Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là môn khoa học nằm trong khối kiến thức ngành trong chương trình đào tạo sinh viên bậc Đại học ngành Quản lý đất đai tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên. Giáo trình được biên soạn trên cơ sở đề cương đã được duyệt của Bộ môn Quản lý đất đai và Bất động sản, Khoa Quản lý Tài nguyên. Môn học cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về hệ thống thông tin đất đai, quản lý thông tin đất, hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản, v.v.. Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo, kế thừa những nội dung khoa học của các tài liệu đã được xuất bản trong và ngoài nước, tuy nhiên được cấu trúc lại, bổ sung, cập nhật những kiến thức hiện đại và mở rộng kiến thức cho phù hợp với sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai. Nội dung giáo trình biên soạn với khối lượng giảng dạy 3 tín chỉ và được cấu trúc thành các chương như sau: Chương 1. Tổng quan về hệ thống thông tin. Chương 2. Hệ thống thông tin đất đai. Chương 3. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Chương 4. Quản lý thông tin đất. Chương 5. Hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản. Trong đó: – TS. Nguyễn Ngọc Anh: Chủ biên và biên soạn chương 2, 3. – PGS. TS. Đàm Xuân Vận: Biên soạn chương 1. – ThS. Ngô Thị Hồng Gấm: Biên soạn chương 4, 5. Nội dung giáo trình đã bám sát vào mục tiêu đào tạo của ngành Quản lý đất đai, chương đầu là những kiến thức lý luận chung về hệ thống thông tin, bốn chương sau là những nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, các thành phần của hệ thống thông tin đất đai; các vai trò, đặc điểm của quản lý thông tin đất và các nguyên tắc, trách nhiệm, quy trình xây dựng hệ thống thông tin đất đai, hệ thống thông tin nhà ở và bất động sản, v.v..4 Ngoài việc làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên hệ đại học, cuốn giáo trình này cũng có thể làm tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ địa chính các cấp và cán bộ đang công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học trong và ngoài trường. Chúng tôi xin chân thành cám ơn về những sự giúp đỡ quý báu đó. Ngoài ra, chúng tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Quản lý Tài nguyên Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thành giáo trình này. Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng trình bày các vấn đề một cách rõ ràng, ngắn gọn, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của độc giả và các bạn đồng nghiệp để cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Trang 1TS Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) PGS TS Đàm Xuân Vận, ThS Ngô Thị Hồng Gấm
GIÁO TRÌNH
HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
NHÀ XUẤT BẢN BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Ngọc Anh
Giáo trình Hệ thống thông tin đất đai / Nguyễn Ngọc Anh (ch.b.), Đàm Xuân Vận, Ngô Thị Hồng Gấm - H : Bách khoa Hà Nội, 2022 - 164 tr : minh họa ; 27 cm Thư mục: tr 161-164
1 Đất 2 Hệ thống thông tin 3 Giáo trình
333.730285 - dc23
BKF0239p-CIP
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là môn khoa học nằm trong khối kiến thức ngành trong chương trình đào tạo sinh viên bậc Đại học ngành Quản lý đất đai tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên Giáo trình được biên soạn trên cơ sở đề cương đã được duyệt của Bộ môn Quản lý đất đai và Bất động sản, Khoa Quản lý Tài nguyên Môn học cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về hệ thống thông tin đất đai, quản lý thông tin đất, hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản, v.v
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo, kế thừa những nội dung khoa học của các tài liệu đã được xuất bản trong và ngoài nước, tuy nhiên được cấu trúc lại, bổ sung, cập nhật những kiến thức hiện đại và mở rộng kiến thức cho phù hợp với sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai
Nội dung giáo trình biên soạn với khối lượng giảng dạy 3 tín chỉ và được cấu trúc thành các chương như sau:
Chương 1 Tổng quan về hệ thống thông tin
Chương 2 Hệ thống thông tin đất đai
Chương 3 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Chương 4 Quản lý thông tin đất
Chương 5 Hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản
Trong đó:
– TS Nguyễn Ngọc Anh: Chủ biên và biên soạn chương 2, 3
– PGS TS Đàm Xuân Vận: Biên soạn chương 1
– ThS Ngô Thị Hồng Gấm: Biên soạn chương 4, 5
Nội dung giáo trình đã bám sát vào mục tiêu đào tạo của ngành Quản lý đất đai, chương đầu là những kiến thức lý luận chung về hệ thống thông tin, bốn chương sau là những nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, các thành phần của hệ thống thông tin đất đai; các vai trò, đặc điểm của quản lý thông tin đất và các nguyên tắc, trách nhiệm, quy trình xây dựng hệ thống thông tin đất đai, hệ thống thông tin nhà ở và bất động sản, v.v
Trang 4Ngoài việc làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên hệ đại học, cuốn giáo trình này cũng có thể làm tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ địa chính các cấp và cán bộ đang công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học trong và ngoài trường Chúng tôi xin chân thành cám ơn về những sự giúp đỡ quý báu đó Ngoài ra, chúng tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Quản lý Tài nguyên Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thành giáo trình này
Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng trình bày các vấn đề một cách rõ ràng, ngắn gọn, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được sự góp ý của độc giả
và các bạn đồng nghiệp để cuốn sách được hoàn thiện hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 11
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 13
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN 15
1.1 Hệ thống 15
1.1.1 Khái niệm chung về hệ thống 15
1.1.2 Hệ thống nghiệp vụ và các phân hệ 16
1.1.3 Các đặc trưng của hệ thống 16
1.1.4 Cấu trúc của hệ thống 17
1.1.5 Các thành phần cơ bản của hệ thống 18
1.1.6 Phương pháp tiếp cận hệ thống 19
1.2 Thông tin 19
1.2.1 Khái niệm thông tin 19
1.2.2 Sự khác biệt giữa dữ liệu và thông tin 20
1.2.3 Thuộc tính của thông tin 20
1.2.4 Phân loại thông tin 22
1.2.5 Vai trò của thông tin 23
1.3 Hệ thống thông tin 25
1.3.1 Khái niệm về hệ thống thông tin 25
1.3.2 Nhiệm vụ và vai trò của hệ thống thông tin 26
1.3.3 Các thành phần của hệ thống thông tin 27
1.3.4 Phân loại hệ thống thông tin 29
Trang 6Chương 2 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI 31
2.1 Hệ thống thông tin đất đai 31
2.1.1 Khái niệm về hệ thống thông tin đất đai 31
2.1.2 Mục đích, yêu cầu của hệ thống thông tin đất đai 32
2.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của hệ thống thông tin đất đai 33
2.1.4 Đặc điểm và chức năng của hệ thống thông tin đất đai 34
2.2 Các thành phần của hệ thống thông tin đất đai 35
2.2.1 Nguồn nhân lực (nhân sự) 35
2.2.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin đất đai 37
2.2.3 Cơ sở dữ liệu đất đai 42
2.2.4 Các biện pháp tổ chức của hệ thống thông tin đất đai 44
2.3 Cơ sở dữ liệu đất đai trong hệ thống thông tin đất đai 45
2.3.1 Đặc điểm của cơ sở dữ liệu trong hệ thống thông tin đất đai 45
2.3.2 Nội dung của cơ sở dữ liệu đất đai 45
2.3.3 Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đất đai 49
2.3.4 Các phụ hệ của cơ sở dữ liệu trong hệ thống thông tin đất đai 51
2.3.5 Phân lớp thông tin trong hệ thống thông tin đất đai 53
2.4 Một số hệ thống thông tin có liên quan đến hệ thống thông tin đất đai 54
2.4.1 Hệ thống thông tin địa lý (GIS) 54
2.4.2 Hệ thống thông tin về môi trường 55
2.4.3 Hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng 56
2.4.4 Hệ thống thông tin về kinh tế – xã hội 57
2.4.5 Hệ thống thông tin địa chính 57
2.4.6 Một số công nghệ có liên quan đến hệ thống thông tin đất đai 59
Trang 7Chương 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI 60
3.1 Tính cấp thiết và mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin đất đai 60
3.1.1 Tính cấp thiết xây dựng hệ thống thông tin đất đai 60
3.1.2 Mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin đất đai 61
3.2 Nguyên tắc và trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin đất đai 62
3.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống thông tin đất đai 62
3.2.2 Trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin đất đai 62
3.3 Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin đất đai 62
3.3.1 Điều tra, đánh giá hiện trạng hệ thống thông tin đất đai 63
3.3.2 Phân tích hệ thống thông tin đất đai 64
3.3.3 Thiết kế mô hình hệ thống thông tin đất đai 65
3.3.4 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai 71
3.3.5 Kiểm thử hệ thống thông tin đất đai 72
3.3.6 Triển khai và bảo trì hệ thống thông tin đất đai 72
3.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin trong hệ thống thông tin đất đai 72
3.4.1 Tiêu chí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin 72
3.4.2 Một số trang thiết bị cơ bản trong hệ thống thông tin đất đai 72
3.4.3 Hiện trạng hệ thống phần mềm của hệ thống thông tin đất đai 74
3.5 Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 75
3.5.1 Quy định về cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia 75
3.5.2 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai do tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng 78
3.5.3 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai do cơ quan Trung ương tổ chức xây dựng 98
Trang 83.6 Đào tạo nguồn nhân lực trong hệ thống thông tin đất đai 106
3.7 Mối quan hệ giữa nội dung xây dựng hệ thống thông tin đất đai với 14 nội dung còn lại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai 107
Chương 4 QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT 112
4.1 Khái niệm quản lý thông tin đất 112
4.2 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của quản lý thông tin đất 113
4.2.1 Mục đích của quản lý thông tin đất 113
4.2.2 Ý nghĩa của quản lý thông tin đất 113
4.2.3 Vai trò của quản lý thông tin đất 115
4.3 Đặc điểm, tính chất của quản lý thông tin đất 115
4.3.1 Đặc điểm của công tác quản lý thông tin đất 115
4.3.2 Tính chất của quản lý thông tin đất đai 117
4.4 Nội dung của công tác quản lý thông tin đất 117
4.4.1 Hoạt động quản lý 117
4.4.2 Hoạt động nghiệp vụ 117
4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thông tin đất 120
4.5.1 Cơ sở dữ liệu đất đai 120
4.5.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 121
4.5.3 Nguồn nhân lực 122
4.5.4 Các chính sách của Đảng và Nhà nước 122
4.6 Hình thức quản lý, khai thác thông tin đất 123
4.6.1 Theo phương pháp truyền thống 123
4.6.2 Theo phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin 124
