1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM

74 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở khoa học, thực tiễn và đề xuất khung chính sách, lộ trình áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế tuần hoàn
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. GIỚI THIỆU (6)
    • 1.1 Sự cần thiết (6)
    • 1.2. Mục tiêu của nhiệm vụ (7)
    • 1.3. Nội dung thực hiện (8)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 2. NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN (9)
    • 2.1. Vị trí của tài nguyên, môi trường trong nền kinh tế (9)
    • 2.2. Khái niệm và lợi ích của kinh tế tuần hoàn (9)
    • 2.3. Tác nhân, rào cản và yếu tố thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (18)
  • 3. MÔ HÌNH KINH DOANH KINH TẾ TUẦN HOÀN (25)
    • 3.1. Theo các hoạt động (25)
    • 3.2. Theo mục đích (27)
  • 4. ÁP DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN CỦA CÁC QUỐC GIA TIÊU BIỂU (33)
    • 4.1. Khối liên minh châu Âu – EU (33)
    • 4.2. Các nước châu Mỹ (39)
    • 4.3. Các quốc gia Châu Á (42)
    • 4.4. Bài học cho Việt Nam (48)
  • 5. KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM (49)
    • 5.1. Kinh tế tuần hoàn trong thực tiễn kinh doanh (49)
    • 5.2. Chủ trương, chính sách của Việt Nam (52)
    • 5.3. Động lực thúc đẩy chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam (60)
    • 5.4. Một số vấn đề để chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn (62)
  • 6. MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY KINH TẾ TUẦN HOÀN (66)
    • 6.1. Quan điểm (66)
    • 6.2. Về cách tiếp cận thực hiện (67)
    • 6.2. Chính sách áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn (68)
    • 6.3. Lộ trình thực hiện phát triển kinh tế tuần hoàn (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (72)

Nội dung

Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM

GIỚI THIỆU

Sự cần thiết

GFI (2018) ước tính nhu cầu tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế của con người hiện gấp 1,7 lần khả năng đáp ứng của Trái đất, vì vậy nếu không thay đổi cách thức phát triển thì việc cạn kiệt tài nguyên, kể cả tài nguyên có thể tái tạo, là điều khó tránh khỏi Về rác thải, riêng lượng rác thải nhựa đổ ra biển thế giới năm 2014 lên tới 150 triệu tấn; đến năm 2050, tổng lượng rác thải nhựa được dự báo còn lớn hơn tổng lượng cá trong các đại dương (Ellen MacArthur Foundation, 2016) Hiện nay đã có nhiều sáng kiến của các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học nhằm tìm ra các hướng tiếp cận phù hợp để giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và mục tiêu bền vững về môi trường, như mô hình 3R, 3Rs, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn (KTTH) Đặc biệt, KTTH gần đây được tập trung nghiên cứu và thể chế hóa vào thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Úc và các nước EU, bắt đầu áp dụng KTTH trên quy mô lớn, từng bước loại bỏ kinh tế tuyến tính, góp phần bảo tồn, bảo vệ và cải thiện môi trường hướng đến Hành tinh xanh của chúng ta.

Việc áp dụng mô hình phát triển kinh tế truyền thống, hay còn gọi là kinh tế tuyến tính, dựa trên nguyên lý khai thác tài nguyên từ môi trường làm đầu vào cho hệ thống kinh tế và đi từ quá trình sản xuất, tiêu dùng rồi thải ra môi trường, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, gia tăng chất thải và ô nhiễm, gây suy thoái môi trường Ngược lại, kinh tế tuần hoàn (KTTH) là một cách tiếp cận chú trọng quản lý và tái tạo tài nguyên theo vòng khép kín nhằm giảm thiểu phế thải và duy trì giá trị của nguồn lực càng lâu càng tốt, dựa trên nguyên lý động lực học và định luật bảo toàn vật chất và năng lượng, với cốt lõi là kết nối đầu ra của chu trình với đầu vào để vật liệu được thu hồi và đưa trở lại hệ thống Theo Ủy ban Châu Âu, KTTH được xem như một nền kinh tế trong đó giá trị của sản phẩm, nguyên vật liệu và tài nguyên được duy trì trong nền kinh tế càng lâu càng tốt và vòng đời của chúng được mở rộng, qua đó tối ưu hoá tái sử dụng, tái chế và phục hồi thay cho mô hình tuyến tính vốn chỉ quan tâm khai thác, sản xuất và thải bỏ sau tiêu thụ.

KTTH có thể là đòn bẩy quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giảm tác động môi trường Trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu, tiếp cận và chuyển đổi sang KTTH sẽ đóng góp trực tiếp vào mục tiêu 8 của SDGs và lan tỏa để hỗ trợ các mục tiêu khác Để đạt được sự thay đổi xã hội ở mức căn bản, KTTH cần được các chính phủ triển khai đồng bộ với đầy đủ nguồn lực được phân bổ để hỗ trợ quá trình chuyển đổi.

Việt Nam, dù là một nước nhỏ với diện tích đứng thứ 68 và dân số đứng thứ 15 trên thế giới, đang phải đối mặt với thách thức lớn về rác thải nhựa khi xếp thứ tư toàn cầu với 1,83 triệu tấn mỗi năm (Jambeck và cộng sự, 2015) Theo Ngân hàng Thế giới (2016: 102), ô nhiễm không khí khiến Việt Nam mất 5,18% GDP vào năm 2013, trong khi ô nhiễm nước có thể khiến GDP giảm tới 3,5% (Ngân hàng Thế giới, 2019) Chưa kể sự suy giảm tài nguyên, nguồn năng lượng, ô nhiễm đất và suy thoái đất, đặc biệt là biến đổi khí hậu, đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Do vậy, trong khuôn khổ hợp tác với Viện Hanns Seidel Foundation (HSF) của Cộng hòa Liên bang Đức, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thực hiện các hoạt động nghiên cứu và tư vấn nhằm đề xuất giải pháp quản trị tài nguyên và bảo vệ môi trường, đồng thời tăng cường trao đổi học thuật, đào tạo và xây dựng năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng nghiên cứu tại Việt Nam.

“Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn và đề xuất khung chính sách và lộ trình áp dụng các mô hình KTTH ở Việt Nam”.

Mục tiêu của nhiệm vụ

Luận giải cơ sở khoa học và thực tiễn của mô hình KTTH cho thấy tính logic và tính khả thi khi được áp dụng để thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) qua tối ưu hoá nguồn lực, đổi mới sáng tạo và quản trị rủi ro Mối liên hệ giữa KTTH và SDGs được làm rõ ở chỗ mô hình này hỗ trợ chuyển đổi kinh tế theo hướng xanh, tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam Dựa trên phân tích dữ liệu và bài học thực tiễn, bài viết đề xuất khung chính sách gồm các nguyên tắc ưu tiên, cơ chế tài chính, và hệ thống giám sát đánh giá để tăng cường áp dụng KTTH ở Việt Nam Lộ trình áp dụng KTTH ở Việt Nam được đề xuất với các giai đoạn từ thí điểm, nhân rộng đến tích hợp trong kế hoạch phát triển quốc gia, kèm theo các chỉ số KPI, chuẩn hóa dữ liệu và tiêu chuẩn thực hành tốt nhất.

Việc hệ thống hóa cơ sở lý luận của KTTH được thực hiện trong khuôn khổ bối cảnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu Quá trình này giúp làm rõ các nguyên lý và khung lý thuyết liên quan, đồng thời liên kết chúng với các chiến lược và biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động KTTH Bên cạnh đó, việc kết nối lý thuyết với thực tiễn sẽ cung cấp căn cứ cho đánh giá, định lượng và tối ưu hóa các chính sách, đầu tư và quản lý rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

- Nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới trong việc thực hiện KTTH;

- Phân tích thực trạng một số mô hình KTTH nổi bật ở Việt Nam;

Đề xuất khung chính sách áp dụng KTTH ở Việt Nam cho các đơn vị phụ trách môi trường và biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) nhằm thiết lập một khuôn khổ pháp lý và thực thi rõ ràng, tăng cường tính nhất quán và hiệu quả trong quản lý nhà nước Khung này xác định mục tiêu dài hạn, phạm vi áp dụng và nguyên tắc vận hành, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan và khu vực tư nhân để nâng cao năng lực triển khai KTTH Nội dung trọng tâm gồm cơ chế giám sát, đánh giá tác động, hệ thống dữ liệu mở và chia sẻ thông tin, cùng các công cụ và biện pháp khuyến nghị cho MONRE thực thi trên địa bàn toàn quốc Việc xây dựng khung chính sách phù hợp với bối cảnh Việt Nam sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực, đảm bảo bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu, đồng thời chuẩn hóa các hoạt động của MONRE ở cấp độ chiến lược và kỹ thuật.

Nội dung thực hiện

- Nghiên cứu tài liệu về cơ sở lý thuyết của KTTH;

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của KTTH trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững;

- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế liên quan đến các chính sách phát triển mô hình KTTH;

- Đánh giá thực trạng KTTH ở Việt Nam và xem xét các mô hình KTTH trong một số ngành kinh tế chủ chốt ở Việt Nam;

- Xây dựng khung chính sách áp dụng mô hình KTTH ở Việt Nam;

Chúng tôi tổ chức các hội thảo tham vấn nhằm xây dựng khung chính sách đề xuất cho việc áp dụng mô hình KTTH ở Việt Nam và tổ chức Hội thảo Bế mạc để phổ biến những phát hiện chính của nghiên cứu Các hội thảo tham vấn tập trung vào hai nội dung cốt lõi: (i) đề xuất khung chính sách cho triển khai mô hình KTTH tại Việt Nam; (ii) Hội thảo Bế mạc để công bố kết quả và khuyến nghị từ nghiên cứu, đồng thời phổ biến những phát hiện quan trọng tới các bên liên quan và chuẩn bị cho ứng dụng thực tế.

- Viết bản tóm tắt gửi đến MONRE về kết quả nghiên cứu, khung chính sách đƣợc đề xuất;

- Viết báo cáo về kết quả nghiên cứu và những gợi ý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dự kiến sử dụng phân tích SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó tổng hợp, phân tích và đánh giá bối cảnh trong nước và quốc tế cũng như hiện trạng hệ thống chính sách Một phân tích SWOT toàn diện sẽ cung cấp cơ sở để nhóm nghiên cứu đề xuất khung chính sách và ứng dụng mô hình kinh tế thị trường (KTTH) tại Việt Nam.

Phương pháp chỉ số có thể được áp dụng trong nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng ở Việt Nam Theo đề xuất của An, Maarten và Veronique (2017), các chỉ số này có thể bao gồm ba loại như sau.

+ Chỉ số vĩ mô: dùng để đánh giá một nền kinh tế;

+ Chỉ số Meso: đƣợc sử dụng để đánh giá một cộng đồng hoặc một tổ chức lớn; + Chỉ số vi mô: dùng để đánh giá một công ty.

NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN

Vị trí của tài nguyên, môi trường trong nền kinh tế

Trong mỗi nền kinh tế, lao động, khoa học và công nghệ cùng với tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Cùng với đó, các hoạt động kinh tế và dân sinh sẽ tạo ra chất thải vào môi trường — nơi tiếp nhận chất thải đầu ra của hệ thống kinh tế (hình 1).

