1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

189 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chủ đề gia đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Tác giả Trần Thị Quỳnh Trâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, TS. Trần Nguyễn Quỳnh Anh
Trường học Đại học Đà Nẵng – Trường Đại học Sư phạm
Chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM --- TRẦN THỊ QUỲNH TRÂM VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

TRẦN THỊ QUỲNH TRÂM

VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC

TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH MÔN TỰ NHIÊN

VÀ XÃ HỘI LỚP 3 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

TỰ HỌC CHO HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

ĐÀ NẴNG – 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

TRẦN THỊ QUỲNH TRÂM

VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC

TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH MÔN TỰ NHIÊN

VÀ XÃ HỘI LỚP 3 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

TỰ HỌC CHO HỌC SINH

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)

Mã số: 8140101

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh

2 TS Trần Nguyễn Quỳnh Anh

ĐÀ NẴNG – 2023

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ iii

MỤC LỤC v

CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH xi

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 2

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

8 Cấu trúc đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5

1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 10

Kết luận chương 1 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 15

2.1 Đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 3 15

2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3 15

2.1.2 Đặc điểm về trình độ nhận thức của học sinh lớp 3 15

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng khi vận dụng mô hình LHĐN trong môn TN&XH 16

2.3 Năng lực tự học 16

2.3.1 Năng lực và phân loại năng lực theo CTPT2018 16

2.3.2 Năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Tự nhiên và xã hội theo CTPT2018 18

2.3.3 Tự học và năng lực tự học 19

2.3.4 Các hình thức và mức độ của năng lực tự học 19

2.3.5 Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực tự học 20

2.3.6 Đánh giá năng lực tự học 23

2.4 Cơ sở lí luận của mô hình lớp học đảo ngược 26

Trang 8

2.4.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược 26

2.4.2 Vai trò của mô hình lớp học đảo ngược 27

2.4.3 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược 28

2.4.4 Nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược 30

2.4.5 Phương tiện học tập trong mô hình lớp học đảo ngược 31

2.4.6 Các biểu hiện của năng lực tự học thông qua áp dụng mô hình lớp học đảo ngược 31

2.4.7 Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 32

2.4.8 Ưu và nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược 33

2.4.9 Ưu nhược điểm của dạy học theo phương pháp lớp học đảo ngược trong môn Tự nhiên và Xã hội 34

2.4.10 Mối quan hệ giữa dạy học đảo ngược với việc hình thành và phát triển năng lực tự học của học sinh 34

2.4.11 Thang đo năng lực tự học thông qua LHĐN 36

2.4.12 Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh thông qua vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong một số bài học chủ đề: “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 39

2.5 Vận dụng mô hình LHĐN nhằm PT NLTH của HS 39

Kết luận chương 2 39

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 41

3.1 Mục đích khảo sát 41

3.2 Nội dung khảo sát 41

3.3 Đối tượng khảo sát 41

3.4 Kết quả khảo sát: 41

3.5 Phân tích kết quả khảo sát 41

3.5.1 Kết quả điều tra và phỏng vấn giáo viên 41

3.4.2 Kết quả điều tra và phỏng vấn học sinh 46

Kết luận chương 3 53

CHƯƠNG 4 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 54

4.1 Đặc điểm nội dung chủ đề “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 54

4.1.1 Đặc điểm chung 54

4.1.2 Lưu ý khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 54

4.2 Cấu trúc của chủ đề “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 55

4.2.1 Yêu cầu cần đạt của chủ đề “Gia đình” 55

Trang 9

4.2.2 Liên hệ giữa chỉ số hành vi của môn tự nhiên và xã hội 3 nói chung theo

CT GDPT 2018 với chỉ số hành vi của chủ đề “Gia đình” 57

4.2.3 Liên hệ giữa chỉ số hành vi năng lực tự học được HS biểu hiện với chỉ số hành vi được HS biểu hiện của chủ đề: “Gia đình” 59

4.3 Thiết kế tiến trình chung dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược để phát triển năng lực tự học cho học sinh qua chủ đề “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 61

4.3.1 Sơ đồ hóa tiến trình dạy học 61

4.3.2 Cụ thể hóa các bước thực hiện 61

4.4 Thiết kế và tổ chức vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy một số bài học thuộc chủ đề “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 để phát triển năng lực tự học cho học sinh (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 68

Kết luận chương 4 80

CHƯƠNG 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81

5.1 Mục đích thực nghiệm 81

5.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 81

5.3 Thời gian, địa điểm thực nghiệm sư phạm 81

5.4 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 81

5.4.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm: 81

5.4.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 82

5.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 82

5.5.1 Chọn mẫu 82

5.5.2 Phương pháp tiến hành 83

5.6 Tiến hành tổ chức thực nghiệm 83

5.7 Kết quả thực nghiệm sư phạm 84

5.7.1 Trước thực nghiệm 84

5.7.2 Sau thực nghiệm 85

5.8 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 93

5.8.1 Đánh giá định tính 93

5.8.2 Đánh giá định lượng 93

Kết luận chương 5 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 10

CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông GDPT Giáo dục phổ thông

Trang 11

2.8 Thang điểm đánh giá NLTH của HS theo điểm trung bình 38 3.1 Kết quả đánh giá mức độ sử dụng CNTT vào quá trình dạy học Môn TNXH 42 3.2 Đánh giá mức độ khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá

3.3 Đánh giá tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học môn học 43 3.4 Đánh giá tình hình tìm hiểu mô hình lớp học đảo ngược 44 3.5 Đánh giá tình hình trực tiếp hay gián tiếp thực hiện mô hình lớp học đảo ngược 45 3.6 Đánh giá tình hình đánh giá về vai trò của vận dụng mô hình

3.7 Đánh giá thái độ của học sinh đối với môn học TNXH 46 3.1 Đánh giá vai trò quan trọng của môn học TNXH 47 3.9 Kết quả điều tra hoạt động học tập môn Tự nhiên và xã hội của

3.10 Kết quả khảo sát về nhận thức tự học của học sinh 49 3.11 Kết quả khảo sát những thuận lợi trong quá trình tự học của học sinh 50 3.12 Kết quả khảo sát những khó khăn trong quá trình tự học của học

Trang 12

Số hiệu

4.2

Liên hệ giữa chỉ số hành vi của môn tự nhiên và xã hội 3 nói

chung theo CT GDPT 2018 với chỉ số hành vi của chủ đề “Gia

đình”

57

4.3 Liên hệ giữa chỉ số hành vi năng lực tự học với chỉ số hành vi của chủ đề: “Gia đình” 59

4.4 Bảng đường dẫn liên kết của Bài 1 Họ hàng và những ngày kỉ niệm của gia đình sau khi rút gọn Link 66

5.3 Kết quả điểm kiểm tra đầu vào của lớp TN và lớp ĐC 84 5.4 Bảng phân bố tần số, tần suất và tần suất tích luỹ bài kiểm tra

5.5 Phiếu ghi bài và phiếu học tập của một số HS ở bài 1 88 5.6 Bảng tổng hợp đánh giá NLTH của HS trong bài 1 90 5.7 Bảng tổng hợp đánh giá NLTH của HS trong bài 1 91 5.8 Bảng tổng hợp đánh giá NLTH của HS trong bài 1 92 5.9 Bảng điểm tổng hợp các chỉ số hành vi thông qua phiếu ghi

chép bài và phiếu học tập của HS Phạm Minh Anh -3/1 93 5.10

Bảng điểm tổng hợp các chỉ số hành vi thông qua phiếu ghi

chép bài và phiếu học tập của HS Trương Khánh Hoàng Nam

-3/1

94

5.11

Bảng điểm tổng hợp các chỉ số hành vi thông qua phiếu ghi

chép bài và phiếu học tập của HS Nguyễn Văn Quốc Nguyên

chép bài và phiếu học tập của HS Cao Kỳ Duyên -3/1 97 5.16 Bảng điểm tổng hợp các chỉ số hành vi thông qua phiếu ghi

chép bài và phiếu học tập của HS Phan Ngọc Gia Bảo -3/1 97 5.17 Bảng kết quả tổng hợp bài kiểm tra 1 tiết 98 5.18 Bảng phân phối tần suất bài kiểm tra 1 tiết 98

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

2.1 Năng lực và phẩm chất cho HS trong chương trình mới 18

2.3 Sự liên hệ giữa thang tư duy Bloom với lớp học truyền thống và

2.4 Sự khác nhau giữa lớp học đảo ngược và lớp học truyền thống 30 2.5 Quy trình xây dựng mô hình lớp học đảo ngược 32

2.7 Các mức độ của hoạt động trong lớp học truyền thống và LHĐN 35 2.8 Các mức độ nhận thức và năng lực tư duy trong LHĐN 36 3.1 Biểu đồ đánh giá mức độ sử dụng CNTT vào quá trình dạy học

3.2 Biểu đồ đánh giá mức độ khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình thực hiện dạy - học trực tuyến 42 3.3 Biểu đồ đánh giá tình hình sử dụng các phương pháp dạy học

