VỊ TRÍ, YÊU CẦU, NỘI DUNG MÔN HỌC Đối với khoa Sinh-KTNN trường Đại học Sư phạm, Cơ sở chăn nuôi là một môn khoa học ứng dụng nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về
Trang 1PGS.TS LƯU CHÍ THẮNG
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
Trang 2Bài mở đầu GIỚI THIỆU NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
1 VỊ TRÍ CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Chăn nuôi là một ngành sản xuất rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp nhiều loại sản phẩm phục vụ và nâng cao đời sống con người, dùng trong nước và để xuất khẩu
Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và đất nước, ngành chăn nuôi có vai trò quan trọng:
- Cung cấp ngày càng nhiều thực phẩm với chất lượng cao đối với đời sống nhân dân, cải thiện đời sống bằng những sản phẩm chăn nuôi như các loại thịt, cá, trứng, sữa
- Đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ công nghiệp thực phẩm,
các ngành dệt len, da giày, va ly, mũ áo lông bằng các sản phẩm chăn nuôi
- Cung cấp thực phẩm có chất lượng và nguyên liệu cho xuất khẩu để tăng ngoại
tệ
- Cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt nhằm không ngừng nâng cao năng suất cây trồng, cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu của đất…
2 VỊ TRÍ, YÊU CẦU, NỘI DUNG MÔN HỌC
Đối với khoa Sinh-KTNN trường Đại học Sư phạm, Cơ sở chăn nuôi là một môn
khoa học ứng dụng nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về ứng dụng những thành tựu sinh học trong công tác giống, dinh dưỡng và thú y đối với vật nuôi, đồng thời giúp bổ sung làm phong phú thêm kiến thức sinh học về thực tiễn sản xuất làm cơ sở cho việc nghiên cứu giảng dạy Chương trình Sinh học và Công nghệ ở trường phổ thông, giúp giáo sinh thực hiện nguyên lý: học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với phục vụ sản xuất và đời sống
Do điều kiện có hạn, chương trình môn học chỉ đề cập đến những kiến thức cơ bản nhất, nhưng quy luật chung nhất, những nguyên lý kỹ thuật chăn nuôi và cơ sở khoa học của chúng Vì vậy, đòi hỏi giáo sinh phải biết vận dụng một cách sảng tạo đồng thời phải thường xuyên gắn bó với thực tiễn sản xuất ở địa phương, rèn luyện kỹ năng thực hành mới có thể dạy tốt môn này ở trường phổ thông
Chương trình môn Cơ sở chăn nuôi gồm 3 phần lớn:
A Giống vật nuôi
B Thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
C Thú y và vệ sinh vật nuôi
Các học phần liên quan: Cơ sở di truyền chọn giống động vật, di truyền học động
Trang 3vật, sinh lý gia súc, động vật học, hoá sinh học, vi sinh vật học, thực vật học, trồng trọt đại cương, công nghệ sinh học
Tài liệu tham khảo: Cơ sở di truyền chọn giống động vật; di truyền học động vật; chọn và nhân giống vật nuôi; di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi; công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò; thức ăn dinh dưỡng gia súc; thú y cơ bản; vệ sinh gia súc, ký sinh trùng đại cương, bệnh truyền nhiễm, thức ăn bổ sung chăn nuôi, kích tố ứng dụng trong chăn nuôi
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CHỌN LỌC VÀ NHÂN GIỐNG VẬT NUÔI
Chọn lọc và nhân giống vật nuôi là một môn khoa học ứng dụng các quy luật di
truyền vào sản xuất để cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi
Trong quá trình chọn lọc và nhân giống vật nuôi người ta quan tâm đến những cá thể, các nhóm Các đàn vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Nếu các biến đổi về năng suất, chất lượng sản phẩm là do các gen gây nên thì khi phối giống giữa các bố
mẹ có mang các gen này, năng suất và chất lượng của đời con sẽ được nâng lên Chính
vì thế, công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau đây:
- Nắm được những biến đổi di truyền nào là có giá trị Các cá thể vật nuôi luôn
có những đặc điểm nhất định, được gọi là các tính trạng Có hai loại tính trạng là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng Các tính trạng có thể quan sát và mô tả bằng cách phân loại là các tính trạng chất lượng, ví dụ: tính trạng có sừng hoặc không sừng
ở dê, mào trái dâu hay mào cờ ở gia cầm .Các tính trạng có thể xác định được bằng
cách cân đo, đong đếm là các tính trạng số lượng, ví dụ: sản lượng sữa của bò, tốc độ
sinh trưởng của lợn, sản lượng và khối lượng trứng ở gia cầm…Nhiệm vụ đầu tiên của
công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi là xác định cần phải cải tiến nâng cao những tính trạng nào ở vật nuôi và hiểu được quy luật di truyền của các tính trạng này