Hình 1: Cơ sở của KTTH trong nền kinh tế

Khái niệm và lợi ích của kinh tế tuần hoàn

Để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của nền kinh tế ở góc độ tài nguyên và môi trường, các quốc gia cần thúc đẩy quản lý, sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả và tối ưu chu trình sản xuất–tiêu dùng, đồng thời giảm thiểu tối đa chất thải phát sinh ra môi trường từ chính hoạt động sản xuất và tiêu dùng.

Thải bỏ (R C d ) Đã tái tuần hoàn (R r p ) Đã tái tuần hoàn (R r c)

Để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu chất thải ra môi trường, nền kinh tế cần chuyển sang mô hình kinh tế tuần hoàn, nơi mọi luồng vật liệu đã qua sử dụng được tái sử dụng và quay vòng trở thành đầu vào cho quá trình sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và thúc đẩy phát triển bền vững.

Khác với kinh tế tuyến tính vốn chỉ quan tâm khai thác tài nguyên, sản xuất và thải bỏ sau tiêu dùng, dẫn đến một lượng phế thải khổng lồ, kinh tế tuần hoàn (KTTH) tập trung vào quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng khép kín nhằm tránh phát sinh phế thải, tối ưu hóa vòng đời sản phẩm và giảm thiểu tác động đến môi trường.

2) KTTH đã đƣợc bàn luận từ cuối những năm 1970, đến nay đã có hàng trăm các nghiên cứu, phân tích và mô tả về khái niệm này (William McDonough, 2018)

KTTH, hay kinh tế tuần hoàn, mô tả một hệ thống kinh tế dựa trên các mô hình kinh doanh thay thế khái niệm "kết thúc vòng đời" bằng cách giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi nguyên liệu trong toàn bộ chu trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng Mục tiêu là hướng tới phát triển bền vững thông qua việc tạo ra chất lượng môi trường tốt hơn, thịnh vượng kinh tế và công bằng xã hội, đáp ứng lợi ích của cả hiện tại và tương lai, như được William McDonough nêu lên.

Trong hệ thống tuần hoàn các nguồn lực đầu vào và chất thải, năng lượng được tối thiểu hóa thông qua làm chậm, khép kín và thu hẹp các vòng năng lượng và vật liệu Các hoạt động điển hình như thiết kế, bảo trì, sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, tân trang và tái chế đóng vai trò là động lực chính để duy trì vòng tuần hoàn, giảm thiểu lãng phí và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Hình 2: Kinh tế tuyến tính và KTTH

Việc tận dụng tài nguyên hiện nay được thực hiện qua nhiều hình thức như sửa chữa, tái sử dụng và tái chế, thay vì sở hữu vật chất và hướng tới mô hình chia sẻ hoặc cho thuê Theo Ellen MacArthur Foundation (2015), KTTH là một hệ thống công nghiệp được phục hồi và tái tạo theo thiết kế, dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: bảo tồn và tăng cường vốn tự nhiên, tối ưu hóa năng suất tài nguyên và nâng cao hiệu quả của toàn hệ thống Andrew Morl (2015) bổ sung chi tiết bằng ba khía cạnh: (i) duy trì và tăng cường vốn tự nhiên thông qua quản lý các tài sản hữu hạn và cân bằng lưu lượng tài nguyên tái tạo với các mức độ quyết tâm như phục hồi, ảo hóa và trao đổi; (ii) tối ưu hóa năng suất tài nguyên bằng cách tuần hoàn sản phẩm, linh kiện và vật liệu để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất theo thời gian và ở mọi khía cạnh kỹ thuật cũng như các mức quyết tâm như phục hồi, chia sẻ, tối ưu và lặp lại; (iii) thúc đẩy hiệu suất toàn hệ thống bằng cách giảm thiểu tối đa các ngoại ứng tiêu cực ở mọi cấp độ nỗ lực.

KTTH ngày nay không chỉ đảm nhiệm quản lý và tận dụng chất thải mà còn là một hệ thống đầy đủ gồm năm khâu, sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau.

Thiết kế xanh nhằm tạo ra các sản phẩm xanh (green products) và tăng khả năng tái chế, tái sử dụng về sau, đồng thời tối ưu hóa vòng đời sản phẩm để giảm tác động đến môi trường Trong KTTH, thiết kế không chỉ tập trung vào thiết kế sản phẩm mà còn bao gồm thiết kế chất thải từ đầu quá trình phát triển, nhằm hình thành chu trình khép kín và chuyển hóa chất thải thành nguồn tài nguyên Việc tích hợp các yếu tố này giúp nâng cao tính bền vững, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời phù hợp với các nguyên tắc thiết kế xanh, sản phẩm xanh, tái chế, tái sử dụng và thiết kế chất thải.

Sản xuất: gồm có sản xuất sạch hơn (cleaner production), giảm phát thải và thực hiện tuần hoàn vật liệu ngay trong khâu sản xuất;

Tiêu dùng: gồm có dịch vụ tốt hơn (better services), người tiêu dùng có trách nghiệm với môi trường sinh thái hơn và thông minh hơn;

Quản lý chất thải: gồm có phân loại, thu gom cuối vòng đời, tái chế tạo (collect end-of-life, remanufacture);

Từ chất thải trở lại thành tài nguyên: gồm có tái chế chất thải, tái sử dụng tài nguyên (recycle waste, reuse resources)

Cách tiếp cận hệ thống với 5 khâu là điểm khác biệt căn bản của Kinh tế tuần hoàn (KTTH) hiện nay so với các quan điểm KTTH trước đây (EC, 2015; Nguyễn Hoàng Nam & Nguyễn Trọng Hạnh, 2019) Tổ chức Phát triển công nghiệp của LHQ (UNIDO) đã khái quát 5 khâu này đi kèm với 4 mục tiêu chính của KTTH: giảm dấu chân môi trường, gia tăng thu nhập, giảm phụ thuộc vào tài nguyên và giảm thiểu chất thải, như minh họa ở Hình 3 dưới đây.

Nguồn: Unido (2017) Circular economy Vienna, Austria

UNEP và OECD cho rằng KTTH là cách tốt nhất để phá vỡ mối liên hệ lâu nay giữa tăng trưởng kinh tế và các tác động tiêu cực đến môi trường; khi áp dụng các mô hình KTTH, ta có thể vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường Điều này nhấn mạnh lợi ích kép của KTTH: phát triển kinh tế bền vững đi đôi với bảo vệ hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

2.2.2 Lợi ích của kinh tế tuần hoàn

Chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn (KTTH) mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong bối cảnh khủng hoảng tài nguyên và biến đổi khí hậu KTTH giúp giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên hạn chế, tối ưu hóa quản lý nguồn lực và giảm thiểu chất thải thông qua tái sử dụng, tái chế và thiết kế có vòng đời dài, từ đó tăng tính bền vững của chuỗi cung ứng Việc chuyển đổi này còn thúc đẩy đổi mới công nghệ, tăng trưởng xanh và tạo cơ hội việc làm bền vững, đồng thời nâng cao an ninh nguồn cung và giảm phát thải Trong khuôn khổ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), KTTH hỗ trợ các mục tiêu liên quan tới bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bao trùm Parson Michael (2019) cho rằng KTTH là khung hữu ích để đối phó với thách thức tài nguyên và biến đổi khí hậu ở cấp độ toàn cầu.

Phương pháp tiếp cận này không chỉ là những điều chỉnh nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của nền kinh tế truyền thống mà còn là một sự thay đổi mang tính hệ thống, tạo ra khả năng phục hồi lâu dài, mở ra cơ hội kinh doanh mới và mang lại lợi ích cho nền kinh tế, môi trường và xã hội; đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững và kinh tế xanh.

Đây là giải pháp để thực hiện mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững (SDG 12) bằng cách giảm tỷ lệ khai thác và suy thoái tài nguyên, nâng cao nhận thức của người dân về tái sử dụng, tái chế và hạn chế tiêu dùng các mặt hàng dùng một lần không cần thiết; đồng thời mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất để đạt 100% tỷ lệ tái chế nguyên liệu, từ đó hiện thực hóa mục tiêu SDG 12 và lan tỏa tác động tới các mục tiêu khác của 17 SDGs đến năm 2030.

Hình 4: Các tác nhân tham gia vào thực hiện KTTH

KTTH là một thành phần thiết yếu để đưa các quốc gia hướng tới nền kinh tế xanh, nơi vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội vừa giảm thiểu nguy cơ môi trường và suy thoái sinh thái (UNEP, 2011) KTTH không chỉ dừng ở mục tiêu tăng trưởng xanh mà còn hướng tới phục hồi hệ sinh thái và mang lại phúc lợi xã hội, tức là kinh tế xanh được hiểu rộng hơn như một khuôn khổ phát triển bền vững (hình 5) Theo ước tính của EU, KTTH thông qua đo lường và kiểm soát các hoạt động từ phía cầu có thể giảm hơn một nửa lượng khí thải từ các ngành công nghiệp.

Hình 5: Vị trí của KTTH với kinh tế xanh

Áp dụng KTTH trong bối cảnh mới và công nghệ mới mở ra cơ hội hình thành xu hướng tách rời giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội với việc giảm thiểu sử dụng tài nguyên và tác động tới môi trường Đây là cách để các quốc gia hài hòa mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hướng tới sự phát triển bền vững.

Hình 6: KTTH thúc đẩy xu hướng decoupling

Tác nhân, rào cản và yếu tố thúc đẩy kinh tế tuần hoàn

Chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang nền KTTH (kinh tế tuần hoàn) đòi hỏi sự thay đổi toàn diện ở hệ thống của tất cả các bên liên quan; các nhân tố sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, tái chế và cộng sinh công nghiệp đóng vai trò then chốt để thúc đẩy quá trình này, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu và nhiên liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm và tối thiểu hóa lượng rác thải Để chuyển đổi thành công sang mô hình KTTH, sự tham gia của mọi bên liên quan từ cơ quan chính phủ, doanh nghiệp khai thác khoáng sản và nguyên liệu thô, nhà chế biến, sản xuất, phân phối, bán lẻ, đến người tiêu dùng và đơn vị thu gom rác là thiết yếu (European Recycling Platform, 2017) Theo Ellen MacArthur Foundation, các tổ chức, chính phủ và thành phố đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và phát triển KTTH, định hướng và tạo động lực đổi mới và đầu tư, và KTTH cung cấp khuôn khổ cho phép chính phủ và các thành phố hiện thực hóa nhiều tham vọng kinh tế, môi trường và xã hội của họ (Ellen MacArthur Foundation, n.d.).

Tiếp cận kinh tế tuần hoàn Chuỗi cung ứng tuyến tính

Nguồn: Nhóm đối tác phát triển, 2019

Hình 10: Vị trí của các tác nhân trong quá trình chuyển đổi sang KTTH

Hình 11: KTTH và sự tham gia của các bên liên quan

Theo GreenBiz, có 5 tác nhân đóng vai trò chuyển đổi sang mô hình kinh doanh theo hướng kinh tế tuần hoàn (KTTH): thiết kế sản phẩm và bao bì; sự tham gia của chuyên gia về KTTH; dịch vụ khách hàng và hậu mua hàng; quản lý hậu cần ngược; và quản lý vòng đời của sản phẩm.

