Môn Ngữ văn Tiếng Việt giúp học sinh sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học và hoạt động giáo dục khác; hình thành và phát triển n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ NGA
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2 (THEO BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (GIÁO DỤC TIỂU HỌC)
ĐÀ NẴNG – Năm 2023
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (GIÁO DỤC TIỂU HỌC)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
Đà Nẵng – Năm 2023
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Trang thông tin luận văn ……….……… ……….ii
The information of master’s thesis…….… ……….iii
Danh mục từ viết tắt vii
Danh mục bảng biểu viii
Danh mục sơ đồ, biểu đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
6 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 6
1.1 Những nghiên cứu về đọc và dạy học đọc văn bản 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm về dạy học đọc ở Tiểu học 8
1.2.1 Văn bản 8
1.2.2 Đọc 9
1.2.3 Đọc chính tả 10
1.2.4 Đọc hiểu 11
1.2.5 Năng lực đọc hiểu 12
1.2.6 Các dạng bài tập đọc hiểu 14
1.2.7 Xây dựng hệ thống bài tập 17
1.3 Đặc điểm bài tập đọc hiểu cho học sinh tiểu học 17
1.4 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 2 18
1.4.1 Tri giác 18
1.4.2 Về tư duy 19
1.4.3 Về tưởng tượng 20
1.4.4 Về trí nhớ 21
1.4.5 Về ngôn ngữ 22
1.4.6 Về chú ý 23
1.5 Các phương pháp dạy học đọc hiện nay ở cấp Tiểu học 24
1.5.1 Phương pháp dạy học đọc tích hợp 24
1.5.2 Phương pháp dạy học đọc qua trò chơi và hoạt động vui chơi 25
Trang 71.6 Thực trạng về việc dạy học đọc ở cấp Tiểu học 26
1.6.2 Quá trình nghiên cứu thực trạng 27
1.6.3 Kết quả khảo sát và một số nhận xét về thực trạng dạy học đọc ở trường Tiểu học 28
1.7 Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỌC CHO HS LỚP 2 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC DẠY HỌC ĐỌC (THEO BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG) 38
2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập phát triển hoạt động đọc cho học sinh lớp 2 38
2.1.1 Hệ thống bài tập phù hợp với nội dung dạy học đọc ở Tiểu học 38
2.1.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính thực tiễn và đánh giá được năng lực học sinh 42
2.1.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống và đa dạng 43
2.1.4 Lựa chọn ngữ liệu phù hợp 44
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập phát triển hoạt động đọc cho học sinh lớp 2 theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 44
2.3 Xây dựng hệ thống bài tập phát triển hoạt động đọc cho học sinh lớp 2 theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 45
2.3.1 Nhóm bài tập đọc hiểu hình thức văn bản cho HS lớp 2 theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 45
2.3.2 Nhóm bài tập đọc hiểu nội dung văn bản cho HS lớp 2 theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 48
2.3.3 Nhóm bài tập đọc hiểu cả nội dung và hình thức văn bản cho HS lớp 2 theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) 50
2.4 Vận dụng hệ thống bài tập đọc cho hs lớp 2 góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học đọc (theo bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống) 59
2.4.1 Khai thác hệ thống bài tập trong dạy học đọc gắn liền với năng lực nhận diện và phân tích thể loại văn bản 59
2.4.2 Khai thác hệ thống bài tập trong dạy học đọc hiểu văn bản gắn liền với năng lực phân tích ngôn ngữ văn bản 61
2.4.3 Khai thác hệ thống bài tập trong dạy học đọc gắn liền với năng lực phân tích ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa 63
2.5 Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích thực nghiệm 67
3.2 Nội dung thực nghiệm 67
Trang 83.3 Tổ chức thực nghiệm 67
3.3.1 Hình thức thực nghiệm 67
3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 67
3.4 Phân tích kết quả sau khi thực nghiệm 70
3.5 Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC PL1
Trang 10Danh mục bảng biểu
Số hiệu
Bảng 1.2 Sử dụng bài tập trong quá tình dạy đọc cho học sinh lớp 2 29
Bảng 1.3 Những giải pháp giáo viên đã sử dụng trong quá trình xây
dựng và dạy đọc văn bản cho học sinh lớp 2
31
Bảng 3.3 Điểm trung bình kết quả đọc hiểu qua các lần đánh giá 70
Trang 11Danh mục sơ đồ, biểu đồ
Số hiệu sơ đồ
Biểu đồ 1.2 Sử dụng bài tập trong quá tình dạy đọc cho học sinh lớp
2
30
Biểu đồ 1.3 Những giải pháp giáo viên đã sử dụng trong quá trình
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng, cho phép con người chia
sẻ ý tưởng, suy nghĩ và cảm xúc của mình với người khác Nhờ có ngôn ngữ mà xã hội ngày càng phát triển Vì vậy mà có thể nói ngôn ngữ “tạo hình” cho con người một cách đúng nghĩa nhất
Ở Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho học sinh Dạy tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực chính là quá trình dạy học hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học trong môi trường học tập và đời sống theo lứa tuổi Trên cơ sở
sử dụng thành thạo tiếng Việt các em có thể học tốt Tiếng Việt và các môn học khác
Môn Ngữ văn (Tiếng Việt) giúp học sinh sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học và hoạt động giáo dục khác; hình thành và phát triển năng lực văn học, một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ; đồng thời bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm để học sinh phát triển về tâm hồn, nhân cách
Môn học Tiếng Việt ở cấp tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng vì chức năng kép của nó trong nhà trường: vừa là công cụ học tập, vừa là đối tượng học tập Bên cạnh việc hình thành các năng lực chung, môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh ở 4 kĩ năng: Đọc, Viết, Nói và Nghe ở mức độ căn bản; phát triển năng lực văn học cho học sinh như phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện, nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của tác phẩm
1.2 Trước đây, trong nhà trường, công việc giảng dạy và giáo dục phần lớn dựa
vào chương trình và sách Ngày nay, bên cạnh sách, học sinh còn thu nhận được khối lượng thông tin khổng lồ qua internet Tuy nhiên, để có thể chọn lọc, thu thập được lượng thông tin phù hợp học sinh cần có kĩ năng đọc, đọc để thu nhận thông tin trong học tập và trong cuộc sống Chất lượng dạy đọc không những là yêu cầu thách thức với cấp Trung học cơ sở mà còn rất cần thiết được dạy thực sự có chất lượng ngay từ những năm cuối của cấp Tiểu học, tạo tiền đề cho những cấp học tiếp sau
Đọc là một trong bốn kĩ năng quan trọng hàng đầu trong sử dụng tiếng Việt ở học sinh Tiểu học Hoạt động đọc giúp con người thu nhận được lượng thông tin nhiều nhất để không ngừng bổ sung và nâng cao vốn hiểu biết, vốn sống của mình Thông qua hoạt động đọc các kiến thức, kinh nghiệm của thể hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau tiếp thu, đồng thời cập nhật những thành tựu khoa học tiến bộ của loài người, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Hoạt động đọc bao gồm cả mặt đọc chính tả và mặt thông hiểu nội dung Cả hai mặt đều có quan trọng, trong đó thông hiểu chính là đích của hoạt động đọc
