Bệnh SXHD có dấu hiệu ảnh báo có thể gặp ở mọi lứa tuổi, với các biểu hiện lâm sàng đa dạng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu SXHD có dấu hiệu cảnh báo trên bệnh nhân ngƣời lớn (thấp nhất là 18 tuổi, cao nhất là 78 tuổi) và kết quả cho thấy nhóm tuổi hay gặp nhất ở nhóm tuổi 25 – < 40 tuổ (37,4%), tiếp đến là nhóm tuổi ≥ 50tuổi (32,7%), nhóm tuổi 40 – < 50 tuổi (17,8%), và ít gặp nhóm tuổi 18 - < 25 tuổi (12,1%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các kết quả nghiên cứu trƣớc đây. Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thúy [21] tuổi trung bình là 28,95 ± 10,37 hay gặp nhất từ 20 - 29 chiếm 47,5%, tiếp theo là nhóm tuổi 30 - 39 chiếm 23,7%. Kết quả này của chúng tôi tƣơng tự với kết của Trần Khắc Điền nghiên cứu tại viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia và bệnh viện Bạch Mai cho thấy nhóm tuổi 16 – 30 chỉ chiếm 42,8%, nhóm 31 – 45 tuổi chiếm tỷ lệ 34,5%, nhóm tuổi >45 chiếm tỷ lệ 22,7%. [14]. Theo ý kiến của chúng tôi sự khác nhau về tuổi mắc có liên quan với mức độ nặng của tùy vụ dịch, mức độ lƣu hành bệnh của từng vùng cũng nhƣ các phƣơng pháp nghiên cứu. 4.1.2. Về giới: Ở nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy SXHD có dấu hiệu cảnh báo gặp nữ giới (56%) nhiều hơn nam giới (44%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phù hợp với kết quả của Đoàn Hồng Liên nữ gặp nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ: nam là 1,6/1 [19]. Nhƣng kết quả này khác so với kết quả của Trần Khắc Điền (nam 58,9%, nữ 41,1%) [14]. Điều này cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ có thể thay đổi theo từng khu vực, mùa vụ. 4.1.2. Các tháng mắc sốt xuất huyết. Trong nhóm hồ sơ bệnh án nghiên cứu, tháng có ngƣời bệnh mắc bệnh là các đầu năm và các tháng cuối năm, trong đó số ngƣời bệnh mắc nhiều nhất tháng 11 chiếm tỷ lệ cao có 79 ngƣời, chiếm tỷ lệ 73,8%, 22 ngƣời mắc bệnh vào tháng 12, chiếm tỷ lệ 20,65, tháng 1có 6 ngƣời mắc, chiếm tỷ lệ 5,6%. Kết quả này phù hợp với thực tế sốt xuất huyết thƣờng gây thành dịch vào các tháng mùa mƣa.
Lịch sử bệnh SXHD
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) được biết đến từ rất sớm trong lịch sử và được mô tả lần đầu trong Bách khoa toàn thư về triệu chứng của Trung Quốc, thời đại Chin (AD 265–420) là bệnh “Nước độc” do côn trùng bay gần nước truyền bệnh Năm 1635, một vụ dịch giống SXHD đã bùng phát và được ghi nhận tại Tây Ấn Độ thuộc Pháp Trong những năm từ 1778–1780, sự xuất hiện gần như đồng thời của các vụ dịch ở ba lục địa: Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ đã chứng tỏ virus gây bệnh cũng như vectơ truyền bệnh phân bố rộng rãi trên toàn thế giới Đến năm 1935, SXHD xuất hiện tại Manila, Philippines Sau chiến tranh thế giới thứ II, một đại dịch đã xuất hiện ở Đông Nam Á và từ đó lan rộng trên toàn cầu.