Hàng hóa và dịch vụ môi trường là những sản phẩm và dịch vụ trực tiếp góp phần làm giảm ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất và ô nhiễm nước, đồng thời thúc đẩy nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, nhiên liệu sinh học và năng lượng gió; chúng còn đóng vai trò giảm thiểu ô nhiễm thông qua quá trình sản xuất và hỗ trợ hoạt động quan trắc, xử lý ô nhiễm phát sinh như hệ thống xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn và thiết bị phân tích quan trắc Do vậy, để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (KTTH) ở một quốc gia hay vùng lãnh thổ, cần ưu tiên phát triển hàng hóa và dịch vụ môi trường và xem chúng như đòn bẩy để biến chất thải từ ngành này thành đầu vào cho ngành khác; Hình 12 mô tả vị trí của ngành xử lý nước thải — một lĩnh vực của hàng hóa và dịch vụ môi trường — trong việc thúc đẩy tuần hoàn nước trong nền kinh tế.

Hình 12: Mô tả cụ thể các dòng chảy của nước trong nền kinh tế và các khu vực tuần hoàn tiềm năng trong nền kinh tế;

2.3.2 Các rào cản Ở cấp chính phủ, OECD (2019) đã chỉ ra 13 rào cản chính để các quốc gia chuyển đổi sang KTTH Trong đó, rào cản về văn hóa, các quy định, tài chính và tầm nhìn là những vấn đề nổi cộm để thực hiện chuyển đổi sang nền KTTH mà chính phủ các nước

Trong báo cáo của OECD Centre for Entrepreneurship (2019), 16 thách thức chính mà các hệ sinh thái khởi nghiệp gặp phải được liệt kê gồm sự khác biệt về văn hóa và thể chế, nguồn lực tài chính, tầm nhìn toàn diện và thông tin đầy đủ, quy định chưa rõ ràng dẫn đến rào cản pháp lý, rủi ro tài chính tăng cao, nhận thức chưa đồng bộ, quy mô hoạt động còn hạn chế, nguồn lực con người thiếu hụt, sự tham gia của khu vực tư nhân chưa đủ mạnh, sự sẵn sàng của chính trị chưa cao và thiếu các giải pháp công nghệ phù hợp để triển khai.

Nguồn: (The OECD Centre for Entrepreneurship, 2019)

Hình 13 mô tả các rào cản khi chuyển đổi sang nền KTTH Theo Augusto Bianchini (2019), có 5 nhóm rào cản được xác định cho các mô hình kinh doanh tuần hoàn, phân thành nội bộ và bên ngoài, và các nhóm này được trình bày chi tiết trong Bảng 1.

Bảng 1: Phân loại các rào cản bên trong và bên ngoài hạn chế việc triển khai các mô hình

Các quá trình bên trong

- Các khả năng tổ chức cần thiết để triển khai KTTH;

- Các nỗ lực về mặt định nghĩa, chiến lƣợc kinh doanh và cấu trúc công ty;

- Sự cần thiết cho năng lực tổ chức mới (động lực của đội, văn hóa tổ chức, sự tham gia )

Kỹ thuật - Sự cần thiết về mặt kỹ thuật, công nghệ và chuyên môn;

Việc áp dụng các công nghệ cụ thể, nổi bật là công nghệ tái chế, đóng vai trò then chốt trong thiết kế lại các sản phẩm theo chu trình tuần hoàn và đảm bảo chất lượng của hệ thống sản xuất Qua đó, doanh nghiệp có thể tối ưu vòng đời sản phẩm từ nguyên liệu đến thu hồi, tăng khả năng tái sử dụng và giảm lượng chất thải Tích hợp công nghệ vào quy trình sản xuất sẽ cải thiện kiểm soát chất lượng, giám sát liên tục và đánh giá vòng đời sản phẩm nhằm tối ưu hiệu quả tiêu thụ tài nguyên Sự đồng bộ của các giải pháp công nghệ giúp nâng cao tính bền vững của chuỗi cung ứng, giảm chi phí vận hành và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia và quốc tế.

- Phát triển các thủ tục và phương thức để phổ cập sự sáng tạo mà làm chậm giai đoạn thiết kế và nhân rộng

Thị trường hiện nay bị chi phối bởi mối quan hệ giữa các bên liên quan và sự tương thích giữa các mô hình đối tác kinh doanh là yếu tố quyết định thành công Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều thách thức như thiếu sự hỗ trợ từ mạng lưới cung cấp, sự phân tán địa lý và dịch vụ cùng cơ sở vật chất nghèo nàn, khiến hiệu quả hoạt động bị ảnh hưởng Xung đột lợi ích giữa các công ty và sự lệch trong việc chia sẻ lợi nhuận dọc theo chuỗi cung ứng càng làm phức tạp quá trình tối ưu hóa và tăng chi phí vận hành.

- Sự chấp nhận của khách hàng, các hạn chế nhất định, sự cứng rắn trong hành vi của khách hàng và các thói quen kinh doanh

Thể chế, quy định và xã hội

- Các ƣu đãi sai lệch;

- Độ phức tạp của các quy định, sự thiếu vắng của các hệ thống luật pháp dẫn dắt và khung thể chế nghèo nàn;

Kinh tế và tài chính

- Sự cần thiết phải có đầu tƣ lớn trong dài hạn;

- Quá trình lập kế hoạch và quản lý tốn kém do sự phức tạp của việc triển khai

Thể chế đóng vai trò nền tảng cho sự thay đổi xã hội Để đạt được sự đổi mới và cải cách xã hội bền vững, một nền kinh tế thị trường (KTTH) cần được các chính phủ phát triển đồng bộ, đầu tư đầy đủ và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả để hỗ trợ quá trình chuyển đổi Theo Kari Herlevi, sự hài hòa giữa phát triển thể chế và phân bổ nguồn lực công – tư là chìa khóa để biến các cam kết chính sách thành thực tế và lan tỏa tác động tích cực.

Để đạt được điều này, trước hết các chính phủ cần chú trọng hoàn thiện thể chế, bởi thể chế vừa là rào cản vừa là yếu tố thúc đẩy KTTH Việc cải thiện khung thể chế sẽ gia tăng tính dự báo và ổn định chính sách, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản trị, từ đó thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế bền vững Do đó, sự đồng bộ giữa cải cách thể chế và các chương trình kinh tế là nền tảng để KTTH được đẩy mạnh và phát triển.

Hình 14: Các hợp phần của quản trị tốt

Quản trị tốt môi trường được thể hiện qua thúc đẩy bình đẳng, tham gia, đồng thuận, minh bạch, trách nhiệm giải trình và pháp trị, được thực thi một cách có hiệu lực, hiệu quả và bền vững Để thực hiện quản trị tốt trong lĩnh vực môi trường, cần có các cơ chế và chính sách liên kết liên vùng, liên ngành và liên nhà nhằm thúc đẩy sự tương tác đa cấp giữa địa phương, vùng, quốc gia và toàn cầu; giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách quản lý môi trường, nhằm nâng cao chất lượng môi trường và đạt được phát triển bền vững Một hệ thống quản trị môi trường tốt được thể hiện ở hình 14.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) hiện được xem như một chiến lược kinh doanh hàng đầu, vượt lên so với các quy định bắt buộc và hoạt động từ thiện Triển khai CSR một cách bài bản không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh mà còn hỗ trợ giải quyết các vấn đề mang tính chiến lược liên quan đến hoạt động và xã hội Nhờ đó doanh nghiệp có thể nâng cao giá trị thương hiệu, tăng cường uy tín và xây dựng nền tảng phát triển bền vững lâu dài.

Theo nghiên cứu năm 2016, khi doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào hoạt động BVMT và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội về môi trường, lợi ích mang lại cho chính doanh nghiệp, cộng đồng và quốc gia sẽ hết sức tích cực.

Văn hóa là một rào cản lớn đối với việc khởi động nền KTTH, vì nó chi phối hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng trong cách ứng xử với thiên nhiên Đồng thời, văn hóa ảnh hưởng đến cách thức sử dụng tài nguyên—tiết kiệm và hiệu quả—và hình thành thói quen phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải.

Internet vạn vật (IoT) và Kinh tế tri thức (KTTH) đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan và nhận thức chung về mục tiêu để đạt được hiệu quả và đổi mới Khi KTTH mở rộng sang nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, nông dân có thể theo dõi cây trồng từ xa và dùng máy kéo định vị GPS để cày và thu hoạch tối ưu, cho thấy lợi nhuận tiềm năng và hiệu quả xã hội tăng lên và làm sáng tỏ tương lai đầy hứa hẹn của IoT trong KTTH Quản lý rác thải cũng nên dựa trên công nghệ IoT, giúp thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải hiệu quả hơn và thúc đẩy các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế Khi KTTH kết hợp với IoT, chúng ta có thể chứng kiến những phương thức mới làm thay đổi bản chất của sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và hệ sinh thái nền kinh tế.

Hình 15: Sự gặp tương tác giữa KTTH và internet vạn vật

MÔ HÌNH KINH DOANH KINH TẾ TUẦN HOÀN

Theo các hoạt động

Trong khuôn khổ kinh tế tuần hoàn, các mô hình sản xuất và tiêu dùng quan trọng như chia sẻ, cho thuê, tái sử dụng, sửa chữa, tân trang và tái chế các sản phẩm hiện có được xem là thành tố then chốt giúp kéo dài vòng đời của vật liệu Mô hình này thúc đẩy tăng trưởng bền vững với mục tiêu giảm thải ở mức tối thiểu và cho phép các vật liệu được tái sử dụng nhiều lần ở các hình thức khác nhau, từ đó giảm nhu cầu sản xuất vật liệu mới và loại bỏ yếu tố rác thải, ô nhiễm khỏi vòng sản xuất (EuroCham, 2020).

Tái sinh là quá trình chuyển đổi sang sử dụng nguồn năng lượng và vật liệu tái tạo, nhằm thu giữ hoặc duy trì sức khỏe của các hệ sinh thái và trả lại cho sinh quyển các nguồn tài nguyên sinh học đã được phục hồi Cách tiếp cận này yêu cầu mọi chất thải từ các hệ thống sản xuất và tiêu thụ được tái sinh và sử dụng cho các mục đích khác, giúp hình thành một chu trình vòng đời khép kín và thúc đẩy phát triển bền vững.

Chia sẻ nhằm giữ tốc độ vòng lặp sản phẩm ở mức thấp và tối đa hóa việc sử dụng sản phẩm bằng cách cho phép chia sẻ giữa nhiều người dùng khác nhau, đồng thời tái sử dụng chúng trong suốt vòng đời kỹ thuật và kéo dài tuổi thọ sản phẩm thông qua bảo trì định kỳ, sửa chữa kịp thời và thiết kế cho độ bền.

Các công ty có thể phục hồi các sản phẩm ở cuối vòng đời sử dụng để lấy lại nguyên liệu, năng lượng và các thành phần còn giá trị, hoặc tái chế chất thải và sử dụng các sản phẩm phái sinh từ quá trình này.

