Lời nói đầu bản dịch Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (phần 1)
Cao Xuân Hạo
Ngôn ngữ học đồng đại chỉ chấp nhận một quan điểm duy nhất: quan điểm của người bản ngữ.
— Ferdinand de Saussure
Nhà ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ Ferdinand de Saussure, mà giới ngôn
ngữ học châu Âu thường gọi là người cha đẻ của ngôn ngữ học hiện
đại , hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu sáng chói này, mặc dầu cũng
có những người thấy cần phê phán một số điểm mà họ cho là “thiếu sót”, hay “phiến diện”, hay “duy tâm”
Dù sao ông cũng là người đầu tiên làm cho ngôn ngữ học trở thành một khoa học thực sự nhờ có được một đối tượng minh xác và một phương pháp luận hiển ngôn Ông cũng là một trong những người đi tiên phong trong việc xây dựng những nguyên lí cơ bản của cái trào lưu
đã cải tạo hoàn toàn cách tiếp cận những đối tượng khảo sát của các khoa học nhân văn: trào lưu cấu trúc luận (structuralism) mà không hiểu tại sao có những người sính thời thượng thấy có thể coi như một hình
hệ (paradigm) đã qua(1) cần có thêm một cuộc cách mạng thứ hai do những cách tiếp cận của chính họ thực hiện, mặc dầu những cách tiếp cận tương tự như thế đã ra đời từ ba bốn thế kỉ trước, và trong các phát minh của họ không có lấy một điểm nào phủ nhận giá trị của cấu trúc luận ngôn ngữ học – cái giá trị đã dẫn tới những thành tựu quan trọng trong khắp các ngành khoa học nhân văn
Trong suốt cả thế kỉ qua, người ta đã viết về Saussure hàng ngàn trang sách, và viết khá kĩ về tất cả những luận điểm độc đáo quan trọng nhất của ông, nhất là về những thế lương phân trứ danh như “năng biểu / sở biểu”, “tính có nguyên do / tính võ đoán” của mối quan hệ này,
“ngôn ngữ / lời nói”, “đồng đại / lịch đại”, “trục kết hợp / trục liên tưởng”,
“chất liệu / hình thức”, “ngữ trạng / chuyển biến”, v.v Nhưng hình như chưa có một công trình nào trình bày một cách thật hiển ngôn mối quan
hệ logic giữa các thế lưỡng phân này, trong khi đó là một quan hệ nhân quả trực tiếp, gần như cơ giới, hoàn toàn tất yếu, mà lẽ ra phải đập
mạnh vào mắt mọi người ngay từ khi đọc lướt qua cuốn Giáo trình
Ngôn ngữ học đại cương.
Trang 2Hầu hết các tác giả đều lần lượt trình bày đầy đủ từng luận điểm của Saussure, mỗi người theo một trình tự khác nhau, như thể trình bày một danh sách liệt kê tài sản trong đó mỗi vật thuộc về một chủng loại khác nhau
Thật đáng tiếc là Saussure không nói đủ rõ về mối dây liên hệ logic
ấy, sao cho sinh viên của ông có đủ sức chú ý để ghi lại nó một cách hiển ngôn bằng một số lượng câu đoạn xứng đáng với tầm quan trọng
của nó Câu văn hiển ngôn duy nhất mà ta còn có được trong Giáo
trình là câu mà chúng tôi làm đề từ trên đây Có lẽ nó chứa tư tưởng chủ
đạo đã làm nảy sinh ra cuộc cách mạng không tiền khoáng hậu của Saussure
Vậy mối quan hệ đó ra sao? Nó xuất phát từ ý tưởng nào? Nó kéo theo những nhận định nào? Nó cho phép suy diễn thêm những hệ quả
nào? Đó là những câu hỏi mà người đọc và học cuốn Giáo trình không
thể không đặt ra nếu muốn hiểu thấu đáo nội dung của nó, cũng như hiểu giá trị của những lời khen ngợi và những lời chê bai thuộc đủ mọi phương diện mà người ta đã dùng khi nói về nó
Trước hết phải nói đến cách định nghĩa ngôn ngữ của Saussure, cội
nguồn của mọi luận điểm được trình bày trong cuốn Giáo trình Ngôn
ngữ học đại cương mà ba nhà ngữ học Thuỵ Sĩ Charles Bally, Albert
Sechehaye và Albert Riedlinger, với một lòng sùng mộ vô biên, đã cố viết lại cho đúng ý của người Thầy quá cố(2) bằng cách căn cứ vào những cuốn vở ghi chép của các sinh viên được trực tiếp học ông(3)
Đó là cách dùng định nghĩa được trình bày rải rác trong quá trình đối chiếu và tranh luận với những quan điểm do quá khứ để lại, nghĩa là chưa bao giờ được thiết lập thành một công thức để có thể dẫn nguyên văn, nhưng vẫn đủ rõ để có thể suy ra một cách gián tiếp, mà hoàn toàn
chắc chắn, từ tất cả những đoạn văn có mặt trong cuốn Giáo trình :
Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu nhiều tầng được người bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, hiểu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng.