3.4 Biểu đồ đánh giá tình hình tìm hiểu mô hình lớp học đảo ngược 44 3.5 Biểu đồ đánh giá tình hình trực tiếp hay gián tiếp thực hiện mô

3.6 Biểu đồ đánh giá tình hình đánh giá về vai trò của vận dụng mô hình LHĐN trong DH môn học 46 3.7 Biểu đồ đánh giá thái độ của học sinh đối với môn học TNXH 46 3.8 Biểu đồ đánh giá vai trò quan trọng của môn TNXH 47 3.9 Biểu đồ điều tra hoạt động học tập môn Tự nhiên và xã hội của học sinh -1 47 3.10 Biểu đồ điều tra hoạt động học tập môn Tự nhiên và xã hội của

3.11 Biểu đồ khảo sát về nhận thức tự học của học sinh 49 3.1 Biểu đồ khảo sát về những thuận lợi trong quá trình tự học của học sinh 49 3.13 Biểu đồ khảo sát về những khó khăn trong quá trình tự học của

3.14 Biểu đồ khảo sát về thái độ của HS đối với môn học TNXH 51 3.15 Biểu đồ khảo sát về tuần suất hoạt động học tập của HS đối với môn học TNXH 51

Trang 14

Số hiệu

3.16 Biểu đồ khảo sát mong muốn của HS về tài liệu môn học TNXH 52 5.1 Biểu đồ kết quả kiểm tra đầu vào của lớp TN và ĐC 84 5.2 Biểu đồ đường tích luỹ bài kiểm tra trước TN 85 5.3 Hình ảnh đưa video bài giảng lên Youtube để HS học ở nhà 86

5.5 Phiếu học tập HS sau khi học video bài giảng 1 86 5.6 Giáo viên tổ chức hướng dẫn HS cách thực hiện tự học ở nhà môn TNXH (tại phòng Tin học của trường) 87

5 8 Tổng hợp kết quả thực hiện phiếu học trên google form sau khi học Video bài giảng 1 87 5.9 Tổng hợp kết quả thực hiện phiếu học tập trên google form sau

5.10 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS Phạm Minh Anh – 3/1 94 5.11 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS Trương Khánh

Trang 15

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

2.4 Tiến trình tổ chức dạy học mô hình LHĐN 32 2.5 Các bước tổ chức mô hình lớp học đảo ngược 33 4.1 Cấu trúc chủ đề “Gia đình” môn TNXH lớp 3 55 4.2 Tiến trình dạy học chủ đề “Gia đình” môn TNXH lớp 3 61

Trang 16

Tự nhiên và xã hội là một môn học cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản ban đầu về các sự vật, sự kiện tương tự trong tự nhiên, xã hội với mối quan hệ trong đời sống thực tế của con người Trong chương trình Tiểu học, cùng với Toán, Tiếng Việt, môn Tự nhiên và xã hội trang bị cho các em học sinh những kiến thức cơ bản của bậc học, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách toàn diện của con người

Góp phần đáp ứng được mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc đổi mới phương pháp giảng dạy có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy

và học Một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là áp dụng phương pháp dạy học tích cực đã được nhiều nền giáo dục tiện tiến ở các nước phát triển trên thế giới áp dụng thành công Điểm chung của những phương pháp này đều tập trung vào lấy học sinh làm trung tâm, giúp học sinh phát huy được năng lực nhận thức độc lập, sáng tạo, phát hiện và tự giải quyết các vấn đề, tự học… Khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối học thụ động, máy móc, cẩn phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp: phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại Thay đổi cách tiếp cận trong giáo dục với mô hình lớp học đảo ngược có thể giúp học sinh tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức Với cách dạy học này, học sinh có nhiều điều kiện bộc lộ những suy nghĩ của mình, tạo không khí học tập sôi nổi, kích thích tất cả học sinh tham gia vào quá trình học tập; đồng thời đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra: “lấy học sinh làm trung tâm” Vận dụng mô hình Lớp học đảo ngược vào dạy học cũng là tìm đến một phương pháp dạy học mới để giờ học môn Tự nhiên và xã hội, phát huy tính chủ động của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy - học Đây là mô hình dạy học hiệu quả, phù hợp với mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm, giúp người học luôn chủ động, hứng thú, tích cực và hòa nhập trong mọi hoạt động học tập

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chủ đề “Gia đình”- môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh, đáp ứng chương trình Giáo dục phổ thông 2018 làm đề tài

nghiên cứu

Trang 17

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua vận dụng mô hình lớp học đảo ngược

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích chủ điểm “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3

- Tâm sinh lí và khả năng nhận thức học sinh lớp 3

- Khảo sát, điều tra hiện trạng của việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Tự nhiên và xã hội lớp 3 để phát triển năng lực tự học của học sinh ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề “Gia đình” môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo mô hình dạy học đảo ngược để phát triển năng lực tự học của học sinh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm, kiểm chứng kết quả việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Tự nhiên và xã hội lớp 3 - chủ đề “Gia đình” để phát triển năng lực tự học của học sinh

- Xác định khung đánh giá của năng lực tự học của học sinh

4 Giả thuyết khoa học

Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề “Gia đình” theo mô hình lớp học đảo ngược sẽ phát triển được năng lực tự học của học sinh

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề Gia đình môn Tự

Nhiên và Xã Hội lớp 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Chủ đề Gia đình môn Tự Nhiên và Xã Hội lớp 3

- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường Tiểu học trên địa bàn Thanh Khê

- Thời gian nghiên cứu: trong năm học 2022-2023

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu văn bản chỉ đạo của Bộ, Sở, Phòng về thực hiện chương trình 2018 Thực hiện chương trình lớp 3

- Nghiên cứu mô hình lớp học đảo ngược

- Nghiên cứu năng lực tự học của học sinh

6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng

- Khảo sát thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh ở các trường tiểu học trong địa bàn quận Thanh Khê

6.3 Phương pháp quan sát

Quan sát quá trình dạy học của các giáo viên trong trường tiểu học Điện Biên Phủ, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng như dự giờ, trao đổi

Trang 18

kinh nghiệm,…để tìm hiểu thêm về thực trạng sử dụng mô hình dạy học lớp học đảo ngược trong dạy học Tự nhiên và xã hội nói chung và Tự nhiên và xã hội lớp 3- chủ đề

“Gia đình” nói riêng

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp thực nghiệm nhằm kiểm tra mục tiêu và giả thuyết của đề tài

6.5 Phương pháp toán học thống kê

- Phương pháp được sử dụng để xử lí số liệu điều tra để phân tích và rút ra nhận xét về thực trạng sử dụng mô hình dạy học lớp học đảo ngược trong dạy học Tự nhiên

và xã hội lớp 3 - Chủ đề “Gia đình”

- Sử dụng để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm đưa ra những kết luận về tính khoa học, khả thi, hiệu quả của việc sử dụng mô hình dạy học lớp học đảo ngược trong dạy học Tự nhiên và xã hội lớp 3 - Chủ đề “Gia đình”

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Góp phần cụ thể hóa được lý luận dạy học tích cực, vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 chủ đề “Gia đình”, phát triển năng lực tự học của học sinh

Góp phần đáp ứng được mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối học thụ động, máy móc, cẩn phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp: phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại Thay đổi cách tiếp cận trong giáo dục với mô hình lớp học đảo ngược có thể giúp học sinh tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức Đây là mô hình dạy học hiệu quả, phù hợp với mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm, giúp người học luôn chủ động, hứng thú, tích cực và hòa nhập trong mọi hoạt động học tập

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc

5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vận dụng mô hình LHĐN trong dạy học ở nhiều phương diện khác nhau nhưng các nghiên cứu ở Việt Nam chỉ chủ yếu tập trung xây dựng cơ sở lí luận, vận dụng trong dạy học ở các trường Đại học, Trung học phổ thông vì đòi hỏi tính tự học cao hơn Nội dung của chương định hướng nghiên cứu theo hướng vận dụng mô hình LHĐN phù hợp với mục đích bồi dưỡng và phát triển NLTH cho HS, đặc biệt đối với môn TNXH trong trường Tiểu học

Chương 2: Cơ sở lí luận của việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh

Trong chương 2, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận của việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh đó là những vấn đề khái quát về năng lực, năng lực tự học, đánh giá năng lực tự học; khái

Trang 19

niệm về mô hình lớp học đảo ngược, nguyên tắc và quy trình tổ chức lớp học đảo ngược để phát triển năng lực tự học của HS

Chương 3: Thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Tự nhiên và xã hội lớp 3 ở một số trường tiểu học trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện nay

LHĐN là một mô hình DH đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu và sử dụng Ở nước ta, việc nghiên cứu và vận dụng mô hình LHĐN cần có những nghiên cứu cụ thể về lý luận và thực tiễn

Có nhiều quan niệm khác nhau về LHĐN Chúng tôi đồng ý rằng LHĐN nói về

sự đảo chiều của PPDH truyền thống, là nơi mà HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng, thời gian trên lớp sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề khó hơn thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận LHĐN có liên quan mật thiết hình thành

và phát triển NL của HS, trong đó chú ý tới năng lực tìm hiểu kiến thức và năng lực tư duy (tư duy phản biện)