Tháng 5 năm 1945 Alber Sabin đã phân lập đƣợc virus DEN-1 và DEN-2 từ những binh lính bị ốm tại Calcuta (Ấn Độ), New Guinea, Hawaii Năm 1956, William Mc Hammon và cộng sự đã phân lập đƣợc 2 chủng virus tiếp đó là DEN-3 va DEN-4 từ những trẻ em bị bệnh sốt xuất huyết tại vụ dịch ở Manila năm 1956 [4]
Những năm gần đây, nhờ sự phát triển của giao thông vận tải và tốc độ đô thị hóa, tỉ lệ mắc sốt xuất huyết (SXHD) có xu hướng tăng lên đáng kể Trong giai đoạn 1953–1960, SXHD tái xuất hiện tại Philippines và nhanh chóng lan rộng đến nhiều nước Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore và Việt Nam Sau đó, bệnh được ghi nhận trên phạm vi toàn cầu với chu kỳ dịch ngắn hơn, thậm chí gây dịch hàng năm ở nhiều quốc gia và có xu hướng lan rộng sang các khu vực mới, với các đợt bùng phát lớn diễn ra cứ khoảng 3–5 năm một lần.
Trong những năm gần đây, bệnh SXHD (sốt xuất huyết Dengue) đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu Sự lan rộng về địa lý của cả vector truyền bệnh là muỗi và của virus đã dẫn đến SXHD xuất hiện ở cả những vùng có mật độ dân cư thưa thớt hơn, cho thấy mức độ lan truyền của dịch và thách thức đối với công tác phòng chống dịch ở nhiều khu vực [1],[6].
Dịch tễ học
Hình 1 1 Hình ảnh Virus Dengue
Virus Dengue thuộc nhóm Flavivirus, họ Flaviridae, loài Arbor virus.Virus Dengue hình cầu, đường kính 35 – 50nm, đối xứng hình khối, chứa 1 sợi ARN
Virus Dengue có 4 typ huyết thanh: DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4
Hiện tượng ngưng kết chéo giữa các typ huyết thanh của virus Dengue có thể xảy ra Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, virus Dengue đã lưu hành ở cả bốn typ, nhưng typ Dengue 2 là phổ biến nhất.
Virus Dengue có mặt trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt Kháng nguyên của virus Dengue được tìm thấy ở đại thực bào và ở nhiều cơ quan như phổi, lách, tuyến ức, cũng như ở tế bào Kupffer trong gan và tế bào monocyt ở máu ngoại biên.
Hình 1 2 Sơ đồ lây truyền bệnh SXHD
“Nguồn Bộ môn truyền nhiễm 2011” [7]
Trong chuỗi dịch tễ học của SXHD (sốt xuất huyết dengue), nguồn bệnh gồm người và động vật linh trưởng, nhưng chỉ có con người mới biểu hiện triệu chứng lâm sàng Côn trùng trung gian chính truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti, đóng vai trò chủ đạo trong quá trình lây lan của SXHD Nhận diện đúng nguồn bệnh và vector là nền tảng để thực hiện các biện pháp dự phòng và kiểm soát dịch hiệu quả.
Sau khi hút máu nhiễm virus Dengue từ 8 đến 11 ngày, có thể dài hơn tùy theo lượng virus và nhiệt độ môi trường, muỗi Aedes aegypti có thể lây truyền bệnh cho người qua vết đốt Virus dengue được truyền sang người chủ yếu qua muỗi nhiễm bệnh thuộc loài Aedes aegypti Nếu không có cơ hội truyền bệnh, virus tiếp tục phát triển trong ống tiêu hóa và tuyến nước bọt của muỗi và chờ dịp truyền sang người khác.
Muỗi Aedes aegypti phân bố khắp thế giới, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Muỗi đẻ trứng, sau đó trứng phát triển thành bọ gậy, bọ gậy thường sống trong các dụng cụ chứa nước gia đình hoặc ngoài trời như rãnh nước và ao hồ Mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa, điều này đồng nghĩa với việc trong môi trường tự nhiên, con người là nguồn di chuyển virus Dengue ra cộng đồng [1],[7].
1.2.3.1 Tình hình dịch SXHD trên thế giới
Theo thông báo của TCYTTG, bệnh SXHD hiện đã trở thành dịch tại hơn 100 quốc gia và lãnh thổ, tập trung chủ yếu ở các vùng nhiệt đới như châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, trừ các nước ở lục địa châu Âu.
Hình 1 3 Tình hình sốt xuất huyết Dengue 2010
“Nguồn Thư viện pháp luật.vn.2020 Quyết định 458/QĐ-BYT” [5]
Hiện nay, khu vực châu Á Thái Bình Dương được ghi nhận là khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất của bệnh SXHD Theo TCYTTG, riêng tại khu vực này có khoảng 1,8 tỷ người sống trong vùng dịch tễ của SXHD, chiếm 70% dân số có nguy cơ nhiễm SXHD trên toàn cầu Khu vực này gánh chịu 75% gánh nặng SXHD trên toàn thế giới.
