1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT

348 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái (liên hệ với thành ngữ, tục ngữ Việt)
Tác giả Kiều Thanh Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thủy, PGS.TS. Bùi Thanh Hoa
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 348
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiêncứu đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoácủa TCCS trong TNTN Thái có ý nghĩa trong việc mở ra những khám phá về đặcđiểm ngôn ngữ-văn hoá của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KIỀU THANH THẢO

TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI (LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2025

Trang 2

TR ƯỜ NG Đ I H C S PH M HÀ N I Ạ Ọ Ư Ạ Ộ

KI U THANH TH O Ề Ả

T CH CON S Ừ Ỉ Ố TRONG THÀNH NG , T C NG THÁI Ữ Ụ Ữ (LIÊN H V I THÀNH NG , T C NG VI T) Ệ Ớ Ữ Ụ Ữ Ệ

Chuyên ngành: NGÔN NG H C Ữ Ọ

Mã s : 9.22.90.20 ố

LU N ÁN TI N SĨ NGÔN NG H C Ậ Ế Ữ Ọ

Ng ườ ướ i h ng d n khoa h c: ẫ ọ

1 PGS.TS Nguy n Th Thu Thu ễ ị ỷ

2 PGS.TS Bùi Thanh Hoa

Hà N i - 2025 ộ

Trang 4

L I C M N Ờ Ả Ơ

Tôi xin bày t lòng bi t n chân thành và sâu s c t i PGS.TS Nguy n Thỏ ế ơ ắ ớ ễ ịThu Thu , PGS.TS Bùi Thanh Hoa - nh ng ngỷ ữ ười th y đã t n tình, tâm huy tầ ậ ế

hướng d n tôi trong su t quá trình th c hi n lu n án.ẫ ố ự ệ ậ

Tôi xin g i l i c m n đ n các c p lãnh đ o, Ban Ch nhi m và cácử ờ ả ơ ế ấ ạ ủ ệ

th y cô B môn Ngôn ng - Khoa Ng văn, Phòng Sau đ i h c, Trầ ộ ữ ữ ạ ọ ường Đ iạ

h c S ph m Hà N i đã t o đi u ki n giúp đ tôi trong th i gian h c t p vàọ ư ạ ộ ạ ề ệ ỡ ờ ọ ậnghiên c u Tôi xin trân tr ng c m n các nhà khoa h c trong các H i đ ngứ ọ ả ơ ọ ộ ồ

ch m lu n án đã giúp đ tôi trên nhi u phấ ậ ỡ ề ương di n đ tôi hoàn thànhệ ểnhi m v nghiên c u c a mình.ệ ụ ứ ủ

Xin c m n ả ơ gia đình, b n bè và đ ng nghi p đã luôn bên c nh đ ngạ ồ ệ ạ ộviên và giúp đ tôi Đ c bi t, ỡ ặ ệ xin c m n b m , ch ng đã luôn là ch d a, làả ơ ố ẹ ồ ỗ ự

Trang 5

1 Lí do ch n đ tàiọ ề 1

2 M c đích, nhi m v nghiên c uụ ệ ụ ứ 3

3 Đ i t ng, ph m vi và t li u nghiên c uố ượ ạ ư ệ ứ 4

4 Ph ng pháp, th pháp nghiên c uươ ủ ứ 5

5 Đóng góp c a lu n ánủ ậ 6

6 C u trúc c a lu n ánấ ủ ậ 7

Ch ng 1ươ T NG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C UỔ Ứ VÀ C S LÍ LUƠ Ở ẬN…… 9

1.1.T ng quan tình hình nghiên c uổ ứ 9

1.1.1.Tình hình nghiên c u v t ch con s ứ ề ừ ỉ ố 9

1.1.2.Tình hình nghiên c u v ti ng Thái và thành ng , t c ng Thái ứ ề ế ữ ụ ữ 25

1.1.3.Tình hình nghiên c u v t ch con s trong thành ng , t c ng Thái ứ ề ừ ỉ ố ữ ụ ữ 35 1.2.C s lí lu nơ ở ậ 37

1.2.1.C s ngôn ng h c ơ ở ữ ọ 38

1.2.2.C s văn hoá h c ơ ở ọ 57

Ti u k t ch ng 1ể ế ươ 67

Chương 2 Đ C ĐI M C U T O VÀ NG PHÁP C A T CH CON SẶ Ể Ấ Ạ Ữ Ủ Ừ Ỉ Ố TRONG THÀNH NG , T C NG THÁIỮ Ụ Ữ (LIÊN H V I THÀNH NG , T CỆ Ớ Ữ Ụ NG VI T)Ữ Ệ ……… 69

2.1 Đ c đi m c u t o c a t ch con s trong thành ng , t c ng Thái (liên hặ ể ấ ạ ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ ệ v i thành ng , t c ng Vi t)ớ ữ ụ ữ ệ 70

2.1.1 Hình th c ng âm c a t ch con s ứ ữ ủ ừ ỉ ố 70

2.1.2 Ph ươ ng th c c u t o và các ki u t ch con s ứ ấ ạ ể ừ ỉ ố 71

2.2.Đ c đi m ng pháp c a t ch con s trong thành ng , t c ng Thái (liên hặ ể ữ ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ ệ v i thành ng , t c ng Vi t)ớ ữ ụ ữ ệ 74

2.2.1.Đ c đi m t lo i c a t ch con s ặ ể ừ ạ ủ ừ ỉ ố 74

2.2.2 T ch con s trong c u t o thành ng , t c ng ừ ỉ ố ấ ạ ữ ụ ữ 98

2.3.Góc nhìn văn hoá t đ c đi m c u t o và ng pháp c a t ch con s trongừ ặ ể ấ ạ ữ ủ ừ ỉ ố thành ng , t c ng Thái (liên h v i thành ng , t c ng Vi t)ữ ụ ữ ệ ớ ữ ụ ữ ệ 103

Trang 6

2.3.1.Góc nhìn văn hoá t đ c đi m c u t o t ch con s ừ ặ ể ấ ạ ừ ỉ ố 105

2.3.2.Góc nhìn văn hoá t đ c đi m ng pháp c a t ch con s ừ ặ ể ữ ủ ừ ỉ ố 107

Ti u k t ch ng 2ể ế ươ 108

Ch ng 3ươ Đ C ĐI M NG NGHĨA VÀ VAI TRÒ PH N ÁNH T DUY VĂNẶ Ể Ữ Ả Ư HOÁ C A T CH CON S TRONG THÀNH NG , T C NG THÁIỦ Ừ Ỉ Ố Ữ Ụ Ữ .(LIÊN H V IỆ Ớ THÀNH NG , T C NG VI T)Ữ Ụ Ữ Ệ 111

3.1 Đ c đi m ng nghĩa c a t ch con s trong thành ng , t c ng Thái (liên hặ ể ữ ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ ệ v i thành ng , t c ng Vi t)ớ ữ ụ ữ ệ 111

3.1.1 T góc đ t v ng ừ ộ ừ ự 111

3.1.2 T góc đ tri nh n ừ ộ ậ 123

3.2 Vai trò ph n ánh t duy văn hoá c a t ch con s trong thành ng , t c ngả ư ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ Thái (liên h v i thành ng , t c ng Vi t)ệ ớ ữ ụ ữ ệ 144

3.2.1 Vai trò ph n ánh t duy v không gian sinh t n ả ư ề ồ 144

3.2.2 Vai trò ph n ánh ả t duy ư v lao đ ng s n xu t ề ộ ả ấ 148

3.2.3 Vai trò ph n ánh ả t duy ư t ch c và hành x trong c ng đ ng ổ ứ ử ộ ồ 158

3.2.4 Vai trò ph n ánh ả t duy v vòng đ i ư ề ờ , v n m nh ậ ệ con ng ườ 168 i 3.2.5 Vai trò ph n ánh ả t duy v ư ề t c l , tín ng ụ ệ ưỡ ng, phong t c ụ 171

Ti u k t ch ng 3ể ế ươ 182

K T LU NẾ Ậ 185

DANH M C CÁC CÔNG TRÌNH C A TÁC GI ĐÃ CÔNG BỤ Ủ Ả Ố 189

TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 190

PH L CỤ Ụ

Trang 7

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 8

QUY ƯỚC CHỮ VIẾT, CÁCH ĐỌC CHỮ VIẾT THÁI

ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở CÁC VÍ DỤ TRONG LUẬN ÁN (Theo quy định bộ gõ chữ Thái Việt Nam cổ)

1 Các phụ âm trong tiếng Thái ở Việt Nam

Việt (tươngđương)

Chữ cái

ghi phụ âm

Cách viếtphiên âm/đọc

Chữ cáighi phụ âm

Cách viếtphiên âm/đọc

Trang 9

2 Các nguyên âm và âm kép trong tiếng Thái ở Việt Nam

STT Chữ cái ghi

nguyên âm

Cách viếtphiên âm/đọc

Chữ cái TiếngViệt (tươngđương)

Ví dụ (chữ Thái - phiên

âm La tinh - tiếng Việt)

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

B ng 2.1 Ki u t ch con s xét v hình th c c u t o trong thành ng , t c ngả ể ừ ỉ ố ề ứ ấ ạ ữ ụ ữThái

B ng 2.2 Ý nghĩa ng pháp c a t ch con s trong thành ng , t c ng Tháiả ữ ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ

B ng 2.3 T ch con s đ ng tr c các ti u lo i danh t , ng danh t trongả ừ ỉ ố ứ ướ ể ạ ừ ữ ừthành ng , t c ng Tháiữ ụ ữ

B ng 2.4 T ch con s đ ng sau các ti u lo i danh t , ng danh t trong thànhả ừ ỉ ố ứ ể ạ ừ ữ ừ

ng , t c ng Tháiữ ụ ữ

B ng 2.5 T ch con s đ m nhi m các ch c v cú pháp trong thành ng , t cả ừ ỉ ố ả ệ ứ ụ ữ ụ

ng Thái….ữ

B ng 2.6 T ch con s trong c u t o thành ng , t c ng Tháiả ừ ỉ ố ấ ạ ữ ụ ữ

B ng 3.1 Nghĩa g c c a t ch con s trong thành ng , t c ng Tháiả ố ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ

B ng 3.2 Nghĩa chuy n c a t ch con s trong thành ng , t c ng Tháiả ể ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ

B ng 3.3 Các ph ng di n c a ý ni m CON S trong thành ng , t c ng Tháiả ươ ệ ủ ệ Ố ữ ụ ữ

B ng 3.4 Các ý ni m có mi n ngu n CON S trong thành ng , t c ng Tháiả ệ ề ồ Ố ữ ụ ữ

B ng ả 3.5 Vai trò ph n ánh t duy văn hoá c a t ch con s trong thành ng , t cả ư ủ ừ ỉ ố ữ ụ

ng Thái và Vi tữ ệ

Trang 11

Bi u đ 2.7 So sánh t l t ch con s đ m nhi m thành ph n chính trong t cể ồ ỉ ệ ừ ỉ ố ả ệ ầ ụ

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ

S đ 2.1 C u t o c a t ch con s trong thành ng , t c ng Thái và Vi tơ ồ ấ ạ ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ ệ