4.6.3 So sánh hình thức quản lý, khai thác thông tin đất bằng phương pháp truyền thống và phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin 126
4.7 Lợi ích của quản lý thông tin đất 127
Trang 94.8 Bộ máy tổ chức của công tác quản lý đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ 130
4.8.1 Quản lý đất đai giai đoạn 1945 – 1955 130
4.8.2 Quản lý đất đai giai đoạn 1955 – 1975 132
4.8.3 Quản lý đất đai giai đoạn 1976 – 1985 134
4.8.4 Quản lý đất đai giai đoạn 1986 – 2010 135
4.8.5 Quản lý đất đai từ năm 2010 đến nay 138
4.8.6 Một số giải pháp cho Việt Nam trong quản lý hệ thống thông tin đất đai hiện nay 142
Chương 5 HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ NHÀ Ở VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN 144
5.1 Khái niệm, cơ sở pháp lý hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 144
5.2 Nguyên tắc xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 145
5.3 Nội dung cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản 145
5.3.1 Cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản 145
5.3.2 Nội dung cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản quốc gia 146
5.3.3 Nội dung cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản địa phương 147
5.4 Xây dựng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 148
5.4.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản 148
5.4.2 Xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, hệ thống phần mềm phục vụ quản lý, vận hành, khai thác hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 149
5.4.3 Đầu tư cho hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 149
5.4.4 Tổ chức bộ máy quản lý vận hành hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 150
Trang 105.5 Quản lý, sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 151
5.5.1 Quản lý hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 151
5.5.2 Khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản 151
5.5.3 Công bố thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 155
5.6 Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản 157
5.6.1 Trách nhiệm của Bộ Xây dựng 157
5.6.2 Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ 158
5.6.3 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 159
5.6.4 Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp và sử dụng thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình chung của một hệ thống 15
Hình 1.2 Cấu trúc của hệ thống 17
Hình 1.3 Mô tả các thành phần của hệ thống 18
Hình 1.4 Mô hình xử lý thông tin đơn giản 26
Hình 2.1 Các thành phần cấu thành hệ thống thông tin đất đai 35
Hình 2.2 Hệ thống phần cứng cơ bản của hệ thống thông tin đất đai 37
Hình 2.3 Sự liên kết giữa dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính 44
Hình 2.4 Mô hình cơ sở dữ liệu đất đai 46
Hình 2.5 Mô hình dữ liệu không gian đất đai 47
Hình 2.6 Mô hình dữ liệu thuộc tính đất đai 49
Hình 2.7 Phụ hệ nhập dữ liệu của hệ thống thông tin đất đai 51
Hình 2.8 Phụ hệ CSDL của hệ thống thông tin đất đai 52
Hình 2.9 Phụ hệ đầu ra của hệ thống thông tin đất đai 52
Hình 2.10 Phân lớp thông tin trong cơ sở dữ liệu đất đai 53
Hình 2.11 Các loại hình hệ thống thông tin 54
Hình 3.1 Mô hình cơ sở dữ liệu tập trung cấp tỉnh 66
Hình 3.2 Mô hình cơ sở dữ liệu phân tán cấp tỉnh 67
Hình 3.3 Phân cấp chức năng của một hệ thống thông tin đất đai 68
Hình 3.4 Mô hình xử lý dữ liệu cơ bản của hệ thống thông tin đất đai 70
Hình 3.5 Quy trình xây dựng CSDL địa chính đối với trường hợp đã thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 82
Hình 3.6 Quy trình chuyển đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chính đã xây dựng trước ngày 01/8/2016 84
Trang 12Hình 3.7 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đối với trường hợp thực hiện
đồng bộ với lập, chỉnh lý bản đồ địa chính và đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận 88
Hình 3.8 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu về thống kê, kiểm kê đất đai 91
Hình 3.9 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 94
Hình 3.10 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất 97
Hình 3.11 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê 100
Hình 3.12 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 102
Hình 3.13 Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất 105
Hình 4.1 Các bước hoạt động của công tác quản lý thông tin đất 120
Hình 4.2 Tổ chức ngành địa chính trong giai đoạn 1945 – 1954 131
Hình 4.3 Tổ chức ngành quản lý ruộng đất 1961 – 1979 133
Hình 4.4 Tổ chức ngành quản lý ruộng đất theo nghị định số 404-CP 135
Hình 4.5 Tổ chức bộ máy, cán bộ ngành địa chính 1994 – 2002 137
Hình 4.6 Tổ chức ngành quản lý đất đai thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường 139
Hình 4.7 Hệ thống thông tin đất đai và bộ máy tổ chức của công tác quản lý đất đai 141
Hình 4.8 Hệ thống thông tin toàn quốc phục vụ công tác quản lý nhà nước 142
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
CNTT Công nghệ thông tin
CMTND Chứng minh thư nhân dân
CSDL Cơ sở dữ liệu
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
DGN Định dạng file của hệ thống Microstation
DLKG Dữ liệu không gian
GIS Geographic Information System – Hệ thống thông tin địa lý
GPS Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu
Trang 14TTLTTL Trung tâm lưu trữ tài liệu
XHCN Xã hội chủ nghĩa
VPĐKĐĐ Văn phòng đăng ký đất đai
VKHCN Viện khoa học công nghệ
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN
1.1 HỆ THỐNG
1.1.1 Khái niệm chung về hệ thống
Khoa học nghiên cứu về hệ thống còn gọi là kỹ thuật hệ thống, phân tích hệ thống hay lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống có bước tiến đáng kể, đặc biệt từ sau đại chiến thế giới lần thứ II Khi các hệ thống được hình thành và phát triển nhanh chóng đòi hỏi phải có những phương pháp và công cụ nghiên cứu thích ứng Nhờ vào những thành tựu về khoa học và công nghệ mà các phương pháp và công cụ của lý thuyết hệ thống được phổ cập càng rộng rãi và mang lại hiệu quả ngày càng cao
Hệ thống được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Trong tài liệu chuyên môn phần lớn các tác giả thường đưa ra các định nghĩa riêng và cụ thể về hệ thống theo vấn đề quan tâm Việc sử dụng định nghĩa cụ thể nào sẽ tùy thuộc vào lượng thông tin về đối tượng thực tế được nghiên cứu như một hệ thống
Hệ thống có thể định nghĩa một cách tổng quát là một tập hợp các phần tử có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động nhằm đạt được những mục đích chung nhất định nào đó
Mỗi hệ thống khác nhau sẽ có các phần tử khác nhau, mỗi phần tử có một chức năng, nhưng có một điểm chung là đều có quan hệ mật thiết qua lại với nhau, nhằm đảm bảo cho hệ thống hoạt động được
Hình 1.1 Mô hình chung của một hệ thống
Môi trường Phần tử 1 Phần tử 2
Phần tử n Phần tử 3 Phần tử 4
Trang 161.1.2 Hệ thống nghiệp vụ và các phân hệ
Hệ thống nghiệp vụ là một loại hệ thống bao gồm các hoạt động kinh doanh, dịch vụ chẳng hạn như sản xuất, phân phối, lưu thông các sản phẩm, các hoạt động giáo dục, y tế Nghiệp vụ là hoạt động của con người nhằm mang lại lợi ích hoặc lợi nhuận Việc xác định mục đích hoạt động nghiệp vụ vì “lợi ích” hay “lợi nhuận” chỉ mang tính tương đối và nó thật sự cần thiết để sau này ta có thể kiểm nghiệm hệ thống đã đạt được yêu cầu và mục tiêu chưa? Đặc điểm của các hệ thống nghiệp vụ vì có sự tham gia của con người nên hệ thống có hai đặc điểm chính là cơ chế điều khiển và thông tin Cơ chế điều khiển là sự quản lý trong nghiệp vụ và điều khiển cho hệ thống hướng đúng mục đích, đạt kết quả với chất lượng cao Thông tin trong hệ thống nhằm phục vụ nhu cầu giao tiếp, trao đổi giữa
con người Một hệ thống nghiệp vụ có thể nhân làm ba hệ thống con:
Hệ thống quyết định là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và các phương
pháp tham gia đề xuất quyết định trong các hoạt động nghiệp vụ
Hệ thống tác nghiệp là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và các phương pháp tham gia trực tiếp thực hiện các hoạt động nghiệp vụ (sản xuất trực tiếp) Đó là các hoạt động nhằm thực hiện có tính cách cạnh tranh để đạt được mục tiêu đã xác định của hệ
quyết định
Hệ thống thông tin là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và các phương pháp tham gia xử lý thông tin của các hoạt động nghiệp vụ (kinh doanh hay dịch vụ) Hệ thống thông tin là hệ thống trung gian giữa hệ tác nghiệp và hệ quyết định, nó cung cấp
thông tin và phản ánh cơ cấu tổ chức và các hoạt động nghiệp vụ
1.1.3 Các đặc trưng của hệ thống
Đặc trưng là thuộc tính căn bản, ổn định vốn có bên trong sự vật Trong hệ thống các phần tử liên kết và tương tác với nhau theo quan hệ nhân quả, nghĩa là mỗi sự thay đổi của một hay một số phần tử đều kéo theo sự thay đổi của các phần tử còn lại, tác động này có thể là trực tiếp hay gián tiếp tùy theo sự quan trọng, vai trò và chức năng của phần tử đó
Một hệ thống bất kỳ có những tính chất cơ bản sau đây:
– Tính trồi: Khi sắp xếp các phần tử của hệ thống theo một cách thức nào đó sẽ tạo nên tính trồi Đó là khả năng nổi trội, mới mẻ của hệ thống mà khi các phần tử đứng riêng
rẽ thì không thể tạo ra được Tính “trồi” là đặc tính quan trọng nhất của hệ thống Tính trồi chỉ có ở một cấp hệ thống mà không có ở các hệ thống cấp thấp hơn nó hoặc các thành tố
tạo ra hệ thống
– Tính nhất thể: Thể hiện qua hai khía cạnh là sự thống nhất của các yếu tố tạo nên
hệ thống; mối quan hệ mật thiết của hệ thống với những yếu tố thuộc về môi trường Tính
nhất thể thể hiện như sau:
Trang 17+ Quan hệ giữa hệ thống và môi trường: Một hệ thống luôn tồn tại trong môi trường,
chịu sự tác động của môi trường
+ Tính nhất thể và quản lý: Tính nhất thể của hệ thống có được là nhờ quản lý Nếu biết tổ chức, phối hợp, liên kết các bộ phận, các phần tử một cách tốt nhất và thiết lập được
mối quan hệ hợp lý với môi trường thì sẽ tạo ra sự phát triển cao
– Tính cân bằng: Hệ thống mang tính chất là một cơ thể sống bao gồm các chu kỳ sinh ra → phát triển → suy thoái Như vậy, việc chuyển trạng thái là rất quan trọng đối với
một hệ thống
– Tính phức tạp: Hệ thống mang tính phức tạp là do trong hệ thống luôn có các lợi
ích, mục tiêu, cách thức hoạt động riêng của các phần tử, các phân hệ
– Tính hướng đích: Mọi hệ thống đều có xu hướng tìm đến mục tiêu và một trạng
thái cân bằng nào đó
– Phần tử của hệ thống: Là tế bào nhỏ nhất của hệ thống, mang tính độc lập tương đối, là yếu tố thành phần, liên hợp, thực hiện chức năng nhất định và không thể phân chia thêm được nữa dưới góc độ hoạt động của hệ thống Các bộ phận tạo thành hệ thống gọi là
phần tử của hệ thống đó
Hệ thống Phân hệ
Phần tử Module
Trang 18– Module: Là tập hợp các phần tử liên kết cận kề với nhau để tạo thành một thao tác xác định Ví dụ: Trong một hệ thống tìm kiếm thông tin, mỗi một thao tác là một module
(thao tác indexing, thao tác tạo lập file, v.v.)