Trong giai đoạn từ 2001 – 2008 đã có 1.020.333 ca bệnh đƣợc báo cáo tại 4 nước trong khu vực là: Campuchia, Malaysia, Philippin và Việt Nam Theo báo cáo chính thức của 4 quốc gia này, số người tử vong tổng cộng là 4.789, tỷ lệ tử vong là 0,47% So sánh giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á, số lượng các trường hợp mắc và tử vong cao nhất tại Campuchia và Việt Nam Năm 2010, SXHD bùng phát ở nhiều nước trong khu vực, diễn biến phức tạp khó kiểm soát nhất tại Thái Lan, Malaysia, Lào, Indonesia, Ân Độ [1]
1.2.3.2 Tình hình SXHD tại Việt Nam
Năm 1958, lần đầu tiên bệnh SXHD được Chu Văn Tường và cộng sự đã mô tả trên 68 bệnh nhi tại phía Bắc Việt Nam [13],[25] Ở miền Nam, vụ dịch đầu tiên đƣợc ghi nhận xảy ra từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1960 tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang với 60 ca bệnh Cũng trong năm đó một vụ dịch sốt dengue cổ điển rất lớn bùng ra ở miền Bắc, bắt đầu từ Hà Nội sau lan ra 29 tỉnh miền Bắc Năm 1998, trên toàn quốc bùng nổ vụ dịch lớn, số mắc bệnh và tử vong cao (mắc: 234.920 người, tử vong 377) (số liệu của Viện VSDT) Những năm gần đây, bệnh SXHD đã lan rộng trên toàn quốc và trở thành dịch hàng năm Năm 2011, cả nước có 69.878 trường hợp mắc, 61 trường hợp tử vong Năm 2012 cả nước ghi nhận 87.202 trường hợp mắc, 79 trường hợp tử vong So với trung bình giai đoạn 5 năm 2006-2010 tỷ lệ mắc /100.000 dân giảm 24,1%; tỷ lệ chết/100.000 dân giảm 23,3% [2]
Ở Việt Nam, SXHD phát triển theo mùa và có sự khác biệt giữa các miền: ở miền Bắc dịch bệnh thường bùng phát mạnh từ tháng 6 đến tháng 11, sau đó bị gián đoạn bởi mùa đông lạnh; ở miền Nam và miền Trung xuất hiện quanh năm, đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long thường là điểm nóng của các đợt dịch SXHD.
Cơ chế bệnh sinh
Hiện tượng phá hủy tế bào xương có thể gây giảm bạch cầu và tiểu cầu Sự phá hủy tuỷ xương do virus Dengue được cho là liên quan đến các biểu hiện đau xương và đau khớp ở người bệnh Hiểu rõ cơ chế này giúp giải thích tại sao Dengue có thể đi kèm với các triệu chứng huyết học và đau xương khớp.
Hiện tượng tăng tính thấm thành mạch trong SXHD dẫn tới thoát huyết tương và gây tràn dịch trên lâm sàng, thể hiện bằng phù và các triệu chứng liên quan Sự gia tăng tính thấm mạch khiến dịch thoát ra khỏi lòng mạch, làm mất cân bằng chất lỏng giữa máu và mô và phản ánh mức độ tổn thương thành mạch Nhận diện sớm hiện tượng này là cơ sở để chẩn đoán, đánh giá mức độ nặng của bệnh và định hướng điều trị thích hợp.
Rối loạn đông máu là tình trạng liên quan đến giảm tiểu cầu và rối loạn các yếu tố đông máu Các yếu tố đông máu bị rối loạn bao gồm thời gian prothrombin kéo dài, nồng độ fibrinogen giảm và giảm yếu tố đông máu II.
V, X và tăng nồng độ enzyme của gan
1.3.2 Một số giả thiết giải thích cơ chế bệnh sinh của SXHD
Một số giả thuyết giải thích cơ chế bệnh sinh của SXHD đã được thừa nhận, trong đó giả thuyết của Hammon cho rằng bệnh xảy ra khi cơ thể nhiễm đồng thời hai loại huyết thanh khác nhau của virus Dengue, và giả thuyết về chủng virus có động lực mạnh của Leon Rose [7] cho rằng một chủng virus có độc lực cao và khả năng lây truyền mạnh có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình bệnh sinh.