Hình 16: Mô hình KTTH theo các hoạt động

Khái niệm tối ưu hóa tập trung vào tăng hiệu suất và hiệu quả của sản phẩm, đồng thời tối ưu hóa quy trình sản xuất và chuỗi cung ứng Việc loại bỏ chất thải và lãng phí trong toàn bộ chu trình giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng và tăng năng suất Việc tận dụng dữ liệu lớn (big data), tự động hóa và viễn thám cho phép theo dõi và phân tích vận hành theo thời gian thực, từ đó tối ưu hóa hoạt động sản xuất, quản lý tồn kho và chu trình cung ứng, mang lại sự linh hoạt và cạnh tranh bền vững.

Vòng lặp khép kín đảm bảo giữ các thành phần và vật liệu trong các vòng khép kín và ưu tiên các vòng bên trong, nhằm tối ưu hóa việc tái sử dụng và giảm thiểu phế thải Đối với các vật liệu hữu hạn có khả năng tái sản xuất sản phẩm hoặc linh kiện và tái chế vật liệu, hệ thống duy trì vòng đời của nguồn lực ở mức cao nhất.

Với nhiều sản phẩm bị hỏng hóc, lỗi thời hoặc không còn cần thiết, người tiêu dùng thường vứt bỏ, nhưng trên thực tế chúng vẫn có giá trị đáng kể Mô hình kéo dài đời sống sản phẩm ra đời nhằm thu hồi và khai thác những giá trị đó bằng cách bảo dưỡng và cải tiến thông qua sửa chữa, nâng cấp, tân trang hoặc tiếp thị lại trên thị trường Các doanh nghiệp có thể duy trì lợi ích kinh tế của những sản phẩm này trong dài hạn bằng cách chuyển từ hoạt động bán hàng đơn thuần sang quản lý vòng đời sản phẩm và tối ưu hóa giá trị tương thích Mối quan hệ giữa công ty và khách hàng cũng cần chuyển từ các lần trao đổi/mua bán ngắn hạn sang mối quan hệ lâu dài, nơi công ty có thể thực hiện nâng cấp và thay đổi sản phẩm cũ dựa trên yêu cầu cụ thể của từng khách hàng.

Công nghệ số hóa là quá trình sử dụng tài nguyên phi vật chất bằng cách cung cấp tiện ích trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giải pháp số hóa Các tiện ích này được ứng dụng rộng rãi, từ mua sắm trực tuyến đến văn phòng ảo, giúp tối ưu hóa trải nghiệm người dùng, nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu chi phí vận hành Việc số hóa cho phép tiếp cận thông tin và dịch vụ nhanh chóng ở mọi nơi, đồng thời tăng cường tính linh hoạt và khả năng quản lý dữ liệu trong hệ thống kinh doanh và dịch vụ.

Thay đổi và giao dịch là hai động lực chính cho quá trình chuyển đổi hiện đại: thay thế vật liệu cũ bằng vật liệu không tái tạo tiên tiến, ứng dụng các công nghệ mới như in 3D và động cơ điện, và chọn các sản phẩm/dịch vụ mới như vận chuyển đa phương thức để tối ưu hóa hiệu suất và tính bền vững Việc này giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và logistics, giảm chi phí dài hạn, đồng thời đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của thị trường Hơn nữa, tích hợp công nghệ tiên tiến sẽ cải thiện chuỗi cung ứng và mở rộng cơ hội cạnh tranh nhờ các giải pháp giao dịch linh hoạt và bền vững.

Theo mục đích

Accenture (2014), dựa trên hơn 120 trường hợp điển hình tại các ngành công nghệ cao, dệt may, ô tô và hàng tiêu dùng, đã xác định năm mô hình sản xuất kinh doanh tuần hoàn: cung cấp chu trình tuần hoàn, thu hồi tài nguyên, kéo dài tuổi thọ sản phẩm, nền tảng chia sẻ và sản phẩm dưới dạng dịch vụ Các mô hình này cho thấy cách doanh nghiệp tối ưu hóa vòng đời sản phẩm và tăng giá trị bằng tái sử dụng, tái chế và các hình thức cho thuê hoặc chia sẻ tài sản (Accenture 2014, p.13-14).

- Mô hình hướng đến cung cấp tuần hoàn:

Thụy Điển Nudie Jeans là thương hiệu quần áo nam nổi bật với chu trình hoạt động dựa trên bảo trì, tái sử dụng, tân trang và tái chế Mặc dù sản xuất nhiều loại trang phục, quần jean 100% cotton hữu cơ vẫn là mảng kinh doanh cốt lõi của họ Nudie Jeans vận hành một hệ thống đổi trả cho khách hàng: trả lại một chiếc quần jean cũ tại các cửa hàng ở London, Gothenburg và Stockholm sẽ được giảm 20% khi mua một chiếc quần jean mới Những chiếc quần jean trả lại được giặt sạch, sửa chữa và sau đó được bày bán như quần jean đã qua sử dụng tại các cửa hàng.

Khi quần jean bị sờn rách và không thể tái sử dụng, chúng được đưa vào chương trình tái chế để thay thế sản phẩm mới Nudie Jeans giới thiệu ba sáng kiến tái chế trên trang web của hãng, thể hiện cam kết với thời trang bền vững Mud Jeans là một công ty hoạt động theo cùng mô hình tái chế, nhưng có cách tiếp cận riêng và mở rộng sang nhiều loại trang phục như quần jean, áo thun, áo sơ mi, hoodie và túi xách Điểm đặc biệt của Mud Jeans là khách hàng có thể thuê quần jean và hoodie Trong trường hợp thuê quần jean, khách hàng phải trả phí thành viên.

Chi phí ban đầu cho thuê quần jean là €25, ngoài ra khách hàng còn trả phí thuê hàng tháng €7,50 trong suốt 12 tháng Khi kết thúc hợp đồng thuê 12 tháng, khách hàng có ba lựa chọn: giữ lại quần jean đã thuê, đổi sang một chiếc quần jean mới để thay thế chiếc đang dùng, hoặc trả lại quần jean và kết thúc hợp đồng.

Mud Jeans và Nudie Jeans tận dụng sự kết hợp giữa nhiều mô hình kinh doanh để tạo ra giá trị độc đáo cho khách hàng, đồng thời áp dụng mô hình cung cấp tuần hoàn nhằm đảm bảo nguồn cung cấp bông hữu cơ nguyên sinh hoặc bông tái chế thân thiện với môi trường Khi khách hàng trả lại một chiếc quần jean, dù cho thuê hay mua, họ sẽ nhận được phiếu mua hàng trị giá 10 euro cho lần mua hàng tiếp theo tại Mud Jeans (Mud Jeans 2015).

- Mô hình hướng đến thu hồi tài nguyên:

Phục hồi tài nguyên là quá trình nắm bắt giá trị còn lại ở cuối vòng đời sản phẩm để cung cấp nguồn nguyên liệu hoặc sản phẩm cho các mục đích mới thông qua các dịch vụ tái chế và nâng cấp sáng tạo Quá trình này giúp giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa nguồn lực, đồng thời làm cho chu trình sản xuất bền vững hơn bằng cách chuyển đổi vật liệu đã qua sử dụng thành sản phẩm mới Khi thiết kế sản phẩm hướng tới phục hồi, tái chế và nâng cấp sáng tạo, giá trị của vòng đời sản phẩm được khai thác tối đa và động lực đổi mới được tăng cường, giúp cắt giảm chi phí và mở ra cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Đây là chiến lược quan trọng cho phát triển bền vững và trách nhiệm với môi trường trong cả tập đoàn và chuỗi cung ứng.

Mô hình sản xuất kinh doanh này dựa trên tái chế tiên tiến bằng cách ứng dụng các công nghệ và khả năng mới, kết nối cộng sinh công nghiệp và tái chế vòng kín Các sản phẩm được chứng nhận Cradle-to-Cradle minh họa cho hướng tiếp cận sản xuất theo thiết kế nhằm tái chế Tiêu chuẩn Cradle-to-Cradle đặt ra yêu cầu chất lượng ở năm danh mục, trong đó khả năng tái sử dụng vật liệu là một yếu tố cốt lõi; các sản phẩm đạt chứng nhận Cradle-to-Cradle được thiết kế để có thể tái chế hoặc tái sử dụng một cách hiệu quả Mô hình này đặc biệt phù hợp với các công ty có khối lượng lớn phế phẩm hoặc phế liệu từ các sản phẩm có thể thu hồi và xử lý lại với chi phí tối ưu Nó có thể liên kết với các nguyên tắc của vòng tuần hoàn thuần túy, vòng tuần hoàn dài hơn và sử dụng theo tầng để tối ưu hóa hiệu quả tài nguyên.

Hình 17: Vải C2C cradle to cradle - vertisol

- Mô hình hướng đến kéo dài tuổi thọ sản phẩm:

Nudie Jeans và Mud Jeans áp dụng mô hình kéo dài tuổi thọ sản phẩm bằng cách thu hồi tài nguyên, đưa quần jean trở lại để sửa chữa và bán lại hoặc thu hồi các loại vải để tái chế; bộ dụng cụ sửa chữa được cung cấp cho khách hàng trong giai đoạn sử dụng là ví dụ điển hình cho mô hình sản xuất – kinh doanh kéo dài tuổi thọ này Dịch vụ cho thuê quần jean và cho thuê áo hoodie của Mud Jeans cho thấy xu hướng áp dụng mô hình kinh doanh sản phẩm dưới dạng dịch vụ, tương tự như iRep và iRepair, hai trường hợp tiêu biểu cho loại mô hình này: iRep là cửa hàng sửa chữa điện thoại di động và máy tính bảng, còn iRepair là cửa hàng sửa chữa iPod, máy tính xách tay cũng như điện thoại và máy tính bảng Bạn có thể đến các cửa hàng trên khắp đất nước hoặc sử dụng giao diện trực tuyến của họ để hoàn tất các thủ tục cần thiết trước khi gửi sản phẩm bị hỏng qua đường bưu điện đến các cửa hàng sửa chữa Các công ty đáp ứng cả khách hàng tư nhân và doanh nghiệp, và thường hợp tác với các nhà cung cấp bảo hiểm để đảm bảo sự ổn định của việc sửa chữa.

25 các ví dụ về việc kéo dài tuổi thọ sản phẩm hướng tới chủ sở hữu sản phẩm ban đầu thông qua dịch vụ sửa chữa của họ

Các sản phẩm tân trang của Fonebank được bán với mức giá rẻ hơn so với các sản phẩm mới, giúp tiếp cận các phân khúc khách hàng ở các nước đang phát triển Ở châu Phi, 70% điện thoại di động được bán lại.

Fonebank lập luận rằng điện thoại của họ giúp hoạt động kinh doanh tại đây được triển khai hiệu quả và đồng thời giúp các gia đình giữ liên lạc với nhau (Fonebank 2014b) Trên thực tế, hiệu quả của hệ thống phụ thuộc vào chất lượng mạng, chi phí sử dụng và mức độ tiếp cận thị trường, cũng như sự chấp nhận của người dùng đối với công nghệ và các dịch vụ đi kèm.