– Phân hệ: Là tập hợp của một số module nhằm hướng tới thực hiện một công việc,
một mục tiêu con được xác định trong hệ thống
– Hệ thống: Là một tập hợp các phần tử, sắp xếp, liên hệ với nhau theo một quy luật nào đó và thực hiện một chức năng, nhiệm vụ nhất định Tùy thuộc vào cấu trúc của từng
hệ thống mà chọn những phương pháp nghiên cứu và điều khiển hệ thống cho phù hợp
1.1.5 Các thành phần cơ bản của hệ thống
Một hệ thống bất kỳ có những thành phần cơ bản: phần tử, mục tiêu, đầu vào/ra,
hành vi, trạng thái, v.v
Sơ đồ mô tả các thành phần của hệ thống được khái quát trên (hình 1.3):
Hình 1.3 Mô tả các thành phần của hệ thống
– Môi trường của hệ thống: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, môi trường là các yếu tố, điều kiện nằm ngoài hệ thống và có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của hệ thống đó Bất cứ hệ thống nào cũng tồn tại trong môi trường, hệ thống thông tin bị chi phối
bởi các yếu tố: người sử dụng, môi trường thông tin của tổ chức, v.v
– Đầu vào/ra của hệ thống: Đầu vào là bất kỳ những gì mà môi trường có thể tác
động vào hệ thống Đầu ra là bất kỳ những gì mà hệ thống có thể tác động trở lại môi trường
– Mục tiêu của hệ thống: Là trạng thái mong đợi, cần có và có thể có của hệ thống
sau một thời gian nhất định
– Cơ cấu của hệ thống: Là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống, phản ánh sự sắp xếp có trật tự của các phân hệ, bộ phận và phần tử cũng như các quan hệ giữa chúng theo
một dấu hiệu nhất định
– Hành vi của hệ thống: Hành vi của hệ thống là tập hợp các đầu vào/ra và mối quan
hệ giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống
PHẢN HỒI TỪ MÔI TRƯỜNG
Mục tiêu Đầu vào
Đầu ra
Trạng thái, hành vi cấu trúc của máy tính
Quá trình biến đổi Phần tử
Trang 19– Trạng thái của hệ thống: Là khả năng kết hợp giữa các đầu vào/ra của hệ thống xét ở một thời điểm nhất định Như vậy, những đặc điểm tạo nên một khả năng của quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống ở những thời điểm nhất định gọi là trạng thái
của hệ thống
1.1.6 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Có ba phương pháp chính để nghiên cứu hệ thống:
– Phương pháp mô hình hóa: Là phương pháp tái hiện những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu bằng một mô hình khi việc nghiên cứu chính đối tượng đó không thể thực hiện được Mô hình là sự diễn đạt trừu tượng hóa các mối liên kết giữa các phần tử của hệ thống
theo mục tiêu nghiên cứu đặt ra đối với hệ thống đó
– Phương pháp hộp đen: Đây là phương pháp nghiên cứu khi đã biết đầu ra, đầu vào của hệ thống, nhưng chưa nắm được cơ cấu của nó Phương pháp hộp đen được áp dụng rất hiệu quả trong thực tế vì có nhiều hệ thống mà cấu trúc của chúng rất mờ hoặc rất phức tạp, do đó việc nghiên cứu sâu vào cấu trúc là không thể tiến hành được hoặc là quá
tốn kém
– Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống là bước đầu tiên trong việc xem xét nghiên cứu hệ thống và nhằm tìm hiểu cấu trúc, đặc điểm cũng như các vấn đề cụ thể khác có liên quan Nếu không tìm ra được cấu trúc của hệ thống thì các bước tiếp theo
trong quá trình nghiên cứu và điều kiện hệ thống không thể thực hiện được
1.2 THÔNG TIN
1.2.1 Khái niệm thông tin
Thông tin (tiếng Anh là Information) là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa như: – Theo định nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, nhận xét, phân tích làm gia tăng sự hiểu biết của con người Thông tin được hình thành trong quá trình giao tiếp của con người, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các ngân hàng dữ liệu, v.v Hoặc thông tin đến từ chính sự trải nghiệm của bản thân thông qua quá trình quan sát các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên
– Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội thông qua ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh, v.v và các phương tiện tác động lên giác quan của con người – Trong ngành viễn thông, thông tin là tất cả hoạt động nhằm mục đích vận chuyển, truyền tải, đảm bảo tính chính xác của các thông điệp cho người nhận
– Trong ngành truyền thông đại chúng, thông tin thường được biết đến dựa trên nội dung của các thông điệp mang đến cho công chúng
Trang 20– Khái niệm về thông tin trong lĩnh vực báo chí lại được biết đến như chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả câu chuyện, bằng chứng dùng để phản ánh cuộc sống, thực tại Ví dụ, các bài báo thể hiện câu chuyện về một con người, sự việc, sự vật nào đó trong hiện thực Thông tin là một loại tài nguyên của tổ chức, phải được quản lý chu đáo giống như mọi tài nguyên khác Việc xử lý thông tin đòi hỏi chi phí về thời gian, tiền bạc và nhân lực Việc xử lý thông tin phải hướng tới khai thác tối đa tiềm năng của nó
1.2.2 Sự khác biệt giữa dữ liệu và thông tin
Dữ liệu chỉ đơn giản là dữ kiện hoặc số liệu độc lập Khi dữ liệu được xử lý, giải thích, tổ chức, cấu trúc hoặc trình bày để làm cho chúng có ý nghĩa hoặc hữu ích, chúng được gọi là thông tin Thông tin cung cấp ngữ cảnh cho dữ liệu
Dữ liệu và thông tin được gắn với nhau một cách phức tạp, cho dù người ta đang công nhận chúng là hai từ riêng biệt hay sử dụng chúng thay thế cho nhau như hiện nay Việc chúng có được sử dụng thay thế cho nhau hay không phần nào phụ thuộc vào cách sử dụng dữ liệu
1.2.3 Thuộc tính của thông tin
Thuộc tính là tính chất riêng vốn có của sự vật và làm cho nước phân biệt được so với sự vật khác Tập hợp các thuộc tính tạo nên bản chất các sự vật đó Do đó, thông tin cũng có các thuộc tính Thông tin gồm có các thuộc tính sau:
– Thứ nhất là thuộc tính giao lưu: Thông tin tiềm tàng khắp nơi trong xã hội Đó là
các nguồn thông tin về lao động, đất đai, tài nguyên, môi trường; thông tin về các tổ chức
và các hoạt động kinh tế, xã hội; thông tin về khoa học và công nghệ; thông tin về sản xuất, kinh doanh, v.v Nhưng thông tin chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được truyền đi, phổ biến
và được sử dụng Có thể nói bản chất của thông tin nằm trong sự giao lưu của nó Nói cách
khác thuộc tính cơ bản của thông tin là giao lưu Đây là thuộc tính cơ bản nhất của thông
tin Nếu thiếu nó sẽ không hình thành thông tin
Liên quan tới thuộc tính này, thông tin luôn gắn liền với vật mang tin, cho nên việc truyền thông tin chính là truyền các tập hợp ký hiệu biểu diễn thông tin Tập hợp các ký hiệu biểu diễn thông tin là hữu hạn, còn nội dung thông tin là vô hạn Đối với thông tin, càng khai thác càng phong phú, thông tin càng được bổ sung, nó chỉ bị giới hạn bởi khả năng nhận thức của người tham gia trao đổi thông tin, ngoài ra còn hạn chế trong không gian truyền đạt thông tin
– Thứ hai là thuộc tính khối lượng: Thông tin luôn gắn liền với vật mang tin, cho nên
khối lượng phụ thuộc vào vật mang tin, mà bất kỳ vật mang tin nào cũng có giới hạn của nó (về trực giác) Do đó, cách đo là đo tổ hợp các ký hiệu hình thành thông tin Cách đo nào không thể chính xác Ngày nay khoa học phát triển, thông tin có đơn vị đo thông tin là
Trang 21Bit (gồm các số 0 và 1) Do đó chúng ta có thể khẳng định rằng, thông tin vẫn có thể đo như một đại lượng vật lý thông thường
– Thứ ba là thuộc tính chất lượng thông tin: Chất lượng đảm bảo cho một sản phẩm
nào đó, mà ở đây là thông tin, đó là sự chính xác, tin cậy Có nhiều yếu tố tác động đến chất lượng thông tin, trong đó có ba yếu tố chính sau:
+ Về nội dung, nó là gì? Có bảo đảm chính xác không?
+ Thời gian (nó có thể làm cho thông tin vô giá trị, ví dụ như thông tin sóng thần nếu đã xảy ra, v.v.)