Trang 13Trong nội dung chương trình 2018, năng lực đọc chiếm 60% Việc xác định được tầm quan trọng của đọc đối với học sinh đã giúp quá trình giáo dục mang lại hiệu quả
rõ rệt Hoạt động đọc giúp học sinh thu nhận được các thông tin được truyền tải một các
dễ dàng và tiện lợi Thông qua việc phát triển được năng lực này, các năng lực Viết, Nói
và Nghe cũng thuận lợi hơn trong quá trình giáo dục Khi đã có được năng lực đọc, học sinh sẽ chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức không chỉ trong quá trình học tập mà còn cả trong đời sống
Năng lực đọc có 2 dạng: đọc chính tả và đọc hiểu Trong đọc hiểu có đọc hiểu hình thức và đọc hiểu nội dung Trong đó, mục tiêu cuối của hoạt động đọc chính là thông hiểu nội dung (đọc hiểu) và phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học Chất lượng của quá trình đọc hiểu sẽ phản ánh được mức độ tiếp nhận và giải mã vấn đề của học sinh Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần giúp quá trình học tập của học sinh đạt được hiệu quả
Dạy học đọc cho học sinh Tiểu học thường được phân bổ ở 3 loại văn bản là truyện, thơ, văn bản thông tin Bên cạnh đó còn có các thể loại ca dao tục ngữ, thành ngữ dân gian, Học sinh tiểu học, chủ yếu mới chỉ dừng ở mức độ nhận diện văn bản, hiểu được nghĩa văn bản mà chưa đi sâu vào đọc hiểu văn bản Việc thực hiện các bài tập dành cho đọc không thường xuyên khiến các em chưa hình thành được kĩ năng đọc đúng cách và hiệu quả, từ đó rút ra được ý nghĩa hàm ẩn và vận dụng vào giải quyết các tình huống thực tế Các em chưa thành thạo các kĩ năng đọc hiểu văn bản, đa số chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện và hiểu nghĩa văn bản (nghĩa từ ngữ, câu, đoạn, văn bản); nhiều
em chưa phát hiện được những chi tiết quan trọng; kết nối thông tin trong văn bản và vận dụng những thông tin này vào giải quyết những vấn đề trong học tập và đời sống
Đa số giáo viên chưa có sự đầu tư thích đáng cho môn học, dạy học đọc theo quy trình được hướng dẫn, sử dụng hệ thống câu hỏi được thiết kế sẵn trong sách giáo khoa, dạy theo lối mòn dẫn đến giảm hứng thú của người dạy cũng như người học Hiện nay chỉ dừng lại ở dạy từng văn bản cụ thể, chưa chú trọng đến hình thành kĩ năng đọc, hướng tới mục tiêu phát triển năng lực đọc hiểu của học sinh Cần xây dựng cho học sinh một
hệ thống bài tập đọc các thể loại văn bản để học sinh có thể rèn luyện phát triển kĩ năng quan trọng này dưới sự hướng dẫn của giáo viên
1.3 Thực hiện tinh thần của Nghị quyết 29, đổi mới mục tiêu, nội dung và
phương pháp dạy học Dạy học đọc tất yếu phải đổi mới cùng với các môn học khác trong nhà trường Điều này được thể hiện rõ trong việc đổi mới dạy học đọc theo sách Tiếng Việt lớp 2 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Trong bối cảnh thực hiện nghị quyết Số 88/2014/QH13 “Về đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông”, cùng với chủ trương “Một chương trình, nhiều bộ sách” đã mang lại nhiều thời cơ và thách thức để giáo dục có bước tiến trong tiệm cận với các nền giáo dục phát triển Luận văn của chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá là công
cụ để xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực đọc văn bản cho học sinh tiểu
Trang 14học, với mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, góp sức chung vào phát triển chương trình giáo dục nước nhà Xây dựng một hệ thống bài tập để học sinh phát triển được kĩ năng đọc văn bản là yêu cầu hết sức cần thiết trong quá trình thực hiện chương trình 2018 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập đọc cho học sinh tiểu học nhưng chủ yếu là cho chương trình hiện hành Đối với chương trình 2018 đang và sẽ được triển khai, xây dựng một hệ thống bài tập xuyên suốt từ các lớp đầu cấp đến cuối cấp tiểu học là vấn đề có tính cấp thiết
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi mong muốn góp phần định hướng để giáo viên xây dựng được hệ thống bài tập trong quá trình dạy học để phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 nói riêng và các lớp cấp tiểu học nói chung
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập đọc cho học sinh
lớp 2 (theo Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp xây dựng hệ thống bài tập đọc cho HS lớp 2 cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học đọc theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học đọc văn bản văn học và các biện pháp xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu nhằm phát triển, nâng cao năng lực đọc ở học sinh lớp 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu đề xuất trong luận văn góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học đọc theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Về địa bàn điều tra, khảo sát và thực nghiệm:
+ Trường Tiểu học Phan Ngọc Nhân, phường Điện Nam Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
+ Trường Tiểu học Nguyễn Phan Vinh, phường Điện Nam Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2022 – 5/2023
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp đọc tài liệu: Đọc các vấn đề liên quan đến việc xây dựng hệ thống bài tập đọc Tiếng Việt lớp 2, các tài liệu về chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 ( bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Trang 15- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các tài liệu liên quan như sách, báo, tạp chí chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu có liên quan, các văn bản của Bộ GD&ĐT, các trang mạng…để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Xem xét, lựa chọn tư liệu liên quan, phân loại, hệ thống các nguồn tài liệu làm cơ sở khoa học cho đề tài
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa tài liệu theo từng nội dung nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: được dùng để tham khảo ý kiến những nhà
khoa học có kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
4.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ, quan sát hoạt động dạy và học khoa
học của GV và HS tại hai trường là: trường Tiểu học Phan Ngọc Nhân, phường Điện Nam Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và trường Tiểu học Nguyễn Phan Vinh, phường Điện Nam Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Lập các phiếu điều tra và tiến hành điều tra tình hình dạy học của GV và HS về thực trạng tổ chức dạy học đọc trong môn Tiếng Việt
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với một số
GV, HS nhằm làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài
- Phương pháp khảo sát: được sử dụng để tìm hiểu thực trạng dạy đọc ở lớp 2 và đánh giá mức độ hiểu văn bản của học sinh lớp thực nghiệm, đối chứng sau khi tiến hành thực nghiệm
4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng trên đối tượng là HS lớp 2 ở trường tiểu học Phan Ngọc Nhân, phường Điện Nam Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhằm đánh giá tính khả thi của hệ thống bài tập mà đề tài đề xuất
- Phương pháp thực nghiệm dạy học được sử dụng để bước đầu kiểm
chứng tính khả thi của việc xây dựng hệ thống bài tập
4.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học, phần mềm Excel để xử lí các số liệu thu thập được sau khi đã điều tra khảo sát và thực nghiệm sư phạm để rút ra kết luận cần thiết về thực trạng, hiệu quả của đề tài nghiên cứu
4.5 Nguồn ngữ liệu
Luận văn dựa trên 2 nguồn dữ liệu chính:
- Văn bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Các văn bản ngoài SGK phù hợp với các chủ đề và thể loại
Trang 165 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nếu xây dựng được một hệ thống bài tập đọc cho học sinh lớp 2 một cách hợp lí
và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao năng lực đọc của học sinh tiểu học
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận, thực tiễn
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập đọc cho HS lớp 2 góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học đọc (theo Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN,
THỰC TIỄN 1.1 Những nghiên cứu về đọc và dạy học đọc văn bản
1.1.1 Trên thế giới
Đọc, dạy học đọc và đánh giá năng lực đọc theo chuẩn đã trở thành nội dung đổi
mới trong dạy học văn bản và văn bản nghệ thuật hư cấu trong những thập kỉ gần đây
Tư tưởng đọc hiểu đã được manh nha từ thời cổ đại Ở phương Tây thì “cứ đọc
đi rồi dần dần bạn sẽ quen và dần dần sẽ hiểu được phần nào những điều lí thú từ sách”
(Aristôt), còn ở phương Đông thì “Bất độc thi, vô dĩ ngôn” (Khổng Tử) và sau này đọc
hiểu mới được tập trung nghiên cứu ở Âu Mĩ vì áp lực của sự phát triển khoa học kĩ thuật với nhu cầu cuộc sống hiện đại
Tại các nước Âu -Mỹ và Liên Xô cũ có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo viết về vấn đề đọc hiểu và dạy học đọc hiểu Những công trình nghiên cứu này khai thác các khía cạnh khác nhau của đọc hiểu song các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của hoạt động đọc và đưa ra các giải pháp góp phần cho việc dạy học đọc có hiệu quả
Công trình Reading and Study skills [37] của tác giả người Mỹ John Langan bày
tỏ quan điểm dạy đọc hiểu không chỉ được xem là dạy kĩ năng cho một môn học, một phân môn mà cần được coi là rèn luyện một kĩ năng quan trọng phục vụ nhu cầu học tập suốt đời Có nghĩa là theo tác giả, dạy đọc hiểu cần được chú trọng đúng mức và học sinh cần được học các cách đọc khác nhau tuỳ vào loại tài liệu và mục đích đọc Để trình bày mười kĩ năng hỗ trợ quá trình đọc hiểu văn bản: kĩ năng xác định các định nghĩa và ví dụ; kĩ năng xác định các chuỗi luận điểm; kĩ năng xác định các đầu đề và đầu đề phụ; kĩ năng xác định các từ chỉ dẫn; kĩ năng xác định ý chính trong đoạn văn;
kĩ năng lập dàn ý; kĩ năng tóm tắt; kĩ năng hiểu các bảng biểu và đồ thị; kĩ năng suy luận; kĩ năng tư duy phản biện tác giả đã dành một chương với 120 trang viết
Trong cuốn Đọc sách như một nghệ thuật [33], tác giả Mortimer J.Adler đã tập
trung giải quyết vấn đề quan niệm về cách học đọc với các mức độ đọc khác nhau để thu nhận thông tin và để hiểu biết về một cuốn sách Công trình tập trung vào trình bày các thao tác, kĩ năng và kinh nghiệm đọc hiểu nói chung Tác giả gợi ý cho ta biết rằng khi đọc truyện cần đọc thật nhanh với sự chú tâm cao, đọc một mạch không nghỉ; đọc kịch giống như đọc một câu chuyện và tưởng tượng mình đang xem vở kịch diễn ra trước mắt; đọc thơ phải đọc liền một mạch cho dù có hiểu hay không để nhìn ra tính thống nhất của bài thơ, đọc lại và đọc to lên, đọc đi đọc lại nhiều lần
Nghiên cứu về dạy học đọc hiểu mỗi tác giả hướng sự quan tâm của mình vào các phương diện khác nhau Tác giả Micheal Pressley quan niệm: Điều quan trọng trong dạy học đọc hiểu là làm việc trên văn bản gốc Vì lẽ đó, việc đầu tiên cần làm là dạy đọc hiểu từ ngữ; phát triển vốn từ vựng; phát triển khả năng giải thích khái niệm nhằm giúp cho học sinh đọc hiểu văn bản tốt hơn Một số tác giả lại quan tâm đến biện pháp
Trang 18đặt câu hỏi và thiết kế bài tập, coi đây là biện pháp tốt nhất để nâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh (Marion D Jenkinson, H Alan Robinson)
1.1.2 Ở Việt Nam
Về mặt lí thuyết, trước hết phải trả lời câu hỏi “Đọc là gì?” - nghĩa là phải tìm hiểu
cách định nghĩa, xác định khái niệm, mà định nghĩa thì bao giờ cũng phiến diện so với
bản thể của đối tượng nghiên cứu Ta có thể hiểu đọc là hành động phát thành lời những
điều đã được viết ra theo đúng trình tự, tiếp nhận nội dung bằng cách nhìn Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp
từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) Đọc là khởi nguồn quyết định hiệu quả đọc Chuỗi âm thanh phát ra trong không gian khi đọc văn không còn nguyên vẹn là của người đọc mà đã là một cái gì khác được người
đọc nhận lại Trong đọc còn có “đọc hiểu” Có người cho rằng “đọc hiểu” là khái niệm bao gồm “hành động đọc” và “hành động hiểu” “Đọc hiểu” là khái niệm chỉ rõ hành động đọc và mục đích đọc để hiểu Đây là một khái niệm gồm hai yếu tố đọc và hiểu
liên quan với nhau
Đọc hiểu bao gồm quá trình phân tích, tiếp nhận lời nói và hiểu lời nói Đây là quá trình nhận biết chất liệu lời nói được thể hiện thành từ, câu, âm nào đó; đồng thời là quá trình hiểu ý nghĩa của lời nói và nhận thức xem ý nghĩa đó được thể hiện bằng cách nào
Ở nước ta, lịch sử đã chứng minh về quá trình nghiên cứu về việc đọc hiểu song hành với quá trình phát triển giáo dục từ thời phong kiến cho đến mãi tận sau này, trên thực tế về mặt lí luận, dạy đọc hiểu mới được đặt ra như một vấn đề độc lập cần được nghiên cứu khoảng từ đầu thập kỉ chín mươi của thế kỉ XX
Ở Tiểu học, vấn đề dạy học đọc hiểu cũng được nhiều nhà nghiên cứu, nhà sư phạm, nhà giáo tâm huyết đề cập đến Đáng chú ý là ý kiến của các tác giả đã có nhiều năm gắn bó với giáo dục Tiểu học như Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Trí, Trần Mạnh Hưởng, Hoàng Hoà Bình,
Cuốn sách Dạy học Tập đọc ở Tiểu học [24] của tác giả Lê Phương Nga nhấn
mạnh điểm mới của chương trình hiện hành là bên cạnh nội dung trang bị kiến thức đã chú trọng nhiều hơn đến hình thành kĩ năng trong dạy đọc Với 60 trang viết tác giả đã
đề cập đến dạy học đọc hiểu Bàn về ý nghĩa của dạy đọc hiểu, tác giả Lê Phương Nga khẳng định đọc hiểu là một hoạt động có tính chất quá trình rất rõ vì nó bao gồm nhiều hành động được trải ra theo tuyến tính thời gian và trình bày các kĩ năng cụ thể để tiến hành những hành động này