- Lựa chọn chính xác và có hiệu quả được những con giống tốt
Trong quá trình nuôi dưỡng, sử dụng các vật nuôi, phải quan sát, theo dõi biểu hiện của các tính trạng ở vật nuôi Trên cơ sở đó, phải lựa chọn được những vật nuôi tốt nhất về các tính trạng mà ta mong muốn, nâng cao và giữ chung để làm giống, công việc này gọi là chọn giống vật nuôi
- Chọn phối giữa các con đực và cái giống tốt nhằm mang lại hiệu quả cao về di truyền cũng như về kinh tế, nhằm tạo ra thế hệ sau có năng suất, chất lượng cao hơn thế hệ trước gọi là nhân giống vật nuôi
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam công tác giống cần đạt mục tiêu cuối cùng là tạo ra được những vật nuôi cho nhiều sản phẩm nhất mà lại tiêu tốn ít thức ăn nhất, giá thành rẻ nhất cho một đơn vị sản phẩm Nhờ áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhiều nước đã đạt được những kết quả rất tốt về công tác giống Một số khái niệm
cơ bản về chọn lọc và nhân giống vật nuôi được đề cập trong chương trình này nhằm trang bị những kiến thức và phương pháp đánh giá các tính trạng của vật nuôi
1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC CHỌN LỌC VÀ NHÂN GIỐNG VẬT NUÔI TRÊN THẾ GIỚI
Chọn lọc và nhân giống vật nuôi có lịch sử từ khi con người bắt đầu quá trình
Trang 5thuần hoá các con vật đầu tiên, cách đây khoảng 10000 năm Tuy nhiên, một thời gian dài, con người tiến hành lựa chọn, loại thải vật nuôi, ghép đôi giao phối giữa những con đực và cái hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm Những công trình chọn lọc, nhân giống vật nuôi đầu tiên được sách vở ngày nay thừa nhận là công trình của nhà chăn nuôi người Anh tên là Robert Bakewell (1725- 1795) trong việc tạo ra các giống bò Long hom, cừu Leicester và ngựa Shire Những sổ sách ghi chép về các giống ngựa, cừu xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào năm 1800 đã tạo tiến đề cho việc phát triển các sổ sách ghi chép về giống gọi là sổ giống và việc tạo các giống vật nuôi ở các nước châu
âu, châu Mỹ Năm 1865, Alendel đã công bố các quy luật di truyền và 35 năm sau năm
1900, các quy luật di truyền của Alendel được tái phát hiện bởi Devries, Correns và
TS Chermak Các sự kiện lịch sử này chính thức đánh dấu sự ra đời của nền tảng lý luận khoa học về chọn lọc và nhân giống vật nuôi Cùng thời gian này, nghiệp đoàn kiểm tra sữa đầu tiên được thành lập ở Đan Mạch, tiếp sau đó người ta đã tiến hành kiểm tra năng suất lợn Đây là một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng để chọn lọc vật nuôi mà cho tới nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Định luật Hardy-weinberg được phát hiện năm 1908 đã mở đầu cho bước phát triển của di truyền học quần thể, tiếp đó là những khởi đầu về di truyền học số lượng của Lush và một số tác giả khác đã tạo ra một hướng mới cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi
Tiếp sau các định luật di truyền cơ bản của Alendel là các lý thuyết về nhiễm sắc thể của Morgan 1910, lý thuyết về mối quan hệ giữa nền và enzym của Beadle và Latum 1941, phát hiện cơ sở vật chất của di truyền là ADN của Avery 1944, phát hiện cấu trúc vòng xoắn ADN của Watson và Cách 1953, phát hiện mã di truyền của Niremberg 1968 đã đặt ra những cơ sở quan trọng trong công tác giống vật nuôi Năm 1942, bằng các công trình của Hazel, lý thuyết về chỉ số chọn lọc đã hình thành và bước đầu ứng dụng trong chọn lọc vật nuôi Cũng trong thập kỷ 60-70 phương pháp chọn lọc vật nuôi theo chỉ số với các ưu việt của nó đã được sử dụng rộng rãi trong các chương trình chọn giống ở các nước phát triển mang lại những tiến
bộ rõ nét trong việc nâng cao năng suất, cải tiến chất lượng sản phẩm chăn nuôi Những tiến bộ về thụ tinh nhân tạo mà khởi đầu là việc sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi bò, cừu ở Nga vào năm 1930, sau đó là những thành công trong việc đông lạnh tinh dịch bò ở Anh vào những năm 1950, cấy truyền phôi vào những năm 1990 đã góp phần tích cực tăng nhanh các tiến bộ di truyền của một số tính trạng năng suất, cũng như mở rộng ảnh hưởng của các con vật giống có giá trị giống cao
Về mặt lý thuyết, trên cơ sở của phương pháp chỉ số chọn lọc kinh điển, ngay từ năm 1948, Henderson đã khởi thảo lý thuyết BLUP Nhưng phải đến những năm 1970 trở đi, cùng với sự phát triển của máy tính điện tử với dung lượng bộ nhớ lớn, tốc độ tính toán nhanh, phương pháp BLUP mới thực sự được ứng dụng trong chương trình chọn giống vật nuôi ở các nước phát triển, mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với