Chương 4: Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề “Gia đình” nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua vận dụng mô hình lớp học đảo ngược

Dựa trên nguyên tắc, quy trình thiết kế LHĐN, 3 bài học chủ đề gia đình môn

tự nhiên và xã hội, quá trình vận dụng mô hình LHĐN đã được xây dựng, được cụ thể hóa trong các bản kế hoạch chi tiết và được tổ chức DH theo quy trình chặt chẽ, đảm bảo định hướng phát triển năng lực HS Đồng thời, phương án kiểm tra cho LHĐN

trong DH chủ đề “Gia đình” được đề xuất

Chương 5: Thực nghiệm sư phạm

Quá trình TNSP, từ chọn mẫu TN phù hợp về số lượng, điều kiện tổ chức DH và chất lượng của mẫu TN thỏa mãn yêu cầu TN sư phạm đến thực tế giảng dạy tại lớp TNSP Các số liệu TN được xử lí bằng phương pháp thống kê toán học, khẳng định

tính đúng đắn về giả thuyết khoa học của đề tài

Kết luận của đề tài

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Mô hình LHĐN (Lớp học đảo ngược) được xác định là có vai trò cần thiết cho người học trong thời hiện đại, được áp dụng ngày càng phổ biến ở một số nước có nền giáo dục phát triển như Australia, Mỹ, các nước châu Âu,

Khái niệm “đảo ngược” một lớp học xuất hiện từ những năm 90 của thập kỉ XX Alison King (1993) đã tập trung vào tầm quan trọng của việc sử dụng thời gian trong lớp học để xây dựng ý nghĩa thay vì truyền tải thông tin, được trích dẫn như một động lực cho một sự đảo ngược, tạo một không gian giáo dục cho việc học tập tích cực

Năm 1997, Eric Mazur đã xuất bản cuốn sách có tựa đề Peer Instruction: A User's Manual, trong đó ông cho thấy phương pháp được ông sử dụng đã chuyển tải thông tin

ra khỏi lớp học, thay vì giảng bài, ông thường xuyên thảo luận và trao đổi với SV [18] Cho đến nay, vẫn còn nhiều định nghĩa về lớp học đảo ngược (LHĐN) M.J Lage định nghĩa LHĐN là các hoạt động thường diễn ra bên trong lớp học được thực hiện bên ngoài lớp học và ngược lại Định nghĩa này chỉ giải thích lý do sử dụng thuật ngữ đảo ngược hoặc lộn ngược và LHĐN chỉ đơn thuần là việc sắp xếp lại các hoạt động trong lớp học và các hoạt động ở nhà

Căn cứ trên các hoạt động học tập nhóm tương tác bên trong lớp học, theo quan điểm dạy học kiến tạo lấy HS làm trung tâm của Piaget và Vygotsky, Arafeh (2004); Beck và Schornack (2004); Frederickson (2005), … cho rằng LHĐN chỉ định cho các khóa học có sử dụng các bài giảng video trên web không đồng bộ có bao gồm các tình huống có vấn đề hoặc câu hỏi dạng đóng, thay thế cho tất cả các hướng dẫn mà HS từng được nhận ở các lớp học truyền thống LHĐN là một mô hình dạy học hiệu quả cao chứ không chỉ là việc sắp xếp lại các hoạt động HS phải xem các bài giảng đa phương tiện (thường là video) ở nhà, qua mạng trước khi đến lớp Giờ học ở lớp, GV

sẽ không giảng bài mà tận dụng tối đa thời gian để tổ chức cho HS vận dụng, thực hành kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề mở, giúp HS hiểu sâu hơn hoặc mở rộng sáng tạo chủ đề được học

Ở Liên Xô (cũ), N.A Rubakin trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm của mình trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học Theo tác giả, việc tự tìm lấy kiến thức, tri thức có nghĩa là tự học

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm

và nghiên cứu đến TH và bồi dưỡng NLTH Nhà sư phạm người Nhật T Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã cho rằng GD chính là quá trình hướng dẫn TH mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng

Eric MaZur đã phát triển phương pháp hướng dẫn theo cặp vào những năm 20

Trang 21

của thế kỉ XX Ông nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy giúp ông hướng dẫn học viên chứ không phải diễn thuyết Lage, Platt và Treglia cho xuất bản bài báo học thuật LHĐN: “Cánh cửa giáo dục toàn diện” vào năm 2000 Năm

1993, King xuất bản “Từ một nhà hiền triết xa vời trên bục giảng tới một người hướng dẫn trong cuốn “Dạy học đại học” tập 41, số 1 (Winter, 1993)

Baker trình bày “LHĐN là: sử dụng công cụ quản lí khóa học trực tuyến để giáo viên trở thành người hướng dẫn tại hội thảo quốc tế lần thứ 11 về dạy và học đại học Bài báo của Baker đưa ra một mô hình mẫu của một LHĐN

Bắt đầu vào mùa thu năm 2000, trường đại học Wisconsin-Madison đã sử dụng phần mềm để thay thế các bài giảng ngành công nghệ thông tin trên lớp bằng các video bài giảng của giáo viên có slides đi kèm Năm 2001, hai trung tâm ở Wisconsin Collaboratory for Enhanced Learning đã được thành lập để tập trung vào LHĐN

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng mô hình LHĐN để bồi dưỡng NLTH cho HS như của Janet (2012), Marcey và Brint (2012), Brunsell và Horejsi (2013) cho biết: HS có thái độ học tập tích cực hơn, chủ động xem các video trước ở nhà và hoàn thành nhiệm vụ được giao

LHĐN chính thức được áp dụng từ năm 2006 khi Bill Brantley đưa ra hình thức học tập đảo ngược ở hội thảo DH chính trị, khoa học của Mỹ Trước đó, từ năm 2004, khái niệm về LHĐN cũng đã được Tenneson và McGlass đưa ra trong dạy học thực tiễn Trong bài báo có tựa đề được tạm dịch là “Đảo ngược lớp học: Cánh cổng tạo ra môi trường học tập hòa nhập”, Lage, Platt và Treglia đã thảo luận về các LHĐN ở cấp đại học ngành kinh tế, cho thấy có thể tận dụng thời gian trên lớp nhờ phương pháp đảo ngược lớp học Các tác giả cho rằng có thể chuyển bài thuyết trình ra khỏi lớp học sang phương tiện truyền thông như máy tính hoặc VCR (Video cassete Recorded) để đáp ứng được nhu cầu của sinh viên với nhiều phong cách học tập đa dạng [20]

Năm 2011, Học viện Khan được thành lập bởi Salman Khan, xuất phát từ việc người anh em họ đang được Khan dạy kèm cảm thấy những bài học được ghi chép lại thật phiền chán, Khan cần phải quay video bài học cho họ rồi cùng thảo luận vấn đề học tập gây nhiều phiền toái Đây là một dạng của phương pháp học tập đảo ngược [22] Salman Khan bắt đầu thu âm và làm video theo yêu cầu của người em họ Cô em

họ thấy rằng những video bài học giúp cô bỏ qua những phần mà cô đã nắm chắc và xem lại những phần mà cô còn chưa hiểu Mô hình của Khan chính là mô hình dạy học theo cặp 1-1 Các video của học viện Khan (Khan Academy) được sử dụng như một phần chiến thuật dạy học của các nhà giáo dục Bên cạnh đó, trung tâm tập trung vào nghiên cứu và ứng dụng “học tập đảo ngược và pha trộn cũng được ra đời bởi Wisconsin Cấu trúc lớp học theo yêu cầu của họ là lớp học chứa công nghệ và không gian hc tập thân thiện cho sự cộng tác, còn người tham gia chương trình được đặt vào các chiến lược giảng dạy phi truyền thống như LHĐN Mô hình “Flipped-Mastery” được hình thành từ năm 2015 và phát triển bởi các GV hóa học thuộc trường trung học

Trang 22

Woodland Park Jonathan Bergmann Họ đã ghi lại các bài giảng của mình và đăng chúng lên mạng, tạo cơ hội học tập cho các HS bỏ lỡ lớp học [15]

Trong bài thuyết trình LHĐN (2006), Tenneson và McGlasson trình bày một phương cách cho giáo viên cân nhắc xem họ có nên đảo ngược lớp học của mình hay không và đưa ra các cách để cải tiến quá trình dạy Đồng thời, bài thuyết trình này cũng đi sâu vào hệ thống quản lí việc học trên máy tính

Giáo sư Bill Brantley trình bày một mô hình LHĐN ở Hội thảo dạy và học của Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ tháng 2/2007 Ông miêu tả cách sử dụng hai phiên bản cho lớp học trong khi gửi tài liệu qua phần mềm Learning Management System (LMS)

Giữa năm 2007, Jeremy Strayer công bố một nghiên cứu thực hiện tại Đại học bang Ohio với nhan đề “Những ảnh hưởng của LHĐN đối với môi trường học: so sánh hoạt động giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo lộn có sử dụng một hệ thông minh” Nghiên cứu nêu bật tầm quan trọng của việc chú trọng tới sự liên kết của hoạt động trên lớp và ngoài lớp học có thể tác động tiêu cực hoặc tích cực tới việc tham gia học của học sinh