Ở đây có ba từ có vai trò quyết định trong toàn bộ lí thuyết của
Saussure: dấu hiệu (signe) , hệ thống (système) và người bản ngữ (le
Về khái niệm “dấu hiệu”, ta đã có một định nghĩa được thừa hưởng
từ thời Trung thế kỉ của các nhà Kinh viện (các tu sĩ công giáo, vốn là
tầng lớp duy nhất có học thức ở thời đại ấy); đó là aliquid stat pro aliquo
(dấu hiệu là một cái đứng thay ( hay đại diện) cho một cái gì khác Dĩ
Trang 3nhiên, các tu sĩ thời ấy, tuy hiểu đúng nghĩa từ dấu hiệu (signe), và cũng
có thể hiểu rằng ngôn ngữ là một thứ dấu hiệu, nhưng đã không thể rút
từ đấy ra những điều trọng yếu mà Saussure dùng để xây dựng lí thuyết ngôn ngữ học của mình
Ngay khi xây dựng định nghĩa của ngôn ngữ, Saussure cũng đồng
thời nêu rõ cái điều kiện sine qua non (không có không xong) của cái
thực thể kì lạ ấy: Ngôn ngữ chỉ là dấu hiệu đối với người bản ngữ – người hiểu nó và dùng nó – mà thôi, chứ ngoài ra, nó không còn là dấu hiệu đối với ai, đối với cái gì hết Nói cách khác, nó chỉ là dấu hiệu đối với một chủ thể riêng biệt – cộng đồng của những con người hiểu và dùng nó Nếu không có cái cộng đồng này, ngay đến cả sự tồn tại khách quan của nó trên cõi đời cũng không còn nữa
Và đó chính là một đặc trưng kéo theo cả một loạt hệ quả khiến cho ngôn ngữ trở thành một hệ thống khác hẳn những hệ thống gồm những
sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển một cách tự nhiên trong vũ trụ Cũng như những sự kiện nhân văn khác, ngôn ngữ chỉ tồn tại nhờ chủ thể của nó
Nếu đối với các khoa học tự nhiên, đối tượng (hiểu như những vật
cụ thể) vốn đã có sẵn trong vũ trụ, và thường thường khoa học chỉ còn phải tìm cho ra những phương pháp miêu tả thật chính xác tất cả những chân lí đã có sẵn ấy, thì đối với một hệ thống dấu hiệu như ngôn ngữ, đối tượng chỉ bắt đầu nảy sinh khi có người bản ngữ với cái quan điểm hoàn toàn chủ quan của họ
Nếu các khoa học tự nhiên cố tìm cho ra những phương pháp nghiêm ngặt nhất để phản ánh cho thật trung thành sự thật khách quan , và khắc phục, loại trừ cho hết những ảo giác do quan điểm chủ quan đem lại, thì các khoa học nhân văn như ngôn ngữ học lại cần có những phương pháp thật nghiêm ngặt để tìm xem người bản ngữ cảm nhận các sự kiện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa như thế nào bằng cách bỏ qua, hay ít nhất là khắc phục những dữ liệu vật chất như hình thể, âm thanh, và cả không gian và thời gian nữa, vốn là những sự kiện khách quan Vì nếu không, sẽ không sao phát hiện và xác định được sự thật trong ngôn ngữ Ở đây, chính cái mà sinh lí học thị giác và thính giác gọi