Trang 6chọn lọc và nhân giống vật nuôi mà ngành chăn nuôi được thừa hưởng đều là những kết quả nghiên cứu ứng dụng dựa trên cơ sở di truyền học số lượng Tuy nhiên, một xu hướng thứ hai nhằm phát triển và ứng dụng di truyền học phân tử trong chọn lọc và nhân giống vật nuôi cũng đang được phát triển mạnh trong những năm gần đây Có thể nói rằng năm 1970 với các phát hiện về enzym giới hạn đã mở đầu cho thời kỳ công nghệ tiên Trong thập kỷ 80, người ta đã cho ra đời những vật nuôi đầu tiên là sản phẩm của công nghệ cấy ghép gen Sự kiện nhân bản vô tính cừu Dolly( 2/1997, lợn
(3/2000) tiếp theo ở chuột, bò… là những đóng góp quan trọng của di truyền học phân
tử cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng công nghệ sinh học phân tử còn hạn chế và người ta vẫn còn đang nghi ngờ về những hiểm hoạ mà di truyền học phân tử có thể gây ra cho con người thông qua các sản phẩm
biến đổi gen
Lịch sử phát triển của chọn lọc và nhân giống vật nuôi
Các công trình của Bakewell.→
Số ghi chép đầu tiên về số ngựa cừu →
Nghiệp đoàn đầu tiên về kiểm tra →
sữa ở Đan Mạch
Kiểm tra năng suất lợn ở Đan Mạch.→
Định luật Hardy – Weinberg →
khởi đầu di truyền học quần thể
Ứng dụng rộng rãi thụ tinh nhân tạo cho
Lý thuyết về BLUP của Henderson →
Đông lạnh tinh dịch bò ở Anh →
←Phát triển số ghi chép về giống và nhân tạo giống vật nuôi
←Phát triển các quy luất di truyền của Mendel
←Tái hiện các định luật Meldel của Devries, Corents,
TS Chermark Ứng dụng các định luật Mendel trên vật nuôi
←Lý thuyết về nghiễm sắc thể Morgan
←Lý thuyết 1 gen 1 enzym của Beadle và Tatum
←Phát hiện của Avery: AND
là nguyên liệu di truyền
Trang 7Palconer và lý thuyết di truyền →
BLUP được sử dụng rộng rãi trong các
chương trình chọn giống vật nuôi.→
←Khỏi đầu của công nghệ gen phát hiện các enzym giới hạn
←Công nghệ cấp ghép gen cho ra đời vật nuôi đầu tiên
←Cừu Dolly, nhân bản vật nuôi đầu tiên
1.2 CÔNG TÁC GIỐNG VẬT NUÔI Ở NƯỚC TA
Lịch sử phát triển công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi ở nước ta gắn liền với sự phát triển của sản xuất, chăn nuôi ở nước ta Các giống vật nuôi được hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản xuất trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau Đặc điểm chung của các giống vật nuôi địa phương là có hướng sản xuất kiêm dụng, tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên và tận thu sản phẩm phụ trong trồng trọt Việc sử dụng nhân giống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
Để nâng cao năng suất, từ thời Pháp thuộc cũng như sau này, một số giống vật nuôi nước từ ngoài đã được đưa vào Việt Nam Quá trình lai tạo giữa các giống nội với các giống nhập cũng như thuần dưỡng chung đã hình thành những nhóm vật nuôi có những đặc điểm riêng biệt của nước ta như: bò Laisind, lợn Thuộc Nhiêu thuộc tỉnh
Mỹ Tho (sản phẩm lai giữa lợn địa phương Nam Bộ, lợn Hải Nam, Trung Quốc, lợn Craonaire - Pháp với lợn Yorkshire - Anh), lợn Ba Xuyên tỉnh Sóc Trăng (sản phẩm lai giữa lợn địa phương Nam Bộ, lợn Hải Nam Trung Quốc, lợn Craonaire - Pháp với lợn Berkshire - Anh) Giai đoạn 1960- 1980, hệ thống tổ chức các công ty giống, trạm giống rất phát triển ở hầu khắp các tỉnh, huyện nhưng công tác giống chưa có trọng điểm nên kết quả còn thấp Trong thời gian này, chúng ta đã cho nhập rất nhiều giống gia súc gia cầm có năng suất cao của thế giới nhằm lai tạo với các phẩm giống nội tạo các đàn lai kinh tế: F1, F2…cho năng suất cao về sản phẩm thịt
Hiện nay, đàn giống vật nuôi của chúng ta rất phong phú, nhiều giống loài nhưng chưa tạo được những giống vật nuôi năng suất cao đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trong nước
Trang 81.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC GIỐNG VẬT NUÔI
1.3.1.Khái niệm về vật nuôi
Khái niệm vật nuôi được giới hạn trong phạm vi các động vật đã được thuần hoá
và chăn nuôi trong lĩnh vực nông nghiệp Các vật nuôi ngày nay đều có nguồn gốc từ các động vật hoang đã Quá trình biến các động vật hoang đã thành vật nuôi được gọi
là quá trình thuần hoá do con người thực hiện Theo Isaac 1970, những động vật được gọi là vật nuôi khi chung có đủ 5 điều kiện sau đây:
- Có giá trị kinh tế nhất định, được con người nuôi với mục đích rõ ràng
- Trong phạm vi kiểm soát của con người
- Không thể tồn tại được nếu không có sự can thiệp của con người