Fonebank mang lại lợi ích kinh tế và xã hội cho các nước đang phát triển và đồng thời gia tăng lợi thế về môi trường nhờ giảm nhu cầu đối với điện thoại di động mới từ các nhà máy sản xuất Điều này giúp hạn chế khai thác kim loại quý và nguyên tố đất hiếm – những thành phần thiết yếu trong quá trình sản xuất – đồng thời giảm thiểu lượng rác thải điện tử đổ vào bãi chôn lấp Những hiệu ứng tích cực này có ý nghĩa lớn bởi Fonebank đang mua lại khoảng 40.000 điện thoại di động mỗi tháng cho bộ phận kinh doanh của mình (Fonebank 2014a).

Các nước phát triển có thể thu lợi kinh tế từ mô hình sản xuất-kinh doanh theo chu trình tái chế thiết bị điện tử, khi chủ sở hữu thiết bị đã qua sử dụng nhận được ưu đãi kinh tế để đưa thiết bị vào vòng đời mới với người dùng mới Cho đến nay, Fonebank đã trả 80 triệu GBP cho những người bán thiết bị đã qua sử dụng cho công ty (Fonebank 2014a), cho thấy công ty thu được lợi nhuận từ sàn giao dịch này và có thể tạo thêm việc làm dựa trên hoạt động đó Mô hình kéo dài tuổi thọ sản phẩm được thể hiện tại Fonebank, dù tuổi thọ sản phẩm tiếp tục được mở rộng thông qua việc bán hàng cho người dùng mới ở các thị trường mới.

- Mô hình hướng đến tạo nền tảng chia sẻ:

Mô hình sản xuất kinh doanh này đã tồn tại và phát triển qua nhiều thập kỷ, chủ yếu trong các tổ chức phi lợi nhuận như các cơ quan cứu trợ và dịch vụ công cộng Tuy nhiên, gần đây nó đã được mở rộng sang các thị trường trực tuyến định hướng lợi nhuận, điển hình là Australian Clothing Exchange và Danish TrendSales, nơi kết nối những người dùng cá nhân muốn bán, mua hoặc trao đổi quần áo Người dùng đăng tải các mặt hàng lên nền tảng để bán hoặc trao đổi, từ đó hình thành một kênh thương mại quần áo trực tuyến tiện lợi và ngày càng phổ biến.

Trong các nền tảng thương mại điện tử, người dùng có thể thương lượng giá cả hoặc trao đổi mặt hàng và thảo luận điều khoản giao hàng qua các trang web trực tuyến Các công ty vận hành nền tảng kiếm lợi nhuận từ giao dịch và phí thành viên, đồng thời tăng doanh thu từ bán các dịch vụ cao cấp và quảng cáo trên website.

Hình 18: Mô hình air BNB

Các mô hình thị trường này có nhiều yếu tố, bao gồm các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng chia sẻ có thể ví như tủ quần áo dùng chung; Resecond, tập trung vào váy, là một ví dụ: với một khoản phí hàng tháng, người dùng có thể mượn bao nhiêu trang phục tùy thích, với yêu cầu thêm là họ phải chia sẻ cùng một số lượng trang phục trong tủ quần áo trực tuyến (Resecond n.d.) Nguyên tắc tương tự của tủ quần áo công cộng cũng được áp dụng trong Share Your Closet, nhưng ở đây bạn không cần tiền Thay vào đó, khi quần áo của bạn được các thành viên khác mượn, bạn sẽ được tích điểm và những điểm này cho phép bạn mượn từ người khác Bằng cách này, người dùng có thể thử các kiểu dáng mới, những đôi giày yêu thích và những món đồ khác mà không phải trả thêm phí nào ngoài cước phí Các thành viên có thể giữ quần áo bao lâu tùy thích hoặc cho đến khi có người khác muốn mượn chúng (Share Your Closet 2015) Thông qua các phương pháp hợp tác này, quần áo có thể được sử dụng thường xuyên hơn trước khi bị loại bỏ.

Autolib' là một dịch vụ chia sẻ xe hơi ở Paris tương tự như dịch vụ chia sẻ xe đạp

ÁP DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN CỦA CÁC QUỐC GIA TIÊU BIỂU

Khối liên minh châu Âu – EU

EU là khu vực đi đầu trong tiếp cận thực hiện KTTH và nhận thức rõ ràng rằng KTTH không chỉ là vấn đề chất thải Do đó, EU đã triển khai hai kế hoạch lần lượt để đẩy mạnh KTTH, gồm Kế hoạch hành động KTTH (EU Action Plan for the Circular Economy) và Kế hoạch thiết kế sinh thái.

Trong giai đoạn 2016-2019, Ủy ban cho thấy mỗi quốc gia thành viên triển khai các hành động riêng để thực hiện KTTH nhưng vẫn đảm bảo sự thống nhất; kế hoạch nêu rõ cách tiếp cận KTTH theo 4 giai đoạn của vòng đời sản phẩm: sản xuất (đặc biệt ở khâu thiết kế), tiêu dùng, quản lý chất thải và biến chất thải thành nguyên liệu thứ cấp; đầu năm 2015, Ủy ban đề xuất hệ thống nhãn cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng của các thiết bị gia dụng và các sản phẩm liên quan đến năng lượng khác, giúp người tiêu dùng lựa chọn các sản phẩm có hiệu suất tốt nhất.

Hệ thống được đề xuất sẽ cho phép hiển thị cho người tiêu dùng thông tin về hiệu suất môi trường và độ bền của các sản phẩm liên quan đến năng lượng, đồng thời làm rõ bốn khâu của KTTH và sáu lĩnh vực ưu tiên thực hiện KTTH: nhựa, chất thải thực phẩm, các nguyên liệu quan trọng, xây dựng và phá dỡ, nhiên liệu sinh khối và sản phẩm sinh học (EC, Closing the loop – An EU action plan for the Circular Economy, 2015) Bên cạnh đó, các quy định về chất thải rắn cùng với các kế hoạch hành động cũng được EU thông qua bao gồm các cam kết về thiết kế sản phẩm (Ecodesign), phát triển các chiến lược về nhựa và hóa chất, và sáng kiến tài trợ cho các dự án đổi mới sáng tạo dưới sự bảo trợ của chương trình nghiên cứu Horizon 2020 nhằm mục tiêu vào các lĩnh vực như chất thải nhựa, chất thải thực phẩm, xây dựng, nguyên liệu quan trọng, chất thải công nghiệp và khai thác, tiêu thụ và mua sắm công cộng.

Hình 19: Tỷ lệ tái chế của các quốc gia trên thế giới

EU đã triển khai các hành động thực tiễn nhằm bảo đảm các quy định pháp lý cho hàng tiêu dùng, ban hành quy định về phân bón và các thỏa thuận sáng tạo nhằm kết nối các nhà sản xuất với nhà đầu tư để tăng cường nền kinh tế tuần hoàn (KTTH); đồng thời trình Kế hoạch thiết kế sinh thái 2016-2019 và thành lập Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) nhằm nâng cao nhận thức và sự tham gia của các nhà đầu tư (RLI, 2017) Ngày 27 tháng 3 năm 2019, Nghị viện châu Âu đã nhất trí về các biện pháp đầy tham vọng do Ủy ban đề xuất để xử lý rác thải biển từ 10 sản phẩm nhựa dùng một lần phổ biến nhất trên các bãi biển châu Âu, cũng như các loại dụng cụ đánh bắt cá bị vứt bỏ và nhựa phân hủy oxo Liên minh Châu Âu xác định tiến trình hướng tới nền KTTH là một nhiệm vụ đầy thách thức và cần có khung giám sát nhằm đo lường tiến trình theo các khía cạnh khác nhau của vòng đời tài nguyên, sản phẩm và dịch vụ Tháng 3 năm 2020, EU đã công bố Kế hoạch hành động KTTH mới.

Trang này trình bày các sáng kiến cho toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ thiết kế và sản xuất đến tiêu thụ, sửa chữa, tái sử dụng, tái chế và đưa các nguồn lực trở lại nền kinh tế thông qua các biện pháp lập pháp và phi lập pháp, nhắm vào những lĩnh vực mà hành động ở cấp độ EU mang lại giá trị gia tăng Để cụ thể hóa tiến trình chuyển đổi sang KTTH, các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu đã triển khai các hành động chính sách để thực thi, điển hình như sau:

Hình 20: KTTH và ƣu tiên số một trong thỏa thuận xanh của EU

Phần Lan là một trong những quốc gia đi đầu trong phát triển KTTH (Kinh tế thị trường định hướng xã hội) Mô hình KTTH ở nước này được coi là giải pháp xây dựng xã hội bền vững dựa trên hợp tác công – tư Từ năm 1967, Phần Lan đã xác định và thúc đẩy KTTH như một nền tảng cho tăng trưởng kinh tế đi đôi với phúc lợi xã hội.

Hình 21: Vị trí của Phần Lan trên bản đồ thế giới

Quỹ Phát triển đổi mới sáng tạo Phần Lan (SITRA) được thành lập với nhiệm vụ dự báo các xu hướng phát triển trên thế giới, tập huấn nâng cao năng lực cho các Bộ, ngành, phát triển KTTH trung tính về carbon, tham gia các diễn đàn và dự án phục vụ phát triển kinh tế bền vững, thúc đẩy các mô hình sản xuất tái tạo và phục hồi, giảm thiểu rác thải, đồng thời kết nối tiêu thụ hàng hóa và sử dụng dịch vụ đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả và thân thiện với môi trường Bên cạnh đó, Phần Lan là quốc gia đầu tiên xây dựng và ban hành lộ trình phát triển KTTH quốc gia Năm 2016, lộ trình phát triển KTTH của Phần Lan được xây dựng với sự tham gia của các cơ quan chính phủ, đại diện khu vực công và khu vực tư, các tổ chức Đây được coi là bước khởi động cho quá trình chuyển đổi sang KTTH của Phần Lan, trong đó bao gồm 06 dự án chiến lược và hàng chục chương trình thí điểm.

Các lĩnh vực ưu tiên trong lộ trình là những ngành truyền thống có thế mạnh của Phần Lan, như hệ thống thực phẩm bền vững, vòng tuần hoàn lâm nghiệp (forest-based loops), vòng tuần hoàn kỹ thuật (technical loops), vận tải và logistics, cùng các hành động chung (joint actions) Để hiện thực hóa mục tiêu, 06 dự án chiến lược được đề ra, bao gồm: (1) Dự án hợp tác khu vực (Regional co-operation), nhằm cung cấp thực phẩm cho người dân Phần Lan thông qua các bếp ăn của khu vực công dựa trên sản xuất bền vững tại địa phương; (2) Dự án nhà máy thí điểm áp dụng các kỹ …

Trong khuôn khổ các nỗ lực đổi mới, Finland và SITRA nhấn mạnh 32 thuật mới trong sản xuất các thiết bị điện và điện tử, đồng thời đánh giá việc tái sử dụng các nguyên vật liệu quý hiếm Dự án Helsinki Metropolitan Smart & Clean tạo ra các khái niệm xuất khẩu mới dựa trên vận tải thông minh carbon thấp và khai thác dữ liệu mở Dự án Phát triển các chế phẩm sinh học nhằm thay thế vai trò của các nhiên liệu hóa thạch được đẩy mạnh trên quy mô công nghiệp lớn Dự án Mô hình hợp tác của hệ sinh thái ngành công nghiệp ở Bắc Cực được tiếp tục thử nghiệm ở Bắc Phần Lan nhằm tăng cường cộng sinh công nghiệp Dự án Diễn đàn KTTH thế giới nhằm giới thiệu các giải pháp áp dụng KTTH tốt nhất Bên cạnh đó, SITRA đã tiếp tục thúc đẩy các hợp tác sâu rộng về KTTH, căn cứ trên kết quả đạt được theo Lộ trình phát triển KTTH 2016 để xây dựng Lộ trình của Phần Lan hướng tới KTTH giai đoạn 2016 – 2020 (gọi tắt là Lộ trình 2.0).