+ Về hình thức, đó là thói quen về thông tin của mọi người (ví dụ quảng cáo sản phẩm bằng truyền hình tốt hơn truyền thanh)
Do đó, trong từng yếu tố này, người ta xác định đặc tính của nó:
Về nội dung, phải có ba yếu tố đảm bảo chất lượng nội dung thông tin như:
+ Về nội dung: phải chính xác (phù hợp với vấn đề, đối tượng phản ánh, phù hợp với khách quan Yêu cầu về tính chính xác còn được chú trọng trong vấn đề cung cấp thông tin (trong cung cấp phải đề cao tính chính xác, cả đối tượng lẫn người sử dụng thông tin) Ngoài ra còn phải chú ý tới sự phù hợp về nội dung, đó là phù hợp với khả năng phân tích, đánh giá của người nhận, phù hợp với quy luật của thực tiễn, nhất là trong hoạt động quản lý
Trong nội dung của thông tin, cần có sự đồng bộ, tức là thông tin được cung cấp phải đầy đủ, toàn diện vấn đề Ví dụ trong công tác văn thư, lập hồ sơ chính là sự đồng bộ của vấn đề
+ Về thời gian thông tin: Phải chú ý tính kịp thời và tính thời sự, nó cũng góp một phần quan trọng trong việc xử lý thông tin Ví dụ trong chứng khoán, giá cả, v.v luôn phải được cập nhật kịp thời)
+ Ngoài ra, còn phải chú ý về mặt hình thức, trình bày chi tiết, dễ sử dụng thì mới hấp dẫn người sử dụng tin Ví dụ trong khóa luận phải trình bày mục lục, v.v
– Thứ tư là thuộc tính giá trị của thông tin: Thuộc tính tác động cụ thể tới người dùng
tin Nó xuất phát từ thuộc tính chất lượng Đây là vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu và thuộc tính này liên quan đến nhu cầu của từng đối tượng sử dụng thông tin
Đối với thông tin, thường có các vấn đề như độ chính xác, phạm vi bao quát, tính cập nhật, tần số sử dụng, v.v Những vấn đề trên đảm bảo cho chất lượng của thông tin và có thể được coi là tiêu chí giá trị thông tin
Ngoài ra, cũng còn hai yếu tố tác động đến giá trị thông tin:
+ Thông tin có giá trị phải là thông tin mang tính riêng biệt, tức là nhu cầu của từng đối tượng
Trang 22+ Thông tin phải có tính dự báo, để cho phép người ta lựa chọn quyết định
– Thứ năm là thuộc tính giá thành của thông tin: Bất kỳ một thông tin nào cũng có
thể định giá được Đối với thuộc tính này, có các yếu tố tác động sau:
+ Lao động tạo ra thông tin: đây là lao động trí tuệ để tạo ra, tổ chức, sắp xếp thông tin + Các phương tiện vật chất chứa đựng thông tin (bán đĩa CD hay bán thông tin)
Từ hai vấn đề trên thì dựa vào phương tiện vật chất để xác định giá thành thông tin
dễ dàng hơn Giá thành của một tờ báo cũng chính là bao hàm cả giá thành thông tin trong đó Còn nếu định giá theo sự lao động tạo ra thông tin thì ngày nay người ta chưa xác định rõ
Tóm lại, tổng hòa các thuộc tính này sẽ tạo nên bản chất của thông tin
1.2.4 Phân loại thông tin
Phân loại thông tin tức là dựa vào các tiêu chí để sắp xếp các thông tin hình thành trong đời sống thành các loại khác nhau để tổ chức, sắp xếp, ứng xử cho phù hợp Để phân loại thông tin người ta sử dụng các tiêu chí sau:
– Về mặt nội dung, có các tiêu chí để xác định:
+ Theo nội dung, người ta có thể phân loại tiếp thành những thông tin về pháp luật, những thông tin về kinh tế, những thông tin về văn hóa – xã hội, những thông tin về khoa học – kỹ thuật, v.v
+ Theo giá trị và quy mô sử dụng thì có thể phân loại thông tin ra các quy mô như vĩ
mô, chiến lược; phân loại thông tin tác nghiệp; thông tin mang tính thường thức thông thường
+ Theo thời gian, ta có thể phân loại thông tin theo quá khứ, hiện tại và dự báo
+ Theo đối tượng sử dụng, người ta có thể phân loại thành thông tin đại chúng hay thông tin chuyên biệt
+ Về mức độ xử lý nội dung, người ta phân chia thành thông tin cấp 1, 2, 3 Thông tin cấp 1 là thông tin ban đầu chưa xử lý (thông tin gốc); Thông tin cấp 2 là thông tin tín hiệu và chỉ dẫn (qua xử lý thông tin cấp 1 tạo ra thông tin này), tín hiệu là những quy ước chung, còn chỉ dẫn là các thông tin để tra cứu; Thông tin cấp 3 là tổng hợp của các thông tin cấp 1 Tuy nhiên tùy theo môi trường, hoàn cảnh mà thông tin cấp 3 có thể trở thành thông tin cấp 1 và thông tin cấp 1 có thể trở thành thông tin cấp 3
– Trong hoạt động quản lý, người ta phân loại thông tin theo các tiêu chí:
+ Theo tiêu thức tổ chức, thông tin được phân loại như sau:
Theo quan hệ tổ chức này với tổ chức khác sẽ phát sinh thông tin vào/ra Thông tin vào là thông tin phản ánh tình trạng ban đầu của đối tượng bị quản lý; thông tin ra sẽ là
Trang 23thông tin thực hiện chức năng quản lý (vì bản chất của hoạt động quản lý là ra các quyết định quản lý)
Về ý nghĩa cơ quan quản lý: với tiêu thức nhỏ này thì thông tin được chia làm hai loại: thông tin lãnh đạo và thông tin báo cáo
Theo chức năng của hoạt động quản lý thì bao gồm các thông tin: kế hoạch, hướng dẫn thực hiện kế hoạch, phản ánh thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch + Ngoài ra còn phân loại theo mức độ: thông tin đã được hệ thống hóa và thông tin chưa được hệ thống hóa (thông tin thô và thông tin hệ thống hóa)
1.2.5 Vai trò của thông tin
Hiện nay người ta thừa nhận rằng vật chất, năng lượng, thông tin và bản sắc văn hóa dân tộc là các nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Đặc biệt trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội, thì thông tin khoa học và công nghệ thật sự trở thành nguồn lực quan trọng tạo nên những ưu thế kinh tế và chính trị của mỗi nước
Nếu như trước đây các nền kinh tế đều dựa chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lấy việc khai thác và chế biến các tài nguyên thiên nhiên là nguồn chủ yếu tạo ra các của cải và sự giàu có cho xã hội, thì từ những năm cuối của thế kỷ XX, thông tin đã được xem là một nguồn tài nguyên kinh tế, giống như các tài nguyên khác như vật chất, lao động, tiền vốn Bởi vì việc sở hữu, sử dụng và khai thác thông tin có thể đem lại hiệu quả kinh tế cho nhiều quá trình vật lý và nhận thức Ngày nay các hoạt động liên quan đến xử lý thông tin trong công nghiệp chế tạo cũng như trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và con người tăng lên đáng kể Khác với các nguồn tài nguyên khác, tài nguyên thông tin có thể mở rộng phát triển không ngừng và hầu như chỉ bị hạn chế bởi thời gian và khả năng nhận thức của con người
Với khả năng thay thế các nguồn tài nguyên khác, khả năng truyền với tốc độ rất cao
và khả năng đem lại ưu thế cho người nắm giữ nó, thông tin đã thực sự trở thành cơ sở cho nhiều hoạt động xã hội như nghiên cứu, giáo dục, xuất bản, tiếp thị và cả hoạt động chính trị Mối quan tâm của xã hội đối với việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin đã mở rộng từ các lĩnh vực truyền thống như thư viện, lưu trữ sang các tổ chức, các cơ quan, các ngành khác
Một khía cạnh nhận thức thứ hai về vai trò của thông tin trong những năm gần đây là ngày nay thông tin đã trở thành hàng hóa ở nhiều quốc gia Điều đó đã thúc đẩy hình thành một bộ phận mới trong nền kinh tế quốc dân, đó là khu vực dịch vụ thông tin Khu vực này ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng, đóng góp một tỷ trọng đáng
kể trong nền kinh tế quốc dân Người ta thấy rằng khối lượng, chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin đã trở thành tiêu chí đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước
Trang 24– Trong cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào sự sản xuất, trao đổi hàng hóa (nhất là khoa học – kỹ thuật) Người ta coi thông tin là nguồn lực của sự phát triển (như là nguồn lực thứ 3) Người ta cho rằng, quốc gia nào sở hữu nhiều nguồn lực này (thông tin) thì quốc gia đó sẽ phát triển Những quốc gia nào có thể tiếp cận thông tin khoa học – kỹ thuật và ứng dụng thông tin đó thì cũng là quốc gia phát triển, nó cũng dẫn đến hệ quả khác là các quốc gia đó sẽ sở hữu thông tin khoa học – kỹ thuật và trên cơ sở đó hình thành nên nền kỹ thuật mà thông tin trở thành hàng hóa được mua bán, trao đổi trong nền kinh tế đó, khu vực kinh tế đó gọi là khu vực dịch vụ thông tin (ví dụ: máy tính và phần mềm)
– Thông tin còn thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và sản xuất Sự phát triển của kinh
tế và sản xuất phụ thuộc vào thị trường Kinh tế và sản xuất đều cần đến thông tin về nhu cầu thị trường, nhu cầu về đối tượng tiêu dùng Sản xuất còn liên quan đến vật liệu, dây chuyền công nghệ, do đó cũng cần thông tin về khoa học các vấn đề trên Thông tin là cầu nối cho chu trình kỹ thuật giữa khoa học, quản lý và sản xuất, trong đó quản lý là sự gắn kết các yếu tố với nhau và quản lý cũng là thông tin
– Thông tin còn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của khoa học Nghiên cứu khoa học chính là sự tìm tòi thông tin, phát hiện thông tin và đưa ra những thông tin mới
Sự phát triển của khoa học dựa trên tính kế thừa, người đi sau kế thừa và phát triển thêm những vấn đề mới Việc thực hiện một công trình khoa học là việc tìm kiếm thông tin (có tới 2/3 thời gian dành cho công đoạn này) và tiến hành nghiên cứu Thông tin ở đây là tri thức của các nhà nghiên cứu đi trước và sự cung cấp thông tin đó cho các nhà nghiên cứu, v.v thì mới phục vụ đắc lực cho khoa học
– Thông tin còn là cơ sở của hoạt động quản lý Ở đây, thông tin là nguyên liệu cơ bản của hoạt động quản lý mà thiếu nó sẽ không phát sinh bất kỳ hoạt động quản lý nào Bởi vì hoạt động quản lý bản chất của nó là ra các quyết định quản lý mà hiệu quả hoạt động quản lý phụ thuộc vào quyết định đó, trong khi quyết định đó phụ thuộc vào sự đầy đủ và chính xác của thông tin