- Tập tính đã thay đổi khác với khi còn là con vật hoang đã
- Hình thái cơ thể thay đổi so với khi còn là con vật hoang đã
Nhiều tài liệu cho rằng thuần hoá gắn liền với quá trình chăn thả, điều đó cũng có nghĩa là quá trình thuần hoá vật nuôi gắn liền với những hoạt động của con người ở những vùng có bãi chăn thả lớn Người ta cho rằng các quá trình thuần hoá vật nuôi được diễn ra chủ yếu tại 4 lưu vực sông, bao gồm: sông Lưỡng Hà ở bán đảo Ai Cập (Tigre và Euphrate), sông Nin (Ai Cập), sông Indus (Ấn Độ) và sông Hoàng Hà (Trung Quốc) Cho tới nay, nhiều ý kiến cho rằng, chó là một vật nuôi được con người thuần hoá đầu tiên cách đây khoảng 12.000-14.000 năm, lợn khoảng 8.000-10.000 năm, bò khoảng 8.000 - 9.500 năm, trâu 5.000-7.000 năm …
1.3.2 Khái niệm về giống, dòng vật nuôi
1.3.2.1 Khái niệm về giống
Giống vật nuôi là sản phẩm lao động sáng tạo của con người, cũng vì lẽ đó giống vật nuôi tiến hoá không ngừng, những giống có năng suất thấp được thay thế dần bằng các giống mới có năng suất cao hơn Dựa vào quan niệm biện chứng mà người ta thấy rằng trình độ của giống là do trình độ của nền kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật đương thời quyết định Khái niệm về giống cũng vì thế mà thay đổi theo Có người cho rằng phẩm giống là một số gia súc có một số đặc tính về ngoại hình, sản xuất giống nhau, có người lại chú ý đến màu sắc lông và cho phẩm giống là những gia súc đồng màu Thế kỷ XIX Timicơ người Anh cho rằng: "Giống gia súc là một bầy gia súc phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên"
Ngày nay, khái niệm về giống được nêu lên: “Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội nhất định do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người, có số lượng nhất định để có thể là nhân giống trong nội bộ của nó, các giống vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm về ngoại hình, thể chất, đặc tính sinh lý Sinh hoá và lợi ích kinh tế giống nhau, các đặc điểm di truyền này có thể di truyền qua các thế hệ và cho phép phân biệt giống này với giống khác"
Trang 9Trong thực tế, một nhóm vật nuôi được coi là một giống cần có các điều kiện sau:
- Có nguồn gốc, lịch sử hình thành rõ ràng trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định
- Có số lượng nhất định về cá thể đực và cái sinh sản: Trâu bò vài trăm con, lợn vài ngàn con, gia cầm vài chục ngàn con …
- Có các đặc điểm riêng biệt của giống, các đặc điểm này giúp phân biệt giống này với giống khác và được di truyền tương đối ổn định cho đời sau
- Được hội đồng giống vật nuôi công nhận Các giống vật nuôi hiện đang được nuôi rộng rãi ở nước ta gồm các giống được hình thành lâu đời và các giống nhập nội như: trâu Ngố, trâu Gié, bò Vàng Việt Nam, Lợn ỉ, Lợn Móng Cái, Lợn lang hồng, gà
Ri, vịt Cỏ… là các giống nội Trâu Murha, bò Hà Lan lang trắng gen Bò Holstein Frisian, lợn lJADNrace, gà Kabir, gà Lam Hoàng, gà ljương Phượng… là các giống
nhập nội Một số giống vật nuôi có thể có nguồn gốc, lịch sử hình thành không rõ ràng nhưng vẫn được coi là một giống ví dụ như bò Laisind, ngược lại một số nhóm vật nuôi có số lượng rất lớn nhưng lại không được coi là một phẩm giống vì đặc điểm di truyền đời sau không ổn Ví dụ: Đàn lai F1 giữa hai giống Móng Cái và Yorkshire
1.3.2.2 Khái niệm về dòng
Dòng là một nhóm vật nuôi trong cùng một giống được xuất phát từ một con đực
tổ đầu dòng Các thế hệ con cháu trong dòng chịu ảnh hưởng nhất định về huyết thống với con trực tổ
Nếu xuất phát từ một con cái tổ người ta gọi là hệ hay dòng mái Ví dụ: dòng V1,
V3 của giống vịt siêu thịt CVsuper Meat được nhập vào nước ta Dòng V1 là dòng trống có tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lớn; dòng V3 là dòng mái có khối lượng nhỏ hơn, sinh trưởng chậm hơn, nhưng lại cho sản lượng trứng và tỷ lệ ấp nở cao hơn
Trong thực tế, người ta có những quan niệm khác nhau về dòng:
- Dòng huyết thống là nhóm vật nuôi có nguồn gốc tử một con vật tổ tiên, chung không có đặc trưng rõ nét về tính năng sản xuất
- Dòng cận huyết: Bao gồm những vật nuôi có cùng nguồn gốc từ một con tổ tiên thường là đực đầu dòng xuất sắc, có thành tích nổi bật về một vài tính trạng nào đó mà người chăn nuôi muốn duy trì ở đời sau nên người ta sử dụng phương pháp nhân giống cận huyết với Con trực tổ