Cuối năm 2007, hai giáo viên (GV) là Jonathan Bergman và Aaron Sams ở Woodland Park đã phát hiện ra một phần mềm để ghi lại việc trình diễn Powerpoint

Họ ghi lại bài giảng trực tiếp của mình và tải lên mạng Internet cho những sinh viên (SV) không có điều kiện tham gia buổi học Bài học trực tuyến bắt đầu phát triển rộng rãi GV sử dụng các video trực tuyến để dạy SV không tham gia trực tiếp trên lớp, thời gian trên lớp để làm các bài tập và lĩnh hội khái niệm Từ đây, hình thành mô hình LHĐN (flipped classroom)

LHĐN ra đời là một cải tiến trong phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Quan niệm thế nào là LHĐN hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Một trong số

đó có định nghĩa về LHĐN như:

- Theo Dịch vụ Công nghệ Thông tin tại Penn State (2011), "LHĐN" là một phương pháp sư phạm, trong đó việc hướng dẫn không gian học theo nhóm sang không gian học cá nhân và do đó không gian nhóm trở thành môi trường học tập động

và tương tác mới mà các nhà giáo dục hướng dẫn sinh viên khi họ áp dụng các khái niệm và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề

- Theo M.J Lage, G.J Platt, and M Treglia “LHĐN là các công việc thực hiện ở lớp học truyền thống thì bây giờ sẽ thực hiện ở ngoài lớp học và ngược lại” [24]

- Theo Bishop & Verleger M.A.(2013) [25]: Sinh viên thực hiện một đánh giá các bài giảng của giảng viên qua khóa học trực tuyến trước các buổi học, và cũng dành thời gian cho các hoạt động giải quyết vấn đề cùng với các bài tập trong lớp mà theo truyền thống được cho là bài tập về nhà

Tuy nhiên, cả ba định nghĩa trên vẫn không thể đại diện một cách đầy đủ hay thay thế cho các định nghĩa của các nhà nghiên cứu về LHĐN Tuy vậy, hầu hết các

Trang 23

nghiên cứu của Berrett, D.(2012), Gerstein (2012), Sams, A., & Bergman J (2012) [26,27] đều nói về các hoạt động học tập tương tác trên mô hình LHĐN phù hợp với lí thuyết tiếp cận dựa trên năng lực của Paprock (1996)

Về hiệu quả của việc sử dụng mô hình LHĐN trên đối tượng sinh viên cũng đã

ít hài lòng với mô hình học này hơn so với nhóm học theo mô hình truyền thống Tuy nhiên, họ trở nên cởi mở hơn với phương pháp học hợp tác mà mô hình lớp học nghịch đảo mang lại, và họ cũng ý thức hơn về quá trình học tập của bản thân Tương tự Frederickson và các cộng sự đưa ra kết quả nghiên cứu trên 16 sinh viên cao học khóa Tâm lý học giáo dục ở Đại học University College London Mô hình dạy học đảo ngược được sử dụng để dạy môn Phương pháp nghiên cứu khoa học Nghiên cứu cũng khẳng định người học phát triển bản thân, cụ thể là nâng cao ý thức về quá trình học tập của bản thân và đánh giá cao môi trường học hợp tác do mô hình này tạo ra về kết quả học tập thì việc sử dụng mô hình đổi mới hiệu quả hơn mô hình dạy học truyền thống Như vậy, các nghiên cứu cho thấy mặc dù chưa thể kết luận về lợi ích của mô hình này đối với kết quả học tập, nhưng nó mang lại hiệu quả đối với thái độ và ý thức

tự học của người học

Theo Sams và Bergmann (2013) mô hình dạy học đảo ngược phù hợp với việc giảng dạy các khái niệm cơ bản, mô hình, cơ chế hoạt động, hoặc kiến thức thuộc loại quy trình (procedural knowledge) Như vậy, điều quan trọng là phải có sự chọn lọc khi

sử dụng phương thức dạy học này

Tại Mỹ, kể từ khi thành lập vào tháng 01/2014 tổng số giáo viên tham gia mạng lưới dạy học bằng hình thức flipped classroom đã tăng từ 2,500 lên đến 20,000 vào tháng 6/2014

Vấn đề đặt ra là: làm thế nào để phát triển được năng lực cho SV? Phương pháp dạy học ra sao và hình thức tổ chức dạy học như thế nào? Tại sao chúng ta nên sử dụng LHĐN và phương pháp nhóm? là những nội dung mà các nhà sư phạm trên thế giới đang tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

- Christopher Pappas, trong bài báo “The Flipped Classroom Guide for Teachers”,

2013, http://elearningindustry.com/the-flipped-classroom-guide-for-teachers đã phân tích những thuận lợi cũng như những khó khăn khi thực hiện LHĐN, đồng thời đưa ra các khuyến cáo (lời khuyên) để thành công trong mô hình LHĐN [31]

Trang 24

- Clyde Freeman Herreid, Nancy A Schiller, Case Studies and the Flipped Classroom, Journal of College Science Teaching, Vol 42, No 5, 2013 đưa ra mối quan tâm làm sao dạy cho sinh viên phát triển kỹ năng tư duy phê phán; thời gian chuẩn bị cho việc triển khai lớp học như thế nào? và sự hợp tác của sinh viên cũng như việc đảm bảo nội dung học tập cũng được đưa ra thảo luận [32]

- Eun Man Choi (2013), Applying Inverted Classroom to Software Engineering Education, International Journal of e-Education, e-Business, e- Management and e-Learning, Vol 3, No 2, April 2013 đã triển khai ứng dụng lớp học đảo ngược vào đào tạo công nghệ phần mềm, nghiên cứu cũng cho thấy thu được kết quả khả quan về kết quả học tập cũng như thái độ tích cực của người học so với phương pháp dạy truyền thống, đồng thời tác giả cũng đưa ra các thách thức cho việc xây dựng các bài giảng được ghi hình sao cho sinh viên có thể tăng cường hơn nữa các hoạt động học ở lớp Trên trang báo điện tử của news.zing.vn giới thiệu mô hình LHĐN ở Mỹ Ở Mỹ, phần lớn các cơ sở giáo dục đã đảo ngược quy trình nghe giảng bài trên lớp, về nhà làm bài tập Mô hình dạy học mới này được gọi là Flipped Classroom (LHĐN) Theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành, số lượng GV áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với 48% vào năm 2012 Trong đó, Strayer, J F tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS tăng lên 67% so với cách học truyền thống Ngoài ra, 3/4 trong tổng

số 180.000 HS trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng Flipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường [23] Các giáo sư tại Đại học Graz đã tiến hành một nghiên cứu các bài giảng video được ghi lại theo cách mà sinh viên có thể truy cập chúng trong suốt học kỳ của một khóa học dựa trên bài giảng về tâm lý giáo dục Các giáo sư đã khảo sát cách các SV sử dụng các công cụ giáo dục của họ: Cristina Rotellar tham dự các bài giảng và xem hoặc tua lại video Sau đó, SV được xếp hạng (theo thang điểm từ 1 = không đến 6 = gần như tất cả) mức độ thường xuyên họ sử dụng các tài liệu này Phần lớn các SV (68,1%) dựa vào việc xem các postcard nhưng có tỷ lệ tham gia thấp so với việc sử dụng postcard của họ Phần còn lại, các SV hiếm khi xem postcard (19,6%) hoặc phần nào sử dụng postcard (12,3%), nhưng cả hai đều có bài giảng tương tự Những SV đã xem các video nhiều hơn các bạn đồng trang lứa của họ thực hiện tốt hơn những người chọn khác [17]

Không chỉ các trường đại học sử dụng mô hình LHĐN, các trường phổ thông cũng áp dụng phương pháp này Trường trung học Clintondale của Michigan từ năm

2011 đã sử dụng PPDH đảo ngược trong lớp học Theo đó, GV xây dựng kế hoạch cho các LHĐN Họ tiến hành thử nghiệm và so sánh giữa hai lớp được cung cấp tài liệu và bài tập giống hệt nhau, nhưng 1 lớp thực hiện theo kế hoạch DH truyền thống, 1 lớp thực hiện theo kế hoạch LHĐN Sau 20 tuần học, HS trong LHĐN đã có kết quả học

Trang 25

tập vượt trội so với lớp thông thường

Vào ngày 27 tháng 6 năm 2017, Jonathan Bergmann, một trong những người khởi xướng việc học đảo ngược, đã đưa ra sáng kiến Toàn cầu học tập theo mô hình lớp LHĐN, do Errol St.Clair Smith lãnh đạo Vào ngày 26 tháng 1 năm 2018, Sáng kiến này đã giới thiệu Khoa Quốc tế của mình, được tạo ra để cung cấp một tiêu chuẩn đào tạo nhất quán và hỗ trợ liên tục cho các trường học và hệ thống trường học trên khắp thế giới [15]

Như vậy, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của

TH, bồi dưỡng NLTH sử dụng mô hình LHĐN Các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng của TH và nhiệm vụ của GV là hướng dẫn, tổ chức, bồi dưỡng cho phát triển HS NLTH Hoạt động dạy học là hoạt động đồng thời của cả GV và HS, dạy cho