Đặc điểm lâm sàng
Bệnh biểu hiện cấp tính với sốt cao đột ngột, liên tục, kéo dài từ 2 đến
Trong 7 ngày đầu, sốt lên tới 39–40°C đi kèm da xung huyết và nổi ban hồng trên da Các biểu hiện của nhiễm virus phổ biến bao gồm mệt mỏi, chán ăn, đau đầu, đau nhức cơ – khớp và đặc biệt đau nhức ở hố mắt Một số bệnh nhân có viêm họng hoặc viêm kết mạc Những triệu chứng này không đặc hiệu, khiến việc phân biệt sốt xuất huyết với sốt do các virus khác gặp khó khăn.
Trong sốt kéo dài, từ ngày thứ 3 của sốt hầu hết bệnh nhân xuất hiện các biểu hiện của xuất huyết, gồm xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc và ở mức độ nặng hơn là xuất huyết nội tạng; những dấu hiệu này cho thấy sự tiến triển của bệnh và cần được đánh giá y tế khẩn cấp để quản lý và điều trị.
Khám lâm sàng ở giai đoạn này cho thấy gan to và hiện tượng thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, với các mức độ biểu hiện khác nhau như phù mi mắt, phù mô kẽ, tràn dịch màng phổi và tràn dịch màng bụng.
Thoát huyết tương nặng có thể gây sốc do cô đặc máu, thể hiện bằng da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ và huyết áp tụt hoặc không đo được Trong các trường hợp nặng, có thể xuất hiện suy tạng như viêm gan nặng hoặc viêm não.
Tiến triển của bệnh SXHD
Hình 1 4 Tiến triển của bệnh SXHD [5]
“Nguồn Thư viện pháp luật.vn.2020 Quyết định 458/QĐ-BYT” [5]
1.4.1 Phân độ lâm sàng SXHD:
SXHD đƣợc chia làm 3 mức độ theo WHO năm 2009 [1]: a Sốt xuất huyết Dengue:
- Sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 – 7 ngày và có ít nhất hai trong các dấu hiệu sau:
+ Có biểu hiện xuất huyết như: nghiệm pháp dây thắt dương tính, xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam
+ Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn
+ Da xung huyết, phát ban
+ Đau cơ, khớp, nhức 2 hố mắt
+ Cận lâm sàng: Hematocrit bình thường Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm Số lượng bạch cầu giảm b SXHD có dấu hiệu cảnh báo:
Bao gồm các triệu chứng lâm sàng của SXHD và có kèm theo 1 hoặc nhiều dấu hiệu cảnh báo sau:
+ Vật vã, lừ dừ, li bì
+ Đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan
Xét nghiệm máu cho thấy hematocrit tăng cao và số lượng tiểu cầu giảm đột ngột Nếu người bệnh có những dấu hiệu này, nguy cơ chuyển sang SXHD nặng là rất cao và cần được theo dõi sát mạch, huyết áp, lượng nước tiểu cùng với hematocrit và số lượng tiểu cầu để có chỉ định truyền dịch kịp thời Trong trường hợp SXHD nặng, việc theo dõi và xử trí nhanh chóng là cần thiết để ổn định tình trạng và ngăn ngừa biến chứng.
Khi bệnh nhân có 1 trong những biểu hiện sau:
Sốc tuần hoàn cấp (SXHD) là tình trạng suy tuần hoàn cấp tính đòi hỏi cấp cứu Biểu hiện gồm vật vã hoặc bứt rứt, li bì; lạnh đầu chi và da lạnh ẩm; mạch nhanh, nhỏ; huyết áp tụt hoặc không đo được với hiệu số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg; tiểu ít.
- Xuất huyết nặng: chảy máu cam nặng,rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng
+ Suy gan cấp: men gan AST, ALT ≥ 1000U/L
+ Suy thận cấp: creatinin ≥ 120 umol/l
+ Viêm cơ tim, suy tim hoặc tổn thương các cơ quan khác
Các xét nghiệm cơ bản [1][7]:
HCT tăng cho thấy máu cô đặc và thoát huyết tương có thể gặp ở hầu hết các trường hợp, thường xuất hiện sớm Đây là dấu hiệu cảnh báo sốc dù huyết áp và mạch vẫn chưa thay đổi, và các biến đổi có thể xảy ra sau khi truyền dịch.