- Dòng địa phương là các vật nuôi trong cùng một giống nhưng được nuôi ở những địa phương khác nhau về địa lý, mỗi nơi có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất định, nên hình thành các nhóm vật nuôi địa phương mang đặc trưng riêng biệt nhất định
Trang 101.3.3 Phân loại giống vật nuôi
* Đacuyn chia ra:
- Phẩm giống thiên nhiên: Hình thành do ảnh hưởng chính của ngoại cảnh và sự chọn lọc chưa có ý thức của con người
Phẩm giống nhân tạo: Hình thành do các biện pháp chọn lọc nhân tạo trên cơ sở
di truyền và nuôi dưỡng có kỹ thuật cao của con người
* Culêsôp chia ra 4 loại phẩm giống: Phẩm giống cổ điển, phẩm giống kiêm dụng, phẩm giống cải tiến và phẩm giống thiên nhiên
Ngoài ra, kết hợp nhiều quan điểm và dựa vào điều kiện kinh tế xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng tới quá trình hình thành giống mà có các cách phân loại sau:
1.3.3.1 Phân loại theo trình độ gây giống : có 3 loại
- Giống nguyên thuỷ: Được hình thành trong điều kiện kinh tế xã hội và trình độ khoa học kỹ thuật thấp kém Các giống này thường có tầm vóc nhỏ bé, năng suất thấp, kiêm dụng, thành thục muộn, điều kiện nuôi dưỡng đơn giản, khả năng chịu đựng kham khổ cao, sức kháng bệnh cao thích nghi với điều kiện địa phương hẹp, bảo thủ di truyền cao, biến dị thấp Hầu hết các giống vật nuôi nội của nước ta thuộc nhóm này Đây là sản phẩm của nền kinh tế tự cung và tự cấp
- Giống quá độ: là các giống nguyên thủy được chọn lọc và chăm sóc nuôi dưỡng
ở mức độ cao hơn nên đặc điểm cơ bản là tầm vóc đã được cải tiến, sức sản xuất được nâng cao hơn nhưng vẫn kiêm dụng, thành thục sớm hơn, các đặc tính về sản xuất tương đối thuần nhất, nếu nuôi dưỡng kém sẽ trở lại giống nguyên thuỷ, là sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hoá giai đoạn đầu
- Giống gây thành: là giống được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật cao Đây là kết quả chọn lọc có ý thức của con người Đặc điểm cơ bản của các giống gây thành là: sức sản xuất cao, hướng sản xuất chuyên dụng, sớm thành thục, sức chịu đựng kham khổ và kháng bệnh kém, tính bảo thủ di truyền kém, biến dị cao, dễ thay đổi khi điều kiện ngoại cảnh và nuôi dưỡng thay đổi, đòi hỏi phải được nuôi dưỡng, chăm sóc ở trình độ cao Ví dụ: lợn Ladnrace, gà Leughom, bò sữa Holstein Frisian …
1.3.3.2 Phân loại theo tính năng sản xuất
- Giống kiêm dụng: Có thể sử dụng với nhiều tính năng sản xuất khác nhau
- Giống chuyên môn hoá: Có năng suất cao về một tính năng sản xuất các mặt khác bình thường Ví dụ: bò sữa lang trắng gen Hà Lan gà Lcughorn
1.3.3.3 Phân loại căn cứ vào nguồn gốc
- Giống vật nuôi địa phương: là các giống có nguồn gốc tại địa phương được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương Ví dụ: lợn Ỉ, lợn Móng cái, bò Vàng Thanh Hoá, vịt Cỏ… là giống địa phương có khả năng thích nghi cao với
Trang 11điều kiện tập quán chăn nuôi của địa phương nhưng năng suất thấp
- Giống nhập nội: là giống có nguồn gốc từ vùng khác hoặc nước khác, thường là những giống có năng suất cao, có ưu điểm nổi bật so với giống của địa phương
1.4 NHỮNG TÍNH TRẠNG CƠ BẢN CỦA VẬT NUÔI
Các tính trạng về màu sắc lông da, ngoại hình- thể chất, sinh trưởng, phát dục, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi được sử dụng để mô tả, đánh giá một giống vật nuôi cũng như từng cá thể vật nuôi Những tính trạng này thường là những tiêu chuẩn chọn lọc vật nuôi, giữ chung làm giống nhằm tạo ra các thế hệ đời sau phù hợp với mong muốn của con người Thông thường các tính trong ngoại hình đều là các tính trạng chất lượng chung bị chi phối bởi một vài gen nhất định Việc di truyền các tính trạng này tuân thủ theo các quy luật di truyền của Alendel Trong khi đó, các tính trạng sinh trưởng, năng suất và chất lượng sản phẩm vốn là các tính trạng có giá trị kinh tế cao lại là các tính trạng số lượng Các tính trạng này do rất nhiều gen chi phối
và chịu tác động sâu sắc bởi điều kiện ngoại cảnh
1.4.1 Ngoại hình, thể chất
1.4.1.1 Ngoại hình
1.4.1.1.1 Khái niệm : Ngoại hình là hình dáng bên ngoài của vật nuôi có liên
quan đến sức khoẻ cũng như cấu tạo, chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể và khả năng sản xuất của con vật, là hình dáng đặc trưng của một phẩm giống vật nuôi
Ngoại hình và chức năng cơ thể không thể tách rời nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau Cơ thể là một khối thống nhất phức tạp, mỗi bộ phận trong cơ thể đều có vai trò nhất định và có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, một bộ phận nào đó kém phát triển đều ảnh hưởng đến bộ phận khác.
