Trong thế giới hiện nay, rác thải nhựa đang là vấn đề môi trường toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Rác thải nhựa đang tăng nhanh và tái chế còn rất thấp: chỉ khoảng 9% rác nhựa được tái chế. Nếu không có can thiệp mạnh, lượng rác nhựa có thể gần như tăng gấp ba đến năm 2060. Các hạt nhựa là chất gây ô nhiễm phổ biến trong môi trường sống và chuỗi thức ăn, và đã có nghiên cứu cho thấy về sự phơi nhiễm nội bộ của các hạt nhựa trong máu người[1]. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia thải nhựa nhiều nhất thế giới. Bản thân sinh viên chúng em đã tham gia làm sản phẩm tái chế nhựa, nhận thấy việc tái chế không chỉ có ý nghĩa bảo vệ môi trường mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng. Nếu chúng ta muốn giảm ô nhiễm ô nhiễm phải kết hợp giữa giảm tái sử dụng tái chế và thiết kế dễ tái chế. 1.1 Mục tiêu nghiên cứu a. Mức độ tác động của rác thải nhựa đến môi trường và sức khỏe con người Nhựa là thành phần lớn nhất và bền nhất trong rác biển (≥ 85%), hiện diện từ ven bờ tới vùng biển xa và đang gia tăng trên mọi hệ sinh thái từ nguồn tới biển. Hậu quả mà nhựa đã gây ra là suy giảm đa dạng sinh học, đứt gãy chuỗi thức ăn, và vận chuyển loài ngoại lai. Nếu không có chính sách mạnh mẽ, sản xuất và chất thải nhựa có thể gần như tăng gấp ba đến 2060, tỷ lệ tái chế toàn cầu chỉ tăng nhẹ và vẫn ở mức thấp. Ở Việt Nam ước tính khoảng 3,9 triệu tấn rác nhựa trên 1 năm. Chỉ 1/3 được tái chế và xử lý đúng. Phần còn lại nguy cơ rò ri ra môi trường bên ngoài. Giai đoạn từ năm 2023-2025 Việt Nam xếp thứ 5 thế giới về rác nhựa quản lý kém, 54% rác nhựa bị “mismanaged” (cao hơn TB thế giới 22 điểm %). Vi nhựa hiện diện rộng khắp tại hệ thống sông kênh TP.HCM, Đồng Nai, Cần giờ. Nhiều nghiên cứu mới về nhuyễn thể, thuỷ sản và cát bãi biển ghi nhận ô nhiễm và cảnh báo con đường phơi nhiễm qua ăn uống. Nước thải đô thị các nhà máy xử lý nước thải công nghiệp ở TP.HCM vẫn xả ra hàng triệu hạt vi nhựa mỗi ngày dù hiệu suất loại bỏ cao hàm ý nguồn phơi nhiễm hạ lưu.[2] b. Phân tích vai trò và ý nghĩa của việc tái chế nhựa trong giảm thiểu ô nhiễm. Trong thế giới hiện nay. Tái chế nhựa rất quan trọng vì nó cắt nhu cầu nhựa nguyên sinh, giảm khai thác dầu khí, hạ phát thải nhà kính và ô nhiễm trong khâu sản xuất. Đồng thời kéo vật liệu trở lại vòng tuần hoàn, thu hẹp khối rác phải chôn lấp và đốt dẫn đến nguy cơ rò rỉ ra sông biển. Ở cấp hệ thống, tái chế chỉ phát huy khi đi kèm thiết kế vì tái chế bao bì đơn vật liệu, ít phụ gia, phân loại tại nguồn và hạ tầng MRF hiện đại, ở đầu cung ứng, quy định hàm lượng nhựa tái chế (PCR) tối thiểu buộc doanh nghiệp dùng rPET/rHDPE, tạo thị trường đầu ra để tăng tỷ lệ thu hồi. Lợi ích còn ở chiều kinh tế–xã hội: hình thành chuỗi giá trị chính quy, chuyển đổi khu vực phi chính thức sang việc làm an toàn hơn. Tuy nhiên, tái chế không phải đũa thần bao bì đa lớp dễ bị downcycle, rủi ro nhiễm bẩn cần chuẩn an toàn và truy xuất, công đoạn nghiền và rửa có thể phát sinh vi nhựa nếu không kiểm soát, và tính kinh tế dễ đứt gãy khi hạt nguyên sinh rẻ nếu thiếu EPR, mua sắm công xanh hay cơ chế tín chỉ. Vì vậy, ưu tiên công nghệ phù hợp: cơ học cho PET/HDPE/PP sạch. Rác thải nhựa tái chế giúp cho kích hoạt thiết kế bền vững và chính sách. Khi doanh nghiệp phải dùng hàm lượng PCR tối thiểu (hoặc chịu phí EPR), họ buộc phải thiết kế bao bì dễ tái chế (mono-material, ít phụ gia, nhãn dễ bóc). Thị trường PCR càng mạnh, thiết kế xanh càng lan rộng. Và giúp tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và năng lượng.[3] 1.2 Phạm vi nghiên cứu Đối tượng: rác thải nhựa sinh hoạt và các sản phẩm tái chế thủ công. Phạm vi: Việt Nam, đặc biệt là trong môi trường học đường hoặc khu dân cư. Thời gian: trong năm học hiện tại. I. NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận Rác thải nhựa Rác thải nhựa là mọi vật liệu, sản phẩm hoặc mảnh vụn làm từ polymer nhựa (như PE, PP, PET, PVC, PS…) đã hết vòng đời sử dụng dự định và bị thải bỏ vào môi trường hay hệ thống thu gom chất thải. Ngoài ra còn có rác nhựa sau tiêu dùng (ví dụ chai, túi, hộp, bao bì dùng một lần) và phế liệu nhựa trước tiêu dùng phát sinh trong sản xuất, phân phối (cắt gọt, hạt lỗi, sản phẩm hỏng). Theo kích thước thường chia thành: nhựa vĩ mô (>5 mm), vi nhựa (≤5 mm) và nano-nhựa (≈