S đ 3.1 Đ c đi m ng nghĩa c a t ch con s trong thành ng , t c ng Thái vàơ ồ ặ ể ữ ủ ừ ỉ ố ữ ụ ữ

Trang 14

là số tự nhiên, số thực hoặc bất kì loại số nào khác Con số cũng phổ dụng trongđời sống kinh tế, xã hội đến văn hoá, giáo dục, tôn giáo và các hình thức giaotiếp thường nhật

Từ chỉ con số (TCCS) là đơn vị ngôn ngữ biểu thị các con số cụ thể như

một, hai, ba Khi đi vào hoạt động hành chức, TCCS không chỉ thực hiện chức

năng định lượng ban đầu mà còn đảm nhiệm vai trò biểu đạt, biểu cảm, phản ánhnhững tầng nghĩa sâu xa gắn với tâm thức, niềm tin và hệ giá trị văn hóa củacộng đồng

Trong thành ngữ, tục ngữ (TNTN), giá trị biểu đạt của TCCS phần lớnmang tính ước lệ và thể hiện những khái niệm trừu tượng như sự vô cùng, vô tận

(TCCS trăm, nghìn, vạn…), cái hoàn chỉnh, đủ đầy (TCCS ba), hay ấn tượng kiêng kị, điều xui rủi (TCCS ba, bảy…) Những TCCS tưởng chừng đơn giản

trong TNTN của nhiều quốc gia, dân tộc, lại phản ánh mô hình nhận thức đặctrưng về con người, sự vật, không gian, thời gian Vì thế, TCCS trong TNTN trởthành một hiện tượng ngôn ngữ-văn hóa đa trị, góp phần phản ánh triết lí về đờisống và con người Nhìn từ góc độ này, TCCS trong TNTN được cộng đồng sửdụng như một trong những yếu tố để diễn giải thế giới Nghiên cứu về TCCStrong TNTN có thể xác định tư duy văn hoá dân gian của một cộng đồng, dântộc Đây chính là điểm xuất phát có ý nghĩa học thuật để tiến hành nghiên cứuchuyên sâu về hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt này trong mối quan hệ với đặc điểmngôn ngữ - văn hóa tộc người cụ thể

1.2 Thành ngữ, tục ngữ Thái là kho tàng ngôn ngữ-văn hoá đặc sắc

Trang 15

Người Thái ở Việt Nam là một dân tộc có lịch sử cư trú lâu đời và bản sắcvăn hóa đậm nét, tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền núi (vùng Tây Bắc có Sơn

La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, vùng Bắc Trung Bộ có Thanh Hoá, NghệAn…) Họ có phong tục, tín ngưỡng, tri thức bản địa phong phú, có ngôn ngữ,chữ viết riêng và văn học nghệ thuật dân gian đặc sắc Trong đó, TNTN chiếmmột vị trí quan trọng trong việc phản ánh tri thức cộng đồng và duy trì bản sắctộc người TNTN Thái là phương tiện lưu giữ kinh nghiệm sống, giáo huấn đạođức và thể hiện cách nhìn của người Thái về thế giới tự nhiên và xã hội

Tuy nhiên, nghiên cứu về TCCS trong TNTN Thái mới dừng ở mức độthống kê, phân tích lí giải bước đầu Trong khi đó, thực tế khảo sát cho thấy,TCCS xuất hiện với tần suất cao trong TNTN Thái, góp phần phản ánh đặc trưngngôn ngữ và tư duy về không gian sinh tồn; lao động sản xuất; tổ chức cộngđồng; vòng đời, vận mệnh; phong tục, tín ngưỡng độc đáo của họ Việc nghiêncứu đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoácủa TCCS trong TNTN Thái có ý nghĩa trong việc mở ra những khám phá về đặcđiểm ngôn ngữ-văn hoá của người Thái

1.3 Việc so sánh, liên hệ đặc điểm của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái (liên hệ với thành ngữ, tục ngữ Việt) góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ-văn hóa của hai dân tộc và phục vụ công tác giảng dạy, bảo tồn ngôn ngữ-văn hoá dân tộc thiểu số

TCCS trong TNTN Việt đã được nghiên cứu khá toàn diện và sâu rộng, trởthành một mẫu hình lí tưởng để so sánh, liên hệ, nhằm nhận diện những điểmtương đồng và khác biệt với TCCS trong TNTN Thái Điều đó góp phần xác địnhnhững quy luật hoạt động mang tính phổ quát và đặc thù của TCCS trong vănhóa dân gian của hai dân tộc Việc so sánh, liên hệ với TNTN Việt không chỉ làphương pháp tiếp cận mang tính ngôn ngữ học mà còn là cầu nối để làm rõ hơnbản sắc ngôn ngữ-văn hóa riêng có của người Thái trong bối cảnh giao thoa vàtiếp biến văn hóa vùng

Từ góc độ so sánh ngôn ngữ, việc nghiên cứu TCCS trong TNTN Thái(liên hệ với TNTN Việt) sẽ giúp nhận diện các chiến lược ngôn ngữ tương đồng

Trang 16

(ví dụ, hai dân tộc cùng sử dụng TCCS một để chỉ số ít-tính duy nhất, cùng sử dụng TCCS hai để chỉ sự đối xứng đối lập, TCCS ba, bảy để chỉ ấn tượng kiêng

kị, TCCS chín, mười để chỉ số nhiều-vô cùng) cũng như các dị biệt văn hóa trong cách tri nhận TCCS (ví dụ, người Thái gắn TCCS bốn với văn hoá khai hoang

xây bản, dựng bốn cột mường, trong khi người Việt thường dùng TCCS nàytrong cấu trúc tứ bình, tứ đức ) Những điều đó góp phần phản ánh nhận thức vềđặc trưng ngôn ngữ dân tộc, có giá trị thực tiễn trong việc xây dựng tài liệu đểphục vụ chương trình giáo dục phổ thông các môn tiếng dân tộc thiểu số (trong

đó có tiếng Thái) theo Thông tư số 34/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 của BộGiáo dục và Đào tạo, thực hiện phát triển giáo dục song ngữ Từ đó hỗ trợ côngtác bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số; khẳng định vị thế của tiếng Thái trongkhông gian văn hóa Việt Nam đa dân tộc

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn Từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái (liên

hệ với thành ngữ, tục ngữ Việt) làm vấn đề nghiên cứu Luận án này sẽ góp phần

làm rõ đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoácủa TCCS, giải mã dấu ấn văn hóa trong cách thức sử dụng TCCS của người Thái,liên hệ với việc sử dụng TCCS trong TNTN người Việt

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp , ngữnghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoá của TCCS trong TNTN Thái (ViệtNam), liên hệ với TNTN Việt Qua đó, luận án góp phần làm sáng tỏ tư duy,cách nhìn thế giới và hệ giá trị văn hóa dân tộc của người Thái và người Việt

2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể như sau:

(1) Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đếnTCCS, đặc biệt là trong TNTN Thu thập, rà soát và tìm hiểu các nghiên cứu vềtiếng Thái, về TNTN Thái, TCCS trong TNTN Thái Từ đó xác lập cơ sở líthuyết phù hợp cho luận án

Trang 17

(2) Khảo sát ngữ liệu; thống kê, phân loại; miêu tả và phân tích TCCS trêncác phương diện cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoácủa TCCS trong TNTN Thái và Việt.

(3) Liên hệ, so sánh đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò phảnánh tư duy văn hoá của TCCS trong TNTN Thái và Việt (mặt định lượng và địnhtính) Từ đó chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt của TCCS trong TNTN hai dântộc ở các phương diện này

3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là TCCS trong TNTN của người Thái (ởViệt Nam) (liên hệ với TNTN Việt)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm: đặc điểm cấutạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoá của TCCS trongTNTN của người Thái (liên hệ với TNTN Việt) Từ đó chỉ ra một số đặc điểmtrong tư duy ngôn ngữ và văn hoá của hai dân tộc

3.3 Phạm vi tư liệu nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận án, tác giả đã tiến hành khảo sát 9.627 đơn vị TNTNThái (ở Việt Nam) (có 37 TCCS với 977 lượt xuất hiện), các tư liệu TNTN Tháimang tính đại diện, khu vực Tây Bắc (có Sơn La, Điện Biên, Lai Châu…), khuvực Bắc Trung Bộ (có Thanh Hoá, Nghệ An…) Đồng thời, tác giả khảo sát10.073 đơn vị TNTN Việt (có 53 TCCS với 1296 lượt xuất hiện) Tổng số tư liệukhảo sát là 8 nguồn tư liệu là sách đã xuất bản:

3.3.1 Tư liệu khảo sát thành ngữ, tục ngữ Thái

i Quán Vi Miên (2010), Tục ngữ Thái giải nghĩa, Nxb Dân trí (712 trang).

ii Hà Văn Năm, Cầm Thương, Lò Văn Sĩ, Tòng Kim Ân, Kim Cương,

Hương Huyền (Sưu tầm, Biên dịch) (1978), Tục ngữ Thái, Nxb Sân khấu (199

trang)

iii Hoàng Trần Nghịch (Sưu tầm - Tuyển dịch) (1994), Lời răn người (Tục

ngữ Thái về xã hội và sản xuất), Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội (122 trang).

Trang 18

iv Hoàng Trần Nghịch (Sưu tầm - dịch - biên soạn) (1995), Koám Chiến

Láng Phương ngôn tục ngữ Thái, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội (131 trang).

v Hoàng Trần Nghịch (Sưu tầm - Dịch) (2005), Lời có vần ông cha truyền

lại, Nxb Văn hoá Dân tộc (449 trang).

vi Hoàng Trần Nghịch (2012), Phương thức giáo dục cổ truyền của dân tộc

Thái, Sơn La.

vii Hoàng Trần Nghịch (Sưu tầm - Dịch - Biên soạn) (2018), Koám Chiến

Láng Phương ngôn, tục ngữ Thái, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội (371 trang) 3.3.2 Tư liệu khảo sát thành ngữ, tục ngữ Việt

viii.Vũ Dung (Chủ biên) (2000), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb

Văn hoá thông tin (626 trang)

4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp miêu tả, phân tích

Phương pháp này được s d ng ử ụ để miêu tả phân tích cấu tạo; miêu tả,phân tích ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp (nhằm phân địnhbản chất từ loại của TCCS); miêu tả, phân tích nghĩa của TCCS dưới góc độ từvựng, tri nhận và xác định vai trò của TCCS trong việc phản ánh tư duy văn hoá

Từ đó định hình đặc điểm cấu tạo, xác định đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữnghĩa và tư duy văn hoá được phản ánh qua TCCS trong TNTN

4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này đượ ử ục s d ng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, từ sosánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa đến vai trò phản ánh tưduy văn hoá của TCCS trong TNTN Thái và TNTN Việt Từ đó định hình cănbản những nét tương đồng, khác biệt của TCCS trong TNTN hai dân tộc

4.3 Phương pháp điều tra điền dã

Phương pháp này được s d ng ử ụ trong quá trình gặp gỡ, trao đổi với cácchuyên gia, nghệ nhân Thái học; thông qua phiếu hỏi, chúng tôi tiến hành khảosát, kiểm chứng ngữ liệu được viết bằng chữ Thái cổ, được phiên âm và dịchnghĩa Điều tra điền dã còn được áp dụng bằng phương thức phỏng vấn sâu hoặcthu thập thông tin, ngữ liệu, cách thức sử dụng TCCS từ các nhà Thái học (như