Hà Lan bắt đầu tiếp cận quản lý chất thải từ năm 1979 khi đề xuất của Ad Lansink được Quốc hội thông qua, đặt nền tảng cho hệ thống thang Lansink ưu tiên ngăn ngừa và hạn chế phát sinh chất thải, thúc đẩy tái sử dụng và tái chế, sau đó là xử lý rác bằng đốt trước khi áp dụng biện pháp cuối cùng là chôn lấp (Cramer, 2014) Mất 10 năm để các chính sách về phòng ngừa và tái sử dụng chất thải được xây dựng; đến năm 1990, 30 nguồn chất thải ưu tiên được lựa chọn để triển khai các chương trình xử lý chất thải đầy tham vọng, bao gồm lốp xe, pin, bao bì và dầu đã qua sử dụng, đồng thời một ngành công nghiệp môi trường mới bắt đầu hình thành dựa trên sự phát triển của các công nghệ quản lý và tái chế chất thải.

Vào năm 2016, trong bối cảnh EU ban hành gói Kinh tế Tuần hoàn (KTTH) vào năm 2015, Hà Lan chính thức triển khai chương trình toàn Chính phủ nhằm xây dựng một nền KTTH và hướng tới trở thành một quốc gia theo tư duy tuần hoàn vào năm 2050 Tham vọng của Chính phủ là tích hợp mục tiêu KTTH vào mọi cấp độ policymaking, từ sản xuất và tiêu dùng đến quản lý chất thải và tài nguyên, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng xanh và cạnh tranh kinh tế dựa trên nguyên lý vòng tuần hoàn Để thực hiện, Hà Lan tập trung kết nối giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, phát triển hệ sinh thái đổi mới, đầu tư vào công nghệ tái chế, thiết kế sản phẩm bền vững và mô hình kinh tế chia sẻ Các bước này được kỳ vọng thiết lập nền tảng cho một nền kinh tế hiệu quả hơn với ít lãng phí và sẵn sàng thích ứng với các thách thức nguồn lực trong tương lai.

Hà Lan, cùng với các bên liên quan, đang hướng tới mục tiêu tạm thời giảm 50% việc sử dụng nguyên liệu thô (khoáng sản, hóa thạch và kim loại) vào năm 2030 Chương trình này nêu rõ các mục tiêu hiện tại và thiết lập một kế hoạch thực hiện các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu, đồng thời tăng cường quản trị nguồn lực và thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình kinh tế bền vững về nguyên liệu.

Có 33 bước tiến tới năm 2050, trong đó Chính phủ chịu trách nhiệm thiết lập các hành động để thúc đẩy quá trình chuyển đổi và đạt được mục tiêu này Ngoài vai trò là cơ quan quản lý thị trường và đối tác kết nối, Chính phủ Hà Lan muốn thúc đẩy các quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng KTTH, nhằm mở ra những triển vọng đầy hứa hẹn và dựa trên một cách tiếp cận hệ thống Lộ trình thực hiện được xây dựng để quản lý và phân bổ trách nhiệm cho mọi người, đồng thời củng cố công tác quản lý trong suốt quá trình chuyển đổi.

Cộng hòa Liên bang Đức xác định tuần hoàn vật liệu là yếu tố then chốt nhằm giảm phụ thuộc vào tài nguyên và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững lâu dài cho nền kinh tế Chính sách tuần hoàn vật liệu của Đức tập trung tối ưu hóa chu trình sử dụng nguồn lực, giảm thiểu lãng phí và tăng cường sự độc lập về tài nguyên, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững theo thời gian.

Được ban hành từ năm 1999, Luật quản lý chất thải và chu trình khép kín của Đức nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý để thực thi việc xử lý chất thải an toàn với môi trường và khả năng đồng hóa chất thải, đồng thời thúc đẩy các mô hình giảm thiểu chất thải, tái sử dụng, tái chế và đốt rác thải để sản xuất điện và nhiệt Bên cạnh đó, Đức phát triển các chính sách năng lượng, công nghiệp và môi trường ở cấp quốc gia và đóng vai trò rất mạnh mẽ ở cấp độ châu Âu Với khung pháp lý môi trường mạnh mẽ, Đức trở thành quốc gia tiên phong trong phát triển bền vững, kinh tế carbon thấp, hiệu quả hơn và tương thích với tăng trưởng (OECD, 2012).

Các nước châu Mỹ

Trước nay, cách tiếp cận KTTH của Canada thường bị làm mờ bởi các mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh Cho đến nay, Canada vẫn chưa công bố một chiến lược KTTH tích hợp, toàn diện và có tính hợp tác nhằm thúc đẩy triển khai KTTH với các đối tác ở nước ngoài và trong nước Canada tiến hành tiếp cận KTTH bằng các cơ chế hợp tác nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, đồng thời tìm kiếm cơ hội đầu tư và liên kết nghiên cứu để nâng cao khả năng đổi mới sáng tạo và cạnh tranh trên trường quốc tế.

Hội đồng không chất thải quốc gia (The National Zero Waste Council) là sáng kiến lãnh đạo tập hợp chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ nhằm thúc đẩy ngăn chặn sự xả thải và chuyển dịch sang nền KTTH ở Canada; thông qua việc tập trung vào phòng ngừa chất thải và hợp tác liên ngành, Hội đồng được coi là tác nhân thay đổi ở Canada, thúc đẩy sự đổi mới trong thiết kế, sản xuất và sử dụng hàng hóa để hỗ trợ nền KTTH; bằng cách đưa ra những hành động cụ thể đối với các chủ thể thúc đẩy phát sinh chất thải, Hội đồng đã và đang hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống, đem tới sự bền vững cho môi trường và thịnh vượng cho nền kinh tế, giảm tải việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng Được thành lập bởi Metro Vancouver phối hợp với Liên đoàn các đô thị Canada vào năm 2013, Hội đồng đã hợp nhất, cùng với những khu vực khác, sáu khu vực đô thị lớn của Canada gồm Metro Vancouver, Toronto, Montreal, Halifax, Calgary và Edmonton — với các nhà lãnh đạo chính phủ và doanh nghiệp, các học viện và các tổ chức phi lợi nhuận nhằm kêu gọi hành động ở phạm vi quốc gia và thay đổi các hệ thống để nhằm giải quyết vấn đề phát sinh chất thải; với mục tiêu một Canada thống nhất trong hành động để đạt được mức phát thải bằng không cho thế hệ hiện tại và tương lai, Hội đồng triển khai hành động hợp tác với doanh nghiệp, chính phủ và cộng đồng ở cấp quốc gia và quốc tế như một tác nhân thay đổi để ngăn chặn và giảm chất thải ngay từ khâu thiết kế, sản xuất và cho đến cả sử dụng hàng hóa.

KTTH ở Canada được Hội đồng đề ra như các nguyên tắc hướng dẫn sau: cam kết hợp tác với các đối tác kinh doanh, chính phủ và cộng đồng để phát triển các giải pháp mới; áp dụng khuôn khổ ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh toàn cầu của các thành phố và doanh nghiệp Canada trong bối cảnh nền kinh tế hạn chế về tài nguyên; phù hợp với các sáng kiến toàn cầu và quốc tế; thúc đẩy lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường liên quan đến bảo tồn tài nguyên; xem xét hậu quả ở cấp độ quốc gia và toàn cầu cùng với các tác động lâu dài.

Hội đồng đề ra hai định hướng chiến lược cho triển khai KTTH: một là thay đổi thiết kế sản phẩm và bao bì nhằm giảm mức độ sử dụng vật chất và cho phép chúng dễ dàng tái sử dụng, tái chế và thu hồi; hai là thay đổi xúc tác trong hành vi giữa tất cả các bên liên quan và các lĩnh vực của xã hội nhằm giảm lượng chất thải đầu ra.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, dựa theo những nguyên tắc và định hướng mà Hội đồng đề ra, Chiến lƣợc quốc gia về Không Chất thải nhựa đƣợc đƣa ra bởi Bộ Môi trường và Biến đổi khí hậu Canada (ECCC) và Bộ Y tế Canada (HC) tại hội thảo với nhiều bên liên quan về kế hoạch quản lý hóa chất Canada ở Ottawa với tầm nhìn giữ tất cả nhựa trong nền kinh tế và ra khỏi môi trường bằng cách sử dụng cách tiếp cận KTTH

Trong khi các chương trình quản lý chất thải trong quá khứ được đưa ra ở

Ở Canada, hơn 89% nhựa hiện vẫn bị chôn lấp hoặc đốt, vì vậy chiến lược zero plastic đề xuất một hệ thống tích hợp gồm ba lĩnh vực hoạt động: phòng ngừa nhựa, thu hồi dọn dẹp và phục hồi giá trị của chất thải nhựa Hệ thống này được hỗ trợ thông qua nâng cao nhận thức và giáo dục, nghiên cứu và đổi mới, cùng các quy định và công cụ dựa trên thị trường Thiết kế sản phẩm nhựa trở thành một hành động ưu tiên nhằm đạt mục tiêu nhựa tái chế và tái chế 100% Canada cũng có kế hoạch giảm lượng nhựa thải điện tử xuất khẩu sang các nước khác để tăng tái chế nội địa, theo chiến lược Strategy on zero plastic (2018).

4.2.2 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, kinh tế thị trường (KTTH) được hình thành trên cơ sở cách tiếp cận dựa vào thị trường Cách tiếp cận dựa vào thị trường cho phép các chủ thể thị trường ngoài nhà nước—những doanh nghiệp và tổ chức có tư cách pháp nhân—được tự do tham gia kinh doanh và cung cấp hàng hóa, dịch vụ, kể cả các sản phẩm và dịch vụ liên quan bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy luật cung cầu của thị trường Đặc biệt, cách tiếp cận thị trường khuyến khích các hành động nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và xã hội, đồng thời tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân vào các giải pháp môi trường và quản trị nguồn lực.

