Việt Nam hiện nằm trong nhóm 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với 6,5–7,2 triệu tấn/năm, đồng thời dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều và đứng top đầu về cà phê Robusta và hồ ti
Trang 1TRƯỜNG
KHOA
BÀI TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT LÊN MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM Học phần:
Sinh viên:
MSSV:
Lớp:
TP ., năm 2025
Trang 21 Cơ sở lý luận và bối cảnh phát triển ngành trồng trọt Việt Nam
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2 Bối cảnh phát triển ngành trồng trọt Việt Nam
1.3 Khung pháp lý và định hướng chính sách liên quan
2 Thực trạng tác động của hoạt động trồng trọt lên môi trường tại Việt Nam 2.1 Tác động đến môi trường đất
2.2 Tác động đến môi trường nước
2.3 Tác động đến môi trường không khí và biến đổi khí hậu
2.4 Tác động đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái nông nghiệp
2.5 Tác động đến sức khỏe cộng đồng
3 Các nhân tố chi phối mức độ tác động môi trường
4 Một số trường hợp điển hình tại Việt Nam
5 Nỗ lực, chính sách và mô hình giảm thiểu tác động
6 Đề xuất giải pháp hướng tới nền trồng trọt bền vững
7 Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Thuốc bảo vệ thực vật
KNK: Khí nhà kính
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
IPM: Quản lý dịch hại tổng hợp
AWD: Tưới luân phiên khô – ướt
GAP: Thực hành nông nghiệp tốt
GDP: Tổng sản phẩm trong nước
COP26: Hội nghị lần thứ 26 các Bên tham gia Công ước khung Liên Hợp Quốc
về biến đổi khí hậu
FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
WB: Ngân hàng Thế giới
Trang 4ra các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, cao su và rau quả nhiệt đới Việt Nam hiện nằm trong nhóm 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với 6,5–7,2 triệu tấn/năm, đồng thời dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều và đứng top đầu về cà phê Robusta và hồ tiêu [[4], [9]].
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng trọt trong hơn ba thập niên đổi mới gắn liền với quá trình thâm canh, tăng vụ, hóa học hóa và cơ giới hóa Nhờ đó, năng suất và sản lượng cây trồng tăng nhanh, Việt Nam từ chỗ phải nhập khẩu lương thực đã vươn lên thành quốc gia xuất khẩu nông sản quan trọng trên thế giới Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào phân bón hóa học, thuốc BVTV, nước tưới và mở rộng diện tích canh tác cũng đặt ra sức ép lớn đối với môi trường TheoMONRE, 60–70% diện tích đất nông nghiệp có dấu hiệu thoái hóa do canh tác thâm canh kéo dài [[3]], trong khi lượng phân bón vô cơ sử dụng toàn quốc đã vượt 10 triệu tấn/năm [[4]] Các nghiên cứu của VAAS còn cho thấy tồn dư thuốc BVTV ở nhiều vùng rau chuyên canh cao gấp 2–3 lần ngưỡng khuyến cáo [[5]] Đây là những cảnh báo rõ ràng về áp lực môi trường từ sản xuất trồng trọt
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, thiên tai cực đoan gia tăng, Việt Nam đã đưa ra các cam kết mạnh mẽ tại COP26 về giảm phát thải khí nhà kính Đặc biệt, ruộng lúa – nguồn phát thải mê-tan lớn nhất của ngành nông nghiệp – được World Bank xác định đóng góp 48% tổng phát thải CH₄ của toàn ngành [[7]], với mức phát thải mỗi hecta lúa nước lên đến 1,5–2,5 tấn
CO₂e/vụ theo IRRI [[15]] Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm
Trang 52050 và giảm 30% lượng phát thải mê-tan vào năm 2030, đặt ra yêu cầu cấp thiết chuyển đổi các mô hình canh tác theo hướng xanh và bền vững.