Trang 19

Nghệ nhân nhân dân Lò Văn Lả, Nghệ nhân ưu tú Điêu Văn Thuyển, Nghệ nhân

ưu tú Sẩm Văn Bình, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá Thái Cà VănChung, Lường Văn Yệu, ThS Lò Bình Minh, ThS Lò Mai Cương…) và ngườiThái bản địa Nội dung phỏng vấn là một trong những cơ sở lí giải cho tư duyvăn hoá được phản ánh qua TCCS trong TNTN Thái

4.5 Thủ pháp thống kê, phân loại

Th pháp này đủ ược s d ng ử ụ đ th ng kê, phân lo i ể ố ạ TCCS trong TNTNtheo các tiêu chí: t n s xu t hi n, c u t o c a TCCS (các bi n th ng âm,ầ ố ấ ệ ấ ạ ủ ế ể ữ

c u t o t , phấ ạ ừ ương th c c u t o TCCS)ứ ấ ạ ; tiêu chí ý nghĩa ng pháp, kh năngữ ả

k t h p, ch c v cú pháp c a TCCS; các ki u xu t hi n c a ế ợ ứ ụ ủ ể ấ ệ ủ TCCS trong c uấtrúc TNTN; th ng kê, phân lo i ố ạ TCCS dùng v i nghĩa g c, nghĩa chuy n; th ngớ ố ể ố

kê, phân lo i vai trò ph n ánh t duy văn hoá c a TCCS ạ ả ư ủ trong TNTN K t quế ả

th ng kê, phân lo i đố ạ ược s d ng làm n n t ng đ miêu t , phân tích đ cử ụ ề ả ể ả ặ

(2) Luận án phân định nghĩa của TCCS trên các góc độ từ vựng (nghĩa gốc,nghĩa chuyển), trên góc độ tri nhận (xác định các phương diện và cấu trúc ý niệmCON SỐ) Từ đó cho thấy vai trò của các lí thuyết khác nhau khi xem xét vềnghĩa của cùng một đơn vị ngôn ngữ

Trang 20

(3) Luận án đối chiếu đặc điểm của TCCS trên các phương diện cấu tạo, ngữpháp, ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoá, nhằm chỉ ra điểm tươngđồng, khác biệt trong tư duy sử dụng TCCS của dân tộc Thái và Việt Điều nàygóp phần củng cố lí thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu (đối chiếu giữa tiếng Thái

và tiếng Việt)

5.2 Đóng góp về thực tiễn

(1) Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị thực tiễn đối với việc nghiên

cứu, học tập và giảng dạy về từ và TCCS trong tiếng Thái, góp phần thực hiện

nhiệm vụ đào tạo tiếng dân tộc thiểu số theo Thông tư số 34/2020/TT-BGDĐTngày 15/9/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

(2) Các kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng vào việc biên soạn giáotrình giảng dạy tiếng Thái và văn hóa Thái ở Việt Nam Những đóng góp của

luận án cũng hữu dụng đối với việc tạo lập và sử dụng TCCS trong giao tiếp đời

thường cũng như trong sáng tác thơ ca của dân tộc Thái

(3) Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bảo tồn vốn ngôn ngữ, chữviết và văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số - người Thái Việt Nam

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận

án có cấu trúc 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu (nghiên cứu về TCCS,tiếng Thái, TNTN Thái, TCCS trong TNTN Thái); cơ sở lí luận (cơ sở ngôn ngữhọc, gồm: t ừ và TCCS (khái ni m, hình th c c u t o, tiêu chu n phân đ nh tệ ứ ấ ạ ẩ ị ừ

lo i, thành ph n nghĩa và các góc đ nghĩa c a t (xét t góc đ t v ng, triạ ầ ộ ủ ừ ừ ộ ừ ự

nh n), các v n đ v TNTN và ngôn ng h c đ i chi u)ậ ấ ề ề ữ ọ ố ế ; cơ sở văn hóa học,gồm: mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy văn hoá, đặc trưng văn hóa dân tộc trongTNTN Thái và đặc điểm văn hoá lịch sử của người Thái) Đây là nền tảng lí thuyết

để triển khai nghiên cứu TCCS trong TNTN Thái (liên hệ với TNTN Việt)

Trang 21

Chương 2 Đặc điểm cấu tạo và ngữ pháp của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái (liên hệ với thành ngữ, tục ngữ Việt)

Chương này trình bày về đặc điểm cấu tạo (hình thức ngữ âm, phương thứccấu tạo và các kiểu TCCS); đặc điểm ngữ pháp (xác định bản chất từ loại, xácđịnh vai trò cấu tạo cấu trúc TNTN) của TCCS trong TNTN dân tộc Thái vàViệt Qua đó, chúng tôi trình bày góc nhìn văn hoá từ đặc điểm cấu tạo, ngữ phápcủa TCCS; chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt trong tư duy của hai dân tộc

Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa và vai trò phản ánh tư duy văn hoá của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái (liên hệ với thành ngữ, tục ngữ Việt)

Chương này trình bày đ c đi m ng nghĩa c a TCCS t 2 góc đ , góc đặ ể ữ ủ ừ ộ ộ

t v ng (phân đ nh TCCS dùng v i nghĩa g c và nghĩa chuy n) và góc đ triừ ự ị ớ ố ể ộ

nh n (xác đ nh các phậ ị ương di n và c u trúc c a ý ni m CON S ); xác đ nhệ ấ ủ ệ Ố ịvai trò ph n ánh 5 đ c tr ng t duy văn hoá c a TCCS trong TNTN Tháiả ặ ư ư ủ(liên h v i TNTN Vi t) T đó ch ra đi m tệ ớ ệ ừ ỉ ể ương đ ng và khác bi t trongồ ệ

t duy s d ng TCCS c a hai dân t c ư ử ụ ủ ộ

Trang 22

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong phần này, luận án trình bày tình nghiên cứu về TCCS; tình hìnhnghiên cứu về tiếng Thái, TNTN Thái và TCCS trong TNTN Thái

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ chỉ con số

1.1.1.1 Nghiên cứu về từ chỉ con số ở nước ngoài

Dựa trên các nguồn tư liệu tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy TCCS đãđược đề cập đến trong các nghiên cứu ở nước ngoài, tập trung ở các lĩnh vực:ngôn ngữ, văn hoá và ngôn ngữ giao văn hoá

a.Từ chỉ con số được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học

Trong ngôn ngữ học, TCCS được đề cập chủ yếu trong các công trìnhnghiên cứu thuộc về ngữ pháp học và ngôn ngữ học tri nhận

Từ góc nhìn ngữ pháp học, tác giả Laurence C Thompson [1] đã phân tích

hệ thống các yếu tố thuộc phạm trù danh từ, bao gồm: Substantives - Các từ tồn tại độc lập, Plural markers - Các dấu hiệu chỉ số nhiều, Substantival phrases and

word classes - Các cụm danh từ và lớp từ, Numerals - Số từ, Demonstrative markers - Các từ chỉ thị và Nominals - Các yếu tố định danh Đáng chú ý, phần

trình bày về Numerals trong công trình này đã xem TCCS như một tiểu loại của danh từ Nội dung cụ thể gồm: 1-Unit numbers - Số từ biểu thị số lượng xác định; 2-Indefinite numbers - Số từ biểu thị lượng không xác định; 3- Multiple

numbers - Số từ chỉ bội số; 4- Other numerators - Các cách đọc số khác; 5- The number system - Hệ thống số và (6) Other uses of numerals and numeral phrases

- Các cách sử dụng khác của số từ và cụm số từ Tác giả John Lyons [2] khinghiên cứu về phạm trù số trong tiếng Anh, xem TCCS như là một yếu tố ngữpháp liên kết với danh từ trong các tổ hợp danh từ số ít và số nhiều Theo ông,

phạm trù số giúp phân biệt giữa một thực thể và nhiều thực thể, hoặc giữa một

nhóm đối tượng và một khối vật liệu Chẳng hạn, grape trong tiếng Anh là danh

từ đếm được, có thể xuất hiện ở hình thái số nhiều (ví dụ: Will you have some

Trang 23

grapes? He ate six grapes) Trong khi đó, raisin trong tiếng Pháp có thể được sử

dụng ở dạng số ít với nghĩa khối hoặc tập thể (ví dụ: Vous voulez du raisin? hay

Prenez un raisin thường được dịch là Have some grapes thay vì Have a grape).

Những phân tích này cho thấy, TCCS thường được hiểu như một thành tố phụ đikèm danh từ, biểu thị phạm trù số và có vai trò trong việc phân biệt danh từ số ít

(gắn với một sự vật) và danh từ số nhiều (biểu thị nhiều hơn một sự vật) Tác giả

James R Hurford [3] xuất phát từ nền tảng ngữ pháp tạo sinh, đã đề cập đếnTCCS trong cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của số từ trong tiếng Anh, tiếng

Mixtec, tiếng Pháp và tiếng Đan Mạch Trong đó, xuất hiện two, three, four, ,

nine, hundred, và thousand tồn tại với hình thức từ, one million, one thousand, one hundred and twenty one tồn tại với hình thức cụm từ Tác giả Luisa Martí [4]

đề cập đến TCCS có thể nằm trong các cấu trúc ngôn ngữ loại 1 (tiếng Anh), là

hệ thống [±atomic] (cá thể đơn lẻ, như: a boy, a cat-là cá thể duy nhất); các ngôn

ngữ loại 2 (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ), là hệ thống [±minimal] (một số lượng tối thiểu

được quy ước bởi số từ, như: số lượng 2 quy ước bởi two); và các ngôn ngữ loại

3 (như tiếng phía Tây Armenia) có khả năng bao gồm cả hai hệ thống số học:[±atomic] và [±minimal] Tác giả nhấn mạnh mối quan hệ về cấu trúc ngữ pháp

của TCCS chủ yếu là số từ + danh từ, biểu thị ngữ nghĩa số ít, số nhiều ở các

ngôn ngữ thuộc lục địa Á - Âu

Từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, TCCS được tiếp cận qua cơ chế hìnhthành và diễn giải nguồn gốc số lượng Nghiên cứu của tác giả Bernd Heine [5]

là một trong những công trình tiêu biểu của góc độ tiếp cận này Ông đặt ra cácvấn đề như: Tại sao các hệ thống số dựa trên ngũ phân (5), thập phân (10) và nhịthập phân (20) lại phổ biến trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới? Vì sao hệ thập

phân lại là hệ thống thống trị? Tại sao các từ như mười, hai mươi hay một trăm

lại có nhiều phương thức biểu đạt khác nhau giữa các ngôn ngữ? Và tại sao các

từ biểu thị lượng thấp lại thường mang ý nghĩa biểu trưng? Bernd Heine [5] chorằng quá trình hình thành các hệ thống TCCS không mang tính ngẫu nhiên màđược thúc đẩy bởi cơ chế tri nhận dựa trên miền nguồn là bộ phận cơ thể người.Chiến lược phổ biến được các ngôn ngữ sử dụng để cấu trúc hệ thống TCCS, bao