là ảo giác hay ảo ảnh mới chính là sự thật khách quan mà người bản ngữ trực tiếp cảm nhận và người làm ngôn ngữ học phải ra sức phát hiện Xin đừng hiểu lầm rằng ngôn ngữ học và các khoa học nhân văn khác là những “khoa học chủ quan” Khoa học, do chính định nghĩa của
nó, chỉ có thể là khách quan Đối tượng khảo sát của nó bao giờ cũng chỉ có thể là chân lí khách quan, độc lập đối với ý thức chủ quan của con người Nhưng trong khoa học nhân văn, cái chân lí khách quan ấy chỉ
Trang 4cĩ thể đạt tới khi người ta biết đứng trên quan điểm của con người sống trong (và bằng) cách cảm nhận chủ quan của nĩ
Và đĩ chính là sự phát hiện vĩ đại nhất của những con người như Saussure, đã cải tạo hồn tồn khoa học ngơn ngữ trong thời đại ta Và
đĩ cũng là cực cấp trầm trọng của sự ngộ nhận khi người ta phê phán ơng là duy tâm vì ơng nĩi rằng “ở đây chính quan điểm tạo ra đối tượng
” Ngày nay, khơng cịn một người nào, dù là duy tâm hay duy vật, lại khơng thừa nhận rằng câu nĩi này của Saussure khơng những hồn tồn đúng đối với ngơn ngữ học, mà cịn hồn tồn đúng đối với bất kì khoa học nào mà đối tượng khảo sát phải được phát hiện thơng qua một thao tác trừu xuất thực sự nhằm gạt ra khỏi tầm quan sát những sự kiện vật chất “khách quan” khơng cĩ tác dụng đối với nhận thức của con người (chẳng hạn như khơng cĩ chức năng làm thay đổi nghĩa của từ ngữ hay của câu nĩi, và do đĩ khơng lọt được vào tầm tri giác của người bản ngữ)
(1) Một số tác giả gọi ngơn ngữ học trước 1957 là “structuralist”, làm như thế bản thân họ khơng cịn coi ngơn ngữ là một hệ thống được cấu trúc hố – ó tout se tient – nữa, mặc dầu họ sử dụng y nguyên tất cả những khái niệm và những phương pháp của ngữ học cấu trúc (trong
đĩ cĩ cả những “thế lưỡng phân” của Saussure được hố trang lại ít nhiều), và những cái mới mà họ đem lại, như các thủ pháp cải biến – trong đĩ các “danh ngữ hố các câu (sentences) ở cấu trúc sâu” chẳng hạn, mà cho đến nay vẫn chưa thể biết rõ là phải trả giá đắt đên chừng nào Hình như trong khi nĩi đến “structuralism”, các tác giả này nghĩ quá nhiều đến những quan điểm chẳng mấy liên quan đến cấu trúc luận của ngơn ngữ học miêu tả, như quan điểm vật lí luận, quan điểm thực chứng luận, quan điểm hành vi luận, quan điểm bỏ qua mặt ngữ nghĩa của ngơn ngữ, là những quan điểm mà họ cực lực phê phán (một cách hồn tồn chính đáng), rồi từ đĩ sổ toẹt luơn cả những nhân tố tích cực của
cấu trúc luận do Saussure đề xướng (cuốn Giáo trình của Saussure mãi
đến thập kỉ 70 mới được dịch ra tiếng Anh)
(2) F de Saussure (1871–1913), mất ngày 22 tháng 02 năm 1913,
tức ba năm trước khi cuốn Giáo trình xuất bản lần đầu (1916).