Ngoại hình cho takhái niệm về sức khoẻ, thể chất mạnh hay yếu để ước đoán sức sản xuất của con vật Ngoại hình cũng là biểu hiện sự thích nghi của con vật đối với mỗi trường sống và chế độ nuôi dưỡng Ví dụ: Lợn Ỉ có đặc điểm lưng võng, bụng xệ,
4 chân yếu là biểu hiện điều kiện sống chật chội, nuôi dưỡng kém, lợn Mường Khuông chân cao, bụng gọn, mõm dài, thích nghi với điều kiện chăn thả, vườn bãi rộng
Từ xưa, con người đã biết chú ý đến ngoại hình khi nhận xét giá trị sản xuất của chúng Người Rô ma ở thế kỷ 1 trước Công nguyên cho rằng "Gia súc có màu lông sẫm thì khoẻ và có sức chịu đựng hơn loại lông màu nhạt" Người Ả Rập ở thế kỷ III
đã biết dựa vào đặc điểm ngoại hình để lựa chọn ngựa hay, ngựa tốt để dùng cho việc chinh chiến Nhân dân ta từ xưa đã biết lựa chọn lợn giống qua ngoại hình “đực rộng hầu, nái bầu tròn", chọn trâu “sừng cánh ná, dạ bình vôi mắt ốc nhồi, lai lá mít, đít lồng bàn" hay câu ca dao "Con lợn mắt trắng dễ nuôi, con người mắt trắng là người bất nhân" Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ đã tổng kết kinh nghiệm lựa chọn lợn giống: Bạch xỉ, xơ mao, đoàn vĩ, hồng bì"
Đến thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản phát triển ở châu âu cần có nhiều loại gia
Trang 12hình của gia súc cũng thay đổi theo
Genon (Pháp) đã cho xuất bản một công trình nghiên cứu, trong đó nêu sức sản xuất sữa của con vật có liên quan đến hình dáng và mức độ phát triển của bầu vú Từ
đó hình thành quan niệm cho rằng sức sản xuất của con vật có liên quan chặt chẽ đến một số bộ phận nhất định trên cơ thể và phải chọn những con vật có những bộ phận liên quan đến tính năng sản xuất theo một hình thái nhất định Do đó đã dẫn đến quan niệm sai lầm là chỉ chú ý đến những bộ phận trực tiếp liên quan đến sản xuất còn các
bộ phận khác không được chú ý
Ví dụ: Nếu bò sữa chỉ chú ý đến những con có bầu vú to, mông nở, ít chú ý đến
bộ phận khác thì chức năng sinh lý của cơ thể sẽ bị ảnh hưởng vì bầu vú phát triển quá mức mà ngực lép thì dẫn tới hô hấp kém trao đổi chất giảm con vật suy yếu sớm bị kiệt sức sức sản xuất giảm
Điều chủ yếu cần quan niệm cho đúng là phải thấy được đặc điểm ngoại hình có liên quan đến sức khoẻ và sức sản xuất của con vật Vì vậy đánh giá con vật qua ngoại hình là giai đoạn đầu tiên giúp ta tìm hiểu trạng thái sức khoẻ sức sản xuất và hướng sản xuất nói chung của con vật Mục đích cuối cùng của việc đánh giá qua ngoại hình
là để chọn lọc những con giống tốt và loại bỏ những con có ngoại hình xấu, cơ thể phát triển không cân đối
1.4.1.1.2.Phương pháp đánh giá ngoại hình của vật nuôi:
- Phương pháp quan sát bằng mắt thường
- Phương pháp quan sát bằng mắt mô tả và cho điểm: Quan sát toàn diện và từng
bộ phận cơ thể dựa vào bảng tiêu chuẩn mẫu đã cho của giống để đánh giá cho điểm rồi nhân với hệ số Điểm tối đa cộng lại là 100 điểm (thực hành)
Phương pháp đo các chiêu và tính toán chỉ số cấu tạo thể hình: dùng thước dây, thước gậy, thước compa đo các chiều trên cơ thể, vòng ngực, vòng ống, rộng ngực, sâu
ngực, dài thân thẳng, dài thân chéo, cao vây, dài đầu Rộng xương ngồi qua đó xác
định khối lượng và tính toán chỉ số các chiều đo liên quan đến sức sản xuất của con vật (thực hành)
1 4.1.2 Thể chất
1.4.1.2.1 Khái niệm : Thể chất là đặc tính thích nghi của con vật trong những
điều kiện sinh sống và di truyền nhất định có liên quan đến sức khoẻ và khả năng sản xuất của con vật
Quá trình hình thành thể chất phải thông qua hai mặt: genotyp (di truyền) và phenotyp (ngoại cảnh)
- Về mặt di truyền: Cần hiểu thể chất của con vật được hình thành do đặc tính di truyền của thế hệ trước thông qua hệ thống đến quy định
- Về mặt ngoại cảnh: Cần hiểu thể chất là kết quả sự hình thành và củng cố thông qua quá trình trao đổi chất của cơ thể trong quá trình hình thành và phát triển Có