- Tiểu cầu: số lượng tiểu cầu thường giảm, từ sau ngày thứ 2 của bệnh có thể giảm 39,1độ
- Triệu chứng toàn thân: thu thập thông tin từ phiếu chăm sóc điều dƣỡng: Đau đầu, đau khớp, nôn- mệt mỏi, đau bụng, tiêu chảy, gan to
- Dấu hiệu cảnh báo : chia thành : Chấm xuất huyết trên da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, nôn máu- ỉa phân đen, kinh nguyệt sớm hoặc kéo dài
2.3.3.2 Biến số phụ thuộc và tiêu chí đánh giá
Tiêu chí đánh giá kết quả chăm sóc điều dƣỡng gồm 3 nhóm hoạt động:
- Chăm sóc khi sốt: 5 mục (nới rộng quần áo, chườm, hạ sốt, bù dịch, theo dõi nhiệt độ)
Chăm sóc khi xuất huyết đòi hỏi một góc nhìn chăm sóc 10 mục trọng yếu: theo dõi toàn trạng để nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường; theo dõi hô hấp và tư thế để đảm bảo thông khí tối ưu và tư thế phù hợp; theo dõi mạch – huyết áp để đánh giá tình trạng tuần hoàn; chăm sóc răng miệng và dinh dưỡng để hỗ trợ quá trình hồi phục; quản lý truyền dịch/máu nhằm duy trì thể trạng và lưu lượng tuần hoàn; chú ý vị trí tiêm để phòng tránh biến chứng và tổn thương; quan sát nước tiểu để đánh giá chức năng thận và mức độ hydrat hóa; và theo dõi thuốc – xét nghiệm để điều chỉnh điều trị và cân bằng kết quả xét nghiệm.
- Tƣ vấn – giáo dục sức khỏe: 5 mục (nghỉ ngơi, dinh dƣỡng, uống nước, theo dõi xuất huyết, phòng bệnh)
- Cách tính điểm cho mỗi mục:
- Mỗi nhóm hoạt động đƣợc đánh giá “kết quả tốt” khi đạt ≥ 80% tổng số điểm, “chƣa tốt” khi đạt < 80% tổng số điểm
- Tổng điểm tối đa kết quả chăm sóc 20 điểm
+ Kết quả chăm sóc tốt ≥ 16 điểm (đảm bảo ≥ 80%)
+ Kết quả chăm sóc chƣa tốt < 16 điểm
Căn cứ quyết định số 6858/QĐ-BYT ngày 18/11/2016 của Bộ Y tế - Bộ tiêu chí chất lƣợng bệnh viện Việt Nam (phiên bản 2.0) [16]
2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.3.4.1 Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng phiếu thu thập số liệu đƣợc thiết kế sẵn, gồm các mục: thông tin hành chính, đặc điểm lâm sàng, kết quả chăm sóc điều dƣỡng
Dữ liệu đƣợc lấy từ phiếu chăm sóc điều dƣỡng, phiếu chỉ số sinh tồn, phiếu điều trị, và tóm tắt bệnh án
Công cụ đƣợc xây dựng dựa trên hồ sơ bệnh án nội trú theo Thông tư
31/2021/TT-BYT và các tài liệu hướng dẫn quy trình chăm sóc điều dưỡng hiện hành [15]
2.3.4.2 Phương pháp tổ chức thu thập số liệu
Bước 1: Thống kê toàn bộ hồ sơ bệnh án người bệnh được chẩn đoán SXHD có dấu hiệu cảnh báo điều trị tại khoa Bệnh Nhiệt đới năm 2024
Bước 2: Lựa chọn hồ sơ bệnh án đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Bước 3: Điều dưỡng nghiên cứu tiến hành trích thông tin theo phiếu thu thập
Bước 4: Tổng hợp, mã hóa và nhập dữ liệu để phân tích.