(3) Cần nĩi rõ rằng các ý nguyện chân thành này của họ khơng hẳn đã được hiện thực hố hồn tồn Về sau, một số tác giả đã lần lượt nêu lên những mệnh đề khơng phản ánh thật chính xác những ý tưởng của Saussure, và mãi về sau này nữa lại cĩ những bản ghi chép khác giúp một số tác giả khác bổ sung và chỉnh lí thêm các tài liệu cũ Tuy vậy,
Trang 5công trình của ba tác giả Thuỵ Sĩ nói trên, kể cho đến nay, dù sao cũng
đã trở thành một cuốn sách kinh điển mà mọi người đã quen coi là văn bản gốc, nghĩa là tạm tin rằng ít nhất nó cũng phản ánh được những ý tưởng chủ đạo của Saussure Cho nên, nói cho cùng, nguyên bản
cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương vẫn là một căn cứ đáng tin cậy
để tìm hiểu học thuyết của F de Saussure
(4) Thuật ngữ này, mà nếu dịch thật sát sẽ là “chủ thể nói năng”, hiện nay ngay ở Pháp cũng không có mấy ai dùng: Nó đã được thay thế
bằng thuật ngữ le locuteur natif , được cấu tạo hoàn toàn đúng với mô hình của tiếng Anh (the native speaker ), khiến cho từ chủ thể khong
còn có mặt nữa, và đó là một điều mà chúng tôi cho là đáng tiếc, vì khái niệm này đặc biệt quan trọng trong những cách định nghĩa tương ứng của các ngành khoa học nhân văn khác
Saussure không phải là người duy nhất tạo ra một hình hệ (paradigm) mới của thời đại cho khoa học nhân văn Cùng với ông còn có nhà logic học tri thức luận A Naville, các nhà xã hội học A Durkheim, nhà phân tâm học S Freud, Trường Gestaltpsychologie của thành Viên, phái nhân học cấu trúc luận của C Lévy-Strauss, đại diện cho những trào lưu ít nhiều có liên quan đến việc đặt lại vấn đề đối tượng loại biệt của khoa học nhân văn, đến nhãn quan chống nguyên tử luận và khách quan chủ nghĩa cơ giới, trong đó có cả những khuynh hướng thực chứng luận như trong ngôn ngữ học hành vi luận của những năm 30– 40
Cái hình ảnh ẩn dụ ví ngôn ngữ với bàn cờ cũng gây nên những ngộ nhận khiến nhiều độc giả hiểu không đúng lí thuyết ngôn ngữ học của Saussure Saussure quan niệm rằng người bản ngữ, cũng giống như người ghé vào xem một ván cờ đang đánh dở, hoàn toàn không biết trước đó hai người đang đánh cờ đã đi những nước gì Và anh ta tuyệt nhiên không cần biết, vì mọi sự đều có mặt trên bàn cờ lúc anh ta đến Nếu là người biết đánh cờ, anh ta hoàn toàn hiểu tình hình hiện tại của thế cờ Nếu là người cao cờ, anh ta còn nghĩ ra được những nước đi còn hay hơn cả người đã đánh từ đầu ván Cái quan trọng không phải là những nước cờ đã đi Cái quan trọng là những mối quan hệ giữa các quân cờ đang ở cái thế hiện tại
Cho nên trong vốn tri thức của người bản ngữ về tiếng mẹ đẻ, một tri thức tuyệt đối và toàn diện, không có và không cần có chút hiểu biết nào
về lịch sử của thứ tiếng này Không hề có cái mà Saussure gọi là ngôn ngữ học lịch đại Nguồn gốc của các từ ngữ, cái gọi là nguyên học, dĩ
Trang 6nhiên là hoàn toàn vắng mặt trong vốn tri thức này Nói cách khác, nó tuyệt nhiên không phải là chuyện ngôn ngữ học May ra người bản ngữ, nếu không học lịch sử tiếng mẹ đẻ, chỉ biết đến “từ nguyên học dân gian
” – một thứ tri thức thường sai lệch, nhưng lại hoàn toàn có thể có tính hiện thực trong vốn tri thức của người bản ngữ bình thường Và đó chính là cái lí do chính đáng của sự phân biệt giữa “ngoại lai đồng đại” trong quan niệm của J Vachek – một đại diện tiêu biểu của Trường Prague