Trang 24

gồm phép cộng, phép trừ và phép nhân Chẳng hạn: một có thể bắt nguồn từ hình ảnh ngón trỏ; năm tương ứng với toàn bộ bàn tay; sáu được lí giải là sự cộng thêm ngón cái từ bàn tay còn lại vào năm ngón của một bàn tay; tám là tổng số ngón tay trên hai bàn trừ đi hai ngón; chín là tổng số ngón trừ một ngón; mười là toàn bộ hai bàn tay; hai mươi được tri nhận như tổng số ngón tay và ngón chân

trên cơ thể người - tức biểu trưng cho một cơ thể hoàn chỉnh Do đó, TCCS ởphương diện ngôn ngữ học tri nhận là sản phẩm của quá trình hình thành có hệthống, gắn liền với trải nghiệm thân thể và tri thức biểu tượng của con người.Như vậy, công trình của Bernd Heine [5] đã cung cấp nền tảng lí thuyết tri nhận-trải nghiệm thân thể để lí giải nguồn gốc hình thành số lượng

b.Từ chỉ con số được nghiên cứu từ góc độ văn hoá học

Trong nghiên cứu về TCCS dưới góc độ văn hoá học, đáng chú ý là cáccông trình của nhóm tác giả Jean Chevallier và Alain Gheerbrant [6], Sin-waiChan và David E Polland [7]

Jean Chevallier, Alain Gheerbrant [6] xem xét TCCS như biểu tượng vănhoá giàu ý nghĩa, vượt ra ngoài chức năng định lượng thuần tuý Theo các tác giả[6], mỗi TCCS phản ánh quan niệm, tín ngưỡng và giá trị văn hoá đặc thù, lưu

giữ dấu ấn lịch sử-văn hoá của một cộng đồng nhất định Từ một, hai, ba, bốn đến trăm, nghìn, vạn, đều mang giá trị biểu trưng riêng Cách tiếp cận này gợi

mở đặc trưng về nghĩa tri nhận của TCCS trong ngữ liệu khảo sát

Bổ sung cho cách tiếp cận đó, Sin-wai Chan và David E Polland [7] đã chỉ

ra những giá trị biểu tượng đặc thù của TCCS trong văn hoá phương Tây Chẳng

hạn, TCCS bảy gắn với ý nghĩa may mắn, bởi nó tượng trưng cho bảy thiên thể

quan trọng trong quan niệm cổ đại: Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Kim, Sao Mộc,Sao Thổ, Sao Hoả và Sao Thuỷ - vốn được liên hệ mật thiết với thần linh Hay,

TCCS hai lại mang sắc thái tiêu cực, thường được xem là biểu tượng của sự phân

đôi, đối lập, thậm chí là nguồn gốc của cái ác Quan niệm này cũng in dấu trong

nhiều thành ngữ tiếng Anh chứa TCCS hai, phản ánh những hiện tượng không

may mắn hoặc mang ý nghĩa tiêu cực

c T ch con s đ ừ ỉ ố ượ c nghiên c u t góc đ ngôn ng giao văn hoá ứ ừ ộ ữ

Trang 25

Nghiên c u TCCS dứ ưới góc nhìn ngôn ng giao văn hoá đã thu hút sữ ựquan tâm c a nhi u h c gi Hủ ề ọ ả ướng ti p c n này không ch làm sáng t giáế ậ ỉ ỏ

tr bi u đ t c a TCCS trong n i b t ng ngôn ng c th mà còn góp ph nị ể ạ ủ ộ ộ ừ ữ ụ ể ầsoi chi u nh ng đ c tr ng văn hoá n sau l p v ngôn ng b m t, thôngế ữ ặ ư ẩ ớ ỏ ữ ề ặqua vi c so sánh liên ngôn ng ẹ ữ

ph m vi n i ngôn

Ở ạ ộ , Pukaliak M [8] đã kh o sát ý nghĩa c a các TCCSả ủtrong thành ng ti ng Anh, làm rõ m i quan h gi a quan ni m văn hoáữ ế ố ệ ữ ệAnh v i TCCS c a h C th , TCCS ớ ủ ọ ụ ể m t ộ trong các thành ng ữ public enemy

number one, go one better than, one over the eight không ch mang giá trỉ ị

đ nh lị ượng mà còn bi u đ t ý ni m vể ạ ệ ượt tr i, cá th hoá hay tr ng thái sayộ ể ạ

x n (đây hi n tỉ ệ ượng g n v i đ i s ng đ i chúng và quân đ i Anh đ u th kắ ớ ờ ố ạ ộ ầ ế ỷ

XX) TCCS hai thường g n v i tính nh nguyên, đ i l p ắ ớ ị ố ậ two-way street, two

sides of a shield Trong khi đó, TCCS năm được liên h v i bi u tệ ớ ể ượng c thơ ể

give me five, còn TCCS sáu g n v i h n lo n, b t n ho c cái ch t ắ ớ ỗ ạ ấ ổ ặ ế at sixes

and sevens, six feet under Nghiên c u cho th y TCCS trong thành ng ti ngứ ấ ữ ếAnh không ch mang ch c năng ngôn ng mà còn hàm ch a đ c đi m vănỉ ứ ữ ứ ặ ểhoá và nh n th c xã h i.ậ ứ ộ

Khác v i Pukaliak M., Yasien M Taher [9] ti p c n TCCS trong thànhớ ế ậ

ng ti ng Anh t góc đ văn hoá-tâm linh (nh n m nh ngu n g c Kinhữ ế ừ ộ ấ ạ ồ ốThánh c a TCCS) Ch ng h n, TCCS ủ ẳ ạ m t ộ g n v i kh i nguyên và sáng t o,ắ ớ ở ạ

ph n ánh hình nh Thiên Chúa t o d ng th gi i trong ngày đ u tiên ả ả ạ ự ế ớ ầ at first sight, trong khi TCCS hai bi u tr ng cho s đ i l p, gi trá ể ư ự ố ậ ả two-faced, ho cặliên quan đ n bi u tế ể ượng song trùng trong Kinh Thánh Ngoài ra, tác giả

ti n hành kh o sát nh n th c c a sinh viên Iraq v TCCS trong thành ngế ả ậ ứ ủ ề ữ

ti ng Anh, đ xu t khai thác thành ng mang s c thái văn hoá-tôn giáoế ề ấ ữ ắtrong gi ng d y ngôn ng cho ngả ạ ữ ườ ọi h c thu c khu v c Trung Đông.ộ ự

ph m vi ti p c n đ i chi u ngôn ng

Ở ạ ế ậ ố ế ữ, nhi u h c gi đã ti n hành soề ọ ả ếsánh cách s d ng TCCS trong thành ng gi a các ngôn ng nh m làm n iử ụ ữ ữ ữ ằ ổ

b t s khác bi t văn hoá Robert Lado [10] và Hoijer Harry [11] cho r ng,ậ ự ệ ằ

Trang 26

TCCS hi n di n ph bi n trong các ngôn ng , song cách th c mã hoá vàệ ệ ổ ế ữ ứ

di n gi i chúng trong thành ng ch u s chi ph i sâu s c c a văn hoá dânễ ả ữ ị ự ố ắ ủ

t c Tác gi Robert Lado nh n m nh s khác bi t trong ph m trù s ít-sộ ả ấ ạ ự ệ ạ ố ốnhi u, minh ho qua ti ng Anh, ti ng Tây Ban Nha và ti ng Hopi, qua đóề ạ ế ế ếcho th y tính đa d ng trong bi u đ t văn hoá c a TCCS Trong khi đó, tácấ ạ ể ạ ủ

gi Hoijer Harry m r ng phân tích trên ng li u ti ng Pháp và ti ng Thả ở ộ ữ ệ ế ế ổNhĩ Kỳ, làm rõ kh năng bi n đ i ý nghĩa c a TCCS theo b i c nh văn hoá.ả ế ổ ủ ố ảTác gi ả Yuan Kong [12] đã tri n khai phân tích đ i chi u thành ngể ố ế ữ

ch a TCCS trong ti ng Anh và ti ng Trung Qu c, đ xu t b n chi n lứ ế ế ố ề ấ ố ế ược

d ch thu t d a trên c u trúc và phị ậ ự ấ ương ti n bi u đ t: 1-Thành ng có c uệ ể ạ ữ ấtrúc và phương ti n bi u đ t tệ ể ạ ương đương, 2-C u trúc tấ ương đương nh ngư

phương ti n khác nhau, 3-Phệ ương ti n tệ ương đương nh ng c u trúc khácư ấnhau, 4-C c u trúc và phả ấ ương ti n đ u khác nhau Các ví d nh ệ ề ụ ư one ray of

hope - 一线希望 (m t tia hi v ngộ ọ ), six of one and half a dozen of the other (sáu

và n a tá) ử – 半斤八两 (bát cân bát lượng) là minh ch ng cho tính linh ho tứ ạtrong chuy n d ch ý nghĩa gi a hai h th ng ngôn ng - văn hoá, trong đóể ị ữ ệ ố ữ

s thay đ i TCCS là bi u hi n c a s tự ổ ể ệ ủ ự ương thích văn hoá h n là s ch chơ ự ệ

hướng ng nghĩa.ữ

Tác gi ả Ibtihal Mahdi Al-tameemi [13] ti p c n thành ng ch a TCCSế ậ ữ ứtrong ti ng Anh và ti ng R p t ba m c đ tế ế Ả ậ ừ ứ ộ ương đương d ch thu t: hoànị ậtoàn, m t ph n và không tộ ầ ương đương Ví d , ụ seventh heaven được d ch làịةعباسلا ءامسلا يف (thiên đường th b y), ph n ánh ni m tin tôn giáo chungứ ả ả ề

v ề b y t ng tr i ả ầ ờ trong c H i giáo ho c th n h c Do Thái Trong trả ồ ặ ầ ọ ường

h p không có thành ng tợ ữ ương đương, tác gi khuy n ngh s d ng phả ế ị ử ụ ươngpháp gi i thích ho c ch p nh n s thi u h t, cho th y vai trò trung gianả ặ ấ ậ ự ế ụ ấ

c a d ch thu t trong vi c tái t o giá tr văn hoá qua TCCS.ủ ị ậ ệ ạ ị

Tác gi ả Jelena Nikitkova [14] đã đ i chi u gi a 156 thành ng ti ngố ế ữ ữ ếAnh và 212 thành ng ti ng Litva có ch a TCCS t ữ ế ứ ừ m t ộ đ n ế m ườ K t qu i ế ảcho th y TCCS ấ m t ộ và hai ph bi n nh t trong c hai ngôn ng Tuy nhiên,ổ ế ấ ả ữ

Trang 27

TCCS chín l i xu t hi n v i t n su t cao h n trong thành ng ti ng Litva,ạ ấ ệ ớ ầ ấ ơ ữ ếcho th y s khác bi t gi a hai n n văn hoá Nghiên c u ch ra nhi u TCCSấ ự ệ ữ ề ứ ỉ ềtrong thành ng không mang nghĩa đ nh lữ ị ượng, chúng ch y u bi u đ t cácủ ế ể ạgiá tr phi s lị ố ượng Đ ng th i, tác gi kh ng đ nh vi c l a ch n TCCS trongồ ờ ả ẳ ị ệ ự ọthành ng ph n l n do y u t văn hoá chi ph i, d n đ n s hình thành cácữ ầ ớ ế ố ố ẫ ế ựnhóm ng nghĩa đ c thù cho t ng ngôn ng , ví d , nhóm thành ng chữ ặ ừ ữ ụ ữ ỉhành vi u ng rố ượu (văn hoá Anh) và nhóm thành ng liên quan đ n h hàngữ ế ọthân t c (văn hoá Litva).ộ