Trên cơ sở đó, bài tiểu luận này được thực hiện với mục tiêu phân tích một cách hệthống ảnh hưởng của hoạt động trồng trọt lên môi trường tại Việt Nam, làm rõ các dạng tác động chính, những nguyên nhân và yếu tố chi phối, đồng thời đề xuất một
số nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực, hướng tới một nền trồng trọt thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và đóng góp tích cực chomục tiêu phát triển bền vững
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN NGÀNH TRỒNG TRỌT VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Môi trường được hiểu là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người cũng như các sinh vật khác Trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường bao gồm đất, nước, không khí, hệ sinh vật và các yếu tố kinh tế – xã hội liên quan
Hoạt động trồng trọt là tổng thể các hoạt động sản xuất cây trồng từ khâu chuẩn bị đất, gieo trồng, chăm sóc, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch đến bảo quản và sơ chế nông sản Hoạt động này gắn liền với việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước, sinh vật, đồng thời sử dụng ngày càng nhiều các đầu vào nhân tạo như phân bón, thuốc BVTV, giống mới, máy móc, nhiên liệu
Tác động môi trường của hoạt động trồng trọt là những biến đổi về chất lượng các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, sinh vật, sức khỏe con người) do cáchoạt động trồng trọt gây nên Tác động có thể mang tính tích cực (tăng độ che phủ
Trang 6thực vật, cải tạo đất, bảo tồn cảnh quan nông thôn) hoặc tiêu cực (ô nhiễm, suy thoái tài nguyên, mất đa dạng sinh học)
Phát triển nông nghiệp bền vững nói chung, trồng trọt bền vững nói riêng là việc
tổ chức sản xuất bảo đảm hài hòa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế, công bằng và tiến bộ
xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu Quan điểm này được thể hiện trong nhiều chiến lược, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn của Việt Nam
Trang 71.2 Bối cảnh phát triển ngành trồng trọt Việt Nam
Từ sau công cuộc Đổi Mới (1986), ngành trồng trọt Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về quy mô, năng suất, chất lượng lẫn mức độ ứng dụng khoa học – công nghệ Diện tích gieo trồng lúa, cây công nghiệp, cây ăn quả và rau màu được mở rộng đáng kể, cơ cấu cây trồng từng bước điều chỉnh theo lợi thế sinh thái của từng vùng Nhờ đó, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, đứng top 3 về xuất khẩu gạo và nằm trong nhóm dẫn đầu về cà phê, hồ tiêu, điều [[4], [9]]
Một trong những đặc điểm quan trọng của giai đoạn này là xu hướng thâm canh vàchuyên canh Ở các vùng sản xuất lúa trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long
và Đồng bằng sông Hồng, nhiều địa phương áp dụng mô hình 2–3 vụ lúa/năm, dựatrên hệ thống thủy lợi ngày càng hoàn thiện Các vùng chuyên canh rau, hoa, cây
ăn quả cũng được mở rộng, hình thành nhiều khu nông nghiệp công nghệ cao áp dụng nhà kính, nhà lưới, tưới tiết kiệm nước Các báo cáo quốc tế ghi nhận diện tích ứng dụng công nghệ cao tại Việt Nam tăng lên rõ rệt trong giai đoạn gần đây [[9]]
Cùng với sự mở rộng sản xuất, lượng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sử dụng trong trồng trọt tăng mạnh, đặc biệt từ sau năm 1995 Tổng cục Thống kê cho thấy lượng phân bón vô cơ tiêu thụ tăng đều qua các năm và giữ ở mức cao [[4]], trong khi một số nghiên cứu của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) ghi nhận tình trạng tồn dư thuốc BVTV tại các vùng chuyên canh vẫn đáng lo ngại [[5]] Xu hướng sử dụng đầu vào hóa học này giúp nâng cao năngsuất nhưng đồng thời tạo áp lực lên tài nguyên đất, nước và môi trường sinh thái
Trang 8Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, ngành trồng trọt còn chịu tác động mạnh mẽ từ hội nhập kinh tế quốc tế Việc tham gia WTO, CPTPP, EVFTA và nhiều hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội lớn cho xuất khẩu nông sản, song cũng đặt ra yêu cầu ngàycàng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn bền vững Nhiều thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản ưu tiên các sản phẩm đạt VietGAP, GlobalGAP hoặc hữu cơ, buộc ngành trồng trọt phải đẩy mạnh đổi mới theo hướng an toàn và thân thiện môi trường [[2]].