Trong cuốn Một số vấn đề về dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu
học [17], mặc dù bàn đến không nhiều song tác giả Nguyễn Trí cũng đã thể hiện rất rõ
quan điểm của mình khi nói về bản chất của hoạt động đọc Tác giả khẳng định đọc là
Trang 19kĩ năng học sinh sử dụng nhiều nhất, trong đó đọc thầm sử dụng nhiều hơn cả mà đã nói
đến đọc thầm tức là nói đến đọc hiểu bởi đọc hiểu là đích của hoạt động đọc Tác giả
cũng nhận xét nếu quan niệm đọc tức là hiểu thì kinh nghiệm rèn kĩ năng thông hiểu bài đọc còn rất yếu Các tiết đọc đều có bước tìm hiểu bài nhưng các kiểu bài luyện đọc hiểu còn ít Sự phân tích các mối quan hệ giữa các yếu tố, sự kiện, chi tiết, có trong bài nhằm nắm cho sâu, cho kĩ nội dung văn bản, đánh giá được nội dung đó, tuy có làm nhưng không chu đáo Vì vậy, năng lực tư duy, năng lực thông hiểu nội dung văn bản của học sinh còn yếu Trong khi đó, theo tài liệu của một vài nước trong khu vực, các kiểu bài giúp cho việc luyện tập kĩ năng đọc hiểu khá phong phú Chúng ta cần nghiên cứu và vận dụng
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh trong chuyên luận của mình Dạy học đọc hiểu ở Tiểu
học [15] được công bố vào năm 2002 Do mục đích nghiên cứu, tác giả đã chưa đi sâu giải quyết triệt để một số vấn đề lí luận; một số ý kiến về mối quan hệ giữa đọc hiểu văn bản và đọc hiểu tác phẩm văn chương, mối quan hệ giữa đọc và đọc hiểu đã gợi ra chỗ còn bất cập cần giải quyết tiếp Mặc dù vậy, tác giả đã trình bày khá thuyết phục về cơ
sở khoa học cũng như cơ sở thực tiễn của việc dạy học đọc hiểu ở Tiểu học
Điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả tâm huyết trong lĩnh vực dạy học về vấn đề dạy đọc nói chung và dạy đọc hiểu nói riêng để thấy được tầm quan trọng của dạy đọc hiểu trong trường phổ thông Số lượng các công trình nghiên cứu về đọc hiểu và dạy học đọc hiểu trên thế giới và trong nước là rất đồ sộ, nhiều ý kiến đưa ra rất sâu sắc song có thể thấy rằng các công trình hầu hết mang tính vĩ mô, khai thông lí thuyết Ở Việt Nam, việc đi sâu vào tìm ra những biện pháp tối ưu để dạy học đọc cụ thể giúp giáo viên và học sinh Tiểu học dạy tốt và học tốt, đọc hiểu văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác nhau theo tiếp cận năng lực Trên cơ sở tiếp thu lí thuyết đọc hiểu của các nước tiên tiến trên thế giới, kế thừa quan điểm của các nhà giáo dục tâm huyết với dạy đọc hiểu ở Việt Nam, luận văn sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu để đề xuất những biện pháp cụ thể hỗ trợ quá trình dạy đọc môn Tiếng Việt lớp 2 theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
1.2 Một số khái niệm về dạy học đọc ở Tiểu học
1.2.1 Văn bản
Văn bản là hình thức thể hiện và truyền đạt bằng ngôn ngữ viết trên các chất liệu
chuyên môn, ý chí của một chủ thể tới chủ thể khác nhằm mục đích thông báo hay đòi hỏi đối tượng tiếp nhận phải thực hiện một hành vi nhất định đáp ứng nhu cầu của người soạn thảo hay nói cách khác văn bản là một phương tiện để ghi nhận, lưu giữ và truyền đạt các thông tin, quyết định từ chủ thể này sang chủ thể khác bằng một ký hiệu hay ngôn ngữ nhất định nào đó
Văn bản là một loại hình phương tiện để ghi nhận, lưu giữ và truyền đạt các thông tin từ chủ thể này sang chủ thể khác bằng ký hiệu gọi là chữ viết Nó gồm tập hợp các
Trang 20câu có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định Hay nói khác đi, văn bản là một dạng sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được thể hiện ở dạng viết trên một chất liệu nào đó (giấy, bia đá…) Văn bản bao gồm các tài liệu, tư liệu, giấy tờ có giá trị pháp
lý nhất định, được sử dụng trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, các tổ chức kinh tế… như: các văn bản pháp luật, các công văn, tài liệu, giấy tờ
Thực tế văn bản là một khái niệm tuy gần gũi nhưng lại rất đa dạng về thể loại Chính vì vậy, người ta có nhiều cách hiểu khác nhau về văn bản Có thể hiểu văn bản theo hai nghĩa
Thứ nhất: Văn bản là một phương thức để truyền đạt thông tin từ cá nhân này
đến cá nhân khác hoặc từ tổ chức này đến cá nhân, tổ chức khác thông qua hình thức ngôn ngữ viết trên chất liệu giấy hoặc điện tử Theo khái niệm này thì các loại giấy tờ như Thông báo, báo cáo, giấy phép, câu hỏi, tài liệu chuyên môn, khẩu hiệu, bản vẽ, bản ghi âm… đều được coi là văn bản Vậy văn bản theo khái niệm trên mang một nghĩa rất rộng mà chỉ mang tính chất chung chung và không thể hiện được nội dung hay thậm chí
là chủ đề mà văn bản đó muốn đề cập đến vấn đề gì
Thứ hai: Văn bản là những giấy tờ, tài liệu được sử dụng trong các cơ quan, đoàn
thể và các tổ chức xã hội Theo đó, những giấy tờ này được sử dụng để điều hành và quản lý các hoạt động của cơ quan, đoàn thể hay để truyền đạt thông tin đến các cá nhân,
tổ chức trong xã hội như Quyết định, chỉ thị, báo cáo, công văn… Hiện nay, văn bản được hiểu theo nghĩa này là phổ biến nhất
Thứ ba: Văn bản (text) là sản phẩm của quá trình viết hoặc nói (trong giao tiếp,
thông tin), có thể lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, chủ đề, đề tài,v.v… làm thành một đơn vị, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…, tồn tại dưới dạng
văn tự hoặc được ghi âm; phân biệt với diễn ngôn hiểu như chính “quá trình” tạo ra
phẩm vật đó
Như vậy, thông qua các định nghĩa khác nhau về văn bản, có thể thấy rằng văn bản
là một loại phương tiện ghi tin và truyền tải nội dung bằng hệ thống ngôn ngữ với các chất liệu khác (hình ảnh, kí hiệu, âm thanh, đồ thị, ) VB tồn tại chủ yếu ở dạng nói và dạng viết, có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức thể hiện
1.2.2 Đọc
Ta có thể hiểu đọc theo hai nghĩa sau:
Thứ nhất: Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng vớihình thức đọc thành tiếng),
là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viếtthành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) [Dẫn theo Lê Phương Nga - 24, tr.8]
Trang 21Thứ hai: Đọc là phát thành lời những điều đã được viết ra, theo đúng trình tự; nghĩa thứ hai là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu [26, tr.330]
Đọc là thao tác quan trọng của đọc hiểu, muốn đọc hiểu được một tác phẩm văn học trước hết người đọc cần có năng lực đọc và kĩ năng đọc Người đọc phải chuyển hóa những con chữ, những kí tự trong văn bản thành ý nghĩa, tư tưởng Từ kết quả của đọc sẽ làm cơ sở cho hiểu văn bản, hiểu các vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật, hiểu thông điệp nhà văn gửi gắm Nếu không đọc được thì đồng nghĩa với việc không hiểu được Nếu đọc sai thì không thể hiểu chính xác, hiểu đúng được Vì vậy cần đọc chính xác, đọc kĩ, đọc phân tích, đọc sâu, đọc sáng tạo thì mới hiểu được đúng văn bản tác phẩm
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này ta có thể hiểu: “Đọc là một hoạt động
của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe.”