Như vậy, những nghiên cứu về TCCS ở nước ngoài tập trung trên 3 góc độ:ngôn ngữ (ngữ pháp, tri nhận), văn hoá và ngôn ngữ giao văn hoá Những nghiêncứu nêu trên cho thấy tính phong phú trong nghiên cứu về TCCS Đây là nềntảng quan trọng để luận án khai thác khi phân tích đặc điểm ngữ nghĩa dưới góc

độ tri nhận và phân tích vai trò phản ánh tư duy văn hoá của TCCS trong TNTNThái (liên hệ với TNTN Vi t).ệ

1.1.1.2 Nghiên cứu về từ chỉ con số ở Việt Nam

a Từ chỉ con số được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học

Từ góc độ ngôn ngữ học, TCCS được đề cập đến trong các lĩnh vực: từvựng, ngữ pháp; ngữ nghĩa, ngữ dụng; tri nhận

a1 Từ chỉ con số được nghiên cứu trên phương diện từ vựng - ngữ pháp

Từ góc độ từ vựng - ngữ pháp, các nghiên cứu về TCCS được triển khai từnhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm: hình thái phạm trù số, hình thức ngữ âm,cấu tạo và phân loại từ loại (gắn với việc xác định tính chất thực từ hoặc hư từcủa TCCS) Những hướng tiếp cận này phản ánh sự đa dạng trong quan điểm họcthuật cũng như sự phức tạp của TCCS trong hệ thống từ vựng-ngữ pháp

Xét TCCS trong mối quan hệ với hình thái phạm trù số, tác giả Nguyễn Như

Ý [15] cho rằng, số là “phạm trù ngữ pháp biểu thị đặc trưng lượng các đối tượngcủa tư duy”, bao gồm: “1) Hình thái phạm trù của danh từ chỉ mối quan hệ sốlượng khác nhau của các đối tượng 2) Hình thái phạm trù của tính từ chỉ mốiquan hệ của nó với danh từ trong một hình thái số nhất định 3) Hình thái phạm

Trang 28

trù của động từ chỉ mối quan hệ của một quá trình, một hành động hay trạng tháivới một chủ thể hoặc nhiều chủ thể” [15, 250] Quan điểm này được củng cố bởinhận định của Nguyễn Kim Thản [16], khi ông nhấn mạnh vai trò của phạm trù

số trong việc phân biệt một vật với hơn một vật, một nhóm vật hay một khối vật

liệu Từ đó có thể nhận thấy rằng, phạm trù số có chức năng xác định dạng tồn

tại số ít, số nhiều của đối tượng và mối liên hệ với TCCS Tuy nhiên, cần phân

biệt rằng phạm trù số là một hiện tượng ngữ pháp rộng, trong khi TCCS là nhữngđơn vị từ vựng cụ thể gắn với ý nghĩa biểu đạt số lượng

Xét hình thức ngữ âm của TCCS, tác giả Hoàng Thị Châu đã phân tích ngữ

tộc Austro-Thái (gồm ngành Thái, ngành Kadai) Đặc biệt, tác giả khẳng định,

“thoạt nhìn, hệ thống số đếm của người Thái, Tày-Nùng ở Việt Nam và của TháiLan có vẻ giống nhau” [17 1-3]-tức là chúng được phát âm gần như nhau, songdựa trên những phân tích trường hợp TCCS sl/s (Tày-Nùng/Thái-Thái Lan:slong, slam, slis/song, sam, sí-hai, ba, bốn), nh/j (Thái/Thái Lan: nhi/ji-hai),h/r(Thái/Thái Lan: họi/rói-trăm), p/ph(Thái/Thái Lan: pẳn/phan-nghìn) tác giả đãchỉ ra những khác biệt tinh tế giữa chúng

Xét hình thức cấu tạo của TCCS, với tư cách là tín hiệu ngôn ngữ, TCCS

được xác định là từ đơn hoặc từ ghép Theo Nguyễn Kim Thản [18], các TCCS

từ một đến mười có cấu tạo là từ đơn, được ông gọi là “từ thuần” [18, 191], trong khi các TCCS từ mười một trở lên là từ ghép Điều này phản ánh sự chuyển dịch

về hình thức cấu tạo ngôn ngữ khi biểu đạt số lượng tăng dần, đồng thời gợi mởkhả năng hình thành tiểu loại cấu trúc trong lớp TCCS

Xét TCCS và vấn đề phân loại từ loại, các quan điểm học thuật hiện nay có

thể được chia thành bốn xu hướng chính:

Xu hướng thứ nhất xem TCCS là tính từ Theo tác giả Nguyễn Kim Thản:

“trong các sách ngữ pháp cũ về tiếng Việt, người ta xếp số từ vào tính từ (TrươngVĩnh Ký, Bu-sê, Bác-bi-ê…)” [dẫn theo 18, 188] Nếu xét về chức năng ngữpháp, TCCS (theo xu hướng này là phạm trù có đặc điểm của số từ) và các từ chỉđặc điểm tính chất (tính từ) có điểm tương đồng nhất định (thường làm định ngữcho danh từ) Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra sự khác biệt căn bản: các tính từ có khả

Trang 29

năng nhận bổ ngữ, trong khi TCCS thì không, cho thấy việc xếp TCCS vào tính

từ cần được cân nhắc cẩn trọng

Xu hướng thứ hai cho rằng TCCS thuộc một tiểu loại của danh từ Theo các

tác giả trong Ngữ pháp tiếng Việt [19], danh từ được phân chia thành nhiều tiểu loại, trong đó có danh từ chỉ lượng sự vật (ví dụ: một, hai, ba, mười, trăm…).

Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng nhấn mạnh rằng danh từ số lượng có đặc điểmriêng biệt, điển hình là không thường đảm nhiệm vai trò chính tố trong cụm danh

từ Bên cạnh đó, tác giả Đinh Văn Đức [20], khi bàn luận về số từ (trong đó xuấthiện các TCCS), lí giải: “số từ, tuy gần với danh từ, nhưng trong tiếng Việt làmột tập hợp kì thực không thuần nhất Số từ, xét trên phương diện bản chất ýnghĩa vị tất đã là thực từ Số là một loại quan hệ giữa các thực thể xuất hiện trongphản ánh của con người Số có liên hệ với sự vật nên về phương diện nào đó nó

có gần với với thực từ trong các biểu hiện ngữ pháp, nhưng bản chất quan hệ của

số từ đã tách nó ra khỏi phạm trù của danh từ” [20, 54-55] Những khẳng địnhnày cho thấy TCCS vẫn có thể xem xét phân loại cụ thể thành các từ loại độc lập

Xu hướng thứ ba đề xuất quan điểm TCCS thuộc vào một từ loai chung là

số mục-chỉ định từ Tác giả Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ [21],Bùi Đức Tịnh [22] phân chia nhóm này thành hai tiểu loại: lượng số chỉ định từ

(biểu thị số lượng) và thứ tự chỉ định từ (biểu thị thứ tự, ví dụ thứ nhì, đệ nhất,

mồng một…) Mặc dù, TCCS có một số đặc điểm tương đồng với từ chỉ định như này, kia, ấy về vị trí trong câu, song về nghĩa từ vựng, hai nhóm từ này có chức

năng hoàn toàn khác biệt Điều này cho thấy cách phân chia này mang tính tổnghợp và khái quát hóa, nhưng chưa thực sự làm rõ bản chất của TCCS

Xu hướng thứ tư được nhiều học giả hiện đại ủng hộ, xác định TCCS là một

từ loại độc lập, gọi là số từ Các tác giả Lê Văn Lý [23], Lê Biên [24], Diệp

Quang Ban, Hoàng Văn Thung [25], Đỗ Hữu Châu [26], Nguyễn Anh Quế [27],Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương [28] ,Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp[29] đều đồng thuận rằng số từ có hệ thống cấu trúc và chức năng ngữ pháp riêng

biệt Chẳng hạn, các từ có khả năng kết hợp với độ, chừng, ngót là biểu hiện của

từ loại số từ Ngoài ra, các định nghĩa trong tài liệu của các học giả kể trên đều

Trang 30

xác lập vị thế từ loại độc lập cho số từ, với chức năng chính là làm phụ tố trongcụm danh từ, biểu thị số lượng xác định hoặc ước định, và đôi khi là thứ tự Cácnhà nghiên cứu còn đề cập đến những cách phân loại số từ như sau: Cách một, số

từ được phân chia thành 2 loại: số từ chỉ số đếm/số từ chỉ số lượng và số từ chỉ

số thứ tự (theo tác giả Nguyễn Kim Thản [18], Lê Biên [24], Diệp Quang Ban,Hoàng Văn Thung [25], Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương [28]) Cách hai, số

từ được phân chia thành 3 loại: số từ chính xác, số từ ước chừng, số thứ tự (theotác giả Nguyễn Anh Quế [27], Nguyễn Hữu Quỳnh [30]) Cách ba, số từ đượcphân chia thành 4 loại: số từ chỉ số lượng chính xác, số từ ước chừng, số từ chỉthứ tự, số từ dùng với ý nghĩa biểu trưng (theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên [31]).Mặc dù sự sắp xếp số từ vào các nhóm thực từ hay hư từ và cách phân loại số từ

có điểm khác nhau, song các tác giả đều thống nhất số từ biểu thị ý nghĩa sốlượng và thứ tự

Xét vị trí của TCCS trong phân loại thực từ-hư từ, tồn tại hai quan điểm chủ

yếu Quan điểm thứ nhất xem số từ là thực từ (theo các tác giả Lê Biên [24], ĐỗHữu Châu [26], Nguyễn Anh Quế [27], Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương [28]

…) do chúng phản ánh thực thể nhận thức Quan điểm thứ hai xem chúng là từloại trung gian giữa thực từ và hư từ (theo tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng VănThung [25]) bởi lẽ “xét theo đối tượng phản ánh trong nhận thức và tư duy, ýnghĩa số vừa có tính chất thực (khái niệm số thường gắn với khái niệm thực thể),vừa có tính chất hư (không tồn tại như những thực thể hay quá trình)” [25, 107].Các tài liệu kể trên cung cấp căn cứ lí luận quan trọng để chứng minh, gọitên và phân chia từ loại cụ thể của các TCCS trong luận án

a2 Từ chỉ con số được nghiên cứu trên phương diện nghĩa học và dụng học

Trên phương diện nghĩa học, tác gi Bùi H nh C n trong ả ạ ẩ T v ng ch s ừ ự ữ ố

và s l ố ượ [32] đã s u t m và h th ng hoá m t kh i l ng ư ầ ệ ố ộ ố ượng l n t li u dânớ ư ệgian và ngôn ng thữ ường nh t (thành ng , t c ng , ca dao, câu đ , th ca,ậ ữ ụ ữ ố ơquán ng …), ph n ánh s phong phú c a TCCS qua các ví d nh : ữ ả ự ủ ụ ư m t chân ộ

m t tay, m t con cá l i bao ng ộ ộ ộ ườ i buông câu, m t đ m y ngàm, hai bàn tay ộ ố ấ