Hoạt động quản lý chính là sự xử lý thông tin của nhà lãnh đạo Nếu không được cung cấp thông tin có chất lượng thì chất lượng quản lý bị hạn chế, ngược lại, nếu cung cấp thông tin đầy đủ thì chưa chắc có hiệu quả mà nó còn phụ thuộc vào năng lực của nhà quản lý
– Ngoài ra, thông tin còn góp phần vào sự phát triển của giáo dục Vì hoạt động giáo dục là sự chuyển giao tri thức Hoạt động này diễn ra thường xuyên liên tục ở giảng đường, trường học, thư viện, thực tế, v.v đó là quá trình đào tạo và tự đào tạo, do đó liên quan đến việc tìm kiếm thông tin
Tóm lại, vai trò của thông tin phải gắn kết với các hoạt động xã hội, bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có sự tham gia của thông tin Thông tin luôn là một nguồn lực quan trọng mang tính quyết định đối với mọi hoạt động, quyết định trong cuộc sống và công việc
Trang 25Đối với các tổ chức, thông tin là phương tiện để quản lý, điều phối, định hướng và đưa ra quyết định cải tiến về mục tiêu, chiến lược, kế hoạch, quản trị nhân lực, v.v Thông tin đến từ sự trao đổi giữa cấp trên với cấp dưới, đồng cấp, giữa doanh nghiệp với các đơn
vị bên ngoài như cơ quan pháp luật, đối tác, đối thủ cạnh tranh, v.v Thông tin là xương sống trong các tổ chức Đặc biệt là trong kinh doanh, ai nắm được thông tin nhanh chóng
và chuẩn xác hơn sẽ có lợi thế dẫn dắt cuộc chơi, kịp thời điều chỉnh kế hoạch và sẵn sàng trước mọi thay đổi
Cách tổ chức thông tin trong máy tính với ưu thế tự động hóa xử lý công việc, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho tổ chức và hoạt động của con người Chúng giúp con người thực hiện từ các công việc đơn giản hằng ngày đến phát hiện và giải quyết các vấn đề trong
tổ chức
1.3 HỆ THỐNG THÔNG TIN
1.3.1 Khái niệm về hệ thống thông tin
Thông tin là một loại tài nguyên của tổ chức, phải được quản lý chu đáo giống như mọi tài nguyên khác Việc xử lý thông tin đòi hỏi chi phí về thời gian, tiền bạc và nhân lực Việc xử lý thông tin phải hướng tới khai thác tối đa tiềm năng của nó Ngày nay, việc xử lý thông tin dễ dàng nhanh chóng và ứng dụng rộng rãi với sự hỗ trợ của máy tính
Hệ thống thông tin (Information System – IS) trong một tổ chức có chức năng thu nhận và quản lý dữ liệu để cung cấp những thông tin hữu ích nhằm hỗ trợ cho tổ chức đó
và các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp hay đối tác của nó Ngày nay, nhiều tổ chức xem các hệ thống thông tin là yếu tố thiết yếu giúp họ có đủ năng lực cạnh tranh và đạt được những bước tiến lớn trong hoạt động Hầu hết các tổ chức nhận thấy rằng tất cả nhân viên đều cần phải tham gia vào quá trình phát triển các hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm con người, dữ liệu, các quy trình và công nghệ thông tin tương tác với nhau để thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin cần thiết ở đầu ra nhằm hỗ trợ cho một hệ thống
Theo Davis (2000) định nghĩa đơn giản hệ thống thông tin là hệ thống trong tổ chức
để cung cấp thông tin và các dịch vụ thông tin liên lạc mà tổ chức cần
Theo định nghĩa của UKAIS (1997): Hệ thống thông tin là phương tiện mà các tổ chức và con người sử dụng công nghệ thông tin để thu thập, xử lý, lưu trữ, sử dụng và phổ biến thông tin
Như vậy hệ thống thông tin được xem là hệ thống thu thập, quản lý và xử lý thông tin, là hệ thống có vai trò quan trọng trong việc liên kết hệ thống quyết định và hệ thống
tác nghiệp, đảm bảo cho chúng vận hành, làm cho tổ chức đạt được mục tiêu đã định
Trang 261.3.2 Nhiệm vụ và vai trò của hệ thống thông tin
Chức năng chính của hệ thống thông tin là xử lý thông tin của hệ thống nghiệp vụ Quá trình xử lý thông tin như một mô hình hộp đen bao gồm: Bộ xử lý, thông tin đầu vào, thông tin đầu ra và thông tin phản hồi cần thiết của hệ thống Bộ xử lý biến đổi dữ liệu đầu vào và cho ra thông tin đầu ra
Hình 1.4 Mô hình xử lý thông tin đơn giản
Thông tin trong hệ thống nghiệp vụ có thể gồm hai loại chính:
– Thông tin tự nhiên là loại thông tin ở nguyên dạng khi nó phát sinh như tiếng nói,
công văn, hình ảnh, v.v Việc xử lý thông tin này thuộc về công tác văn phòng với các kỹ
thuật mang đặc điểm khác nhau
– Thông tin có cấu trúc là thông tin được cấu trúc hóa với khuôn dạng nhất
định thường biểu diễn dưới dạng sổ sách, bảng biểu, sơ đồ quy định và nó dễ dàng được tin
học hóa
Nhiệm vụ của hệ thống thông tin:
Xét về quan điểm hệ thống, nhiệm vụ hệ thống thông tin có các hoạt động đối nội và
đối ngoại
+ Về đối ngoại: Hệ thống thông tin thu nhận thông tin từ môi trường bên ngoài và
đưa thông tin ra môi trường bên ngoài Ví dụ như thông tin về giá cả, thị trường, sức lao
động, nhu cầu hàng hóa, v.v
+Về đối nội: Hệ thống thông tin là cầu nối liên lạc giữa các bộ phận của hệ
nghiệp vụ Nó cung cấp cho hệ tác nghiệp, hệ quyết định các thông tin gồm hai loại tự nhiên và cấu trúc nhằm phản ánh cơ cấu tổ chức nội bộ và tình trạng hoạt động nghiệp vụ
của hệ thống
Vai trò của hệ thống thông tin:
Hệ thống thông tin đóng vai trò trung gian giữa hệ thống nghiệp vụ và môi trường, giữa hệ thống con quyết định và hệ thống con tác nghiệp
Mỗi hệ thống con đều có đầu vào, đầu ra Ngoài ra, hệ thống thông tin cung cấp các thông tin cho các hệ quyết định và tác nghiệp Các thông tin xuất phát từ hệ tác nghiệp và
Phản hồi
Trang 27hệ quyết định sẽ được hệ thống thông tin chế biến, tổng hợp trước khi đưa ra môi trường
bên ngoài
Vai trò của hệ thống thông tin trong thu nhập thông tin, xử lý và cung cấp cho người
sử dụng khi có nhu cầu
– Thu thập thông tin
Hệ thống thông tin thu nhận những thông tin có nguồn gốc khác nhau, dưới nhiều dạng khác nhau Những thông tin thu thập được thường ở dạng thô, vì vậy cần phải trải qua quá trình sàng lọc thông tin
Công tác sàng lọc thông tin được thực hiện như sau:
+ Phân tích các thông tin để tránh sự quá tải, đôi khi có hại
+ Thu thập những thông tin có ích: Những thông tin này được cấu trúc hóa để có thể khai thác trên các phương tiện Thông thường việc thu thập thông tin được tiến hành một cách hệ thống và tương ứng với các trình tự thủ tục được xác định trước
– Xử lý thông tin
Công việc lựa chọn thông tin thu thập được coi là bước xử lý đầu tiên, những hoạt động xử lý tiếp theo sẽ tác động lên thông tin đó là:
+ Tiến hành tính toán trên các nhóm chỉ tiêu;
+ Tạo các thông tin kết quả;
+ Thay đổi hoặc loại bỏ dữ liệu;
+ Sắp xếp dữ liệu;
+ Lưu trữ dữ liệu
Công tác xử lý có thể thực hiện thủ công, cơ giới hoặc tự động
– Phân phối thông tin
Cung cấp thông tin là mục tiêu của hệ thống Thông tin được cung cấp dựa trên các mục đích và yêu cầu của việc sử dụng thông tin, tuân theo những quy định chung
1.3.3 Các thành phần của hệ thống thông tin
– Đặc điểm của hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin là hệ thống được tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới có chức năng tổng hợp các thông tin giúp các nhà quản lý tốt
cơ sở của mình và trợ giúp ra quyết định hoạt động nghiệp vụ Một hệ thống quản lý các nghiệp vụ được phân thành nhiều cấp, do vậy các thông tin được xử lý và luân chuyển từ mức trên xuống dưới và chuyển từ các mức dưới lần lượt lên dần mức trên
Trang 28– Các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin bao gồm năm thành phần:
+ Con người: Hệ thống thông tin cung cấp thông tin cho mọi người bao gồm cả người quản lý và người sử dụng cuối Người sử dụng cuối là người tương tác trực tiếp với
hệ thống và nó cung cấp dữ liệu cho hệ thống đồng thời nhận thông tin từ nó
+ Thủ tục: Đặc trưng bởi các mẫu bao gồm các dữ liệu mô tả công việc của tất cả mọi người, cả người sử dụng cuối và nhân viên trong hệ thống thông tin Thủ tục xác định các quy trình, thao tác và các công thức tính toán
+ Phần cứng: Bao gồm tất cả các thiết bị vật lý sử dụng trong hệ thống thông tin Thiết bị này bao gồm phần cứng máy tính như máy tính, các thiết bị đầu cuối, các thiết bị ngoại vi, máy in, máy quét ảnh, v.v
+ Phần mềm: Bao gồm cả phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng Phần mềm hệ thống là các chương trình điều khiển phần cứng và môi trường phần mềm Các chương trình này gồm hệ điều hành, phần mềm giao tiếp, hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu và các chương trình tiện ích Phần mềm ứng dụng bao gồm các chương trình trực tiếp hỗ trợ hệ thống trong việc xử lý dữ liệu để tạo ra thông tin yêu cầu
+ Tệp dữ liệu: Hầu hết dữ liệu được xử lý trong hệ thống thông tin phải được giữ lại
vì lý do pháp luật hoặc vì sự cần thiết được xử lý trong tương lai Những dữ liệu này được lưu trong tệp (file) dữ liệu và cơ sở dữ liệu trên máy tính hoặc dưới dạng giấy trong các hồ
sơ văn phòng Những file này là thành phần hệ thống thông tin, được tạo ra trực tiếp hoặc lưu trữ trong file
Nếu chỉ xét về khía cạnh xử lý thông tin thì hệ thống thông tin chỉ bao gồm hai thành phần chính là dữ liệu và xử lý
Các dữ liệu là các thông tin được cấu trúc hóa Với mỗi cấp quản lý lượng thông tin
xử lý có thể rất lớn, đa dạng và biến động cả về chủng loại và cách thức xử lý Thông tin cấu trúc bao gồm luồng thông tin vào và luồng thông tin ra
Luồng thông tin vào:
Các thông tin cần thiết cho quá trình xử lý, có thể là các thông tin phản ánh cấu trúc doanh nghiệp và các thông tin phản ánh hoạt động của doanh nghiệp Chúng được phân thành ba loại sau:
– Thông tin cần cho tra cứu: Thông tin dùng chung cho hệ thông và ít bị thay đổi Các thông tin này thường được cập nhật một lần và chỉ dùng cho tra cứu khi xử lý thông tin sau này