Trang 13nghĩa là cường độ trao đổi chất càng cao, sự hấp thu dinh dưỡng càng nhiều, khả năng tích luỹ các chất để tạo mô xương, cơ càng mạnh thì thể chất càng khoẻ và ngược lại Chính vì vậy mà những biểu hiện ra bên ngoài của một cơ thể có thể chất tốt là sức khoẻ tốt, sức sinh sản và sản xuất cao, ngoài ra nói đến thể chất cũng là nói đến sức mạnh, sức chịu đựng, sự thích nghi của cơ thể trong những điều kiện tự nhiên, kinh tế nhất định, vì vậy không thể tách rời việc đánh giá thể chất với các điều kiện sinh tồn của con vật
1.4.1.2.2 Phân loại thể chấtt : Nhiều nhà chăn nuôi nổi tiếng đã nghiên cứu vấn
đề thể chất trong công tác chọn giống, nhân giống vật nuôi Xuất phát từ quy luật phát triển cân đối của Đacuyn là: “Toàn bộ cơ thể trong quá trình sinh trưởng và phát dục đều có liên quan chặt chẽ với nhau đến nỗi dù cho những thay đổi nhỏ ở bất kỳ bộ phận nào đi nữa nếu mà chung được tích luỹ qua quá trình chọn lọc thì những bộ phận khác cũng bị ảnh hưởng"
Culêsôp đã nghiên cứu sự tương quan giữa các bộ phận chính trong cơ thể bò kẻo
xe, bò thịt, bò sữa như: da cơ, xương và nội tạng từ đó xác định những đặc điểm và thể chất liên quan đến khả năng sản xuất của con vật Trên cơ sở đó Culêsôp đã chia thẻ chất làm 4 loại: thô, thanh,.săn, sỏi
- Thể chất thô: Da, cơ, xương phát triển mạnh, mỡ ít phát triển, thường dùng để cày kéo như trâu bò cày kẻo, hoặc dê cừu cho lông
- Thể chất thanh: Da mỏng, xương nhỏ, đầu thanh tú, chân nhỏ.Đây là gia súc tiết sữa hay ngựa đua
- Thể chất săn: Bên ngoài có góc cạnh, da thịt săn chắc, mỡ ít phát triển Đây là gia súc làm việc, ngựa đua hay gia súc cho sữa nhưng không cao sản
- Thể chất sỏi: Lớp mỡ dưới da dày, nội tạng nhiều mỡ bao bọc, da thịt nhão Đây là gia súc cho thịt như: trâu, bò lợn thịt
Tuy nhiên, trong thực tế khi gia súc không chỉ bao hàm một loại thể chất mà thường ở dạng hỗn hợp như thanh săn, thanh sỏi, thô săn, thô sỏi
- Loại thô săn: Là loại hình gia súc làm việc có thân hình vạm vỡ, săn chắc, ví dụ: khô chân, gân mặt, lông thô ở trâu bò cày kẻo
- Loại thô sỏi: là loại hình gia súc xương to, da dày, thịt nhão, nếu làm việc thì hiệu quả thấp, nếu cho thịt thì da, xương, mỡ nhiều, ít được ưa chuộng
- Loại thanh săn: Biểu hiện xương nhỏ, cơ săn chắc Đây là loại hình gia súc được nhiều người ưa chuộng nhất vì ngoại hình đẹp, cơ thể khoẻ mạnh Ngựa đua, bò sữa cao sản thuộc loại hình này
- Loại thanh sổi: Biểu hiện da mỏng, mỡ dày, thịt nhiều, nhão Đây là loại hình gia súc cho thịt và mỡ, có năng suất cao
* Phương pháp phân loại theo giáo sư K.Mansbua (Ba ban): Căn cứ vào cấu tạo
Trang 14khả năng tích luỹ mỡ cao: trái lại nếu tế bào nhỏ, nhân tế bào to, nguyên sinh chất ít thì cường độ trao đổi chất mạnh, hoạt động cơ thể cũng tăng, do đó sức sản xuất cao, thể chất thanh săn thuộc loại hình cho sữa làm việc, ngựa đua
* Phân loại theo viện sỹ E.E.Litsun (Liên Xô cũ): Phân loại thể chất trên cơ sở hoạt động của các tuyến nội tiết và ảnh hưởng của các tuyến ấy đối với quá trình hình thành các bộ phận cơ thể
* Phân loại theo loại hình tiêu hoá và hô hấp:
- Loại hình hô hấp: là các gia súc có lồng ngực dài rộng, cổ, mũi phát triển mạnh,
do đó trao đổi chất mạnh, sức sản xuất cao như bò sữa cao sản, ngựa đua, gia súc làm việc dẻo dai
- Loại hình tiêu hoá: gia súc có lồng ngực ngắn, tròn và rộng, cổ ngắn, mũi ít phát triển, bụng to, do đó trao đổi chất chậm, con vật ít hoạt động ăn no lại nằm, khả năng tích luỹ mỡ cao, phù hợp nuôi thịt
* Phân loại thể chất theo loại hình thần kinh của Páp-lốp: Qua kết quả nghiên cứu hoạt động thần kinh Páp-lốp chia loại hình thần kinh thành 3 loại: hưng phấn, thăng bằng và ức chế Từ đó chia thể chất có 4 loại:
- Thể chất buồn bã: Thuộc loại hình thần kinh yếu
- Thể chất nóng nảy: thuộc loại hình thần kinh không thăng bằng
- Thể chất bình thản: Thuộc loại hình thần kinh thăng bằng, chuyển biến chậm
- Thể chất linh hoạt: Thuộc loại hình thần kinh mạnh, hưng phấn, có tốc độ chuyển biến nhanh