Theo tác giả này, việc người bản ngữ nhờ đọc sách mà biết là trong tiếng mẹ đẻ có những từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài (“ngoại lai lịch đại” – diachronic foreignisms) không quan trọng bằng cái ấn tượng (nhiều khi sai lầm nếu xét theo quan điểm của nhà sử học ngôn ngữ) khiến cho họ cảm thấy một từ ngữ nào đấy có nguồn gốc ngoại quốc (“ngoại lai đồng đại” – synchronic foreignisms), chẳng qua vì nó chứa đựng những yếu tố hay những kiểu kết hợp (ngữ âm hay ngữ pháp chẳng hạn) có vẻ xa lạ với tiếng mẹ đẻ(5)
Tuy vậy, cũng chính các đại diện của trường Prague, vốn khá trung thành với lí thuyết đại cương của Saussure về ngôn ngữ, đưa ra một quan niệm “động” về bình diện đồng đại Họ chứng minh rằng ngay những hiện tượng chuyển biến ngữ âm, mà Saussure coi là những hiện tượng cá biệt và dường như ngẫu nhiên, cũng có tính quy luật, vì có nguyên do trong những sự mất cân bằng xuất hiện trong toàn hệ thống ngay khi có một sự chuyển biến ngữ âm nào đó xảy ra (ngay khi một trong hai đối thủ đánh cờ đi nước đầu tiên khiến cho đối phương bắt đầu
bị uy hiếp) Chính họ đưa ra khái niệm “hiện tượng chuyển biến có tính chất trị liệu” (“therapeutic sound change”) – một thuật ngữ mang đậm màu sắc mục đích luận (teleologic) thường được coi là duy tâm, nhưng cho đến nay vẫn còn là cách tốt nhất (nếu không phải là duy nhất) để cắt nghĩa các hiện tượng chuyển biến ngữ âm
Một sự chuyển biến làm mất thế cân bằng trong hệ thống thường tạo ra một nhu cầu tự nhiên nhằm lập lại thế cân bằng vốn có bằng một
sự chuyển biến khác có tính chất “trị liệu” Rồi sự chuyển biến này, đến lượt nó, lại có thể gây nên một sự mất cân bằng khác cần được “trị liệu”,
và cứ thế mãi cho đến khi ngôn ngữ kia chết hẳn và vĩnh viễn không còn chuyển biến nữa
Những minh hoạ có thể dùng cho lí thuyết này có thể dễ dàng tìm thấy trong lịch sử của bất kì ngôn ngữ nào
N Chomsky, người có chí hướng đẩy lùi Saussure cùng với cấu trúc luận vào dĩ vãng và thay thế hệ hình cũ, mà ông cho là đã lỗi thời,
Trang 7của nó qua một cuộc cách mạng thứ hai, tôn vinh chủ nghĩa hình thức của Ngữ pháp Tạo sinh (Generative Grammar) và Cải biến (Transformational) cũng có hoài bão giải thích các sự kiện ngôn ngữ bằng bình diện lịch đại Sau đây là một trong những luận chứng có đủ sức thuyết phục, lấy từ một sự kiện ngôn ngữ do chính ông dẫn ra
Trong tiếng Anh, có hai tù hoàn toàn đồng âm với nhau là rite (nghi
lễ) và right (đúng hay quyền ) Nhưng trong cấc từ phái sinh, ta
thấy rite được phái sinh thành ritual [‘ritjuəl] còn right thì lại được phái sinh thành righteous [‘raitʃəs] Làm sao cắt nghĩa được sự khác nhau
giữa hai hình thái phái sinh này, nhất là giữa hai nguyên âm của căn tố, vốn cùng là [rait]? Chomsky cho rằng cách duy nhất có thể giải quyết được vấn đề này là viện đến nguồn gốc lịch sử của hai từ căn đồng âm, vốn hoàn toàn khác nhau: một bên có căn tố [ri:t] của tiếng Roman một bên lại là căn tố [rixt] của tiếng German Vậy một cách phiên âm hình-âm-vị học – cách phiên âm duy nhất được Chomsky thừa nhận là hợp lí
(6) – tất nhiên đòi hỏi việc tái lập sự có mặt của một phụ âm /x/ sau nguyên âm /i/ và trước phụ âm /t/, mặc dầu trong tiếng Anh hiện đại phụ
âm /x/ không những không có mặt trong từ này, mà cũng tuyệt nhiên không hề có mặt trong hệ thống phụ âm của ngôn ngữ này, dù chỉ với tư cách biến thế [O] của một âm vị nào đó