Trang 29– Thông tin luân chuyển chi tiết: Loại thông tin chi tiết về hoạt động của đơn vị, khối lượng thông tin thường rất lớn, cần phải xử lý kịp thời
– Thông tin luân chuyển tổng hợp: Loại thông tin được tổng hợp từ hoạt động của các cấp thấp hơn, thông tin này thường cô đọng, xử lý định kỳ theo lô
Luồng thông tin ra:
– Thông tin đầu ra được tổng hợp từ các thông tin đầu vào và phụ thuộc vào nhu cầu quản lý trong từng trường hợp cụ thể, từng đơn vị cụ thể Thông tin ra là kết quả của việc tra cứu nhanh về một đối tượng cần quan tâm, đồng thời phải đảm bảo sự chính xác và kịp thời
– Các thông tin đầu ra quan trọng nhất được tổng hợp trong quá trình xử lý là các báo cáo tổng hợp, thống kê, thông báo Các mẫu biểu báo cáo thống kê phải phản ánh cụ thể trực tiếp, sát với từng đơn vị
– Ngoài những yêu cầu được cập nhật thông tin kịp thời cho hệ thống, luồng thông tin ra phải được thiết kế linh hoạt mềm dẻo Đây là chức năng thể hiện tính mở và khả năng giao diện của hệ thống với môi trường bên ngoài Thông tin đầu ra gắn với chu
kỳ thời gian tùy ý theo yêu cầu của bài toán quản lý cụ thể, từ đó ta có thể lọc bớt được thông tin thừa trong quá trình xử lý
Các xử lý là các quy trình, các phương pháp, chức năng xử lý thông tin và biến đổi thông tin Các xử lý nhằm vào hai mục đích chính:
– Sản sinh các thông tin có cấu trúc theo thể thức quy định như các chứng từ giao
dịch, các sổ sách báo cáo thông kê
– Cung cấp các thông tin trợ giúp quyết định, thông thường là các thông tin cần thiết cho lựa chọn quyết định của lãnh đạo, hoặc các lựa chọn tự động trong các quyết định dựa
trên giải thuật
1.3.4 Phân loại hệ thống thông tin
Phân loại hệ thống thông tin có thể phụ thuộc vào các tiêu chí đánh giá, xét trên khía cạnh phân loại hệ thống thông tin theo các chức năng chúng phục vụ thì hệ thống thông tin được chia thành các loại như sau:
– Hệ thống xử lý giao dịch (Transaction Processing System – TPS) là một hệ thống thông tin có chức năng thu thập và xử lý dữ liệu về các giao dịch nghiệp vụ
– Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System – MIS) là một hệ thống thông tin cung cấp thông tin cho việc báo cáo hướng quản lý dựa trên việc xử lý giao dịch và các hoạt động của tổ chức
Trang 30– Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System – DSS) là một hệ thống
thông tin vừa có thể trợ giúp xác định các thời cơ ra quyết định, vừa có thể cung cấp thông
tin để trợ giúp việc ra quyết định
– Hệ thống thông tin điều hành (Excutive Information System – EIS) là một hệ thống
thông tin hỗ trợ nhu cầu lập kế hoạch và đánh giá của các nhà quản lý điều hành
– Hệ thống chuyên gia (Expert System – ES) là hệ thống thông tin thu thập tri thức
chuyên môn của các chuyên gia rồi mô phỏng tri thức đó nhằm đem lại lợi ích cho người
sử dụng bình thường
– Hệ thống truyền thông và cộng tác (Communication and Collaboration System – CCS)
là một hệ thống thông tin làm tăng hiệu quả giao tiếp giữa các nhân viên, đối tác, khách
hàng và nhà cung cấp để củng cố khả năng cộng tác giữa họ
– Hệ thống tự động văn phòng (Office Automation System – OAS) là một hệ thống
thông tin hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ văn phòng nhằm cải thiện luồng công việc giữa các nhân viên
Trang 31Chương 2
HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
2.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
2.1.1 Khái niệm về hệ thống thông tin đất đai
Theo khoản 22, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: Hệ thống thông tin đất đai là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu và quy trình, thủ tục được xây dựng để thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích, tổng hợp và truy xuất thông tin đất đai
Ngoài ra, tùy theo mục đích nghiên cứu và mục đích tiếp cận mà có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về hệ thống thông tin đất đai:
– Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là tập hợp các phần tử có mối dàng buộc lẫn nhau
để cùng hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định trong quá trình quản lý đất đai – Hệ thống thông tin đất đai (LIS) được hiểu chung là sự bao gồm hai khối thông tin bản đồ và hồ sơ địa chính quản lý thống nhất tại các cấp
– Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là hệ thống thông tin cung cấp các thông tin về đất đai Nó là cơ sở cho việc ra quyết định liên quan đến việc đầu tư, phát triển, quản lý và sử dụng đất
– Một hệ thống thông tin đất đai được định nghĩa như là sự kết hợp giữa con người
và nguồn kỹ thuật với một cơ sở dữ liệu đủ lớn và một tập hợp các biện pháp tổ chức để tạo ra thông tin giúp cho các yêu cầu về quản trị nguồn tài nguyên đất
– Hệ thống thông tin đất đai có thể cung cấp thông tin dưới hình thức như là một sản phẩm (bản đồ, hồ sơ liên quan) hoặc dưới dạng dịch vụ (như dịch vụ tư vấn chuyên ngành) Nó có thể cung cấp dữ liệu dưới dạng chữ hoặc số, dữ liệu không gian mà nó có thể được trình diễn trên bản đồ và những dữ liệu về thời gian mà nó có thể chỉ ra tính hiện hành của dữ liệu
– Bên cạnh đó, hệ thống thông tin đất đai còn là một thành phần của hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường, được xây dựng, kết nối, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu, quản lý và vận hành tại cấp Trung ương và cấp tỉnh theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 322.1.2 Mục đích, yêu cầu của hệ thống thông tin đất đai
2.1.2.1 Mục đích
– Mục đích của hệ thống thông tin đất đai là quá trình biến đổi các dữ liệu đầu vào về đất đai trở thành các thông tin đầu ra nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, cũng như sử dụng đất đai, v.v
– Hệ thống thông tin đất đai cung cấp các thông tin có liên quan đến đất đai nhằm giúp cho các cá nhân sử dụng đất, các cơ quan nhà nước quản lý, khai thác một cách hiệu quả nhất đối với đất đai Như vậy, hệ thống thông tin đất đai là hệ thống hỗ trợ và là công
cụ đa mục tiêu trợ giúp hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về đất đai
– Hệ thống thông tin đất đai có khả năng kết nối với các hệ thống thông tin khác để phục vụ một cách toàn diện về công tác quản lý nhà nước về đất đai và sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân như: nông nghiệp, giao thông, xây dựng, quy hoạch đô thị, v.v thông qua việc cung cấp các thông tin về hiện trạng sử dụng đất, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các thông tin về giá trị đất đai và các thông tin pháp lý liên quan đến đất đai, v.v Ngoài ra, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng để phục vụ cho các ngành có nhiệm vụ đặc biệt như: an ninh, quốc phòng, v.v
– Bên cạnh đó, hệ thống thông tin đất đai phục vụ đắc lực, hiệu quả cho việc hình thành, phát triển thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản thông qua việc cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về đất đai
Như vậy, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước nắm chắc và quản chặt quỹ đất của quốc gia; sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả mang lại lợi ích lớn nhất cho quốc gia đó
2.1.2.2 Yêu cầu
Khả năng đáp ứng: Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng phải đảm bảo cung cấp
thông tin cho người quản lý và người sử dụng Các đối tượng sử dụng thông tin có thể là các cơ quan trong nội bộ ngành, các cơ quan liên quan đến ngành, các cá nhân và tổ chức có yêu cầu Hệ thống phải có khả năng tích hợp, thống nhất nhiều dạng dữ liệu khác nhau, với dung lượng rất lớn Hệ thống thông tin đất đai phải được xây dựng trên cơ sở công nghệ tiên tiến, có độ tin cậy cao, có tính mở và phù hợp với địa phương và nguồn nhân lực hiện có
Tính tập trung: Toàn bộ hệ thống phải hoạt động trên một cơ sở dữ liệu thống nhất,
phù hợp với các chức năng và nhiện vụ của từng đơn vị tham gia vào công tác quản lý đất đai; Hệ thống thông tin đất đai phải có tính phân cấp với các quyền hạn xác định cho từng cấp tuân theo luật và các văn bản quy phạm pháp luật; Hệ thống thông tin đất đai phải tuân theo các chuẩn do nhà nước đã quy định như: chuẩn ngôn ngữ, chuẩn phân lớp thông tin, chuẩn về khuôn dạng, định dạng dữ liệu, chuẩn về trình bày dữ liệu, v.v và có tính thống nhất trong toàn ngành
Trang 33Tính tin cậy: Hệ thống dữ liệu phải đảm bảo độ tin cậy với người dùng, dữ liệu được
phát hành phải chính xác, thường xuyên được cập nhập, đảm bảo không thể tự ý sửa đổi hay thay thế
Tính sẵn sàng: Hệ thống thông tin đất đai phải đơn giản, dễ sử dụng Đảm bảo có thể
khai thác trao đổi thông tin trong mọi thời điểm, mọi vị trí cần thiết
Tính an toàn: Hệ thống thông tin đất đai phải có cơ chế bảo mật và an toàn dữ liệu,
tránh sự tấn công của các tác nhân như ngoại cảnh Không bị hỏng, mất thông tin trong bất
sử dụng đất, định giá đất, thu thuế đất, v.v
– Hệ thống thông tin đất đai là công cụ để quản lý thống nhất hệ thống các dữ liệu về bản đồ, về hồ sơ địa chính, các thông tin về tài nguyên đất và cung cấp các thông tin đất đai cho các hoạt động kinh tế của các ngành, các địa phương và các đối tượng sử dụng đất – Hệ thống thông tin đất đai là công cụ quản lý chi tiết tới từng thửa đất, từng chủ sử dụng, quản lý cả các quá trình chuyển đổi đất đai, kiểm tra đất đai, theo dõi quá tình quản lý và sử dụng đất