Ngoài ra, các yếu tố kinh tế – xã hội như đô thị hóa, biến đổi khí hậu và thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng nội địa cũng ảnh hưởng mạnh đến ngành FAO đánh giá Việt Nam nằm trong số những quốc gia dễ tổn thương trước biến đổi khí hậu [[9]],trong khi sự gia tăng của tầng lớp trung lưu thúc đẩy nhu cầu về thực phẩm sạch
và có chứng nhận tiêu chuẩn
Có thể nói, bối cảnh phát triển ngành trồng trọt Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua là sự kết hợp giữa mở rộng quy mô, thâm canh, chuyển dịch cơ cấu, hội nhập quốc tế và ứng dụng công nghệ Những thay đổi này tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi sang mô hình trồng trọt xanh, thông minh và bền vững trong thời gian tới
1.3 Khung pháp lý và định hướng chính sách liên quan
Trang 9Trong hai thập niên gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng theo hướng bền vững Luật Bảo vệ môi trường, Luật Trồng trọt, LuậtBảo vệ và Kiểm dịch thực vật cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn đã quy định
cụ thể về quản lý phân bón, thuốc BVTV, chất thải nông nghiệp và tiêu chuẩn môitrường đất, nước, không khí Các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia của Bộ TN&MT cho thấy tình trạng suy thoái đất, ô nhiễm nước và áp lực môi trường nông thôn gia tăng, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được hoàn thiện liên tục [[3]]
Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021–2030 nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời phát triển kinh
tế tuần hoàn nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho nông dân Theo Bộ
NN&PTNT, đây là định hướng trọng tâm nhằm giảm phụ thuộc vào vật tư nông nghiệp hóa học và khuyến khích mô hình sản xuất thân thiện môi trường [[2]]
Cùng với đó, các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, đặc biệt là tuyên bố đạt phátthải ròng bằng "0" vào năm 2050 và giảm phát thải mê-tan toàn quốc, tạo áp lực mạnh mẽ cho việc tái cơ cấu ngành trồng trọt Báo cáo của World Bank cho thấy ruộng lúa – chiếm phần lớn diện tích canh tác – là nguồn phát thải mê-tan lớn nhấtcủa nông nghiệp Việt Nam, chiếm khoảng 48% tổng phát thải CH₄ của toàn ngành[[7]] Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giảm dần các mô hình canh tác phát thải cao, thúc đẩy áp dụng mô hình canh tác các-bon thấp và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 102 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT LÊN MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Tác động đến môi trường đất
Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và là môi trường sống của hệ sinh vật đất, nhưng đồng thời cũng là nơi tiếp nhận phần lớn lượng phân bón, thuốc BVTV và các chấtthải rắn liên quan đến hoạt động trồng trọt Sản xuất thâm canh kéo dài, đặc biệt ở các vùng chuyên canh lúa, rau và cây công nghiệp, đã làm gia tăng đáng kể nguy
cơ thoái hóa và ô nhiễm đất Báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ TN&MT cho thấy khoảng 60–70% diện tích đất nông nghiệp đang có dấu hiệu thoái hóa ở các mức độ khác nhau [[3]]
Một là, sử dụng phân bón hóa học mất cân đối về chủng loại và liều lượng đã dẫn đến hiện tượng chua hóa, mặn hóa và chai cứng đất Nhiều nông hộ có xu hướng bón nhiều phân đạm và kali để “kích” cây sinh trưởng, trong khi sử dụng phân hữu
cơ còn hạn chế Tổng cục Thống kê cho biết lượng phân bón vô cơ sử dụng trong nông nghiệp tăng đều qua các năm và ở mức cao so với khu vực [[4]] Việc bón phân không hợp lý làm pH đất giảm, cấu trúc đất bị phá vỡ, khả năng giữ nước và dinh dưỡng suy giảm, khiến cây trồng dễ bị stress và phụ thuộc ngày càng nhiều vào phân bón hóa học
Trang 11Hai là, ô nhiễm đất do tồn dư thuốc BVTV và các hóa chất khác Nhiều loại thuốc BVTV có tính bền vững, khó phân hủy và có thể tích lũy lâu dài trong đất Nghiêncứu của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) ghi nhận tồn dư thuốc BVTV tại một số vùng chuyên canh rau vượt ngưỡng an toàn và có xu hướng tích lũy theo thời gian [[5]] Việc sử dụng thuốc không đúng liều lượng, pha trộn tùy tiện hay vứt bỏ bao bì ngay trên đồng ruộng càng làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước lân cận.