1.2.3 Đọc chính tả
Việc rèn kĩ năng luyện đọc cho HS cần chú ý đến cả hai hình thức đọc chủ yếu được dạy ở tiểu học: Đọc thành tiếng và đọc thầm
1.2.3.1 Đọc thành tiếng
Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát âm ra âm thanh Hình thức đọc này dựa
trên nghiên cứu quá trình của người mới tập đọc là: Muốn hiểu điều được đọc cần phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác (miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe) thì mới dễ dàng nhớ nội dung
Đọc thành tiếng bao gồm các mức độ sau:
- Đọc đúng: là phát âm chính sát từ ngữ, câu chữ trong văn bản Cần chú ý đến phương ngữ và lỗi của từng vùng để có biện pháp sửa chữa phù hợp
- Đọc rõ ràng và mạch lạc: là việc đọc tròn vành, rõ tiếng, rõ câu chữ, rõ lời của văn bản Việc đọc này đòi hỏi HS phải biết ngừng hơi đúng chỗ, với thời gian nghỉ phù hợp ở những vị trí có dấu câu hoặc có sự phân đoạn ngữ nghĩa và có giọng đọc vừa phải (không quá to hoặc quá nhỏ, không đọc ê a ngắc ngứ hay đọc liến thoắng)
- Đọc lưu loát: là đọc với tốc độ nhanh, phát âm rõ ràng và rành mạch không bị vấp, biết ngừng nghỉ đúng dấu câu Đối với HS các lớp đầu cấp tiểu học phải luyện tập dần dần, từ đọc đúng tiến tới đọc nhanh, đọc trôi chảy
- Đọc diễn cảm: là mức độ cao của đọc đúng Đó là việc đọc với giọng đọc, ngữ điệu phù hợp với nội dung văn bản, phù hợp với những sắc thái khác nhau của phong cách văn bản Đọc diễn cảm chính là việc đọc thể hiện được ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong nội dung bài đọc, đồng thời biểu lộ được sự cảm thụ của cá nhân đối
Trang 22với bài đọc, truyền được tình cảm, cảm xúc đối với người nghe hay còn gọi là đọc cho vang nhạc sáng hình
Đọc thành tiếng là biện pháp để rèn đọc cá nhân từ đọc đúng tới đọc diễn cảm
* Để hướng dẫn HS luyện đọc thành tiếng, GV có thể tổ chức cho HS hoạt động theo các hình thức sau:
- Đọc cá nhân (đọc riêng lẻ hoặc nối tiếp từng đoạn, đọc trước lớp hoặc đọc theo cặp, theo nhóm)
- Đọc đồng thanh (theo nhóm hoặc tổ, lớp) khi cần Ví dụ: Đọc đồng thanh để khắc sâu ấn tượng về nhịp điệu của đoạn văn, bài thơ; giúp HS dễ dàng ghi nhớ đoạn, bài cần học thuộc lòng, thay đổi hoạt động, tạo không khí hào hứng cho lớp học
- Đọc theo cặp, hai HS ngồi cùng bàn, một em đọc em kia nghe rồi nhận xét cho bạn và ngược lại đổi vai cho nhau
- Đọc theo phân vai (nhiều HS hợp tác đọc theo lời nhân vật mình đóng vai, tham gia các trò chơi luyện đọc)
Ở giai đoạn đầu tập đọc, đọc thầm chưa thành kỹ xảo nên phải dùng que trỏ hoặc ngón tay để chỉ rõ hướng và tốc độ di chuyển của mắt Khi đọc thầm trở thành kỹ xảo thì chỉ có mắt di chuyển trên trang sách
Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng sự thấu hiểu nội dung văn bản đọc Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu
để tạo ra sự hiểu biết sâu sắc về tài liệu
Cơ sở của hiểu là đọc Hiểu là kết quả của hành động đọc Hiểu nghĩa là dùng kinh nghiệm sống, những hiểu biết, những kĩ năng tư duy của chính mình để lý giải những thông tin, những thông điệp mà ta đã đọc ra được từ văn bản văn học Bản thân hiểu lại có thể chia thành nhiều cấp độ khác nhau Từ hiểu, hiểu ít đến hiểu được nhiều hơn, từ hiểu nhiều đến hiểu được toàn bộ, từ hiểu toàn bộ đến hiểu được kĩ hơn, từ hiểu
Trang 23kĩ đến hiểu được sâu sắc và từ hiểu sâu sắc đến hiểu được toàn diện văn bản, vấn đề được nói đến Như vậy hiểu chính là nắm vững kiến thức Đồng thời còn cần phải biết vận dụng kiến thức đó vào thực hành, vận dụng Chỉ có thể hiểu kĩ, hiểu sâu sắc, hiểu toàn diện khi đem kiến thức đọc được ra thực hành luyện tập và vận dụng vào thực tế đời sống, lao động, học tập Từ đó mới thấy mối quan hệ gắn bó, mật thiết, chặt chẽ của đọc và hiểu Đọc và hiểu luôn đi liền với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau Mặt khác đọc hiểu là xuyên suốt, có mặt trong tất cả các giai đoạn của quá trình khám phá một văn bản văn học
Đọc là hoạt động cơ bản nhất của tiếng Việt, bao gồm các kĩ năng: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm.Trong các kĩ năng đó thì đọc hiểu có vai trò quan trọng nhất Đọc hiểu được phân biệt với các hoạt động khác vì tính nhận thức của nó Đọc là một hoạt động giải mã kí tự và chuyển từ dạng thức chữ viết sang âm thanh Đọc hiểu
là một hoạt động đọc có sự tham gia của ý thức, đọc hiểu chính là hiểu đƣợc nội dung của văn bản, hiểu và đánh giá được ý đồ của tác giả, thấy được giá trị về hình thức của văn bản, hòa đồng và sáp nhập được thông tin vào trong kinh nghiệm sống của bản thân người đọc Hai khái niệm này chỉ phân biệt rõ khi thực hiện các hoạt động dạy trong tiết Đọc còn với cách hiểu thông thường thì được xem như là một vì nếu đọc mà không hiểu những gì mình đang đọc thì chưa gọi là biết đọc Như vậy, hoạt động đọc đó tương ứng như hoạt động đọc hiểu
1.2.5 Năng lực đọc hiểu
Việc hiểu rõ nội dung trong các tác phẩm văn học rất quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập Từ những ngày đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông, việc biết đọc và hiểu văn bản đã trở thành một kỹ năng thiết yếu mà mỗi học sinh cần được trang bị Kỹ năng này không chỉ giúp con người tiếp tục học hỏi và phát triển kiến thức,
kỹ năng trong đời mà còn hỗ trợ họ khi tham gia vào nhiều môi trường và tương tác với nhiều người khác nhau Do đó, việc nâng cao khả năng đọc hiểu là điều cần thiết và nên được ưu tiên trong giáo dục
Để phát triển kỹ năng đọc hiểu, bước đầu tiên mà mỗi HS cần thực hiện là xây dựng thói quen đọc sách hàng ngày Có nhận thức về tầm quan trọng của việc đọc sách
sẽ dẫn đến việc yêu thích và tìm kiếm niềm vui trong việc đọc Khi tình yêu với sách vở
đã được nảy mầm, học sinh sẽ tự giác đọc nhiều hơn, lựa chọn sách phù hợp với sở thích
và khám phá thêm nhiều kiến thức mới mẻ từ sách