Trên kia tôi có nói rằng cách giải quyết vấn đề ‘RITE – RIGHT’ của Chomsky “có đủ sức thuyết phục” – đó là xét trên quan điểm của người đọc bình thường không đi theo Saussure một cách nhất quán Còn đối với chính Saussure thì không thể nói như thế được Vì người bản ngữ tuyệt nhiên không thể nào hình dung được sự có mặt của một âm /x/
trong từ righteous hay ở bất cứ chỗ nào khác, vì một lí do đơn giản là
trong tiếng mẹ đẻ của họ không hề có âm này(7)
Saussure cắt đồng đại và lịch đại ra làm hai lát quá phân lập đối với nhau Hình như ông quên mất rằng một đời người bản ngữ có thấy trải qua mấy “ngữ trạng” (états de langue – thuật ngữ của chính ông) khác nhau, nếu xét về phương diện từ vựng như đa số các nhà ngữ học không được học với ông vẫn làm Thật ra, nếu phân chia “ngữ trạng” theo quan điểm từ vựng, chứ không theo quan điểm ngữ pháp vốn là bình diện của những sự kiện có tính “hệ thống” chặt chẽ nhất, ông sẽ thấy rằng một thế hệ người bản ngữ có thể chứng kiến vài ba “ngữ trạng” khác nhau với những vốn từ khác nhau đến mức đủ để họ có thể nhận thức được sự phân biệt giữa những lớp từ “hiện đại” mà thế hệ của bản thân họ đang dùng, và những lớp “từ mới đặt” mà chỉ có thế hệ
vị thành niên bắt đầu dùng
Trang 8Nhưng ngay cả ở đây nữa, những tri thức do ơng truyền giảng lần đầu cũng giúp người làm ngơn ngữ học tránh được những sự ngộ nhận tày trời Ở nước ta khá nhiều nhà ngữ học khơng hiểu rằng khi định nghĩa “từ ngữ cổ” (archạsmes) “là những từ ngữ biểu thị những sự vật
khơng cịn tồn tại trong thời đại ta nữa, như “khủng long, vua, chúa,
quan lại, ngai vàng, ơng trạng, bà mai ” v.v., họ khơng giây phút nào dè
rằng mình đang nĩi những chuyện khơng cĩ chút gì dính dáng đến ngơn ngữ học Trong những từ ngữ mà họ kể ra trên đây, khơng cĩ từ ngữ nào “cổ” cả, vì đĩ là những từ ngữ rất thơng dụng trong tiếng Việt hiện đại (của thế kỉ XXI) mà người Việt đang dùng hàng ngày Chỉ cĩ những
từ ngữ nào khơng cịn được người Việt trưởng thành dùng nữa vì đã được thay bằng những từ ngữ khác thơng dụng hơn, và chỉ cĩ các ơng già bà cả cịn dùng, thì mới bị họ cảm thấy “cổ” Đĩ là những từ ngữ
như nhà dây thép (bây giờ là nhà bưu điện ), kho bạc (bây giờ là ngân
khố hay ngân hàng ), thảo hài (bây giờ là giày cỏ ), tiềm thuỷ đình (bây
giờ là tàu ngầm ), thiếp (bây giờ là em ) Những từ ngữ cổ này chính là nhờ sự đối lập với những từ ngữ “khơng cổ” mà cĩ được cái giá
trị phong cách học đặc thù của nĩ, một phong vị riêng cĩ phần khĩ tả
(trong sách của Saussure hai chữ giá trị (valeur) cĩ một ý nghĩa cực kì
quan trọng, phản ánh rất chính xác quan niệm về cấu trúc ngơn ngữ của ơng(8)
Ngay như các từ ngữ thường gọi là “Hán Việt”, ngồi cái nghĩa biểu hiện của nĩ ra, cũng cĩ một phong vị riêng mà cả từ ngữ “thuần Việt” (từ ngữ “Nơm”) lẫn từ ngữ thuần Hán (như khi được người Hán dùng trong
tiếng nĩi thường ngày của họ) đều khơng cĩ Một từ ngữ như phụ nữ ha
y thảo hài trong tiếng Hán khơng bao giờ cĩ cái phong vị đặc thù như khi
được dùng trong tiếng Việt Cái phong vị ấy là nhờ cái thế đối lập với “từ ngữ thuần Việt” mà cĩ được Chính đây là một bằng chứng khơng cĩ cách gì chối cãi cho thấy rõ rằng những từ ngữ đĩ đã gia nhập hồn tồn vào vốn từ vựng chính thống của tiếng Việt, về nghĩa biểu hiện
cũng như về phong cách học, vì trong tiếng Việt nĩ đã cĩ được một giá
trị hồn tồn khác: giá trị của mọt từ thuần Việt.