HS biết cách TH được xem là hoạt động dạy TH Với nhiều ưu điểm nổi bật, LHĐN

đã được nhiều cơ sở giáo dục trên thế giới áp dụng trong giảng dạy trong các cấp học

1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Do LHĐN được ứng dụng dựa trên sự phát triển của công nghệ E-Learning và phương pháp đào tạo hiện đại nên ở nước ta, việc nghiên cứu và áp dụng mô hình DH này còn chưa phổ biến

Từ những năm cuối thế kỉ XIX trở lại đây, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng DH theo hướng phát triển năng lực cho

HS và đặc biệt là TH, tự sáng tạo Mô hình LHĐN được biết đến trong vài năm gần đây, chủ yếu là các bài viết giới thiệu trên các trang web, trang tin của các trường hoặc

cơ sở đào tạo [24], [26], [27] Một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình LHĐN trong giảng dạy như Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo, trường học Vinschool, trường THCS Đức Trí, THPT Trần Khai Nguyên và trang web giáo dục trực tuyến Zuni.vn,

Có nhiều tác giả đã nghiên cứu về TH và bồi dưỡng NLTH ví dụ như: “Tự học

để thành công” của tác giả Nguyễn Hiến Lê, tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ

1997 - 2000 cho giáo viên Trung học cơ sở của Trần Bá Hoành, Đề xuất khung năng lực và định hướng dạy học môn vật lí ở trường Phổ Thông của Nguyễn Văn Biên,…

và còn nhiều nghiên về các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS

Trường THPT Trần Khai Nguyên (TP HCM), Bích Thanh đã thử nghiệm ứng dụng mô hình LHĐN vào giảng dạy môn Giáo dục công dân Để có tiết học này, GV đã tận dụng Facebook của mỗi lớp và tải lên đó đoạn phim ngắn bài giảng - thường là tình huống thực tế (khoảng 10 phút) HS theo dõi video và được phân công công việc theo nhóm, có thể giải quyết tình huống bằng cách giới thiệu và giải thích những kiến thức cơ bản hoặc có thể diễn tiểu phẩm, hoặc có thể viết các câu khẩu hiệu, vẽ tranh cổ động, tùy theo sở trường của mỗi nhóm Trước khi kết thúc tiết học, GV gợi mở để HS thảo luận và đưa ra những thắc mắc cần giải đáp Cách tổ chức này đã gây được sự hứng thú

Trang 26

của HS, tránh sự khô khan của nội dung môn học [28]

Trong [25] đã bước đầu trình bày cơ sở lí luận và nghiên cứu về mô hình dạy học đảo ngược, phân tích những lợi ích cũng như những điểm cần lưu ý khi sử dụng phương thức lớp học nghịch đảo Tác giả lưu tâm nhiều đến các bước tạo bài giảng ghi hình phục vụ cho LHĐN

Phạm Anh Đới trong [26] đã đưa ra cách tiến hành đảo ngược tiến trình dạy học, qua đó các khái niệm được hình thành ở nhà qua các video bài giảng phân phối đến sinh viên Tiếp đó họ sẽ làm kiểm tra nhỏ hay thực hiện lại các ví dụ minh họa và viết blog

để phản ánh các nhận thức về các kết quả tiếp thu được Giờ học trên lớp biến thành buổi trợ giúp cho sinh viên Tác giả cũng đã đánh giá kết quả thực nghiệm mô hình dạy học trên 4 lớp với khoảng 100 sinh viên qua 01 năm áp dụng ở đại học FPT

Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo và các trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn và Moon.vn Đại học FPT đã triển khai

mô hình này trên 4 lớp với 100 sinh viên

Đề tài nghiên cứu “xây dựng mô hình và thử nghiệm “dạy học đảo ngược” chuyên ngành kỹ thuật của các Trường Đại học”, mã số: T2015-104 của Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2015 do PGS.TS Ngô Tứ Thành chủ trì đã xây dựng cơ sở khoa học của phương pháp dạy học đảo ngược và chứng minh phương pháp dạy học đảo ngược tương thích và phù hợp với tốc độ phát triển công nghệ IT

Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu, ứng dụng google apps phục vụ cho công tác đào tạo tại Trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II” của Trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II năm 2016 do ThS Ngô Đức Duy chủ trì đã nghiên cứu ứng dụng dạy học trong LHĐN trên ứng dụng của Google

Luận án tiến sĩ “Xây dựng và sử dụng E-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử vật lý 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược” của trường Đại học Vinh năm

2017 do Trương Thị Phương Chi nghiên cứu dạy học đảo ngược trên nền tảng E-learning Luận án tiến sĩ “Dạy học môn kiến trúc máy tính trong mô hình E-learning theo tương tác ảo” của trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2017 do Nguyễn Quốc Khánh

đã nghiên cứu phát triển khung lý thuyết về dạy học trực tuyến theo lý luận dạy học tương tác; đề xuất các nguyên tắc, phương pháp thiết kế khóa học và quy trình tổ chức dạy học trực tuyến ngành Công nghệ thông tin theo tiếp cận tương tác phù hợp với quá trình đào tạo Công nghệ thông tin ở các trường đại học; vận dụng mô hình thiết kế và quy trình tổ chức dạy học trực tuyến theo tiếp cận tương tác đã đề xuất để thiết kế và tổ chức dạy học thành công khóa học trực tuyến học phần kiến trúc máy tính chuyên ngành Công nghệ thông tin bậc đại học

Luận án tiến sĩ “Dạy học tương tác theo tiếp cận năng lực trong B-learning cho sinh viên sư phạm tin học” của trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2018 do Nguyễn Thế Dũng đã nghiên cứu và đề xuất: nguyên tắc và tiến trình thiết kế khóa học trực tuyến để dạy học kết hợp; nguyên tắc và xây dựng qui trình dạy học tương tác theo tiếp

Trang 27

cận năng lực trong B-learning; qui trình và các biện pháp trong tổ chức dạy học giáp mặt

và tổ chức học tập trực tuyến

Luận án tiến sĩ “Dạy học kết hợp (B-learning) dựa vào phong cách học tập cho sinh viên ngành sư phạm tin học” của trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2019 do Trần Văn Hưng đã nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết về dạy học kết hợp dựa vào phong cách học tập dành cho SV Sư phạm Tin học trong trường ĐH, phát triển cơ sở lý luận về dạy học kết hợp, dạy học kết hợp dựa vào phong cách học tập; đề xuất tiến trình

tổ chức dạy học kết hợp dựa vào PCHT; đề xuất quy trình thiết kế khóa học kết hợp dựa vào phong cách học tập

Vischool là trường học thường xuyên tổ chức những chương trình tọa đàm, trao đổi về những kinh nghiệm, phương pháp giáo dục hiện đại và cách áp dụng trong môn học của mình Một trong những phương pháp gây được ấn tượng là phương pháp LHĐN Một số môn học được áp dụng như Ngữ văn, Mỹ thuật, cho thấy nguyên lý chung là HS tự tìm hiểu về nội dung bài học ở nhà qua mạng, sau đó trình bày tại lớp, tương tác cùng GV và các bạn khác để củng cố nội dung kiến thức Nhờ đó, HS có thêm sự hứng thú trong việc tìm hiểu bài, phát huy các kĩ năng, đồng thời cho phép

GV có thêm thời gian để củng cố kiến thức, đi sâu hơn vào nội dung bài học [24] Những áp dụng mô hình LHĐN ở các trường học ở nước ta chủ yếu vẫn mang tính thử nghiệm Tác giả Bích Thanh đã giới thiệu nội hàm lớp học đảo trình dựa trên các lý thuyết học tập và đề xuất mô hình LHĐN trong bồi dưỡng kỹ năng CNTT cho

SV sư phạm Tác giả đã giới thiệu tiến trình áp dụng LHĐN gồm 4 bước (Phân tích - Thiết kế - Tổ chức/vận hành - Đánh giá/thu nhận phản hồi) và phân tích tính khả thi, nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của người học [28] Tuy nhiên, tác giả chưa làm nổi bật được tính chất “đảo ngược” trong quy trình này Tác giả Nguyễn Quốc Vũ, Lê Thị Minh Thanh, giới thiệu khả năng ứng dụng việc dạy học với mô hình LHĐN trong dạy học chuyên đề kĩ thuật số theo 3 bước là trước giờ học trên lớp, trong giờ học trên lớp, sau giờ học trên lớp ở trường Đại học Đồng Tháp Nghiên cứu đã cho thấy mô hình này tạo hứng thú học tập, nâng cao kết quả học tập và giúp sinh viên phát triển năng lực tư duy sáng tạo [13] Tuy nhiên, nghiên cứu chưa cho thấy sự hình thành và phát triển năng lực tự học của người học