Khi học sinh đã phát triển sự yêu thích với việc đọc, nhiệm vụ của giáo viên là cung cấp cho họ những kiến thức và kỹ năng cần thiết để phân tích và hiểu sâu sắc các tác phẩm văn học Điều này sẽ giúp học sinh không chỉ nắm bắt được cách đọc và hiểu văn bản, mà còn biết cách áp dụng những phương pháp đọc hiểu này vào việc nghiên cứu các tác phẩm văn học khác nhau, dù chúng có nằm trong chương trình học hay không
Trang 24Khi học sinh đã thành thạo kỹ năng đọc hiểu, họ có thể áp dụng phương pháp này vào nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống hằng ngày, giúp họ dễ dàng tiếp cận và hiểu biết sâu rộng hơn về các kiến thức khoa học đa dạng Qua việc liên kết những thông tin thu nhận từ sách vở với thực tiễn cuộc sống, học sinh sẽ phát triển tư duy độc lập, sâu sắc, và từ đó, hình thành khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, rõ ràng để truyền đạt ý kiến của mình một cách khoa học và dễ hiểu
Nói về năng lực đọc hiểu, Nguyễn Thanh Hùng đã phân chia thành những kiểu
cụ thể như sau:
Trước hết là kĩ năng đọc chính xác văn bản Đây là kĩ năng đọc hiểu cơ bản nhất,
kĩ năng này là những bước đệm đầu tiên Đọc chính xác là yêu cầu về trí tuệ của nhận thức, nhằm phát hiện ra cái đúng, cái sai Nếu giúp HS rèn luyện kĩ năng này thường xuyên thì sẽ khích lệ các em có niềm tin vào chính bản thân, tin vào giá trị chân thiện
mĩ của tác phẩm văn chương Muốn có được kĩ năng đọc chính xác trong đọc hiểu tác phẩm văn chương, trước hết học sinh cần phải hiểu và nắm vững kiến thức về ngôn từ trong mối quan hệ văn cảnh, trong sự lựa chọn và kết hợp Để củng cố kĩ năng đọc chính xác cho HS, giáo viên nên lưu ý giúp đỡ cho học sinh có thể tự trả lời câu hỏi tại sao nhà văn lại dùng loại từ ấy mà không dùng loại từ khác, tại sao lại vận dụng kiểu câu này mà không dùng kiểu câu kia, tại sao lại kết hợp câu ngắn dài rất khác nhau…
Từ đó mà phán đoán để hiểu được phần ẩn ý của tác phẩm, tìm ra được thông điệp tác giả muốn gửi tới người đọc
Sau kĩ năng đọc chính xác văn bản tác phẩm là kĩ năng đọc phân tích Đọc phân tích là cách mà người đọc xuyên qua lớp vỏ ngôn ngữ để đến với hình tượng nghệ thuật tác phẩm Đọc phân tích là quá trình người đọc phát hiện ra những cái mới lạ của từ, của hình ảnh, của sự kiện, thế giới nội tâm nhân vật thông qua độc thoại và đối thoại trong tác phẩm Khi người đọc thực hiện kĩ năng đọc phân tích trong đọc hiểu tác phẩm văn chương phải lưu ý đến những hình ảnh cảm tính gợi lên bởi những từ được dùng đồng thời người đọc phải theo dõi xem các từ trong mỗi cặp, mỗi cụm nhất định có liên quan với nhau như thế nào Do vậy, để rèn luyện kĩ năng đọc phân tích HS cần quan tâm đến những nét độc đáo, mới lạ của từng kết cấu liên tưởng, tưởng tượng thông qua hình ảnh, biểu tượng cụ thể mà tác giả dùng trong văn bản nhằm truyền đạt ý tưởng
Ngoài kĩ năng đọc chính xác và đọc phân tích thì đọc sáng tạo là kĩ năng rất quan trọng góp phần phát huy khả năng tư duy sáng tạo và phát hiện ra những tri thức mới của học sinh Đọc sáng tạo là khả năng mà học sinh có thể liên hệ những gì đang đọc được trong văn bản với những gì đã được đọc trước đó Lấy đó làm cơ sở để học sinh tự
mở rộng sự hiểu biết của bản thân Đặc biệt đối với văn bản nghệ thuật, khi học sinh đọc sáng tạo còn có thể xác định nghĩa mới cho hình tượng Hay nói cách khác, đối với văn bản nghệ thuật thì người đọc còn có thể tham gia vào sáng tạo văn bản, tìm thêm nghĩa mới cho văn bản Đây gọi là quá trình đồng sáng tạo giữa người đọc và tác giả
Trang 25Đọc sáng tạo để bổ sung thêm những nội dung mới cho tác phẩm, làm giàu có thêm về ý nghĩa xã hội và ý vị nhân sinh cho tác phẩm Đọc sáng tạo có thể giúp người đọc tái hiện lại một cách rõ nét về cuộc đời số phận của nhân vật trung tâm Đồng thời qua đọc sáng tạo, người đọc nhận ra giá trị và ý nghĩa sâu xa của tác phẩm Đọc sáng tạo không bị ràng buộc quá chặt vào câu chữ và vào ngôn từ nghệ thuật Trong đọc sáng tạo, người đọc có thể mở rộng liên tưởng, tưởng tượng, hoặc bám sát hình tượng nghệ thuật để dự đoán về ý đồ nghệ thuật, dự đoán về các giá trị nhân văn được tác giả nhắc đến Khi thực hành kĩ năng đọc sáng tạo, độc giả phải vận dụng tất cả các kĩ năng như đọc trải nghiệm, đọc diễn cảm, đọc thuộc lòng, đọc nhập vai và đọc lại để tìm kiếm nội dung, giá trị mới
Mức độ cao nhất trong đọc hiểu tác phẩm văn chương đó là kĩ năng đọc tích lũy
Kĩ năng đọc tích lũy là kĩ năng đọc nhấn mạnh tính chất, mức độ cao thấp, phức tạp hay đơn giản, khó hay dễ về việc vận dụng đọc hiểu có hiệu quả Đây là mức độ cao trong đọc hiểu, tác động tích cực vào nhân cách toàn diện và văn hóa đọc của cá nhân học sinh Vậy tích lũy ở đây là tích lũy cái gì? Đó chính là việc tích lũy thông tin thẩm mĩ, tích lũy kinh nghiệm nghệ thuật, tích lũy ý nghĩa và thủ pháp tạo sinh ý nghĩa Khi người đọc có thể đọc tích lũy tức là họ có thể rút ra được cốt lõi những gì họ tiếp nhận
Đọc hiểu là một hình thức giao tiếp giữa người đọc và người viết Người
có khả năng đọc hiểu tốt có nghĩa là người đó có khả năng liên kết với văn bản tốt Hiểu được tâm tư, tình cảm mà người viết muốn gửi gắm vào trong tác phẩm, khám phá ý nghĩa nội dung chứa đựng trong tác phẩm và các mối quan hệ ý nghĩa có trong tác phẩm
mà tác giả xây dựng và tổ chức nên Từ đó người đọc có thể sáp nhập các thông tin và
tư tưởng của tác giả với tri thức và kinh nghiệm của bản thân một cách phù hợp, đọc
văn là để cảm, để sống, để thưởng thức, để dùng và để tự phát triển bản thân là vậy
(PGS.TS Nguyễn Thanh Hùng) Biết đọc giúp con người hiểu được thế giới bên trong của người khác, thông hiểu được tư tưởng, tình cảm của người khác
1.2.6 Các dạng bài tập đọc hiểu
1.2.6.1 Yêu cầu chung của bài tập đọc hiểu
Đối với GV, bài tập là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục Đối với HS, bài tập