Chính nhờ những suy nghĩ sâu sắc về khái niệm giá trị trong ngơn
ngữ mà Saussure đã hiểu ra được cái cơ chế đưa đến sự hình thành của mối quan hệ giữa năng biểu và sở biểu được xác lập qua một quá trình ước định khơng tự giác khá kì diệu mà C.S Peirce gọi
là semiosis (“sự thiết hiệu ”), và vạch rõ sự ngộ nhận khá phổ biến trong giới ngơn ngữ đi trước ơng, mà cĩ người gọi là the nomenclature
fallacy – tức sự ngộ nhận tưởng rằng vũ trụ đã được chia sẵn ra thành
từng sự vật riêng rẽ, và con người chỉ cịn cĩ việc đặt cho mối cái một tên gọi là ta cĩ được một hệ thống từ vựng Chính ơng đã nĩi lên được
Trang 9cái tình hình mù mịt của thế giới khách quan (hay, nói cho đúng hơn, của cách con người nhận thức nó trước khi biết dùng ngôn ngữ), và chính sự ra đời của ngôn ngữ đã phân chia thế giới ra thành những khái niệm tương ứng với những cách đặt tên bằng những “âm hình” khác nhau Chính vì vậy mà việc đặt tên cho sự vật cũng là việc khái niệm hoá thế giới (conceptualisation), tức phân chia thế giới ra thành những khái niệm ngay khi đặt ra những cái tên ấy Và cũng chính vì vậy mà ít khi có sự tương ứng một đối một trong vốn từ vựng của hai thứ tiếng khác nhau Việc quan sát sự không tương ứng một cách hết sức đa dạng giữa các hệ thống từ vựng mà các cách khái niệm hoá thế giới đã đưa Saussure đến chỗ kết luận rằng mối quan hệ giữa năng biểu và sở biểu là hoàn toàn võ đoán
Không phải Saussure không biết đến các từ mô phỏng (“tượng thanh” và “tượng hình”) hay đến các thán từ, vốn là những tiếng kêu thường không tự giác có nguyên do gần như hoàn toàn tự nhiên Nhưng số lượng của những từ ấy quá ít ỏi so với số lượng các đơn vị từ vựng phù hợp với nguyên lí chung, và ngay trong những từ mô phỏng tự nhiên một cách trung thành nhất và những thán từ thốt ra một cách vô thức nhất cũng không phải có một phần võ đoán nhất định(9) , vả lại ông cũng có đủ lí do để nghĩ rằng chính tính hệ thống của ngôn ngữ và của các hệ thống dấu hiệu nói chung đều nhất thiết yêu cầu một quan hệ
“không có nguyên do” như vậy
Nhưng trong mọi cộng đồng ngôn ngữ, người bản ngữ thường có xu hướng nghĩ rằng (hay có cảm giác là) các từ ngữ ít nhiều đều có tính mô
phỏng (có tính hình hiệu – iconicity , theo thuật ngữ của C.S Peirce).