Ba là, chất thải rắn nông nghiệp như bao bì thuốc BVTV, túi nilon, vỏ bao phân bón, dây buộc… nếu không được thu gom và xử lý đúng quy định sẽ bị chôn lấp
tự phát hoặc đốt ngoài đồng, gây ô nhiễm đất và phát tán các chất độc hại vào môi trường Báo cáo chuyên đề về môi trường nông thôn của MONRE cũng coi chất thải rắn từ sản xuất nông nghiệp là một trong những nguồn gây ô nhiễm phổ biến tại nhiều địa phương [[3]]
2.2 Tác động đến môi trường nước
Hoạt động trồng trọt tác động đến cả nguồn nước mặt (kênh, rạch, ao, hồ, sông ngòi) và nước ngầm Nguồn phát sinh chính là nước tưới, nước rửa trôi sau mưa
và nước thải từ các cơ sở sơ chế nông sản Theo Báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ TN&MT, nhiều mẫu nước mặt ở vùng sản xuất trồng trọt có hàm lượng N,
P vượt quy chuẩn, chủ yếu do rửa trôi phân bón và thuốc BVTV [[3]]
Trang 12Ở vùng trồng lúa, rau màu và cây công nghiệp, nông dân thường bón phân và phunthuốc BVTV trước hoặc sau khi tưới Phần phân bón và thuốc chưa kịp hấp thu sẽ
bị rửa trôi vào kênh mương, làm tăng dinh dưỡng (N, P), gây phú dưỡng, nở hoa tảo và suy giảm oxy hòa tan Đối với nước ngầm, phân bón đạm dạng nitrat có khảnăng thấm sâu và tích tụ Một số điều tra chất lượng nước cho thấy nồng độ nitrat trong giếng khoan vùng thâm canh có xu hướng tăng, tiềm ẩn rủi ro sức khỏe [[3]].Ngoài ra, một số hợp chất BVTV có thể di chuyển xuống tầng chứa nước, gây ô nhiễm lâu dài
2.3 Tác động đến không khí và biến đổi khí hậu
Về khía cạnh không khí, hoạt động trồng trọt là nguồn phát thải nhiều loại khí gây
ô nhiễm và khí nhà kính Ruộng lúa nước là môi trường yếm khí thuận lợi cho quátrình sinh mê-tan (CH₄) Theo World Bank, ruộng lúa Việt Nam chiếm khoảng 48% phát thải mê-tan của toàn ngành nông nghiệp [[7]] Ngoài ra, sử dụng phân bón nitơ vô cơ (như urê) góp phần tạo khí N₂O – loại khí có khả năng gây nóng lên toàn cầu cao gấp 298 lần CO₂ theo hướng dẫn của IPCC [[19]]
Bên cạnh phát thải sinh học, đốt phụ phẩm nông nghiệp (đặc biệt là rơm rạ) sau thu hoạch gây ô nhiễm không khí ở nhiều vùng Khói đốt rơm rạ chứa bụi mịn,
CO, NOx, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, làm giảm chất lượng không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe hô hấp Các hoạt động cơ giới hóa như làm đất, bơm tưới, vậnchuyển vật tư cũng phát thải CO₂, dù tỷ trọng thấp hơn so với phát thải từ ruộng lúa
2.4 Tác động đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái nông nghiệp
Trang 13Hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm quần xã cây trồng, cỏ dại, côn trùng, động vật đất và vi sinh vật Trong điều kiện canh tác truyền thống, hệ sinh thái thường duy trì được sự cân bằng nhờ thiên địch kiểm soát sâu bệnh tự nhiên Tuy nhiên, việc
sử dụng phổ biến thuốc BVTV phổ rộng đã làm suy giảm mạnh quần thể sinh vật
có ích Một nghiên cứu của Nguyễn Trung Phương và cộng sự ghi nhận nhiều nhóm thiên địch ở vùng chuyên canh rau giảm đáng kể do sử dụng thuốc BVTV liên tục [[6], [[14]]
Không ít trường hợp sâu bệnh bùng phát mạnh hơn sau khi phun thuốc vì thiên địch bị tiêu diệt, trong khi một số loài sâu hại hình thành tính kháng thuốc Ngoài
ra, việc chuyển đổi đất rừng, đất ngập nước hay đồng cỏ sang đất trồng trọt, nếu thiếu quy hoạch hợp lý, có thể gây mất sinh cảnh của các loài hoang dã, làm phân mảnh hệ sinh thái và giảm khả năng điều hòa môi trường tự nhiên
2.5 Tác động đến sức khỏe cộng đồng
Tác động của hoạt động trồng trọt đến sức khỏe con người thể hiện qua cả đường trực tiếp và gián tiếp Đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất là nông dân – những người trực tiếp pha, phun và tiếp xúc với thuốc BVTV Nghiên cứu của Phương T T và cộng sự cho thấy khoảng 25% nông dân được khảo sát từng có biểu hiện ngộ độc cấp tính khi tiếp xúc thuốc BVTV [[13]] Một khảo sát khác cho thấy gần 40% người trồng rau không sử dụng đầy đủ bảo hộ khi phun thuốc, làm tăng nguy cơ nhiễm độc [[14]]