là một nhiệm vụ cần thực hiện, là một phần nội dung học tập Các bài tập có nhiều hình thức khác nhau, có thể là bài tập miệng, bài tập viết, bài tập ngắn hạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệm đóng hay tự luận mở Bài tập có thể đưa
ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi
Trong quá trình dạy học, bài tập cũng là một dạng đánh giá Để đánh giá học sinh một cách logic, khoa học và có cơ sở, bài tập không thể được đưa ra một cách tùy ý mà phải tuân theo những yêu cầu chung như sau:
- Được trình bày rõ ràng: Mỗi bài tập thường có một bố cục sắp xếp các ý khác nau, do đó khi trình bày nội dung bài tập thì cần chú ý: ý nào xuất hiện trước thì đưa ra
Trang 26trước, ý nào xuất hiện sau thì đưa ra sau, thứ tự các ý phải được sắp xếp trật tự, tạo thành một thể thống nhất giúp người đọc, người chấm hiểu được nội dung truyền tải Việc trình bày rõ ràng giúp học sinh tiếp cận bài tập đó một cách dễ hiểu, dễ khai thác các ý
mà bài tập đề cập để tiến trình giải diễn ra thuận lợi
- Có ít nhất một lời giải: Mỗi bài tập thường có sự khác nhau về số lượng lời giải,
có bài chỉ có một lời giải, có bài lại có hai hoặc nhiều lời giải khác nhau Tuy nhiên cần đảm bảo rằng các bài tập khi giải cần có ít nhất một lời giải, nên chú trọng cách giải ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
- Với những dữ kiện đã cho, học sinh có thể tự giải được: Các dữ kiện trong bài
tập cần đảm bảo rằng học sinh có thể tìm được cách giải thông qua các dữ kiện đó Cần chú trọng dữ kiện phù hợp với tư duy, lối suy nghĩ của học sinh Tránh việc cung cấp các dữ kiện có mức độ tư duy quá cao làm học sinh khó khăn trong việc nhận diện cách giải
- Không thể giải qua đoán mò: Khi xây dựng hệ thống bài tập, người biên soạn
cần chú ý rằng nội dung bài tập cần xuất phát từ lí thuyết đã có trước đó Bài tập cần đảm bảo việc học sinh có thể áp dụng lí thuyết đã học vào việc giải bài tập Khi giải học sinh sẽ liên hệ, suy nghĩ, tìm tòi các kiến thức cũ đã học, từ đó vận dụng một cách chính xác vào việc giải Việc đoán mò khi giải sẽ làm chệch hướng giải của học sinh, làm kết
quả cuối cùng không chính xác
a Phân loại theo chức năng
Theo chức năng lý luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: Bài tập học và bài tập đánh giá (thi, kiểm tra):
- Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức mới,
chẳng hạn các bài tập về một tình hướng mới, giải quyết bài tập này để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học
- Bài tập đánh giá: Là các kiểm tra ở lớp do GV ra đề hay các đề tập trung như
kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển
Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểm tra Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập học tập dưới dạng học khám phá có thể giúp HS nhiều hơn trong làm quen với việc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức
b Phân loại theo tính chất đóng mở
Theo dạng của câu trả lời của bài tập “mở” hay “đóng”, có các dạng bài tập sau:
- Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự trình
bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trong loại bài tập này, GV đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án có thể lựa chọn
- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả GV và
HS (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là “mở” Chẳng hạn GV đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, HS cần tự bình luận, thảo luận về đề
Trang 27tài đó Các đề bài bình luận văn học không yêu cầu học theo mẫu, HS tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận của mình là các ví dụ điển hình về bài tập mở
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của các cá nhân và không có một lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề Tính độc lập và sáng tạo của HS được chú trọng trong việc làm dạng bài tập này Tuy nhiên, bài tập mở cũng có những giới hạn như có thể khó khăn trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sức hơn khi xây dựng và đánh giá cũng không phù hợp với mọi nội dung dạy học Trong việc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình
Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các bài tập mở gắn với thực tiễn còn
ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập mở là hình thức bài tập có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực HS Trong dạy học và kiểm tra đánh giá giai đoạn tới, GV cần kết hợp một cách thích hợp các loại bài tập để đảm bảo giúp HS nắm vững kiến thức,
kỹ năng cơ bản và năng lực vận dụng trong các tình huống phức hợp gắn với thực tiễn
c Phân loại theo hình thức
Theo cách thức thực hiện bài tập của học sinh, bài tập có thể phân chia theo 2 dạng là trắc nghiệm khách quan và tự luận
- Trắc nghiệm khách quan (tên tiếng Anh là Objective test) là phương pháp dùng
để kiểm tra nhanh kiến thức, kỹ năng của người nào đó qua các loại câu hỏi Thường gọi ngắn gọn là trắc nghiệm, được sử dụng khá phổ biến trong những năm trở lại đây kể
cả trong ngành giáo dục và các ngành khác trong nền kinh tế Đối với loại này, người học sẽ phải trải qua rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề và thông tin cần thiết
để trả lời một cách ngắn gọn Có các loại trắc nghiệm khách quan như:
Đúng sai
Câu hỏi lựa chọn đáp án A, B, C, D
Câu hỏi ghép đôi
Câu hỏi điền từ thích hợp vào chỗ trống
- Tự luận: Thường được sử dụng trong trường học từ khá lâu Đối với loại này,
người học sẽ trả lời các câu hỏi theo dạng đề mở, tức là bắt buộc người học phải trình bày theo ý kiến riêng của mình để giải quyết câu hỏi đưa ra
1.2.6.2 Các dạng bài tập đọc hiểu thường gặp
Sau khi chương trình giáo dục phổ thông 2018 được triển khai và thực hiện với