37 vi thông qua các tín hiệu thị trường hơn là các hướng dẫn, chỉ thị của nhà nước Chính sách của Hoa Kỳ thiên về việc khuyến khích các sáng kiến tuần hoàn và nhân rộng các điển hình tuần hoàn tốt Thị trường rác thải điện tử tại Bang Colorado là một ví dụ điển hình của cách tiếp cận này để thực hiện KTTH Cụ thể, năm 2013, việc chôn lấp rác thải điện tử bị cấm tại Bang Colorado ngay lập tức đã xuất hiện các doanh nghiệp đứng ra thu gom và tái chế rác thải điện tử Như vậy, một thị trường với người mua là các hộ gia đình và người bán là các công ty cung cấp dịch vụ đã được hình thành Kết quả là môi trường được bảo vệ, xã hội có thêm công ăn việc làm, Nhà nước không mất chi phí xử lý ô nhiễm do rác thải điện tử và rác thải đƣợc tuần hoàn xử lý (N H Nam, 2018) Việc các thị trường tương tự như vậy liên tục được hình thành đã khiến thu gom và xử lý rác thải trở thành một lĩnh vực sôi động mang lại lợi nhuận cao đối với các nhà đầu tƣ tại

Mỹ, từ đó xuất hiện các tỷ phú rác nổi tiếng nhƣ Wayne Huizenga của Công ty Quản lý chất thải (Waste Management) và Maria Rios của Công ty Chất thải quốc gia (Nation Waste) Bên cạnh đó, một số thành phố của Hoa Kỳ cũng xây dựng và ban hành Chiến lược “Zero waste” với mục tiêu không còn chất thải ra ngoài môi trường vào năm 2030 Theo đó, các thành phố sẽ phải thay đổi từ cách tiếp cận dựa trên chi phí hiện tại sang cách tiếp cận dựa trên quản lý tài nguyên, bằng việc coi chất thải là tài sản cần phải đƣợc quản lý, thay vì chỉ là thực hiện trách nhiệm pháp lý Từ đó, các lộ trình cũng đã đƣợc đặt ra, gắn với các chính sách rất cụ thể, nhƣ đẩy mạnh hợp tác công tƣ, quản lý chất thải thực phẩm, thu gom và xử lý nước thải, tái chế chất thải xây dựng, thiết lập các cơ sở cho quyên góp và tái chế (Action, 2017).

Các quốc gia Châu Á

Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia tiên phong trong tiếp cận thực hiện KTTH ở Châu Á (D Reike, 2018), cụ thể:

Chiến lược KTTH của Trung Quốc được triển khai ở ba cấp độ quan trọng: thúc đẩy sản xuất sạch ở phạm vi doanh nghiệp, triển khai hệ sinh thái công nghiệp trong các khu công nghiệp, và phát triển các thành phố sinh thái ở cấp khu vực Chiến lược này nhằm tối ưu hóa nguồn lực, giảm thiểu tác động môi trường và tăng cường liên kết giữa công nghiệp, đô thị và công nghệ xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

38 thử nghiệm trong 7 lĩnh vực công nghiệp được thực hiện tại 13 khu công nghiệp và kể từ năm 2005 tại 10 thành phố, tỉnh sinh thái (Bắc Kinh, Thượng Hải, Trùng Khánh, Quý Dương, Ninh Ba, Hà Bắc, Đồng Lăng, Liêu Ninh, Sơn Đông và Giang Tô) dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, cho thấy xây dựng thành phố sinh thái dựa trên ba trụ cột của kinh tế sinh thái: hệ thống công nghiệp gồm công nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh thái và ngành dịch vụ; hạ tầng đô thị được phát triển theo mô hình tuần hoàn nước, năng lượng và chất thải rắn; và an ninh sinh thái được tăng cường thông qua các tòa nhà xanh, nâng cao chất lượng môi trường sống và bảo vệ môi trường.

Trong chiến lược tiếp cận, Trung Quốc nhấn mạnh khía cạnh pháp luật và khung pháp lý mà luật pháp yêu cầu, đồng thời cho rằng khả năng cơ động, sự tham gia của người dân và bài học kinh nghiệm từ các nước phát triển phải được giải quyết một cách hiệu quả Thực tiễn từ Trung Quốc chỉ ra sự cần thiết của một hệ thống đánh giá khoa học và hiệu quả để có được thông tin chính xác và cải thiện hướng dẫn, với các chỉ số gồm phát triển kinh tế, phát triển xanh và phát triển con người Đặc biệt, Trung Quốc liên tục ban hành luật mới nhằm cải thiện hiệu quả của KTTH và các sáng kiến bền vững, gắn với các chỉ số này Cứ sau 5 năm, Chính phủ nước này lại ban hành một kế hoạch 5 năm mới với các mục tiêu bền vững và mục tiêu tăng trưởng kinh tế khác nhau mà nước này muốn đạt được Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch hành động và chiến lược phát triển KTTH qua “Kế hoạch 5 năm lần thứ 11”, “Kế hoạch 5 năm lần thứ 12” và hiện nay đang triển khai “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13”.

Thách thức chủ yếu trong việc xây dựng KTTH của Trung Quốc là làm sao gắn kết các doanh nghiệp có mối liên hệ trong chuỗi cung ứng để tham gia hợp tác chuyển sản phẩm đầu ra thành vật liệu đầu vào Các nguyên vật liệu tái chế, tái sản xuất và có nguồn gốc địa phương thường rẻ hơn, từ đó giúp tăng lợi nhuận cho DN Ở tầm nhìn quốc gia, việc ngày càng tận dụng các nguyên liệu ‘cây nhà lá vườn’ để đẩy mạnh chu trình khép kín và tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc thay thế các nguồn nhập khẩu đã nâng cao an ninh tài nguyên của Trung Quốc, đặc biệt trong ngành sản xuất công nghiệp, khi nước này đẩy mạnh phát triển KTTH trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, đồng thời đẩy nhanh quá trình chuyển đổi các ngành công nghiệp truyền thống sang công nghệ cao và tiên tiến, loại bỏ các quy trình, công nghệ và thiết bị lạc hậu, nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống, tái cấu trúc doanh nghiệp, tăng cường tập trung công nghiệp và kinh tế theo quy mô và thúc đẩy phát triển nông nghiệp Những khu vực phát triển và khu vực tập trung công nghiệp hóa chất nặng sẽ được quy hoạch, xây dựng và chuyển đổi theo yêu cầu của nền KTTH Các doanh nghiệp nhập khẩu đề xuất các yêu cầu kiểm soát toàn diện đối với đất, năng lượng, sử dụng tài nguyên nước, xả thải, và phát triển các ngành công nghiệp liên quan đến tài nguyên cốt lõi để phát triển ngành công nghiệp; tích tụ và hiệu ứng sinh thái công nghiệp tạo thành một chuỗi công nghiệp với khả năng tái chế tài nguyên hiệu quả và nâng cao hiệu quả sản xuất tài nguyên.

Nhật Bản được xem là một điển hình ở cấp độ quốc gia về KTTH, bắt đầu từ năm 1991 bằng việc xây dựng khung pháp lý nhằm biến nước này thành một xã hội dựa trên tái chế; trọng tâm là The Basic Law for Establishing a Recycling-Based Society (Luật Cơ bản cho việc thành lập một xã hội dựa trên tái chế), có hiệu lực từ năm 2002, nhằm định hướng các mục tiêu định lượng và phi vật chất hóa lâu dài cho xã hội Nhật Bản Nhờ vậy, Nhật Bản nhanh chóng đạt được tỷ lệ tái chế cao trên thế giới: năm 2007 chỉ có 5% chất thải phải chôn lấp (so với 48% ở Vương quốc Anh vào năm 2008); từ năm 2010, tỷ lệ tái chế kim loại đã lên tới 98% (Ministry of the Environment, 2010) Luật Tái chế thiết bị của Nhật Bản đảm bảo rằng trên 50% các sản phẩm điện tử được tái chế, so với 30-40% ở châu Âu (Y Hotta, 2014); quan trọng hơn, khoảng 74-89% vật liệu chứa trong các thiết bị đã được thu hồi và đưa trở lại phục vụ cho mục đích sản xuất sản phẩm.

40 cùng loại, giúp tiết kiệm chi phí và giảm phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên

Ở cấp quốc gia, Nhật Bản đo lường KTTH bằng ba chỉ số chính: năng suất tài nguyên đo lượng vật liệu theo tỷ lệ với GDP; tỷ lệ sử dụng vật liệu theo chu kỳ trong nền kinh tế được đo bằng vật liệu tái sử dụng trên tổng vật liệu được sử dụng; và chỉ số đầu ra đo lượng chất thải cuối cùng bị chôn lấp Các chỉ số này đi kèm với mục tiêu cụ thể và Nhật Bản bổ sung thêm các phép đo theo ngành, thậm chí có các mục tiêu riêng cho từng ngành Bên cạnh đó, Nhật Bản còn đo lường các chỉ số nỗ lực xã hội đối với nền KTTH, xem xét quy mô thị trường cho thuê hàng hóa, số lượng bao bì tái sử dụng được bán, số lượng chính quyền địa phương tính phí cho việc thu gom chất thải dư thừa và thậm chí doanh số bán đũa dùng một lần như một cách đo thay thế cho tỷ lệ dân số có thể tái sử dụng đũa.

Để KTTH thực sự hoạt động, tính toàn diện và sự hợp tác là trái tim của hệ thống tuần hoàn ở Nhật Bản Cộng đồng đóng vai trò then chốt bằng cách phân loại các vật liệu tái chế, đóng phí tái chế trực tiếp và buộc các công ty chịu trách nhiệm minh bạch khi cần thiết Các nhà sản xuất thực hiện nghĩa vụ của mình bằng cách sử dụng nhiều vật liệu tái chế hơn và tạo ra các sản phẩm bền lâu, dễ sửa chữa và dễ tái chế hơn.

Hệ thống triển khai KTTH ở Nhật Bản có ba tính năng chính: thứ nhất là hệ thống thu hồi thân thiện với người tiêu dùng, quy mô thu thập các thiết bị cũ để tái chế rất toàn diện và dễ sử dụng đến nỗi việc không tái chế còn khó hơn tái chế; các thiết bị cũ được thu hồi bởi các nhà bán lẻ tại cửa hàng hoặc khi giao một thiết bị mới Đối với thiết bị công nghệ cũ, nhà sản xuất có thể bị yêu cầu thu hồi tại nhà bởi chính quyền địa phương hoặc có thể được trả lại tại bất kỳ bưu điện nào Thói quen này được hình thành khắp Nhật Bản, giúp tư duy về KTTH được hiểu rõ và sử dụng rộng rãi Thứ hai là người tiêu dùng trả phí trước khi mua thiết bị, một cơ chế chi phí cho hoạt động thu hồi và tái chế được tích hợp vào giá bán Ba tính năng này phối hợp để thúc đẩy thói quen tiêu dùng có ý thức về KTTH.

41 đối với thiết bị điện tử, chi phí vận chuyển và phục hồi được thanh toán tại điểm mua, đồng thời hình phạt đối với việc vứt rác bừa bãi cũng được tăng lên Cơ sở hạ tầng tái chế được xem là đồng sở hữu khi luật pháp yêu cầu liên minh các nhà sản xuất vận hành các nhà máy tháo gỡ và đảm bảo họ được hưởng lợi trực tiếp từ việc thu hồi vật liệu và các bộ phận Do đó, các công ty đầu tư lâu dài vào cơ sở hạ tầng tái chế Và bởi vì họ sở hữu cả cơ sở sản xuất lẫn cơ sở phục hồi, các công ty thường gửi các nhà thiết kế sản phẩm đến các nhà máy tháo gỡ để tiết kiệm thời gian khi phải tách rời một sản phẩm được thiết kế kém.