– Hệ thống thông tin đất đai là công cụ đặc biệt và hiệu quả cho việc cung cấp các thông tin đất đai cho thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản
2.1.3.2 Nhiệm vụ
– Nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trên cơ sở luật đất đai, việc quản lý bằng phương pháp thủ công đã bộc lộ rõ những nhược điểm và thực
sự không đáp ứng kịp với xu thế phát triển hiện nay
– Thông qua các công tác đo đạc để xây dựng hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính thống nhất trên phạm vi cả nước trong đó thể hiện đầy đủ các thông tin ranh giới hành chính, ranh giới thửa đất, hệ thống giao thông, thủy hệ, địa giới hành chính các cấp, các tài sản gắn liền trên đất và các thông tin pháp lý có liên quan, v.v
– Phục vụ cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, đánh giá đất, định giá đất và thu thuế đất, v.v
– Cung cấp thông tin không chỉ đối với ngành quản lý đất đai, không chỉ một nhóm người trong xã hội mà nó sẽ cung cấp cho đa ngành và các đối tượng, tầng lớp khác nhau trong xã hội
Trang 342.1.4 Đặc điểm và chức năng của hệ thống thông tin đất đai
– Hệ thống thông tin đất đai về bản chất có cấu trúc và tính chất của một hệ thống thông tin địa lý (GIS) mang những nội dung thông tin về sử dụng và quản lý đất đai
– Hệ thống thông tin đất đai là một hệ thống thông tin có một cơ sở dữ liệu chuẩn thống nhất, có công cụ và phương pháp để xử lý các thông tin phục vụ cho các hoạt động của hệ thống, cũng như các hệ thông tin khác liên quan đến đất và các hoạt động hoạch định chính sách cho việc quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên đất
2.1.4.2 Chức năng
Hệ thống thông tin đất đai là hệ thống được thiết kế tổng thể và xây dựng thống nhất trên phạm vi cả nước, phục vụ đa mục tiêu chính vì vậy nó phải đảm bảo các chức năng sau:
– Chức năng thu thập, nhập và lưu trữ dữ liệu: Hệ thống thông tin đất đai cho phép thu thập, nhập và lưu trữ các thông tin đất đai ban đầu như: thông tin về thửa đất, thông tin
về chủ sử dụng đất, địa chỉ thửa đất, thông tin về loại đất, đối tượng sử dụng đất, giá đất,
và các tài sản trên đất, v.v
– Chức năng cập nhật và truy xuất dữ liệu: Chức năng cập nhật cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin đất đai bao gồm cập nhật các biến động đất đai theo từng thời kỳ và tại từng thời điểm Các thông tin được cập nhật bao gồm cả thông tin không gian và thông tin thuộc tính trên từng thửa đất có biến động Hệ thống thông tin đất đai có khả năng truy xuất dữ liệu như lập báo cáo thống kê theo từng loại đất, theo đối tượng sử dụng, theo thời gian, theo đơn vị hành chính, v.v Các thông tin truy xuất đảm bảo độ tin cậy và chính xác – Chức năng tìm kiếm thông tin: Hệ thống thông tin đất đai có khả năng tìm kiếm thông tin theo các yêu cầu của người sử dụng Thông tin tìm kiếm bao gồm thông tin về đồ họa như hình dạng, kích thước, diện tích của thửa đất, các thông tin thuộc tính về chủ sử dụng đất, địa chỉ, loại đất, giá đất, các thông tin pháp lý và nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai, v.v Các thông tin thường để tra cứu trong hệ thống là: mã đơn vị hành chính, số
tờ, số thửa, số thửa phụ, v.v
– Chức năng trao đổi thông tin: Hệ thống thông tin đất đai có chức năng trao đổi thông tin với các hệ thống thông tin khác như hệ thống thông tin địa lý, hệ thống thông tin môi trường, hệ thống thông tin về cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin về nông lâm nghiệp, v.v
Trang 35Chức năng trao đổi thông tin trong hệ thống thông tin đất đai đảm bảo tính hòa hợp và tương thích về dữ liệu
– Chức năng phát triển các ứng dụng theo xu thế phát triển ngành: Ở mỗi giai đoạn khác nhau, công tác quản lý nhà nước về đất đai có những sự thay đổi khác nhau, căn cứ vào đó hệ thống thông tin đất đai xây dựng những ứng dụng tương ứng để phù hợp với những sự thay đổi đó Chức năng này làm cho hệ thống thống tin đất mềm dẻo hơn và phục
vụ tốt hơn cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại các địa phương
2.2 CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
Các thành phần trong hệ thống thông tin đất đai bao gồm: nguồn nhân lực (nhân sự);
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin; cơ sở dữ liệu đất đai và các biện pháp tổ chức (hình 2.1)
Hình 2.1 Các thành phần cấu thành hệ thống thông tin đất đai
2.2.1 Nguồn nhân lực (nhân sự)
Nguồn nhân sự là một vấn đề cần quan tâm hàng đầu bởi vì nó quyết định một phần lớn sự hoạt động và thành công của hệ thống thông tin đất đai Trong hệ thống thông tin đất đai nguồn nhân sự được đào tạo về chuyên môn, đào tạo về công nghệ thông tin Quá trình đào tạo cán bộ có thể phân thành nhiều cấp bậc khác nhau và tùy vào công việc của các đối tượng trong hệ thống Một hệ thống thông tin đất đai, nguồn lực con người bao gồm nhiều thành phần khác nhau như những người quản lý hệ thống, phân tích hệ thống, vận hành hệ thống, phát triển hệ thống, v.v
– Các chủ đầu tư: Các chủ đầu tư là một trong các thành phần không thể thiếu trong
thành phần quyết định của tổ chức, là người cung cấp cho phân tích viên những thông tin chung của tổ chức Trên thực tế tại Việt Nam các chủ đầu tư hiện nay cho hệ thống thông tin đất đai là nhà nước và các cơ quan nước ngoài Còn tư nhân, doanh nghiệp thì chưa có các đầu tư lớn vào lĩnh vực này
LIS
CÁC BIỆN PHÁP
TỔ CHỨC
NGUỒN NHÂN LỰC
CƠ SỞ HẠ TẦNG
KỸ THUẬT
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI
Trang 36– Người quản lý hệ thống: Người quản lý hệ thống là những người lãnh đạo của tổ
chức hoặc những người có trách nhiệm trong hệ thống Nhiệm vụ của họ là đưa ra các phương án, các hoạt động, các yêu cầu chi tiết cho phân tích viên và triển khai tổ chức thực hiện khi hệ thống hoạt động Đối với các hệ thống thông tin vừa và nhỏ thì người quản lý
hệ thống thông tin thường là các trưởng phòng ban chức năng có nhiệm vụ cung cấp tình hình, số liệu, phương thức xử lý, công thức tính toán, v.v
– Người phân tích hệ thống: Người phân tích hệ thống thông tin, là người chủ chốt
trong quá trình phát triển hệ thống, những người này sẽ quyết định vòng đời của hệ thống Trong các hệ thống thông tin vừa và nhỏ một phân tích viên có thể là người lập trình cho
hệ thống Tuy nhiên đối với các hệ thống thông tin đất đai thì phần lớn bộ phận phân tích
hệ thống là một tập thể, vì như thế mới có đủ khả năng nắm bắt các lĩnh vực và hoạt động của tổ chức
Các phân tích viên được gọi là có năng lực nếu họ hội đủ các điều kiện sau:
+ Có kỹ năng phân tích, có thể hiểu được tổ chức và sự hoạt động của nó Có thể xác định được các vấn đề đặt ra và giải quyết chúng Có khả năng suy nghĩ mang tính chiến lược và hệ thống
+ Có kỹ năng kỹ thuật, hiểu biết về thiết bị và phần mềm Biết chọn lựa các giải pháp phần cứng và mềm cho các ứng dụng đặc biệt nơi cần tin học hóa Hiểu biết công việc của người lập trình và người sử dụng đầu cuối
+ Có kỹ năng quản lý, có khả năng quản lý nhóm làm việc, biết được điểm mạnh, điểm yếu của những người làm việc trong nhóm Biết lắng nghe, đề xuất và giải quyết vấn
đề Có khả năng lập kế hoạch, điều phối các nguồn lực
+ Có kỹ năng giao tiếp, phân tích viên phải đóng vai trò chính trong việc liên kết giữa các đối tượng: chủ đầu tư, người sử dụng, người lập trình và các thành phần khác trong hệ thống Kỹ năng giao tiếp của phân tích viên thể hiện ở chỗ: năng lực diễn đạt và thuyết phục, khả năng hòa hợp với mọi người trong nhóm làm việc Có khả năng tổ chức
và điều hành các cuộc họp
– Người lập trình: Người lập trình hệ thống có thể là một tập thể hoặc cá nhân có
nhiệm vụ mã hóa các đặc tả được thiết kế bởi phân tích viên thành các cấu trúc mà máy tính có thể hiểu và vận hành được Người lập trình cũng phải viết các tài liệu chương trình
và các chương trình thử nghiệm hệ thống, chuẩn bị các số liệu giả để kiểm định độ chính xác của hệ thống
– Người sử dụng đầu cuối: Trong quá trình phân tích thiết kế hệ thống thông tin đất
đai các phân tích viên phải làm việc với người sử dụng, để biết được chi tiết các thông tin của từng bộ phận, từng mảng công việc trong hệ thống Người sử dụng sẽ cho các phân tích viên biết ưu điểm và nhược điểm của hệ thống thông tin đất đai cũ Từ những thông tin đó có ý nghĩa quan trọng đến việc thiết kế và sử dụng hệ thống một cách có hiệu quả
Trang 37– Kỹ thuật viên: Kỹ thuật viên, là bộ phận cán bộ phụ trách về mảng kỹ thuật của hệ
thống như: bảo đảm sự hoạt động của phần cứng máy tính, đường truyền dữ liệu từ bộ phận này đến bộ phận khác trong hệ thống và từ hệ thống đến môi trường ngoài
Như vậy, hệ thống thông tin đất đai sẽ bị hạn chế nếu không có con người tham gia quản lý và phát triển những ứng dụng của hệ thống thông tin đất đai trong thực tế Người
sử dụng hệ thống thông tin đất đai có thể là những chuyên gia kỹ thuật, người thiết kế và duy trì hệ thống, hoặc những người dùng các thông tin từ hệ thống thông tin đất đai để giải quyết các vấn đề trong công việc
2.2.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin đất đai
Trong hệ thống thông tin đất đai cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các thành phần cấu thành nên hệ thống thông tin đất đai, đây là một thành phần tương đối quan trọng của
hệ thống, bao gồm:
– Hệ thống phần cứng: Trong hệ thống thông tin đất đai phần cứng có rất nhiều các
hạng mục khác nhau như: các trang thiết bị thu thập, các thiết bị xử lý và cung cấp thông tin, các thiết bị khác Một số các thiết bị trong hệ thống thông tin đất đai gồm:
