khoản cho vay có bảo đảm, không có bảo đảm, có bảo đảmmột phần đến hạn hoặc chưa đến hạn; Giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thànhlập doanh nghiệp, hợp tác xã; Kết quả thẩm định giá, định giá giá trị tài sản cònlại (nếu có) Trường hợp có đề xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản thì đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ củaQuản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Những người theo quyđịnh tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của Luật Phá sản 2014 không nộp đơn yêucầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thìphải chịu trách nhiệm trước pháp luật Trường hợp có thiệt hại phát sinh sau thờiđiểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thì phải bồi thường
Khi yêu cầu Tòa án nhân dân mở thủ tục phá sản, cổ đông hoặc nhóm cổđông của công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo phápluật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã quy định tại khoản 5 vàkhoản 6 Điều 5 của Luật Phá sản 2014 phải làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung theo quy định tại khoản 2Điều 28 của Luật này và gửi kèm các tài liệu (nếu có) theo quy định tại khoản 3
và khoản 4 Điều 28 của Luật Phá sản 2014
Về Phương thức nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Điều 28, Luật Phásản 2014 quy định: Người có yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp đơn và tàiliệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền bằng một trong cácphương thức sau: Nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân; Gửi đến Tòa án nhân dânqua bưu điện Ngày nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được tính từ ngày Tòa
án nhân dân nhận đơn hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi
Trang 32Thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc vềTòa án nhân dân, được quy định tại Điều 8, Luật Phá sản 2014 như sau:
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọichung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối vớidoanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng
ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trườnghợp sau:
Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phásản ở nước ngoài; Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chinhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnhkhác nhau; Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ởnhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau; Vụ việc phá sản thuộcthẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đâygọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giảiquyết do tính chất phức tạp của vụ việc
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối vớidoanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh đó và không thuộc trường hợp nêu trên
Sau khi nhận được đơn, Tòa án có thẩm quyền sẽ phân công Thẩm phángiải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, được quy định tại Điều 31, Luật Phásản 2014 Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, Chánh án Tòa án nhân dân phân công một Thẩm phán hoặc
Tổ Thẩm phán gồm 03 Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phánphải xem xét đơn yêu cầu và xử lý như sau: Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản hợp lệ, Thẩm phán thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phásản về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp khôngphải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản; Trường hợp đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản không đủ các nội dung quy định tại Điều 26, Điều 27, Điều 28
Trang 33hoặc Điều 29 của Luật Phá sản 2014 thì Thẩm phán thông báo cho người nộpđơn sửa đổi, bổ sung đơn; Chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Tòa ánnhân dân có thẩm quyền nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dânkhác; Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Thông báo việc xử lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản phải bằng văn bản và gửi cho người nộp đơn và doanhnghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán biết
Chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Tòa án nhân dân có thẩmquyền và giải quyết đề nghị xem xét lại việc chuyển đơn
Trường hợp đơn được gửi đến không đúng thẩm quyền thì Tòa án nhândân xử lý đơn có trách nhiệm chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và tài liệu,chứng cứ kèm theo cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền và thông báo cho ngườinộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từngày nhận được quyết định chuyển đơn thì người nộp đơn hoặc Tòa án nhân dânđược chuyển đơn có quyền đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếpxem xét lại việc chuyển đơn Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhậnđược đơn đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp giải quyết đềnghị xem xét lại việc chuyển đơn Quyết định của Chánh án Tòa án nhân dâncấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không đủ nội dung quy định tại Điều 26,Điều 27, Điều 28 hoặc Điều 29 của Luật Phá sản 2014 thì Tòa án nhân dânthông báo cho người nộp đơn biết để sửa đổi, bổ sung Thời hạn sửa đổi, bổ sung
do Tòa án nhân dân ấn định, nhưng không quá 10 ngày làm việc kể từ ngàyngười nộp đơn nhận được thông báo; trường hợp đặc biệt, Tòa án nhân dân cóthể gia hạn nhưng không quá 15 ngày
Tòa án nhân dân quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảntrong các trường hợp sau: Người nộp đơn không đúng theo quy định; Người nộpđơn không thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theoquy định; Tòa án nhân dân khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán; Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 34rút đơn yêu cầu theo quy định; Người nộp đơn không nộp lệ phí phá sản, tạmứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chiphí phá sản Quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án nhândân phải nêu rõ lý do trả lại đơn Tòa án nhân dân có trách nhiệm gửi quyết địnhnày cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dâncùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định trả lạiđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân, người yêu cầu mở thủ tụcphá sản có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp cóquyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định trả lại đơn yêucầu