Trang 31

tr ng, ba sôi hai l nh, ba quy n phân l p, nh t b n tam nhãn, nh th p bát ắ ạ ề ậ ấ ả ị ậ tinh, tam tai, bách th o… ả Tuy v y, công trình ch y u d ng vi c chú gi i ýậ ủ ế ừ ở ệ ảnghĩa, ch a đi sâu phân tích c u trúc t v ng c a các đ n v ch a TCCS.ư ấ ừ ự ủ ơ ị ứ

Trên phương diện dụng học, các nhà nghiên cứu như Đỗ Hữu Châu [33],[34],[35] và Nguyễn Thiện Giáp [36] đều đề cập đến TCCS trong các biểu thức

quy chiếu mang tính không xác định, điển hình như các danh ngữ một phóng viên

nào đó, một ca sĩ nào đó, nhằm chỉ một thực thể chưa được xác định cụ thể Các

tác giả xem chúng như một phần trong các biểu thức miêu tả không xác định, gọi

là miêu tả tố Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này, TCCS khác như hai, ba, bốn,

năm… vẫn chưa được khai thác một cách đầy đủ và hệ thống trong các biểu thức

miêu tả không xác định Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục mở rộng phạm vi nghiêncứu nhằm làm rõ hơn ý nghĩa và chức năng dụng học của các TCCS trong các cấutrúc biểu đạt cụ thể

a3 Từ chỉ con số được nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ học tri nhận

Trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, một số học giả tiếp cận TCCS từphương diện tri nhận như tác giả Lý Toàn Thắng [37], tác giả Trần Văn Cơ [38],[39] Tác giả Lý Toàn Thắng [40] xem TCCS như những yếu tố có chức nănggiới hạn về mặt số lượng hoặc không gian đối với danh từ khối trong cấu trúcngôn ngữ Nhận định này góp phần làm sáng tỏ vai trò của TCCS trong việc cấutrúc hóa cách con người tri nhận thế giới hiện thực thông qua ngôn ngữ Trong

khi đó, Trần Văn Cơ [38], khi giới thiệu khái niệm bức tranh ngôn ngữ gắn với ý niệm số phận [38, tr 193-199] và dựa trên những định hướng nghiên cứu của các

học giả Nga, đã tiếp cận giá trị tri nhận của các TCCS từ một đến mười Bên

cạnh đó, trong bài viết Số 7: một con số kì diệu [38, tr 243-246], tác giả Trường

Xuân đã khai thác sâu khía cạnh thần kinh - tâm lí gắn với con số bảy Theo ông,TCCS có giá trị lượng 7±2 phản ánh giới hạn khả năng tiếp nhận thông tin củanão bộ Trong tiến trình tiến hóa, ngưỡng 7±2 đã trở thành mức tối đa cho khảnăng ghi nhớ trực tiếp các tín hiệu từ môi trường Bài viết cũng chỉ ra rằng nhữngcông trình kiến trúc hoặc hệ thống phức tạp được cấu trúc dựa trên 5 hoặc 7 yếu

Trang 32

tố cơ bản sẽ dễ dàng được thị giác con người tiếp nhận như một tổng thể thốngnhất Ngược lại, khi số lượng yếu tố vượt quá giới hạn này, thị giác chỉ có thểtiếp nhận theo từng nhóm nhỏ trong khuôn khổ 7±2 [dẫn theo 38, tr 244-245].Những quan điểm trên đã đặt nền móng cho xu hướng nghiên cứu TCCS từ khíacạnh tri nhận, nhấn mạnh khả năng tri giác của cơ thể người-đặc biệt là não bộ vàthị giác-trong quá trình hình thành cũng như sử dụng các khái niệm số học trongngôn ngữ.

Ngoài ra, các nghiên cứu độc lập cũng góp phần bổ sung vào hướng tiếp

cận tri nhận Tiêu biểu là bài viết Con số 5 của tác giả Nguyễn Xuân Nguyễn Phú Thứ [40], bài viết trình bày mối liên hệ tri nhận giữa số năm và các

Vinh-hệ thống biểu trưng văn hóa như ngũ quan (nhĩ, mục, tị, khẩu, thiệt), ngũ phúc(phú, thọ, khang ninh, du hảo đức, khảo chung), ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa,thổ), ngũ cúng (hương, đăng, trà, hoa, quả),… Những ví dụ này cho thấy, TCCSkhông chỉ mang chức năng định lượng, mà còn gắn với khả năng tri nhận vănhóa sâu sắc về thế giới tự nhiên và xã hội của người Việt

Từ những dẫn liệu trên, có thể khẳng định rằng việc tiếp cận TCCS dướigóc nhìn ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam đã bắt đầu có những bước đi đầutiên, đặc biệt là qua phân tích các mối quan hệ giữa TCCS và khả năng tri giáccủa con người Nhìn chung, các công trình vẫn mang tính tiên khởi, rời rạc,nghiên cứu tri nhận về TCCS trong một ngôn ngữ cụ thể chưa hình thành hệthống nghiên cứu (các phương diện ý niệm CON SỐ là gì? cấu trúc ý niệm CON

SỐ ra sao? Vẫn là một khoảng trống)

b Từ chỉ con số được nghiên cứu từ góc độ văn hoá học

Nghiên cứu TCCS theo hướng này, tiêu biểu có tác giả Trần Gia Anh [41],tác giả Trần Ngọc Thêm [42]

Tác giả Trần Gia Anh [41] xác định các phương diện văn hoá của TCCSđịnh lượng:1-ấn tượng văn hoá của con số, 2-vai trò trong tục ngữ, thành ngữ, cadao, 3-quan hệ với đời sống dân gian, và 4-quan niệm chữa bệnh bằng số Theo

đó, TCCS luôn gắn với giá trị văn hoá đặc thù: một trăm liên hệ truyền thuyết

“Con Rồng Cháu Tiên”; bảy chịu ảnh hưởng Phật giáo; ba, bảy, chín phản ánh

Trang 33

quan niệm hồn vía; ba sáu biểu trưng sung túc; ba gắn với sự bất thành; mười ba

biểu thị điềm rủi phương Tây; số trùng nhật (3/3, 5/5,…) mang ý nghĩa lễ tục

Trong tục ngữ, thành ngữ, ca dao, TCCS như trăm, ba, bảy hay số thứ tự thường

quy chiếu điển tích, biểu thị tương đương và quy nạp số lượng, cho thấy sự gắn

bó mật thiết giữa TCCS và văn hoá dân gian Việt

Tác giả Trần Ngọc Thêm [42] cho rằng người Việt có xu hướng ưa chuộnglối diễn đạt bằng TCCS mang tính biểu trưng Trong khi người phương Tây

thường sử dụng những từ ngữ khái quát như tất cả, thì người Việt lại ưu tiên các biểu thức TCCS ước lệ như: ba thu, nói ba phải, ba mặt một lời, năm bè bảy mối,

ba chìm bảy nổi, tam khoanh tứ đốm, yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, chín suối, chín tầng mây, mười tám đời Hùng Vương, ba mươi sáu cái nõn nường, trăm dâu

đổ một đầu tằm, trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm họ, vạn sự…

Theo ông, đặc điểm này phản ánh “lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố”, “lối sống ưa

ổn định” và “xu hướng đề cao sự cân đối, hài hoà trong các mối quan hệ xã hội”của người Việt [42, 161] Do đó, việc sử dụng các TCCS trong những cấu trúc

ngôn ngữ có tính đối xứng, cân đối trở thành một đặc trưng nổi bật, ví dụ một

quả dâu da bằng ba chén thuốc Như vậy, công trình của tác giả Trần Ngọc

Thêm là một minh chứng cho tính chất biểu trưng, ước lệ và quy tắc tổ chức cânđối trong việc sử dụng TCCS, góp phần làm sáng tỏ cách thức biểu đạt giá trị vănhoá của người Việt thông qua ngôn ngữ

c Từ chỉ con số được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ giao văn hoá

Từ góc độ ngôn ngữ giao văn hoá, các tài liệu tập trung lí giải đặc điểm củacác TCCS dựa trên nguồn gốc văn hoá dân tộc Hướng phân tích có thể tiếp cậntrong phạm vi nội ngôn và so sánh giữa các ngôn ngữ khác nhau

c1 Trong phạm vi nghiên cứu nội ngôn

Hướng nghiên cứu này nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.Các công trình nghiên cứu tập trung phân tích TCCS trong văn hoá Trung Hoa vàViệt Nam

Về nghiên cứu TCCS trong văn hoá Trung Hoa, tác giả Nguyễn Văn Khang trong Ngôn ngữ - Văn hoá Trung Hoa qua cách sử dụng con số [43] đã ch ra

Trang 34

cách th c dùng ứ TCCS c a ngủ ười Trung Hoa H s d ng nhi u ọ ử ụ ề TCCS bi uể

th lị ượng th p nh ng cũng a chu ng các ấ ư ư ộ TCCS l n ớ tròn (trăm, nghìn,

v n ạ …) Tác giả H Th Trinh Anh v i ồ ị ớ Tìm hi u s chuy n nghĩa c a “ ể ự ể ủ tam” trong ng c đ nh t góc đ ng ữ ố ị ừ ộ ườ i Vi t Nam th đ c Hán ng ệ ụ ắ ữ [44] đã d aựtrên c s lí thuy t v t v ng h c và đ c đi m văn hoá Trung Hoa đ xácơ ở ế ề ừ ự ọ ặ ể ể

đ nh nguyên nhân d n đ n hi n tị ẫ ế ệ ượng chuy n nghĩa c a ể ủ TCCS “三 tam”trong Hán ng Các bài vi t ch ng minh m i quan h bi n ch ng gi a ngônữ ế ứ ố ệ ệ ứ ữ

ng và văn hoá c a dân t c Trung Hoa ữ ủ ộ

V ề nghiên c u ứ TCCS trong văn hoá Vi t Nam ệ , tác giả Nguyễn Văn Chiến

trong Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hoá Việt có bài viết Số đếm trong ngôn

ngữ, các tầng văn hoá số và những gợi ý nghiên cứu các từ chỉ số trong tiếng Việt hiện đại [45] xác định: “Số đếm trong ngôn ngữ chính là bằng chứng cụ thể

về kiểu tư duy mà con người nhận thức khía cạnh lượng của vật chất kháchquan” Nó được ghi nhận như một hiện tượng “có tính lí do” [45, 319], “mỗi hệthống kí mã ngôn ngữ số đếm đều phải dựa trên các vật thể làm mốc quy chiếutính đếm” [45, 320] Và vật thể làm mốc được quy định bởi khía cạnh văn hoá -

ngôn ngữ trong các mật mã số đếm Năm kiểu hệ thống kí mã ngôn ngữ số đếm

(bao gồm: mã số 2, mã số 5, mã số 10, mã số 12, mã số 20) được phân tích tỉ mỉ

về nguyên tắc cấu tạo Đây được xem là một cơ sở xác định nguồn gốc ý nghĩacủa các TCCS trong văn hoá Việt Nam