Âm thanh của các từ ngữ thường dễ gợi lên trong lòng họ những ấn tượng, những cảm giác, những hình ảnh (thị giác hay thính giác) khá rõ khiến cho họ có xu hướng nghĩ rằng cái tên mà tiếng mẹ đẻ của họ đặt cho vật này hay vật kia không những hoàn toàn có lí mà còn là duy nhất
có lí, lại rất gợi cảm, và trong thơ ca, những ấn tượng này có thể được nhân lên gấp bội(10)
Vậy thì liệu cái xu hướng tâm lí này của người bản ngữ có nằm trong lĩnh vực đối tượng của ngôn ngữ học không? Câu trả lời của Saussure (và một số lớn các nhà ngữ học châu Âu) là “không”, nhưng
câu trả lời của R Jakobson – người đã quan tâm đặc biệt đến chức
năng thi ca của ngôn ngữ – và một số lớn các nhà ngôn ngữ học Mĩ lại
là “có” Những sách vở viết về tính hình hiệu (iconicity) của ngôn ngữ được xuất bản ở Mĩ trong vài mươi năm trở lại đây đã khá nhiều, khá hay và khá bổ ích Về khía cạnh này, hình như xu hướng tin vào cảm thức chủ quan của người bản ngữ ở các tác giả Mĩ mạnh hơn ở
Trang 10Saussure và các tác giả châu Âu(11) Dù sao đây cũng là một vấn đề cần được suy ngẫm thêm một khi chính Saussure khẳng định quan điểm của người bản ngữ như một nhân tố quyết định
(5) Trong thời kì “sơ tán” (1965–1970), chúng tôi có hỏi thử các em trước tuổi đi học xem chúng có cảm nhận những từ ngữ mà chúng thường dùng xem từ ngữ nào là từ ngữ Việt Nam và từ ngữ nào là từ
ngữ “Liên Xô” Sau đây là một vài kết quả: đèn pin, pa-tê, noãn sào,
xi-nê, lồ ô là tiếng Liên Xô, còn cà phê, lập lắc, búp bê, dưa hấu, đèn cù là
tiếng Việt Nam
(6) Chomsky vốn kiên quyết phủ nhận sự tồn tại khách quan và tính hiện thực tâm lí của một bình diện âm vị học độc lập (autonomous phonology) Theo ông, chỉ có hình-âm-vị học (morpho-(pho)nology) làm thành một bình diện thực sự quan yếu của ngôn ngữ Quan niệm này, xét trên nhiều phương diện, nhất là khi chú ý đến cách làm ăn a priori của âm vị học tuyến tính, là hoàn toàn có lí
(7) Trong trường hợp này, trên quan điểm của người bản ngữ (không biết đến bình diện lịch đại) chỉ còn cách viện đến một giải pháp có phần
ad hoc, nói rằng trong điều kiện /i:/ mang trọng âm, có những từ vị dùng biến thể [ai] và có những vị từ khác dùng biến thể [i:] (cf politeness và police)
(8) Cf trong nguyên bản của Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, ta có: “Trong ngôn ngữ chỉ có những sự phân biệt mà thôi Hơn nữa, một
sự phân biệt nói chung thường là phân biệt giữa những yếu tố tích cực; nhưng trong ngôn ngữ thì chỉ có những sự phân biệt thuần tuý mà thôi, không có cái gì làm thành vế tích cực cả” (tr 221)
(9) Một từ như mèo trong tiếng Việt rõ ràng là một từ mô phỏng tiếng
kêu của con mèo Nhưng nếu nó chỉ bắt chước cho giống tiếng mèo kêu
mà thôi thì người Việt sẽ tha hồ chọn giữa bốn năm tiếng meo, méo,
mẻo, mẽo, mẹo (hay ngoao, miêu, mão ) để đặt tên cho con mèo; đằng
này, tiếng Việt (chuẩn) chọn đúng tiếng mèo và chỉ một tiếng ấy mà thôi;
ai nói khác đi thì người nghe sẽ không hiểu được nữa, hay ít nhất là cảm thấy rất lạ tai Sự lựa chọn này hoàn toàn võ đoán Và ngay các thán từ cũng không hề y hệ như nhau trong mọi thứ tiếng
(10) Cf R Jakobson. À la recherche de l’ssence du langage.
(11) Viết đến đây, tôi thấy không thể không nhắc đến những nhận xét của một tác giả suốt đời quan sát cặn kẽ từng chi tiết trong lời ăn tiếng