Về việc đề nghị xem xét lại, kiến nghị việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản thì Điều 36, Luật Phá sản 2014 quy định: Trong thời hạn 03 ngày làmviệc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại, kiến nghị đối với quyết địnhtrả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyếtđịnh trả lại đơn yêu cầu phải ra một trong các quyết định sau: Giữ nguyên quyếtđịnh trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Hủy quyết định trả lại đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản và thụ lý đơn theo quy định của Luật Phá sản 2014 Trongthời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết đơn đềnghị xem xét lại, kiến nghị đối với quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phásản, người yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểmsát nhân dân có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếpxem xét, giải quyết
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xemxét lại, kiến nghị về việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án Tòa
án nhân dân cấp trên trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau: Giữ nguyênquyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Hủy quyết định trả lại đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản và yêu cầu Tòa án nhân dân thụ lý đơn theo quy địnhcủa Luật Phá sản 2014
Trang 35Quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của Chánh án Tòa ánnhân dân cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng Quyết định này phải được gửicho người yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân đãkiến nghị và Tòa án nhân dân đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán và chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị bằng vănbản gửi Tòa án nhân dân để các bên thương lượng việc rút đơn Tòa án nhân dân
ấn định thời gian thương lượng nhưng không quá 20 ngày kể từ ngày nhận đượcđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ Trường hợp các bên thỏa thuận được vớinhau về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án nhân dân trả lại đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản Trường hợp thương lượng không thành hoặc hếtthời hạn thương lượng mà các bên không tiến hành thương lượng thì Tòa ánnhân dân thông báo cho người nộp đơn nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phásản và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản
2014 Việc thương lượng của các bên không được trái với quy định của phápluật về phá sản
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản hợp lệ, Tòa án nhân dân dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản
và thông báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp lệ phí phá sản, tạmứng chi phí phá sản Trường hợp có đề nghị thương lượng thì việc thông báo chongười yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sảnthực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật Phá sản 2014 Trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứngchi phí phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải thực hiện việcnộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản như sau: Nộp lệ phí phá sản cho cơquan thi hành án dân sự; Nộp tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do Tòa ánnhân dân mở tại ngân hàng
Trang 36Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận đượcbiên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản Trường hợpkhông phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì thời điểm thụ lý đượctính từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án nhân dânphải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, các cơ quan, tổ chức đanggiải quyết vụ việc liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán do các bên cung cấp và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về việc thụ lý đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản
Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là người đại diệntheo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì Tòa ánnhân dân phải thông báo cho các chủ nợ do doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp.Trường hợp người nộp đơn không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo củaTòa án nhân dân, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải xuấttrình cho Tòa án nhân dân các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 28của Luật Phá sản 2014
Điều 42, Luật Phá sản 2014 quy định: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngàythụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phải ra quyết định mở hoặckhông mở thủ tục phá sản, trừ trường hợp quy định tại Điều 105 của Luật này.Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mấtkhả năng thanh toán Trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định mở thủ tụcphá sản, Thẩm phán có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp củadoanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liênquan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mấtkhả năng thanh toán Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủyếu sau: Ngày, tháng, năm; Tên của Tòa án nhân dân; họ và tên Thẩm phán tiến
Trang 37hành thủ tục phá sản; Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địachỉ của người làm đơn yêu cầu; Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã mấtkhả năng thanh toán; Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quảpháp lý của việc không khai báo Tòa án nhân dân ra quyết định không mở thủtục phá sản nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã không thuộc trường hợp mấtkhả năng thanh toán.
Quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi chongười nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Việnkiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quanđăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính và đăng trênCổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Tòa
án nhân dân và 02 số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp hợp tác xã mấtkhả năng thanh toán có trụ sở chính Quyết định không mở thủ tục phá sản củaTòa án nhân dân phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã bịyêu cầu mở thủ tục phá sản và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp Thời hạn gửi vàthông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là 03 ngày làm việc kể
từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phásản, Thẩm phán có trách nhiệm chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã vẫntiếp tục hoạt động kinh doanh, nhưng phải chịu sự giám sát của Thẩm phán vàQuản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Trường hợp xét thấyngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năngđiều hành, doanh nghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu vi phạm khoản 1 Điều 48 củaLuật Phá sản 2014 thì Thẩm phán ra quyết định thay đổi người đại diện theopháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã đó theo đề nghị của Hội nghị chủ nợhoặc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
Trang 38Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp, hợp tác
xã thực hiện các hoạt động sau: Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; Thanh toánkhoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi
mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác
xã quy định tại điểm c khoản 1 Điều 49 của Luật Phá sản 2014; Từ bỏ quyền đòinợ; Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảmmột phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
2.1.1.2 Ưu điểm, hạn chế của các quy định về nộp đơn và thụ ký đơn yêu cầu giải quyết Phá sản
Thứ nhất, Luật phá sản năm 2014 thay đổi quy định về chủ thể nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản, quy định rõ hơn về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản đối với tổ chức tín dụng, quy định rõ việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản đối với tổ chức tín dụng chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng Nhà nước ViệtNam có một trong những văn bản như: Văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt;văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán; văn bảnkhông áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫnmất khả năng thanh toán Quy định này phù hợp với quy định của Luật các tổchức tín dụng năm 2010
Thứ hai, quy định rõ thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Cácchủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán, tức là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụthanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán; việcnộp đơn có thể trực tiếp tại Tòa án hoặc thông qua đường bưu điện
Bên cạnh các ưu điểm trên thì các quy định về nộp đơn và thụ lý đơn yêucầu mở thủ tục phá sản còn tồn tại một số hạn chế như: Nhiều doanh nghiệp, hợptác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán mà không nộp đơn yêu cầuphá sản vì các quy định trong Luật phá sản năm 2014 vẫn chưa cụ thể Trên thực
tế, nhiều doanh nghiệp biết rõ mình đang lâm vào tình trạng phá sản, tình trangmất khả năng thanh toán mà không “chịu” nộp đơn yêu cầu phá sản Đây cũng
Trang 39là nguyên nhân chính giải thích cho việc số lượng doanh nghiệp bị tuyên bố phásản là rất ít
Vướng mắc trong trường hợp không xác định được địa chỉ của doanhnghiệp và của chủ doanh nghiệp (con nợ) khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phásản khác Đây là một hiện tượng thường thấy ở các doanh nghiệp đi thuê trụ sở.Khó khăn khác khi giải quyết các vụ phá sản, sự vắng mặt của chủ doanh nghiệp
đã gây cho các cấp Tòa án không ít khó khăn đó là trường hợp người lao độnghoặc chủ nợ đưa đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệptheo các Điều 8 Luật Phá sản 2014 nhưng không xác định được địa chỉ của chủdoanh nghiệp, không biết chủ doanh nghiệp ở đâu
Về tiêu chí để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán: Luật phá sản năm 2014 quy định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năngthanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toánkhoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán Tuy nhiên, trênthực tế có không ít những doanh nghiệp, hợp tác xã lại là chủ nợ với số tiền lớnhơn số nợ phải thanh toán cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản, các doanhnghiệp, hợp tác xã này hoàn toàn có thiện chí trả nợ cho các chủ nợ yêu cầutuyên bố phá sản nhưng vì lí do chưa thu hồi được tiền trong kinh doanh nênkhông có khả năng trả nợ và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản không đồng ýthương lượng gia hạn, theo đó đề nghị Tòa án tuyên bố phá sản đối với doanhnghiệp, hợp tác xã Điều này vô hình chung làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, thậm chí lại là nguyên nhân chínhdẫn đến làm ăn thua lỗ sau đó và phải phá sản “thật”
Về tạm ứng chi phí phá sản và tài khoản nộp tạm ứng: Theo quy định tạikhoản 1 Điều 38 Luật phá sản 2014 thì Tòa án dự tính số tiền tạm ứng chi phíphá sản, tuy nhiên hiện nay mới chỉ có quy định về mức thù lao đối với quản tàiviên tại Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ,chưa có quy định cụ thể về dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản Bên cạnh đó,cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về tài khoản do Tòa án mở tại Ngân hàng, điều
Trang 40này gây lúng túng cho Tòa án, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như: Tàikhoản mở tại Ngân hàng được sử dụng cho một vụ hay nhiều vụ? Nếu nhiều vụ
án phá sản sử dụng chung một tài khoản sẽ không đảm bảo sự độc lập trongquản lý tiền tạm ứng chi phí phá sản của từng doanh nghiệp
Về tài liệu nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Trong thực tếgiải quyết án phá sản, báo cáo tài chính là tài liệu bắt buộc, có vai trò quan trọngtrong quá trình tổng hợp tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũngnhư tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nói cáchkhác, qua báo cáo tài chính thì Thẩm phán có thể nắm bắt được thực trạng tàichính của doanh nghiệp Tuy nhiên, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 28 Luậtphá sản 2014 lại không nêu cụ thể báo cáo tài chính có phải kiểm toán haykhông? Hay chỉ những doanh nghiệp, hợp tác xã mà pháp luật quy định báo cáotài chính bắt buộc phải kiểm toán mới phải nộp? Vì vậy, nếu không quy định cụthể việc kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ ảnh hưởngđến việc xác định tính trung thực của doanh nghiệp của Tòa án Bởi lẽ, Tòa ánkhông phải là cơ quan chuyên môn để có thể xác thực các báo cáo tài chính màdoanh nghiệp, hợp tác xã đã nộp
Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, trường hợp doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phásản Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan khi doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán, Điều 41 Luật Phá sản đã quy định trongthời gian Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản thì mọi yêu cầu doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản phải tạm đìnhchỉ giải quyết
2.1.2 Hội nghị chủ nợ
2.1.2.1 Nội dung các quy định về Hội nghị chủ nợ
Theo quy định của Luật Phá sản 2014, Hội nghị chủ nợ là chủ thể quantrọng tham gia vào quá trình giải quyết phá sản Thẩm phán được phân công phụ