Xử lý số liệu
Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo các phương pháp thống kê y học
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để thống kê và xử lý
2.5 Sai số và biện pháp khắc phục
Nghiên cứu có thể chịu ảnh hưởng của sai số chọn mẫu, sai số thu thập và sai số nhập liệu Các sai số này có thể được hạn chế bằng cách lựa chọn đối tượng theo tiêu chuẩn rõ ràng, sử dụng phiếu thu thập dữ liệu thống nhất và thực hiện kiểm tra chéo dữ liệu trước khi phân tích.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã nhận được sự đồng ý của Ban lãnh đạo Bệnh viện Bãi Cháy và lãnh đạo Khoa Bệnh nhiệt đới, và được triển khai sau khi Hội đồng Đề cương nghiên cứu khoa học phê duyệt.
- Các thông tin của từng đối tƣợng nghiên cứu, các cán bộ y tế liên quan đều đƣợc ấn danh và giữ bí mật
Kết quả nghiên cứu được báo cáo trước Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Bệnh viện Bãi Cháy sau khi kết thúc quá trình nghiên cứu Báo cáo trình bày toàn diện các kết quả chính, phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu và đóng góp của nghiên cứu đối với hoạt động chuyên môn tại bệnh viện Hội đồng nghiệm thu sẽ đánh giá tính đầy đủ, độ tin cậy của kết quả và tính khả thi của các đề xuất áp dụng vào thực tiễn, đồng thời đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng khoa học và công nghệ của bệnh viện.
Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo
Bảng 3 1 Phân bố SXHD (có dấu hiệu cảnh báo) theo tuổi (n7)
Nhóm tuổi Số lƣợng (n 7) Tỷ lệ (%)
Nhận xét : Nhiễm viruts Dengue gặp ở mọi lứa tuổi, hay gặp ở nhóm tuổi 25 – < 40 tuổ (37,4%), ít gặp nhóm tuổi 18 - < 25 tuổi (12,15
Hình 3 1 Phân bố SXHD (có dấu hiệu cảnh báo) theo tháng trong năm
Nhận xét: Tỷ lệ nữ giới chiếm 56% và nam giới chiếm 44%, nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới
Hình 3 2 Phân bố SXHD theo khu vực sinh sống (n7)
Nhận xét : Tỷ lệ số người sống ở thành thị (71%) mắc cao hơn người sống ở khu vực nông thôn (29%)
Phân bố SXHD theo giới
Hình 3 3 Phân bố mắc xuất huyết ở các tháng trong năm (n = 107) Nhận xét: Người mắc bệnh vào tháng 11, chiếm tỷ lệ 73,8%, chiếm tỷ lệ 20,65%, tháng 1, chiếm tỷ lệ 5,6%.
Đặc điểm lâm sàng bệnh SXHD có dấu hiệu cảnh báo
Mức độ sốt Số lƣợng (n = 107) Tỷ lệ (%)
Nhận xét : Triệu chứng sốt rất cao chiếm tỷ lệ cao nhất 47,7%, sốt cao chiếm 43%, ít gặp người bệnh sốt nhẹ chiếm 9,3%
Phân bố mắc SXHD theo các tháng
Hình 3 4 Đặc điểm triệu chứng toàn thân SXHD có dấu hiệu cảnh báo
Nhận xét : Triệu chứng đau đầu (98,1%), tiếp theo là triệu chứng mệt mỏi và nôn (86,9%), ít gặp nhất là tiêu chảy (12,2%)
Hình 3.5 Đặc điểm sốt xuất huyết có dấu hiệu cảnh báo
Nhận xét cho thấy tỷ lệ xuất huyết trên da lên đến 68,2%, tiếp theo là chảy máu chân răng ở 63,6%, và nôn máu ở mức 4,9%; không có ca nào ghi nhận kinh nguyệt sớm hoặc kéo dài.
100 Đau đầu Đau khớp Nôn, mệt mỏi Đau bụng Tiêu chảy Gan to Đặc điểm TC toàn thân
Chấm xuất huyết trên da Chảy máu cam Chảy máu chân răng Nôn máu + ỉa phân đen Kinh nguyệt sớm hoặc kéo dài
Hình 3.6 Hoạt động chăm sóc sốt
Nhận xét cho thấy tỷ lệ bù dịch và dùng thuốc hạ sốt đúng đạt gần 100%, đồng thời chườm mát đạt 93,5% khi can thiệp Tuy nhiên, theo dõi nhiệt độ sau xử trí còn thấp hơn với 79,4%, cho thấy cần tăng cường giám sát và đánh giá đáp ứng điều trị để đảm bảo hiệu quả chăm sóc sức khỏe.