+ Hệ thống máy tính: hệ thống máy chủ; hệ thống máy trạm (khách); máy tính xách tay + Thiết bị đầu vào: máy quét bản đồ (scan)
+ Thiết bị đầu ra: máy in; máy vẽ; máy photocopy
+ Các thiết bị lưu trữ dữ liệu: đầu ghi đĩa CD, DVD, băng từ, ổ cứng, đĩa mềm, USB, v.v
+ Các thiết bị hiển thị và cung cấp thông tin như: máy chiếu, màn hình máy tính, máy Projector, v.v
Hình 2.2 Hệ thống phần cứng cơ bản của hệ thống thông tin đất đai
Máy quét (Scanner) CD-ROM Máy in (printer)
Bàn số hóa Máy tính Máy vẽ
Trang 38– Hệ thống đảm bảo an toàn: Hệ thống đảm bảo an toàn trong hệ thống thông tin đất
đai bao gồm: Phòng máy trung tâm; các quy chế quản lý hành chính; hệ thống ổn áp, lưu điện; hệ thống chống sét cho hệ thống điện, cho hệ thống mạng, v.v.; các thiết bị phụ trợ
khác như: điều hòa, máy hút bụi, máy hút ẩm, v.v
– Hệ thống phần mềm: Trên thế giới cũng như ở nước ta, việc khai thác và sử dụng
các hệ thống thông tin địa lý, hệ thống thông tin đất đai phát triển từ bước chỉ sử dụng các
hệ thống khép kín cho đến các hệ thống mở đã đưa ra các Macro, các ngôn ngữ phát triển riêng của hệ thống nhằm tạo ra các chức năng theo đặc thù của công việc Phần mềm của
hệ thống thông tin đất đai bao gồm các phần mềm tin học được sử dụng trong hệ thống với các chức năng và công cụ để xây dựng, lưu trữ, phân tích, hiển thị thông tin và hệ thống hoạt động Hệ thống phần mềm trong hệ thống thông tin đất đai bao gồm:
+ Hệ thống phần mềm thuộc nhóm hệ điều hành: Đại diện tiêu biểu là Microsoft Windows, Mac OS X và Linux, cho phép các phần của một máy tính làm việc với nhau bằng cách truyền dẫn dữ liệu giữa bộ nhớ chính và ổ đĩa hoặc xuất dữ liệu ra thiết bị xuất Nó cũng cung cấp một kiến trúc cho việc chạy phần mềm hệ thống cấp cao và phần mềm ứng dụng
+ Hệ thống phần mềm thuộc hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS): Hệ quản trị cơ sở dữ liệu chuyên về lưu trữ và quản lý tất cả các dạng dữ liệu bao gồm cả dữ liệu địa lý Nhiều
hệ thống thông tin đất đai đã sử dụng DBMS với mục đích xây dựng và lưu trữ dữ liệu cũng như cung cấp các thông tin đất đai Một số các phần mềm điển hình được sử dụng trong hệ thống thông tin đất đai tại Việt Nam đó là:
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Oracle: Là một DBMS thương mại Nó được đánh giá là
hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ đối tượng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay Hiện tại, ngoài Oracle Database Server, Oracle còn cung cấp khá nhiều sản phẩm khác để phục vụ cho các doanh nghiệp Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này hoạt động trên Windows, Linux, UNIX, có tính bảo mật cao, ít chiếm không gian, hỗ trợ được cho cơ sở dữ liệu lớn, giảm thời gian CPU xử lý dữ liệu
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL: Là một hệ quản trị CSDL thương mại khác, sử dụng mã nguồn mở Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này rất phổ biến và thường được các chuyên gia lập trình web ưa chuộng sử dụng trong quá trình phát triển các ứng dụng hay website Với ưu điểm về tốc độ cũng như tính bảo mật được đánh giá cao, MySQL thích hợp với các ứng dụng có truy cập cơ sở dữ liệu trên Internet Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này hoạt
Trang 39động trên Windows, Linux, có tốc độ xử lý dữ liệu cao, sử dụng trình kích hoạt tăng năng suất và nhiều tính năng, có thể khôi phục dữ liệu nếu cần
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server: Microsoft SQL Server luôn luôn
là một cái tên có mặt trong Top hầu hết các bảng xếp hạng hệ quản trị CSDL phổ biến nhất Được phát triển từ năm 1989, sử dụng ngôn ngữ Assembly C, Linux, C++, đây là một DBMS thương mại được rất nhiều người yêu thích và lựa chọn sử dụng bởi những tiện ích của nó Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này hoạt động trên hệ điều hành Windows và Linux, tương thích với Oracle, cung cấp, quản lý hiệu quả khối lượng của công việc, cho phép nhiều người dùng sử dụng chung một cơ sở dữ liệu
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL: PostgreSQL cũng là một công cụ nguồn mở khá quen thuộc Đây là một cơ sở dữ liệu nâng cao hơn, hỗ trợ tốt cho việc lưu trữ dữ liệu không gian Với sự kết hợp cùng module PostGIS, PostgreSQL cho phép người sử dụng khả năng lưu trữ các lớp dữ liệu không gian một cách hiệu quả Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này hoạt động trên các hệ điều hành Windows và Linux, sử dụng cơ sở dữ liệu quan hệ đối tượng, truy xuất dữ liệu tốc độ nhanh, chia sẻ dữ liệu qua trang tổng quan nhanh hơn, đảm bảo an toàn dữ liệu
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft Access: Microsoft Access là một DBMS thương mại hoạt động trên Microsoft Windows, rất quen thuộc đối với nhiều người Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này là hệ thống cơ sở dữ liệu giá rẻ sử dụng trên Internet, tập tin tải lên trên máy chủ được tạo ra bằng cách ứng dụng truy cập MS, chủ yếu cho các trang web thương mại điện tử
– Hệ thống phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu, xử lý bản đồ, hỗ trợ hỏi đáp, phân tích
và hiển thị các thông tin địa lý nói chung và các thông tin đất nói riêng Bao gồm một số các phần mềm cơ bản sau:
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu bản đồ ArcSDE: ArcSDE là một ứng dụng trên máy chủ,
mà ứng dụng của nó là lưu trữ và quản lý dữ liệu không gian raster, vector và số liệu khảo sát dựa trên những hệ quản trị CSDL thịnh hành hiện nay (IBM DB2, Informix, Microsoft SQL Server và Oracle), nhằm tăng khả năng khai thác dữ liệu từ các ứng dụng đơn lẻ ArcSDE là cổng nối giữa các ứng dụng GIS và hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS) ArcSDE cho phép nhiều người dùng từ các phần mềm GIS như ArcInfo, ArcEditor, ArcView và ArcIMS, MapObject có thể lưu trữ, quản lý và truy cập trực tiếp tới
dữ liệu không gian được lưu trong RDBMS ArcSDE cho phép quản lý một geodatabase quy mô lớn, có khả năng hiển thị và cập nhật đồng thời bởi nhiều người, tốc độ truy cập và tìm kiếm cực cao, ArcSDE thực sự là thành phần cần thiết cho các hệ thống GIS tầm trung
và lớn
+ Phần mềm xử lý dữ liệu bản đồ ArcInfo: Là bộ sản phẩm ArcGIS đầy đủ nhất ArcInfo bao gồm tất cả các chức năng của ArcView lẫn ArcEditor Cung cấp các chức
Trang 40năng tạo và quản lý một hệ GIS, xử lý dữ liệu không gian và khả năng chuyển đổi dữ liệu, xây dựng dữ liệu, mô hình hóa, phân tích, hiển thị bản đồ trên màn hình máy tính và xuất bản bản đồ ra các phương tiện khác nhau Với ArcInfo, cho phép: xây dựng một mô hình
xử lý không gian rất hữu dụng cho việc tìm ra các mối quan hệ, phân tích dữ liệu và tích hợp dữ liệu; thực hiện chồng lớp các lớp vector, nội suy và phân tích thống kê; tạo ra các đặc tính cho sự kiện và chồng xếp các đặc tính của các sự kiện đó; chuyển đổi dữ liệu và các định dạng của dữ liệu theo rất nhiều loại định dạng; xây dựng những bộ dữ liệu phức tạp, các mô hình phân tích và các đoạn mã để tự động hóa các quá trình GIS; sử dụng các phương pháp trình diễn, thiết kế, in ấn và quản lý bản đồ để xuất bản bản đồ
+ Phần mềm tra cứu và cung cấp thông tin trực tuyến trên mạng diện rộng Arc Intrenet Map Server (ArcIMS): ArcIMS là một ứng dụng bản đồ rất mạnh trên Internet Nó cung cấp một nền cơ bản cho phép xây dựng và phân phối các dịch vụ và dữ liệu GIS ArcIMS bao gồm cả hai công nghệ chủ (server) và khách hàng (client) ArcIMS cung cấp giải pháp hiện đại cho tra cứu và phân phối dữ liệu bản đồ và thuộc tính trên mạng diện rộng (Intranet, Internet) theo giao diện Web ArcIMS là một ứng dụng trên nền Java bao gồm các dịch vụ về bản đồ và các công cụ thiết kế bản đồ để cung cấp cho các dịch vụ về bản đồ trên Internet ArcIMS cung cấp các mức độ bảo mật và an toàn thông tin khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của người sử dụng Giải pháp của ArcIMS tuân theo các chuẩn, kiến trúc hiện đại, cung cấp cho người dùng GIS các khả năng xây dựng và quản trị các dịch vụ IMS
+ Phần mềm tổng hợp hóa, trình bày hiển thị tích hợp dữ liệu ArcGIS 3D Analyst: công tác tổng hợp hóa, trình bày và hiển thị dữ liệu rất quan trọng trong công tác quản lý đất đai Một trong những ứng dụng hiệu quả nhất của công nghệ GIS là khả năng hiển thị đồng thời và tích hợp các dạng dữ liệu khác nhau theo mô hình 3 chiều ArcGIS 3D Analyst là ứng dụng dùng cho mô hình hóa, phân tích và xử lý bề mặt địa hình ArcGIS 3D Ancalyst cung cấp các công cụ tiên tiến của GIS để thực hiện các bài toán trên bề mặt địa hình như: nội suy bình độ, tính mặt cắt, tính khối lượng, lưu vực, v.v
+ Phần mềm Mapinfo: Mapinfo là một phần mềm nhằm giúp chúng ta xử lý bản đồ
số cũng như các thông tin liên quan đến địa lý Với sự ra đời của MapInfo, việc xử lý bản
đồ trở nên một công việc mà mọi người đều có thể làm được Không những có các chức năng của bản đồ thông dụng như cung cấp thông tin địa lý, giúp định vị trong thực địa, v.v Mapinfo còn là một phần mềm rất mạnh giúp xử lý và phân tích thông tin trên bản đồ số Chức năng này của Mapinfo khiến cho nó trở thành một hệ cơ sở dữ liệu địa lý Tính năng này còn được tăng cường thêm nhờ khả năng liên kết được với các hệ cơ sở dữ liệu khác như Microsoft Access, SQL Server, Oracle, v.v Sử dụng Mapinfo có thể hỗ trợ giải quyết được nhiều vấn đề thực tế một cách nhanh chóng và chính xác