Vận dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực và năng lực tự học cho HS được đánh giá là khá hiệu quả trong dạy học một số môn học trường phổ thông Trương Thị Phương Chi trong luận án nghiên cứu sử dụng E-learning hỗ trợ dạy - tự học theo mô hình LHĐN đã thiết kế tiến trình bồi dưỡng năng lực tự học với hệ thống E-learning và thực nghiệm trong dạy học kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12; Nghiên cứu của Nguyễn Bảo Hoàng Thanh và Võ Thị Phi về vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương “Mắt và Dụng cụ quang học” Vật lí 11; hoặc Nghiên cứu của Nguyễn Bảo Hoàng Thanh và Nguyễn Thị Xuân Tín về vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh ở

Trang 28

cấp THCS nói chung và bộ môn Vật lí lớp 7 nói riêng đều cho thấy HS có sự yêu thích

và hình thành được năng lực tự học, có thể tự học suốt đời [7] [10].Nguyen Bao Hoang Thanh, Tran Thi Huong Xuan, Nguyen Thi Nhi (2023), Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học - Khảo sát giáo viên ở khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ Tạp chí Gáo dục số 23(4), tháng 2-

2023 Trang 37-44

Nghiên cứu của Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, trong đó có khái quát của Phan Đức Duy

và Nguyễn Văn Nhật về phối hợp phương pháp dạy học đảo ngược và dạy học trực tuyến trong phát triển năng lực lớp 3 , trong đó ở bước 1 và bước 3 của giai đoạn 2, HS học, trao đổi trực tuyến, tự học, HS có nhiều điều kiện để trải nghiệm, thảo luận kiến thức, thể hiện thái độ, rèn luyện kỹ năng và đặt trong những tình huống thực tế, giúp

HS hình thành và phát triển năng lực [10]

Ở Việt Nam, mô hình LHĐN mới được biết đến trong vài năm gần đây, hầu hết

là các bài viết giới thiệu trên các bài báo, tạp chí, trang tin của các trường hoặc các cơ

sở đào tạo Qua 1 số ít báo cáo, nghiên cứu khoa học đã công bố ở Việt Nam, mô hình này được đánh giá là đã hỗ trợ hiệu quả giúp nâng cao NLTH cho HS, phát triển theo hướng dạy học lấy người học làm trung tâm, cải thiện sự thụ động của học sinh trong học tập, NL sử dụng CNTT và NL giải quyết vấn đề trong cuộc sống cho HS tiến bộ hơn; qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương lai đáp ứng yêu cầu xã hội

- Một số bài báo trên các tạp chí khoa học và luận án tiến sĩ cũng đã đề cập đến vấn đề này như:

+ Tạp chí khoa học và công nghệ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG có bài viếtt: “Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến tại trường đại học hùng vương” của tác giả Đỗ Tùng, Hoàng Công Kiên

+ Lê Thị Minh Thanh (2016) Xây dựng mô hình “lớp học đảo ngược” ở trường đại học Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, 61 (3), 20-27

+ Luận văn tiến sĩ khoa học giáo dục: “ Xây dựng và sử dụng - E-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử vật lý 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược” Tác giả Trương Thị Phương Chi Bài viết đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của NLTH, cũng như cách sử dụng E-learning vào dạy học tho mô hình LHĐN

Như vậy, LHĐN được xem là một mô hình DH có hiệu quả cao, đã được nghiên cứu và áp dụng trong DH ở trường phổ thông, trường đại học ở Việt Nam, đều đánh giá cao hiệu quả áp dụng mô hình này trong việc phát triển năng lực của HS Tuy nhiên, nghiên cứu vận dụng cụ thể về việc áp dụng mô hình này trong dạy học phát triển năng lực nói chung, dạy học áp dụng cụ thể cho lớp 3 nói riêng cần được quan tâm hơn nghiên cứu đầy đủ hơn

Trang 29

Kết luận chương 1

Với những phân tích ở trên, có thể thấy rằng mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vận dụng mô hình LHĐN trong dạy học ở nhiều phương diện khác nhau nhưng các nghiên cứu ở Việt Nam chỉ chủ yếu tập trung xây dựng cơ sở lí luận, vận dụng trong dạy học ở các trường Đại học, Trung học phổ thông vì đòi hỏi tính tự học cao hơn Chính vì thế đề tài được chúng tôi nghiên cứu theo hướng vận dụng mô hình LHĐN phù hợp với mục đích bồi dưỡng và phát triển NLTH cho HS, đặc biệt đối với môn TNXH trong trường Tiểu học

Trang 30

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 2.1 Đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 3

2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3

Học sinh tiểu học là lứa tuổi sống và phát triển trong nền văn minh nhà trường theo hai cấp độ Cấp độ thứ nhất gồm các lớp 1, lớp 2 và lớp 3, trong cấp độ này thì lớp 1 là lớp đặc biệt - lớp đầu vào của Cấp tiểu học, được nhiều người cho là “cửa ải lớp 1” Cấp độ thứ hai gồm lớp 4 - lớp 5 - đầu ra của cấp tiểu học Hai cấp độ này tuy

có sự khác nhau về mức độ phát triển tâm lí và trình độ thực hiện hoạt động học tập, nhưng không có sự thay đổi đột biến, không có sự phát triển theo chiều hướng mới Dù

ở cấp độ nào thì HS tiểu học cũng là nhân vật trung tâm, là linh hồn của trường tiểu học Tâm lý ở cấp độ thứ hai của HS tiểu học từ lớp 4, lớp 5 có những đặc điểm khác biệt với lứa tuổi trước đó đặc biệt là về đặc điểm nhận thức và đặc điểm thể chất của học sinh

Sự phát triển thể chất của HS tiểu học có những đặc điểm sau:

Thể lực của các em phát triển tương đối êm ả, đồng đều Chiều cao mỗi năm chỉ tăng thêm trên dưới 4cm, trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Xin giới thiệu chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 6 - 11 tuổi đã được công bố theo “Hằng số sinh học của người Việt Nam “ (2003):

Bảng 2.1 Bảng chiều cao, cân nặng của HS tiểu học

126,07 - 5,35 132,17 - 6,12

23,62 - 2,72 25,42 - 3,55

Hệ thần kinh của HS tiểu học đang thời kì phát triển mạnh Đây là thời kì não bộ phát triển cả về khối lượng, trọng lượng lẫn cấu tạo, đến khoảng 9 - 10 tuổi, não của các

em căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời Đây cũng là giai đoạn mà sự hình thành các phản xạ có điều kiện diễn ra nhanh và nhiều 2.1.2 Đặc điểm về trình độ nhận thức của học sinh lớp 3

2.1.2.1 Tri giác

2.1.2.2 Chú ý

Trang 31

2.1.2.3 Trí nhớ

2.1.2.4 Tư duy

2.1.2.5 Tưởng tượng

Trong khuôn khổ của luận văn, tôi xin được trình bày chi tiết tại phần Phụ lục 6

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng khi vận dụng mô hình LHĐN trong môn TN&XH

a) Công nghệ

Không phải ai cũng rành về công nghệ Học sinh không bắt kịp việc sử dụng công nghệ sẽ không theo kịp các bạn cùng lớp Họ sinh lớp 3 chưa được trang bị đầy

đủ các kiến thức để sử dụng và khai thác công nghệ ứng dụng, phục vụ vào quá trình

tự học theo phương pháp lớp học đảo ngược

b) Ý thức học sinh

Giáo viên không đảm bảo được HS sẽ miễn cưỡng hay hợp tác với mô hình học tập này, nhiều HS thụ động, chưa có ý thức tự học Ngoài ra, có nhiều quan điểm cho rằng LHĐN sẽ cung cấp trước kiến thức, học sinh dựa trên những tài nguyên được giáo viên cung cấp sẵn, hạn chế sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh, không phát huy được năng lực cho học sinh

c) Sự chuẩn bị và nỗ lực của GV

Việc vận hành LHĐN sẽ làm tăng thêm lượng công việc cho GV, bởi nó đòi hỏi

sự tích hợp rất cẩn thận để lớp học được duy trì và phát triển Các nhiệm vụ như ghi

âm và đóng gói và đăng tải các bài giảng đều là những công việc cần thời gian và kỹ năng chưa kể đến việc GV giới thiệu các hoạt động trong lớp học liên quan đến bộ môn trong video như thế nào để thúc đẩy HS tham gia và chuẩn bị trước khi học

- Rất khó để thiết kế video bài học đúng với ý tưởng sư phạm, thực hiện được đúng phương pháp dạy học, có tính toán hỗ trợ người học phù hợp để HS tự học và học cách tự học Thông thường, GV sẽ sử dụng các video được thiết kế sẵn, được chia

sẻ nhưng sẽ không hoàn toàn phù hợp với GV; hoặc nếu tự làm thì rất nhiều thời gian, đòi hỏi phải có sự đầu tư, chuẩn bị công phu và kĩ lưỡng

Cho dù GV có thể vận dụng nhiều yếu tố của LHĐN vào lớp học của họ nhưng

họ vẫn phải cần thêm thời gian và cả sự nỗ lực

2.3 Năng lực tự học

2.3.1 Năng lực và phân loại năng lực theo CTPT2018

2.3.1.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển giáo khoa tiếng Việt: “Năng lực là khả năng làm tốt công việc” [4] Theo chương trình giáo dục phổ thông của Indonesia: “NL là những kiến thức, kĩ năng

và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có KT- KN và các giá trị cơ bản” Năng lực là sự kết hợp của tri thức, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng

Trang 32

có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ánh mức độ NL của người đó hoặc tổ chức đó Chính vì thế thuật ngữ “Năng lực” khó mà định nghĩa một cách chính xác

2.3.1.2 Phân loại năng lực

Phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại Nhìn vào chương trình thiết kế theo NL của các nước có thể thấy hai loại chính, đó là những NL chung và NL cụ thể chuyên biệt

- Năng lực chung là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc

trong xã hội NL này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học Vì thế có nước gọi là NL xuyên chương trình Hội đồng châu Âu gọi

là NL chính…

- Năng lực cụ thể, chuyên biệt là NL riêng được hình thành và phát triển do một

lĩnh vực/môn học nào đó, vì thế chương trình Québec gọi là NL môn học cụ thể để phân biệt với NL xuyên chương trình, NL chung

Tiếp thu quan niệm về NL của các nước phát triển Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 sẽ hình thành và phát triển cho HS những NL cốt lõi NL cốt lõi là NL

cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả

Sơ đồ 2.1 Các năng lực chung, cốt lõi [5]

Năng lực giải quyết vấn

đề và sáng tạo

Năng lực thể chất

Năng lực thẩm

mỹ

Năng lực tin học

Năng lực tính toán

Năng lực tìm hiểu

tự nhiên

và xã hội

Năng lực công nghệ

Các năng lực chuyên biệt (năng khiếu) Năng lực chung

CÁC NĂNG LỰC CỐT LÕI

Năng lực đặc thù CÁC NĂNG LỰC

Trang 33

NL cốt lõi gồm NL chung và NL đặc thù cụ thể:

- Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp

phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Những năng lực đặc thù, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số

môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, chương trình GDPT còn góp

phần phát hiện, bồi dưỡng NL đặc biệt (năng khiếu) của HS

2.3.2 Năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Tự nhiên và xã hội theo CTPT2018

Chương trình GDPT 2018 của Bộ GD&ĐT đã nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở HS là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm và

10 NL cốt lõi (những NL mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm những NL chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục (GD) góp phần hình thành, phát triển đó là: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo và những NL chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định như: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất

Hình 2.1 Năng lực và phẩm chất cho HS trong chương trình mới [4]

Trang 34

2.3.3 Tự học và năng lực tự học

2.3.3.1 Tự học

Quan niệm về tự học (TH) đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ, nhiều hình thức khác nhau và có nhiều thay đổi theo thời gian Hiện nay, khái niệm TH được thống nhất theo một vài quan điểm sau:

- Theo Nguyễn Ngọc Bảo, TH là việc người học có thể tự mình tìm ra kiến thức, khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức họat động học, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chính họat động học của mình [5]

- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm cho rằng: “TH là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK

đã được quy định [9]

Từ việc tìm hiểu nội hàm các quan niệm TH của một số tác giả trong và ngoài nước đề cập ở trên, theo tôi: TH là quá trình người học tự mình thực hiện việc học tập

để chiếm lĩnh tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, những kinh nghiệm lịch sử xã hội qua

đó hoàn thiện bản thân TH có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được ban hành Đó là một hoạt động mang tính tích cực, chủ động, tự giác nhằm đạt được mục tiêu học tập xác định của người học

Theo Nguyễn Văn Biên: “NLTH được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập của mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá KQHT của mình, có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác [12] Như vậy, có thể hiểu: “NLTH là khả năng thực hiện được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập và nỗ lực phấn đấu để thực hiện mục tiêu; có phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập

2.3.4 Các hình thức và mức độ của năng lực tự học

2.3.4.1. Các hình thức tự học

Dựa vào những dấu hiệu khác nhau người ta đã có nhiều cách phân loại các hình thức TH khác nhau, chẳng hạn như:

Trang 35

- Dựa vào sự hướng dẫn của người dạy đối với người học: TH diễn ra dưới sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của người thầy; TH có sự hướng dẫn của người thầy nhưng không giáp mặt; TH độc lập không có sự hướng dẫn của thầy

- Dựa vào không gian tiến hành TH: TH ở trên lớp; TH ở nhà

- Dựa vào các phương tiện hỗ trợ TH: TH với sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm; TH qua tài liệu hướng dẫn

Như vậy, có nhiều hình thức khác nhau để người học có thể TH, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và hoàn thiện nhân cách bản thân

Qua việc nghiên cứu các hình thức TH ở trên tôi nhận thấy rằng mỗi hình thức

TH có những ưu nhược điểm nhất định Để phát huy những ưu điểm của các hình thức

TH này, cần phối hợp các hình thức dạy học lại với nhau một cách linh hoạt để người học có thể TH một cách linh hoạt và chủ động nhất có thể

2.3.4.2 Các mức độ của năng lực tự học

Năng lực tự học được hình thành và phát triển theo từng mức độ khác nhau, từ thấp đến cao Căn cứ vào vai trò đóng góp của GV trong hoạt động TH của HS có thể phân NLTH theo 3 mức độ sau [10]:

- Mức độ 1: Biết cách TH khi có sự hỗ trợ của GV HS nắm được nội dung của bài học, bước đầu phát hiện vấn đề và các tình huống học tập trên lớp theo hướng dẫn của GV, sau đó tiến hành tự lực giải quyết một số nội dung học tập; vận dụng kiến thức, tự tìm cách phát hiện và giải quyết vấn đề tương tự Ở mức độ này HS đã biết cách TH, có ý thức và thói quen TH, biết dự kiến kế hoạch TH và tự đánh giá KQHT dưới sự hướng dẫn của GV

- Mức độ 2: TH một cách độc lập Ở mức độ này, HS nắm vững nội dung của bài học, cùng làm việc trên lớp với GV, sau đó tiến hành TH, biết chọn lựa tài liệu tham khảo HS có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình, biết lập kế hoạch TH Đối với mức độ này, tinh tích cực của HS thể hiện thông qua việc tự đặt vấn đề, phát hiện và tự tìm cách giải quyết vấn đề một cách độc lập, đưa ra kết luận đúng

- Mức độ 3: Độc lập phát hiện vấn đề, lựa chọn phương án giải quyết vấn đề một cách hiệu quả HS đạt được mức độ hiểu bài học một cách có hệ thống, chủ động mở rộng, đào sâu kiến thức theo nhu cầu, biết lựa chọn vấn đề cần giải quyết HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự đánh giá kết quả một cách có chất lượng và hiệu quả 2.3.5 Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực tự học

Để xác định cấu trúc của NLTH, có thể có những cách khác nhau [12]

Thứ nhất, là các nghiên cứu phân tích NLTH theo 2 hướng: yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong

Thứ hai, là các nghiên cứu tập trung xác định những dấu hiệu của NLTH được

Trang 36

bộc lộ ra ngoài Những nghiên cứu này hướng tới tìm ra hình thức tác động đến người học giúp cho người học thuận lợi trong quá trình TH

Taylor khi nghiên cứu về vấn đề TH của HS trong trường phổ thông đã xác định

tự học gồm 3 thành tố: (1) Thái độ tự học; (2) Tính cách khi tự học; và (3) Kĩ năng tự học và có thể biểu diễn ở sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ 2.2 Thành tố tự học [12]

Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, NLTH cũng được xác định theo

cách này, thông qua các biểu hiện về thái độ, tính cách và kĩ năng TH:

Về thái độ:

- Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân

- Sẵn sàng đón nhận và quyết tâm vượt qua thử thách trong học tập và đòi sống

- Hình thành cách học riêng của bản thân

- Tim kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết

- Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học

Thứ ba, dựa trên cơ sở khoa học, cấu trúc của NL là tổ hợp của nhiều NL thành

- Tự nhận ra và chủ động điều chỉnh các sai sót, hạn chế của bản thân

- Thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu

Kĩ năng tự học

- Hình thành cách học riêng của bản thân

- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập

- Đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau

- Ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết

Trang 37

tố, thực hiện các hoạt động thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tình huống có ý nghĩa với HS Như vậy, có thể xác định cấu trúc của NLTH dựa trên một chuỗi hành động Thông qua việc thực hiện các hành động này mà các biểu hiện của NLTH sẽ được thể hiện Tuỳ thuộc vào chất lượng của hành động hoặc mức độ tự lực thực hiện hành động mà đánh giá mức độ đạt được của NLTH ở người học

Theo tác giả Đỗ Hương Trà, có thể đưa ra bảng cấu trúc NLTH như sau: [12]

M3: Chỉ ra được các thao tác học tập phù hợp với phong cách học tập của mình

Ml: - Liệt kê các tài liệu tham khảo có liên quan đến bài học

- Tóm tắt được thông tin trong tài liệu thu nhận được

- Vận dụng các thông tin thu được dưới sự hướng dẫn chi tiết của giáo viên

Trang 38

tài liệu M2: - Liệt kê tài liệu hay, nguồn thông tin hữu ích, có giá trị

- Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới hình thức bảng biểu, ngắn gọn xúc tích

M3: - Liệt kê và lựa chọn được nguồn tài liệu hay, nguồn thông tin hữu ích, đáng tin cậy, có giá trị

- Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới dạng bản đồ tư duy, có sự phân tích đánh giá các nguồn thông tin

- Tự lực vận dụng các thông tin thu được để giải quyết vấn đề một cách chính xác

Ml: Thực hiện được hết các bài kiểm tra do giáo viên giao cho và

tự đối chiếu kết quả M2: Tự làm bài kiểm tra, so sánh với đáp án và mục tiêu học tập M3: Biết lựa chọn công cụ đánh giá và tự đánh giá phù hợp với mục tiêu học tập để tự xác định được trình độ của bản thân

và đề xuất được cách điều chỉnh

M3: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học

và có hành động điều chỉnh kịp thời 2.3.6 Đánh giá năng lực tự học

2.3.6.1 Công cụ đánh giá năng lực

a) Thang đo năng lực

Rubrics là một bảng mô tả chi tiết, rõ ràng, có hệ thống các tiêu chí, các mức độ

mà HS nên làm hoặc cần phải làm để đạt mục đích cuối cùng của nhiệm vụ học tập

Trang 39

như thuyết trình, làm việc nhóm, bài tập, bài kiểm tra,… để có thể nhận một điểm số hoặc nhận xét tương ứng Rubrics được xem là một công cụ hữu hiệu trong việc thiết lập mối liên hệ giữa đánh giá (ĐG), phản hồi và quá trình dạy học

Một khi những tiêu chí được mô tả chính xác, rubrics có khả năng sử dụng như một công cụ đo lường công bằng, đáng tin cậy, khoa học Tuy nhiên, độ tin cậy và tính hợp lệ của công cụ này phụ thuộc rất nhiều vào việc GV phải xây dựng thang ĐG như thế nào để có thể xác định các tiêu chí quan trọng và sau đó phân biệt giữa các mức thực hiện một cách khoa học và hợp lý

b) Các bài tập

Xét thấy bài tập có nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn như: Bài tập miệng, bài tập viết, bài tập ngắn hạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệm đóng hay tự luận mở Bài tập có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một

đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi

Để đánh giá NL trong dạy học một số bài học chủ đề: “Gia đình” môn Tự nhiên

và xã hội lớp 3, lại càng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV và cũng là phương tiện để

HS phát triển, bộc lộ NL của mình

2.3.6.2 Một số phương pháp đánh giá năng lực

a) Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của học sinh

Qua các hoạt động học tập, HS tạo ra các sản phẩm của mình Nghiên cứu sản phẩm của HS là phương pháp ĐG trong đó GV xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng các sản phẩm do HS tạo ra để nhận định xem HS đạt đến mức nào ở NL mà GV muốn ĐG Các sản phầm của HS ở đây có thể là: (1) Bài kiểm tra viết tại lớp; (2) Bài tập về nhà; (3) Báo cáo thí nghiệm, thực hành; (4) Sản phẩm hoạt động nhóm: sơ đồ, báo cáo nhóm, chế tạo dụng cụ học tập,…

Nghiên cứu sản phẩm của HS giúp GV có được các thông tin về NL của HS hàm chứa trong các kiến thức, kỹ năng,… mà HS thể hiện qua sản phẩm, từ đó GV phân tích các thông tin này, đối chiếu với các tiêu chí ĐG để quyết định cho điểm, nhận xét,…

b) Phương pháp đặt câu hỏi trực tiếp

Trong quá trình dạy học, GV và HS hoặc giữa các HS có thể đặt câu hỏi cho nhau Đây được gọi là phương pháp đặt câu hỏi trực tiếp Quá trình này nhằm rút ra những kết luận, những kiến thức mới mà HS cần lĩnh hội hoặc củng cố, tổng kết, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học GV dựa vào các câu trả lời của HS, câu hỏi, cách đặt câu hỏi của HS để tìm hiểu, thu thập các thông tin để ĐG mức độ hiểu bài, mức độ đạt được của NL cần đo ở HS

c) Phương pháp quan sát

Như tên gọi gợi lên, quan sát đề cập đến việc theo dõi hoặc lắng nghe HS thực hiện các hoạt động hoặc nhận xét một sản phẩm do HS làm ra… GV quan sát HS là một hành động diễn ra tự nhiên, xuyên suốt trong quá trình dạy học Khi quan sát đòi

Trang 40

hỏi GV phải luôn chú tâm, theo dõi sát sao đối tượng nhằm thu lượm lượng thông tin đầy đủ nhất, tránh bỏ sót các thông tin quan trọng Sau đó GV sẽ sàng lọc những thông tin cần thiết cho việc đánh giá năng lực phù hợp với các tiêu chí đưa ra

d) Phương pháp tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng

- Tự đánh giá: Tự ĐG là quá trình HS ĐG quá trình học tập, các hoạt động học tập, kết quả học tập của bản thân mình Tự ĐG có thể giúp HS thể hiện rõ cách mà các

em muốn học Nó cũng cung cấp thông tin phản hồi có ý nghĩa cho GV về nhu cầu học tập của HS

- Đánh giá đồng đẳng: ĐG đồng đẳng là quá trình HS đánh giá sản phẩm, công việc của các bạn cùng học, nhằm cung cấp các thông tin phản hồi để cùng học hỏi và

hỗ trợ lẫn nhau HS phải nắm rõ những nội dung, những tiêu chí về công việc hoặc sản phẩm mà mình sẽ ĐG của bạn học HS quan sát các bạn học trong quá trình học tập nên thông tin mà các em có về hoạt động của nhau thường chi tiết, cụ thể hơn thông tin

mà thầy cô thu được Các tiêu chí tự ĐG tốt nhất nên được xác định, thống nhất giữa

𝑥 là điểm ứng với từng chỉ số hành vi ở mỗi câu

𝑛 là số câu ứng với chỉ số hành vi đó

Bảng 2.3 Thang điểm đánh giá NLTH của HS theo điểm trung bình

Điểm trung bình (𝑿) Đánh giá NLTH của HS

1,5 ≤ 𝑋 < 2,5 Mức 2

Ngày đăng: 07/10/2025, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Các năng lực chung, cốt lõi [5] - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Sơ đồ 2.1. Các năng lực chung, cốt lõi [5] (Trang 32)
Hình 2.1. Năng lực và phẩm chất cho HS trong chương trình mới [4] - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 2.1. Năng lực và phẩm chất cho HS trong chương trình mới [4] (Trang 33)
Sơ đồ 2.3.  Cách tính điểm cho bài làm HS - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Sơ đồ 2.3. Cách tính điểm cho bài làm HS (Trang 41)
Hình 2.2. Minh họa về lớp học đảo ngược [6] - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 2.2. Minh họa về lớp học đảo ngược [6] (Trang 42)
Hình 2.3. Sự liên hệ giữa thang tư duy Bloom với lớp học truyền thống và lớp học đảo - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 2.3. Sự liên hệ giữa thang tư duy Bloom với lớp học truyền thống và lớp học đảo (Trang 44)
Hình 3.2. Biểu đồ đánh giá mức độ sử dụng CNTT vào quá trình dạy học Môn TNXH - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 3.2. Biểu đồ đánh giá mức độ sử dụng CNTT vào quá trình dạy học Môn TNXH (Trang 56)
Hình 3.3. Biểu đồ đánh giá mức độ khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 3.3. Biểu đồ đánh giá mức độ khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình (Trang 57)
Hình 3.4. Biểu đồ đánh giá tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 3.4. Biểu đồ đánh giá tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học (Trang 59)
Hình 3.9. Biểu đồ đánh giá vai trò quan trọng của môn TNXH - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 3.9. Biểu đồ đánh giá vai trò quan trọng của môn TNXH (Trang 62)
Bảng 3.15. Kết quả khảo sát về tuần suất hoạt động học tập của HS đối với môn học - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Bảng 3.15. Kết quả khảo sát về tuần suất hoạt động học tập của HS đối với môn học (Trang 66)
Hình 5.2. Biểu đồ đường tích luỹ bài kiểm tra trước TN - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 5.2. Biểu đồ đường tích luỹ bài kiểm tra trước TN (Trang 100)
Hình 5.6. Giáo viên tổ chức hướng dẫn HS cách thực hiện tự học ở nhà môn TNXH - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 5.6. Giáo viên tổ chức hướng dẫn HS cách thực hiện tự học ở nhà môn TNXH (Trang 102)
Bảng 5.5. Phiếu ghi bài và phiếu học tập của một số HS ở bài 1 - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Bảng 5.5. Phiếu ghi bài và phiếu học tập của một số HS ở bài 1 (Trang 103)
Hình 5.19. Biểu đồ đường tích luỹ bài kiểm tra sau TN - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Hình 5.19. Biểu đồ đường tích luỹ bài kiểm tra sau TN (Trang 114)
PHỤ LỤC 5. HÌNH ẢNH MỘT SỐ PHIẾU HỌC TẬP THỰC NGHIỆM - Vận dụng mô hình lớp học Đảo ngược trong dạy học chủ Đề gia Đình môn tự nhiên và xã hội lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
5. HÌNH ẢNH MỘT SỐ PHIẾU HỌC TẬP THỰC NGHIỆM (Trang 156)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w