3.3 Kết quả chăm sóc bệnh sốt xuất huyết dengue có dấu hiệu cảnh báo
Nhận xét từ hồ sơ bệnh án cho thấy 100% người bệnh được bù dịch đầy đủ bằng truyền dịch, uống oresol hoặc nước; 99,0% thực hiện đúng thuốc hạ sốt Chườm ấm hoặc chườm mát được áp dụng cho 93,5% người bệnh, nới rộng quần áo đạt 82,2%, và theo dõi nhiệt độ sau xử trí ở mức 79,4%.
Bảng 3 3 Kết quả chung của hoạt động chăm sóc theo dõi triệu chứng sốt
Hoạt động chăm sóc theo dõi Số lƣợng (n 7) Tỷ lệ (%)
Thực hiện thuốc hạ sốt
Bù dịch (Dịch truyền, uống ORS, nước khác)
Theo dõi lại nhiêt độ sau xử trí
Đánh giá trên 107 hồ sơ bệnh án được nghiên cứu cho thấy các hoạt động chăm sóc sốt ở người bệnh SXHD có dấu hiệu cảnh báo được đánh giá là tốt ở 91,6% trường hợp và chưa tốt ở 8,4%.
Hình 3.7 Hoạt động chăm sóc khi xuất huyết
Nhận xét :Hoạt động theo dõi toàn trạng, tinh thần (98,1%), hoạt động chăm sóc có tỷ lệ thấp nhất theo dõi nước tiểu (41,1%)
Bảng 3 4 Kết quả chăm sóc theo dõi khi xuất huyết (n7)
Hoạt động chăm sóc Số lƣợng (n= 107) Tỷ lệ (%)
Nhận xét : Kết quả chung chăm sóc người bệnh SXHD có dấu hiệu cảnh báo khi có xuất huyết kết quả tốt tỷ lệ 60,7%, chƣa tốt 39,3%
Hình 3.8 Hoạt động tư vấn giáo dục sức khoẻ
Nhận xét : Hoạt động hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi, vận động chiếm tỷ lệ cao (84,1%), hướng dẫn người bệnh cách phòng bệnh chiếm tỷ lệ thấp (54,2%)
Bảng 3 5 Kết quả hoạt động tư vấn giáo dục sức khoẻ (n7)
Hoạt động tƣ vấn giáo dục sức khoẻ Số lƣợng
Nhận xét cho thấy kết quả phân tích cho 68 hồ sơ (63,6%) được ghi nhận thực hiện tốt hoạt động tư vấn – giáo dục sức khỏe, trong khi 37 hồ sơ (36,4%) có kết quả chưa tốt.
Hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi, vận động
Tư vấn chế độ dinh dưỡng
Hướng dẫn người bệnh uống nhiều nước
Hướng dẫn theo dõi các dấu hiệu xuất huyết nặng: …
Hướng dẫn cách phòng bệnh
Bảng 3 6 Kết quả chăm sóc chung bệnh nhân sốt xuất huyết dengue có dấu hiệu cảnh báo (n7)
Hoạt động chăm sóc, theo dõi bệnh sốt xuất huyết dengue
Nhận xét : Kết quả chăm sóc chung của bệnh sốt xuất huyết dengue có dấu hiệu cảnh báo đạt mức tốt chiếm tỷ lệ 65,4%, chƣa tốt chiếm tỷ lệ 34,6%
Đặc điểm dịch tễ học sốt xuất huyết dengue có dấu hiệu cảnh báo
Bệnh SXHD có dấu hiệu cảnh báo có thể gặp ở mọi lứa tuổi và biểu hiện lâm sàng rất đa dạng Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá các dấu hiệu cảnh báo trên bệnh nhân người lớn ở độ tuổi từ 18 đến 78 tuổi Kết quả cho thấy dấu hiệu cảnh báo xuất hiện ở nhiều nhóm tuổi, với tần suất cao ở nhóm người trưởng thành, cho thấy sự liên quan giữa tuổi tác và hiện diện của dấu hiệu cảnh báo SXHD.
25 – < 40 tuổ (37,4%), tiếp đến là nhóm tuổi ≥ 50tuổi (32,7%), nhóm tuổi
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi 40–