Cho đến nay, cách phân loại của Culêsôp vẫn được áp dụng rộng rãi hơn cả vì dễ thực hiện Ngoài ra, người ta còn căn cứ vào số lượng tuyến mồ hôi /1cm2
da để ước đoán sức sản xuất sữa sau này; nghiên cứu cấu tạo lông (lông có gân cứng cặp là thể chất mạnh, lông mềm, gân mảnh thì thể chất yếu), hoặc nghiên cứu về sinh
lý, sinh hoá tế bào giúp cho việc đánh giá thể chất hoàn thiện hơn
1.4.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thể chất
- Tính di truyền: Tế bào sinh dưỡng không mang tính di truyền mà chỉ có tế bào sinh dục mới mang tính di truyền Trong nhân tế bào này có chứa ADN, ARN nhiệm sắc thể có hình thái và số lượng thay đổi theo loài, giống: bò có 60 cặp, lợn có 38-40
cặp, người có 23 cặp gà có 78 cặp… Nếu các NST này thay đổi đặc tính di truyền này
cũng thay đổi theo, do đó ta thấy genotyp thay đổi phenotyp cũng thay đổi theo
Đặc tính di truyền của con vật được hình thành do quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử mang đặc tính di truyền của con bố 50% và của con mẹ 50% Vì vậy, bố mẹ chung có thể chất tốt sẽ truyền cho con và ngược lại bố mẹ có thể chất kém cũng ảnh hưởng trực tiếp đến con cái
- Điều kiện ngoại cảnh: Ngay từ khi hợp tử được hình thành đến khi con vật được sinh ra đều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, do đó nếu nuôi dưỡng
Trang 15thiếu thốn nhất là thời kỳ bào thai sẽ ảnh hưởng rất xấu đến thể chất dẫn tới con vật sinh ra sẽ còi cọc suy dinh dưỡng, đặc trưng là các trạng thái phôi tử và ấu trĩ Điều kiện ngoại cảnh đặc biệt quan trọng là chế độ thức ăn dinh dưỡng, khí hậu thời tiết, độ ẩm
- Vai trò của hệ thần kinh và nội tiết: Các hệ này tham gia điều hoà chức năng của cơ thể, đặc biệt là quá trình trao đổi chất để hình thành cơ thể Nếu thần kinh mạnh, hưng phấn thì trao đổi chất mạnh, ít tích luỹ sẽ tạo thành cơ thể có thể chất thanh săn như gia súc tiết sữa cao sản, ngựa đua Thần kinh yếu, ức chế, hưng phấn thì trao đổi chất chậm, con vật ít hoạt động, tích luỹ nhiều sẽ tạo thành cơ thể có thể chất thô sỏi
- Tác động của chọn lọc nhân tạo: Qua quá trình chăn nuôi lâu dài con người đã thường xuyên chọn lọc giữ lại làm giống những gia súc có thể chất vững chắc, thanh săn phù hợp với mục đích sản xuất của con người, loại bỏ những gia súc có thể chất yếu như: thô, sỏi… do đó, thể chất của gia súc ngày càng được nâng cao
Ví dụ: Chọn trâu bò cày “khô chân gân mặt đắt tiến cũng mua” loại bỏ “trâu cổ
cò, bò cố lại”
Trong quá trình chọn giống cần chú ý loại bỏ những gia súc có biểu hiện yếu thể chất trên các mặt như: Hiện tượng quá béo ở gia súc khi chức năng sinh sản bị giảm sút, các gia súc có cố tật, khi đi lại không vững vàng, suy nhược cơ thể quá gầy, kém thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, sức đề kháng yếu, thuộc trạng thái phôi tử hoặc ấu trĩ
1.4.1.2.4 Mối liên quan giữa thể chất và giá trị kinh tế của gia súc
- Thể chất và sự thành thục của gia súc
- Thể chất và khả năng vỗ béo
- Thể chất và hướng sản xuất nhất định
- Thể chất và sức khoẻ, sự thích nghi của con vật
1.4.1.2.5 Những triệu trứng suy yếu thể chất và cách phòng ngừa
Thể chất suy nhược là biểu hiện sự suy thoái của thể chất không những ở cấu tạo
của cơ thể suy yếu mà còn ở sức sinh sản giảm sút, kém sinh lực, khả năng kháng bệnh kém, mặc dù các chức năng khác như ăn uống đi lại văn ở mức độ bình thường
- Yếu thể chất còn biểu hiện ở mức độ quá béo hoặc quá gầy đối với đực cái giống sẽ làm giảm tính hăng, phẩm chất tinh dịch kém, chức năng sinh sản giảm Yếu thể chất còn thấy rõ khi xuất hiện các cố tật trên cơ thể
Ví dụ: Trâu cày có thân hình vạm vỡ nhưng chân đi vòng kiềng, chạm khuỷu nên thể chất yếu
Trong chọn giống, bất kỳ con vật nào khi xuất hiện một trong các triệu chứng suy yếu thể chất nói trên thì đều loại thải Việc khắc phục sửa chữa phụ thuộc vào thời