Tác giả Nguy n Th Bích Hà [46ễ ị ] xem TCCS là một dạng mã văn hoá dân

gian, minh chứng qua việc phân tích mô típ số lượng trong truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô Mô típ 100-1, với các con số mang tính biểu trưng cao,

được lí giải như một cấu trúc ngữ nghĩa - văn hoá có tầng bậc: 100 biểu trưngcho lí tưởng, 99 biểu đạt sự xuất sắc chưa trọn vẹn, và 1 là biểu hiện của sự thiếuhụt then chốt

Tác gi Đ Th Kim Liên [47], Nguy n Th Hi n [48] đã kh o sát m cả ỗ ị ễ ị ề ả ứ

đ xu t hi n và phân tích ý nghĩa bi u tr ng c a các TCCS nh ộ ấ ệ ể ư ủ ư m t ộ , ba

trong thành ng và văn h c dân gian Vi t Nam TCCS ữ ọ ệ ba được ghi nh n v iậ ớ

Trang 35

t n su t cao trong thành ng (chi m 28,98%) và mang nhi u l p nghĩa:ầ ấ ữ ế ề ớ

bi u tr ng cho s ít, s nhi u, s ph c t p và tính huy n bí ể ư ố ố ề ự ứ ạ ề Trong một bài

viết khác, tác giả Đỗ Thị Kim Liên [47] phân tích ngữ nghĩa các TCCS (từ một đến mười) xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính Tác giả Mai Xuân Huy [50] vận

dụng lí số phương Đông kết hợp một phần thần số học phương Tây để phân tíchhiệu quả ngữ dụng của TCCS trong quảng cáo Nghiên cứu phân loại các dạng sốđược sử dụng (số địa chỉ, giá cả, mã sản phẩm…) và đề xuất chiến lược sử dụngTCCS nhằm đạt hiệu quả thuyết phục tối ưu trong diễn ngôn quảng cáo Nhómtác giả Lê Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Mai Hương [51] dựa trên lí thuyết kết trị đểxác lập mô hình kết trị của số từ chỉ số lượng trong tiếng Việt Nghiên cứu xácđịnh ba loại kết tố cơ sở: kết tố sự vật được tính đếm (chính là các danh từ chỉ sựvật cụ thể), kết tố đơn vị đường dùng để tính đếm (là các danh từ chỉ đơn vị) vàkết tố thể được định lượng Những yếu tố này chịu sự chi phối ấn định trực tiếpcủa số từ chỉ số lượng “Khi được hiện thức hoá, chúng góp phần bộc lộ nhữngđặc điểm bản chất của số từ chỉ số lượng” [51, 13] Tài liệu thể hiện quan điểmnới rộng biên độ kết trị so với L.Tesnière, là một nghiên cứu ứng dụng lí thuyếtthú vị khi nghiên cứu khả năng kết hợp của các TCCS Tác giả Hà Quang Năng[52] đã thống kê và phân tích 490 câu tục ngữ tiếng Việt chứa TCCS Kết quả

cho thấy sự ưu thế của các số một, ba, trăm, nghìn và các số thứ tự, đồng thời chỉ

ra các quy luật kết hợp của TCCS với danh từ, động từ và tính từ trong tục ngữ.Nghiên cứu TCCS trong ngôn ngữ Việt Nam cũng là đối tượng được quan

tâm trong các luận văn, luận án Tác giả Trần Thị Lam Thuỷ trong luận án Đặc

điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam [53] đã khảo sát đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của TCCS trong ba thể

loại: thành ngữ, tục ngữ và ca dao Tác giả sử dụng triết lí âm dương và các môhình văn hoá truyền thống để lí giải giá trị biểu trưng của con số trong nhận thức

tự nhiên-xã hội Một số bài viết khác của tác giả Con số hai trong thành ngữ, tục

ngữ và ca dao người Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa [54] và Sự hoạt động và biến đổi ngữ nghĩa của con số ba [55] cung cấp tư liệu phong phú cho

nghiên cứu đối chiếu văn hoá-ngôn ngữ Có thể nói, công trình nghiên cứu của

Trang 36

tác giả Trần Thị Lam Thuỷ được xem là một nghiên cứu có tính hệ thống vềTCCS trong tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ giao văn hoá, góp phần gợi ýcách thức triển khai nghiên cứu, làm nền tảng đối chiếu về TCCS trong ngôn ngữcủa các dân tộc khác Ngoài ra, luận văn của tác giả Khổng Thị Hạnh [56],Nguyễn Thị Duyên [57] và Lê Thúy Phương [58] tập trung làm rõ vai trò biểutrưng của số từ chỉ lượng (TCCS) trong văn học dân gian và văn học viết ViệtNam Khổng Thị Hạnh [56] khảo sát TCCS từ góc độ ngôn ngữ học và văn hoáhọc, làm nổi bật chức năng quy chiếu và khuynh hướng biểu trưng khác biệt giữa

ca dao (khái quát) và thơ Nguyễn Bính (cụ thể) Nguyễn Thị Duyên [57] tiếp cậnTCCS theo lí thuyết biểu tượng, phân tích cấu trúc và quan hệ biểu trưng giữa số

từ với các yếu tố văn hoá như thời gian, không gian, vật thể, qua đó nhấn mạnhchiều sâu văn hoá của số từ trong ca dao Lê Thúy Phương [58] nghiên cứuTCCS dưới ba bình diện ngôn ngữ học (kết học, nghĩa học, dụng học), làm rõchức năng cú pháp, khả năng kết hợp và giá trị biểu trưng của số từ trong cáchành vi ngôn ngữ và ngữ cảnh sử dụng trong nhiều thể loại văn học

Như vậy, ở Việt Nam, các nghiên cứu về TCCS dưới góc độ ngôn ngữ giaovăn hoá chủ yếu tìm hiểu trong thành ngữ của Trung Hoa, TNTN, ca dao củaViệt Nam Điểm chung của các công trình nghiên cứu này tập trung ở một sốphương diện như: hệ thống hoá đặc điểm từ loại, phân tích khả năng kết hợp củaTCCS, phân tích ý nghĩa của TCCS dựa vào ngữ cảnh cụ thể

c2 Trong phạm vi so sánh giữa các ngôn ngữ

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về TCCS chủ yếu theo hướng so sánh giữatiếng Trung - tiếng Việt, tiếng Lào - tiếng Việt, tiếng Anh - tiếng Việt

Phân tích so sánh đặc điểm TCCS giữa ngôn ngữ Trung Quốc và Việt Nam

nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tác giả Tô Vũ Thành [59] tiến

hành phân tích ý nghĩa văn hoá của TCCS ba trong tiếng Trung Quốc, qua đó chỉ

ra sự đa nghĩa và tính biểu trưng đa dạng của đơn vị này: ba vừa mang nghĩa rất

nhiều, vừa biểu thị số ít, vừa là biểu tượng của tính chỉnh thể, ổn định Khi đối

chiếu với tiếng Việt, tác giả chỉ ra rằng, tuy ba cũng biểu thị số lượng nhiều, song còn mang hàm nghĩa giới hạn, thậm chí đôi khi bị gắn với yếu tố không

Trang 37

may mắn trong quan niệm văn hoá dân gian Nhóm tác giả Ngô Thanh Mai,

Phạm Thị Thanh Vân [59] tập trung vào TCCS bách () trong tiếng Hán và trăm

trong tiếng Việt, xác lập tương ứng dựa trên từ nguyên và dữ liệu từ điển Công

trình thống kê 316 đơn vị thành ngữ tiếng Hán chứa yếu tố bách, phân loại theo

các mô hình cấu trúc như đẳng lập, định trung, chủ vị, đồng thời đối chiếu vớicác đơn vị tương đương trong tiếng Việt Nhóm tác giả Phạm Thị Linh, Đỗ Thị

Thanh [61] khảo sát và đối chiếu TCCS yi () trong tiếng Hán với một trong

tiếng Việt Nghiên cứu làm rõ những điểm tương đồng về mặt ý nghĩa, đồng thờiphân tích khác biệt về khả năng cấu tạo từ, biến âm, và đặc điểm ngữ pháp giữahai đơn vị này Tác giả Phạm Ngọc Hàm [62] tiến hành khảo sát 18 đơn vị từ ngữ

và 119 thành ngữ có chứa TCCS cửu (九), từ đó so sánh với Việt Theo tác giả,

cửu được tiếng Việt vay mượn như một từ Hán Việt biểu thị con số tự nhiên cao

nhất, đồng thời mang hàm nghĩa biểu trưng cho sự vương giả, trường tồn, sinhsôi nảy nở trong cả ngôn ngữ và văn học hai dân tộc Nhóm tác giả Hoàng Dũng,

Đỗ Thị Hồng Nhung [63] không phân tích riêng lẻ từng con số, mà khảo sát tầnsuất xuất hiện các TCCS mang tính biểu trưng trong hệ thống TNTN tiếng Hán

và tiếng Việt Kết quả chỉ ra rằng: tiếng Việt sử dụng tới 28 TCCS trong TNTN,

nhiều hơn 16 TCCS trong tiếng Hán; TCCS một là đơn vị phổ biến nhất trong cả

hai ngôn ngữ; TCCS thập phân ít được sử dụng; tiếng Hán có xu hướng ưachuộng các số tròn mang giá trị lớn (10, 100, 1000…) Nghiên cứu cũng cungcấp phân tích định lượng về khả năng kết hợp, tính chẵn-lẻ và ý nghĩa biểu trưngcủa TCCS trong hai ngôn ngữ Ngoài ra, luận văn của tác giả Giang Thị Tám[64], Mạc Tử Kỷ [65] đã so sánh thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có chứaTCCS, phân tích sự tương đồng và dị biệt về cấu trúc, ngữ nghĩa và hàm ý vănhoá, các dạng cấu trúc ngữ pháp chứa TCCS trong thành ngữ tiếng Hán (cấu trúcđẳng lập, đề - thuyết, cộng ngữ, danh ngữ, câu phức) và đặc biệt tập trung vàovấn đề chuyển dịch thành ngữ chứa TCCS từ tiếng Hán sang tiếng Việt, trên cơ

sở lí thuyết dịch thuật với các phương pháp như: dịch nguyên văn, dịch saophỏng, dịch tương đương thành ngữ và dịch nghĩa

Trang 38

Không chỉ so sánh tiếng Trung và tiếng Việt, nhiều nghiên cứu còn liên hệ,

so sánh các ngôn ngữ khác với tiếng Việt, dựa trên những đặc trưng văn hoá của

từng dân tộc Luận án của tác giả Trần Lê Duyến [66] triển khai nghiên cứu đốichiếu TCCS trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trên nền tảng đặctrưng văn hoá hai dân tộc Công trình phân tích tần suất xuất hiện, cấu trúc ngữpháp cũng như đặc điểm ngữ nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng và biểu trưng) củaTNTN có chứa TCCS trong hai ngôn ngữ Tác gi ả Phoukham Matthivong [67]

ch ra r ng ti ng Lào không phân bi t rõ ràng gi a thành ng và t c ngỉ ằ ế ệ ữ ữ ụ ữ(g i chung là ọ xú pha xít) Qua kh o sát, tác gi xác đ nh 89 thành ng ti ngả ả ị ữ ếLào và 144 thành ng ti ng Vi t ch a TCCS, trong đó có 11 TCCS xu t hi nữ ế ệ ứ ấ ệ

c hai ngôn ng , 1 TCCS đ c thù cho ti ng Lào và 9 TCCS ch có trong

ti ng Vi t Các TCCS ph bi n trong c hai ngôn ng là: ế ệ ổ ế ả ữ m t, hai, ba, m ộ ườ i