Một số công ty thậm chí còn đƣa các nguyên mẫu qua quy trình tháo gỡ để đảm bảo chúng có thể dễ phục hồi

Hệ thống triển khai KTTH của Nhật Bản được xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa các bên và khuyến khích mọi người hành động đúng đắn Việc áp dụng các triết lý KTTH không chỉ giúp các hoạt động kinh tế diễn ra trơn tru mà còn mang lại lợi nhuận lớn, đóng góp cho nền kinh tế tái sử dụng và tái chế của Nhật Bản.

In 2007, the initiative was valued at 163 billion pounds (7.6% of GDP) and it supported over 650,000 jobs, as noted by the Ministry of the Environment in its 2010 report Establishing a sound material-cycle society: Milestone toward a sound material-cycle society through changes in business and life styles.

Quốc gia này bắt đầu thực hiện KTTH với cách tiếp cận tập trung vào xử lý và tái chế chất thải, giúp Hàn Quốc trở thành một trong những nước có tỷ lệ tái chế cao nhất trong OECD vào năm 2013 (A McCarthy, 2018) Ngay từ năm 2017, Bộ Môi trường Hàn Quốc đã tuyên bố ban hành các nguyên tắc tuần hoàn tài nguyên từ đầu năm, đặt nền tảng cho chiến lược quản lý chất thải dựa trên vòng tuần hoàn.

Vào năm 2018, để triển khai Kinh tế tuần hoàn (KTTH), Luật Tuần hoàn tài nguyên xác định các nội dung trọng tâm như nhận diện tài nguyên tuần hoàn, quản lý hiệu suất tuần hoàn, đánh giá tính khả dụng của chu kỳ tuần hoàn và phí xử lý chất thải Luật cũng thiết lập các chính sách nhằm giảm thiểu chất thải trong toàn bộ chu trình từ sản xuất, phân phối và tiêu thụ đến xử lý sản phẩm cuối cùng, đồng thời thúc đẩy tái chế và tối ưu hoá vòng đời tài nguyên Trong đó, các biện pháp này hướng tới tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu tác động môi trường và khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ và thiết kế bền vững để thúc đẩy KTTH.

“Quản lý hiệu suất tuần hoàn tài nguyên” đƣợc áp dụng cho các nhà máy xả thải đƣợc

Chính sách áp dụng 42 chỉ tiêu trên 100 tấn hoặc trên lượng chất thải khác trên 1.000 tấn, đặt mục tiêu tùy chỉnh cho từng nhà máy để đánh giá sự tuần hoàn của vật liệu và mức độ cần giảm lượng chất thải; với các sản phẩm khó tái chế, sẽ áp dụng đánh giá tính khả dụng của chu trình tuần hoàn cho tình huống này Chính sách yêu cầu nhà sản xuất giảm sử dụng vật liệu không thể tái chế hoặc làm cho sản phẩm trở nên dễ tái chế hơn Một kế hoạch đánh giá phải được thực hiện ba năm một lần liên tục Nếu một nhà máy không cải thiện được tình trạng, sự việc sẽ được công bố rộng rãi trên internet Nếu một đô thị hoặc nhà sản xuất sử dụng biện pháp chôn lấp hoặc đốt chất thải, họ phải trả “phí xử lý chất thải” từ 0,01-0,02 (đơn vị).

Bài học cho Việt Nam

From the international experience described above, there are two main policy approaches to building KTTH today: (i) an economy-wide, systemic implementation across sectors, and (ii) a focus on a group of sectors, products, materials, and substances This experience also highlights several common directions that many countries are currently pursuing.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng cách quy định rõ ràng các mục tiêu và nhiệm vụ phải thực hiện, bảo đảm khuôn khổ pháp lý thống nhất và dễ áp dụng cho mọi bên liên quan; đồng thời đưa ra các biện pháp khuyến khích nhằm thúc đẩy tuân thủ và kết quả thi hành Việc xác định trách nhiệm của các bên liên quan cũng được xem xét kỹ lưỡng để tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý nhà nước trong hoạt động pháp lý.

Xây dựng và ban hành kế hoạch hành động chi tiết và lộ trình thực hiện cho quá trình chuyển đổi từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn (KTTH), nhằm xác định rõ mục tiêu, thời gian và nguồn lực cho từng bước Các hành động được phân theo nhiệm vụ và ngành, bao gồm thiết kế sản phẩm, quy trình sản xuất, tiêu dùng sản phẩm và quản lý chất thải, đồng thời quản lý nguyên liệu thứ cấp và các ngành ưu tiên Kế hoạch cũng nhấn mạnh đổi mới đầu tư và các sáng kiến mới để tăng cường tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải Mỗi nội dung hành động đi kèm với chỉ số đo lường hiệu quả, lộ trình triển khai cụ thể và cơ chế giám sát, đảm bảo quá trình chuyển đổi KTTH diễn ra bền vững và mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Chuyển đổi sang KTTH không giới hạn ở một số vật liệu hay ngành cụ thể, mà là một sự đổi mới hệ thống tác động đến toàn bộ nền kinh tế và liên quan đến mọi sản phẩm, dịch vụ và chuỗi giá trị Tuy nhiên, các quốc gia thường bắt đầu thực hiện KTTH với một số ngành ưu tiên để làm tiền đề cho việc mở rộng sau đó Những ngành được ưu tiên phổ biến gồm nhựa, xây dựng, công nghiệp và nông nghiệp (tập trung vào thực phẩm), nhằm tạo đà cho tiến trình chuyển đổi và tối ưu hóa hiệu quả nguồn lực.

Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong thực hiện KTTH (Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), đồng thời tham gia các chương trình của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ để hỗ trợ quá trình chuyển đổi Sự tự nguyện đổi mới và các sáng kiến bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho nền kinh tế.

Việc áp dụng các mô hình KTTH cần được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kỹ thuật, tài chính và nguồn nhân lực của từng địa phương Ví dụ, mô hình khu công nghiệp Kadlundborg tại Đan Mạch cho thấy sự thành công nhờ hệ thống điều kiện kỹ thuật và tài chính rất tốt, đặc biệt là nhận thức cao của các doanh nghiệp về cơ hội và lợi ích kinh tế của KTTH Bên cạnh đó, tầm nhìn chiến lược và khả năng thiết kế của các nhà quản lý đóng vai trò quan trọng, và quá trình triển khai cũng cần thời gian để chuẩn bị và phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan.

Để xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp cho chu trình tuần hoàn, Frosch (1992) nhấn mạnh vai trò của các điều kiện hỗ trợ Mô hình cộng sinh Kalundborg được coi là bài học tiêu biểu cho việc hình thành các mô hình tuần hoàn trong khu công nghiệp liên ngành trên toàn thế giới Tuy nhiên, với Việt Nam, để có thể áp dụng thành công mô hình này, cần chuẩn bị tốt các điều kiện đã nêu ở trên và xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với đặc thù địa phương.

Đẩy mạnh chuyển đổi sang KTTH và bảo vệ môi trường đòi hỏi chia sẻ kinh nghiệm thành công và kết nối mọi thành phần xã hội tham gia thông qua các diễn đàn và website uy tín của Chính phủ, cùng các chương trình tuyên dương nhằm lan tỏa cảm hứng và nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường Những nguồn chia sẻ này giúp lan tỏa bài học thực tiễn từ các tổ chức, doanh nghiệp đã thành công trong quá trình chuyển đổi sang KTTH, truyền cảm hứng cho cộng đồng và khuyến khích các đơn vị xã hội tự nguyện tham gia thực hiện KTTH trong mọi hoạt động Việc kết nối và huy động sự tham gia của nhiều thành phần xã hội sẽ thúc đẩy sự lan tỏa của KTTH và đảm bảo các hoạt động được tích hợp hiệu quả vào hệ sinh thái môi trường.

Xây dựng khung giám sát cho quá trình chuyển đổi sang nền KTTH cho phép theo dõi, đánh giá và điều chỉnh tiến trình ở mọi cấp độ của chuỗi giá trị Chuyển đổi sang KTTH không giới hạn ở một số vật liệu hay lĩnh vực cụ thể, mà là một thay đổi hệ thống tác động đến toàn bộ nền kinh tế và liên quan đến mọi sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, các quốc gia thường bắt đầu KTTH với một nhóm ngành, lĩnh vực ưu tiên làm điểm tựa, từ đó mở rộng sang các lĩnh vực khác trong tương lai.

Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về KTTH là mục tiêu trọng tâm, đòi hỏi các khu vực và bộ phận tích cực hỗ trợ thiết lập hệ thống thông tin KTTH và hệ thống dịch vụ tư vấn kỹ thuật, cũng như công bố kịp thời thông tin về công nghệ, quản lý và chính sách kinh tế cho xã hội Đồng thời thực hiện tư vấn thông tin, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội.

KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM

MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY KINH TẾ TUẦN HOÀN

Ngày đăng: 07/10/2025, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Kinh tế tuyến tính và KTTH - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 2 Kinh tế tuyến tính và KTTH (Trang 11)
Hình 3: Các mục tiêu của KTTH - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 3 Các mục tiêu của KTTH (Trang 13)
Hình 4: Các tác nhân tham gia vào thực hiện KTTH - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 4 Các tác nhân tham gia vào thực hiện KTTH (Trang 14)
Hình 5: Vị trí của KTTH với kinh tế xanh - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 5 Vị trí của KTTH với kinh tế xanh (Trang 15)
Hình 7: Lợi ích của KTTH - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 7 Lợi ích của KTTH (Trang 16)
Hình 8: Những giá trị cốt lõi nhằm tạo điều kiện phát triển các công việc - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 8 Những giá trị cốt lõi nhằm tạo điều kiện phát triển các công việc (Trang 17)
Hình 10: Vị trí của các tác nhân trong quá trình chuyển đổi sang KTTH - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 10 Vị trí của các tác nhân trong quá trình chuyển đổi sang KTTH (Trang 19)
Hình 12: Mô tả cụ thể các dòng chảy của nước trong nền kinh tế và các khu - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 12 Mô tả cụ thể các dòng chảy của nước trong nền kinh tế và các khu (Trang 20)
Hình 13: Các rào cản để chuyển đổi sang nền KTTH - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 13 Các rào cản để chuyển đổi sang nền KTTH (Trang 21)
Hình 14: Các hợp phần của quản trị tốt - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 14 Các hợp phần của quản trị tốt (Trang 23)
Hình 16: Mô hình KTTH theo các hoạt động - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 16 Mô hình KTTH theo các hoạt động (Trang 26)
Hình 17: Vải C2C cradle to cradle - vertisol - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 17 Vải C2C cradle to cradle - vertisol (Trang 29)
Hình 18: Mô hình air BNB - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 18 Mô hình air BNB (Trang 31)
Hình 19: Tỷ lệ tái chế của các quốc gia trên thế giới - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Hình 19 Tỷ lệ tái chế của các quốc gia trên thế giới (Trang 34)
Bảng 7: Đặc điểm hoat động xử lý chất thải và sự tham gia của các chủ thể - Giáo trình - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH, LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM
Bảng 7 Đặc điểm hoat động xử lý chất thải và sự tham gia của các chủ thể (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w