Bên c nh đó, nghiên c u cũng so sánh nghĩa đen và nghĩa bi u tr ng c aạ ứ ể ư ủcác TCCS Tác gi Park Jun [68]ả xây d ng khái ni m và xác l p ch c năngự ệ ậ ứ

c a TCCS trong ti ng Vi t và ti ng Hàn Qu c, ti n hành đ i chi u TCCSủ ế ệ ế ố ế ố ếthu n Vi t - thu n Hàn, Hán Vi t - Hán Hàn Nghiên c u cho th y: c haiầ ệ ầ ệ ứ ấ ảngôn ng đ u s d ng TCCS ữ ề ử ụ m t ộ và ba v i t n su t cao, TCCS mang nghĩaớ ầ ấ

bi u tr ng cho s nhi u ph bi n h n s ch n; ti ng Hàn có s lể ư ố ề ổ ế ơ ố ẵ ế ố ượng TCCStrong TNTN ít h n ti ng Vi t; đ ng th i, các TCCS trong ti ng Hàn thiên vơ ế ệ ồ ờ ế ề

bi u th ý nghĩa ể ị ít và lâu nhi u h n so v i ti ng Vi t.ề ơ ớ ế ệ

Như vậy, các nghiên cứu về TCCS dưới góc độ ngôn ngữ giao văn hoá chủyếu tập trung làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hoá, qua

đó khẳng định tính tồn tại có lí do cũng như sự vận hành của TCCS trong hệ

thống ngôn ngữ Các công trình nghiên cứu đã tiến hành so sánh đặc điểm củacác đơn vị ngôn ngữ (chủ yếu là TNTN) chứa TCCS trên nhiều phương diệnnhư: tần suất xuất hiện, khả năng kết hợp số, ngữ nghĩa trong ngữ cảnh, và chiếnlược dịch thuật Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào so sánh giữa tiếng Hán vàtiếng Việt, bên cạnh đó còn có các công trình so sánh đối chiếu giữa một số ngônngữ khác như tiếng Anh, tiếng Lào, tiếng Hàn với tiếng Việt Những nghiên cứu

Trang 39

này đều đi theo định hướng phân tích so sánh giữa hai ngôn ngữ thuộc hai hệthống ngôn ngữ và văn hoá khác nhau Tuy nhiên, đặc điểm của TCCS trongTNTN của các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh vớingôn ngữ toàn dân vẫn chưa được khám phá

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về tiếng Thái và thành ngữ, tục ngữ Thái

1.1.2.1 Nghiên cứu về tiếng Thái

Vấn đề nghiên cứu về tiếng Thái Việt Nam đã được quan tâm ở một vài khíacạnh thuộc phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa

a Nghiên cứu về tiếng Thái ở phương diện ngữ âm, từ vựng

Vấn đề nghiên cứu ngữ âm tiếng Thái tiêu biểu có công trình Nét đẹp văn

hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La [69]; bài viết Ngôn ngữ và chữ viết của các tác giả người dân tộc Thái như Hoàng Trần Nghịch, Cà Văn

Chung [70, 585-597], tác giả Vương Toàn [71, 175-181], tác giả Sầm Văn Bình

[71, 19-24], tác giả Tạ Văn Thông [71, 104-110], tác giả Trần Trí Dõi [72],[73] Trong cuốn Nét đẹp văn hoá truyền thông của các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn

La [69], chữ Thái được cho là có từ thế kỉ thứ VI, là loại chữ theo hệ Pali, miền

Nam Ấn Độ, các bộ chữ cổ truyền đều dùng tự dạng chữ Phạn (Sanscrit ở ẤnĐộ) “Chữ viết của người Thái ở Việt Nam là loại chữ cổ nhất trong hệ chữ Tháitrên thế giới hiện nay” [69, 59], chúng vẫn giữ gần như nguyên vẹn chữ cổ từthời tổ tiên người Thái để lại cho đến bây giờ Tiếng Thái là ngôn ngữ đơn tiết,

có thanh điệu, thuộc hệ Tai-Kadai Do tiếng Thái gồm nhiều thổ ngữ, phươngngữ, nên người Thái có nhiều loại chữ viết (bộ chữ cổ truyền và 8 bộ kí tự: 2 bộcủa ngành Thái Đen, 4 bộ thuộc ngành Thái Trắng, 1 bộ chữ Thái Quỳ Châu(Nghệ An), 1 bộ mang tên Lai Pao [69,60])

Nhóm tác giả Hoàng Trần Nghịch, Cà Văn Chung trong Ngôn ngữ và chữ

viết [70, 585-597] đã chỉ ra những đặc điểm ngữ âm khác biệt của tiếng Thái so

với tiếng Việt, cho dù về cơ bản âm tiết tiếng Thái có cấu tạo giống với âm tiếttiếng Việt nhưng vẫn có những điểm khác biệt ở từng yếu tố âm đoạn, siêu âmđoạn Tiếng Thái có 2 thanh điệu khác với tiếng quốc ngữ, các vần không có

trong ngôn ngữ khác (như aư), các cặp vần không phân biệt rõ (ơ-â, âu-au, o-oo,

Trang 40

anh-eng), một số phụ âm không phân biệt rõ (các phụ âm d,gi,r phát âm như

nhau và được viết tương đương cặp chữ j,J; các phụ âm x,s phát âm như nhau và

được viết tương đương cặp chữ x,X; các phụ âm ch,tr phát âm như nhau và được

viết tương đương cặp chữ s,S, các phụ âm c,k,q phát âm như nhau và được viết

tương đương cặp chữ c,C của tiếng Thái) Đồng thời, các tác giả còn phân tích

các phương ngữ tiếng Thái không phân biệt phụ âm b-v, đ-l và một số âm tiết

ghép Tiếng Thái xuất hiện một số trường hợp âm tiết ghép Chẳng hạn, ghép hai

âm tiết xlac <xlG (xlák xlông-dịp hiếm hoi), ghép ba âm tiết klmuc (khlmúk-thấp

lè tè).

Dẫn theo bài viết của tác giả Vương Toàn [71, 175-181]: “Chữ Thái Đen ởSơn La “là chữ Thái điển hình” vì phần lớn các bộ chữ khác như Mai Châu (HoàBình), Mường Lay, Mường So (Lai Châu)… đều có bẳng chữ cái và nguyên âm

cơ bản giống bảng chữ cái này… Hơn nữa, đây là “thứ chữ đã được viết thànhnhiều tác phẩm văn học Thái nhất” (theo PGS.TS Hoàng Lương)” [71, 177]

Tác giả Sầm Văn Bình [71, 19-24] trong bài viết Phụ âm vần-một giải pháp

cho ghép vần chữ Thái [71, 19-24] đã trình bày cách ghép vần trong tiếng Thái.

Tác giả chỉ ra, tiếng Thái có vần đơn (chỉ được viết bởi 1 kí tự), vần kép (có từ 2

kí tự trở lên), và “một số vần có 2 đến 3 kí tự như vần -au, ăng… trong phiên âmtiếng Việt nhưng xét trong chữ Thái vẫn là một vần đơn” [71, 21]

Tác giả Tạ Văn Thông [71, 104-110] trong bài viết Chữ viết dân tộc Thái ở

Việt Nam đã hệ thống các chữ viết cổ truyền xếp chúng vào loại chữ viết ghi ý,

nửa ghi âm, nửa ghi ý, gốc Trung Quốc-có tự dạng Hán hoặc chữ ghi âm gốc ẤnĐộ-có tự dạng Sanskrit (chữ Thái Việt Nam thuộc tự dạng này) Theo đó, tác giảphân tích lịch sự nguồn gốc chữ Thái cổ Việt Nam có quan hệ với các hệ chữkhác như chữ Khơ-me, chữ Môn, các hệ chữ Thái như chữ Thái Lan (Xiêm), chữLào, Lự…

Tác giả Trần Trí Dõi trong Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt

Nam [72] xác định đặc điểm ngữ âm tiếng Thái là ngôn ngữ đơn tiết điển hình.

“Các từ đơn tiết này có cấu trúc cố định gồm âm đầu, vần (âm nối/âm đệm, âm chính với âm cuối) và thanh điệu” [72, 25] Điều này tương đồng với đặc điểm

Ngày đăng: 12/11/2025, 17:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vị                    Phương thức từ hoá hình vị                       Từ đơn - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Hình v ị Phương thức từ hoá hình vị Từ đơn (Trang 85)
Hình vị                    Phương thức từ hoá hình vị                         Từ đơn - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Hình v ị Phương thức từ hoá hình vị Từ đơn (Trang 86)
Sơ đồ sau: - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Sơ đồ sau (Trang 87)
Sơ đồ 2.1. Cấu tạo của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái và Việt Như vậy, tỉ lệ TCCS là từ đơn (được cấu tạo từ phương thức từ hoá hình vị) trong TNTN Thái và Việt đều cao hơn so với từ ghép (được cấu tạo từ phương thức ghép hình vị) - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Sơ đồ 2.1. Cấu tạo của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái và Việt Như vậy, tỉ lệ TCCS là từ đơn (được cấu tạo từ phương thức từ hoá hình vị) trong TNTN Thái và Việt đều cao hơn so với từ ghép (được cấu tạo từ phương thức ghép hình vị) (Trang 88)
Bảng 2.2. Ý nghĩa ngữ pháp của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái ST - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 2.2. Ý nghĩa ngữ pháp của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái ST (Trang 89)
Bảng 2.4. Từ chỉ con số đứng sau các tiểu loại danh từ, ngữ danh từ trong - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 2.4. Từ chỉ con số đứng sau các tiểu loại danh từ, ngữ danh từ trong (Trang 99)
Bảng 2.6. Từ chỉ con số trong cấu tạo thành ngữ, tục ngữ Thái - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 2.6. Từ chỉ con số trong cấu tạo thành ngữ, tục ngữ Thái (Trang 113)
Bảng 3.1. Nghĩa gốc của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 3.1. Nghĩa gốc của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái (Trang 127)
Bảng 3.2. Nghĩa chuyển của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái ST - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 3.2. Nghĩa chuyển của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Thái ST (Trang 132)
Bảng 3.3. cho thấy, trong TNTN Thái, phương diện định lượng-đo lường chiếm tỉ lệ lớn nhất trong cấu trúc hạt nhân của ý niệm CON SỐ - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 3.3. cho thấy, trong TNTN Thái, phương diện định lượng-đo lường chiếm tỉ lệ lớn nhất trong cấu trúc hạt nhân của ý niệm CON SỐ (Trang 139)
Bảng 3.11. Đặc điểm cấu tạo của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Việt - TỪ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT
Bảng 3.11. Đặc điểm cấu tạo của từ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Việt (Trang 250)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w