3 bộ sách được lựa chọn giảng dạy trong các nhà trường Tiểu học, chúng tôi nhận thấy rằng có rất nhiều các loại sách bài tập và sách tham khảo trên thị trường có đa dạng các loại bài tập đọc hiểu Dưới đây chúng tôi liệt kê một số dạng bài tập đọc hiểu thường gặp trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
- Bài tập đọc hiểu hình thức văn bản
Trang 28- Bài tập đọc hiểu nội dung văn bản
- Bài tập đọc hiểu cả nội dung và hình thức văn bản
1.2.7 Xây dựng hệ thống bài tập
Bài tập là việc học sinh tái hiện lại kiến thức đã học dựa trên các nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao cho, việc thực hiện các nhiệm vụ học tập cần tuân thủ đúng nội dung của bài học Việc hoàn thành bài giúp học sinh củng cố lại kiến thức đã học, rèn khả năng tư duy khi giải bài, phát triển tính tự giác, kiên trì của học sinh Hệ thống bài tập là tập hợp các bài tập theo một trật tự nhất định, trong đó giữa các bài tập có mối liên hệ với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của bài học, giờ học và môn học
Xây dựng hệ thống bài tập là quá trình nghiên cứu thu nhập thông tin, biên tập
và thiết kế các bài tập và thiết kế các bài tập đảm bảo theo một quy trình chặt chẽ, phù hợp với logic của nội dung môn học, bài học nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập, chúng ta sẽ có được một lượng bài tập phong phú và đa dạng đáp ứng được nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh
1.3 Đặc điểm bài tập đọc hiểu cho học sinh tiểu học
Bài tập định hướng phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học có những đặc điểm sau:
- Bài tập cần có độ khó khác nhau, mô tả yêu cầu về tri thức, kĩ năng, định hướng theo kết quả đầu ra
- Bài tập liên kết nội dung học tập qua các năm học, giúp nhận biết được sự phát triển năng lực của học sinh
- Bài tập khuyến khích cá nhân, giúp tăng tinh thần trách nhiệm với việc học của bản thân, giúp người học có cơ hội học tập từ chính những sai lầm của mình
- Bài tập giúp học sinh luyện tập để đảm bảo những kiến thức cơ bản
- Bài tập giúp tăng cường năng kucjw xã hội thông qua làm việc nhóm
- Bài tập giúp kết nối kinh nghiệm đời sống, phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề
- Bài tập nuôi dương sự đa dạng các giải pháp, bài tập đặt vấn đề mở, bài tập giúp học sinh độc lập tìm hiểu, tạo không gian cho các ý tưởng thường
- Bài tập có các con đường tiếp cận khác nhau, bài tập giúp phân hóa bên trong, găn với tình huống và bối cảnh
Từ những yêu cầu về bài tập định hướng phát triển năng lực cho học sinh, có thể xây dựng bài tập theo các dạng như sau:
+ Bài tập nhận biết, tái hiện: Yêu cầu học sinh hiểu và tái hiện tri thức
+ Bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình huống không thay đổi Với các bài tập này chỉ nhằm củng cố kiến thức và rèn kĩ năng cơ bản cho học sinh chứ chưa đòi hỏi sự sáng tạo
Trang 29+ Bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề Đối với dạng bài tập này, đòi hỏi người học phải có sự sáng tạo
+ Bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập này cần chú ý gắn với bối cảnh và tình huống thực tiễn Những bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho nhiều các tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
1.4 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 2
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Vì vậy, có thể nói, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự phát triển tâm lý học sinh tiểu học
Lứa tuổi học sinh tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội, sống và phát triển trong nền văn minh nhà trường Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học
là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các
em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội Theo các nhà tâm lí học, lứa tuổi học sinh tiểu học chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu cấp (lớp 1, 2, 3)
- Giai đoạn cuối cấp (lớp 4, 5)
Giai đoạn đầu cấp tiểu học (lớp 1, 2, 3), giai đoạn mà học sinh còn thiên về tư duy
cụ thể, cảm tính
1.4.1 Tri giác
Trong độ tuổi này, các em bắt đầu hiểu thế giới xung quanh thông qua việc sử dụng các giác quan của mình, đặc biệt là thị giác Một số đặc điểm về tri giác của học sinh lớp 2:
- Năng lực đọc và viết
Trong quá trình học đọc và viết, tri giác đóng vai trò giúp các em em nhận biết
và phân biệt các ký tự, từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ Học sinh lớp 2 đã phát triển khả năng nhận biết chữ cái và từ vựng thông qua quá trình học chơi và các hoạt động giáo dục khác Các em đã học cách kết hợp các âm thanh với các ký tự để tạo thành từ, từ đó giúp các em hiểu được ý nghĩa của từ ngữ và cách sử dụng chúng trong ngữ cảnh Bên cạnh đó, việc nhận biết và sử dụng các biểu đồ đơn giản cũng giúp các em phát triển khả năng tổ chức và phân loại thông tin, từ đó hỗ trợ quá trình học đọc và viết Các biểu đồ như sơ đồ tư duy, biểu đồ hay biểu đồ cây có thể giúp các em hiểu rõ hơn về mối quan
hệ giữa các ý tưởng và thông tin, từ đó hỗ trợ việc học và ghi nhớ kiến thức Ngoài ra, khả năng viết các chữ cái và từ một cách rõ ràng và chính xác cũng là một kỹ năng quan trọng mà học sinh lớp 2 cần phát triển Quá trình học đọc và viết cũng yêu cầu sự chú ý
Trang 30và tập trung của các em Việc học cách ngồi yên, tập trung vào bài học và làm việc một cách có hệ thống là những kỹ năng quan trọng mà các em cần phát triển trong giai đoạn này
- Năng lực tập trung và quan sát
HS ở độ tuổi này thường đã phát triển khả năng tập trung cao hơn, điều này giúp
HS có thể quan sát và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh một cách hiệu quả hơn Khi tập trung, HS có thể hấp thụ kiến thức một cách tốt nhất, giúp tăng cường khả năng nhận thức và hiểu biết về thế giới xung quanh Việc tập trung cao độ còn giúp các em tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, đồng thời thể hiện sự quan tâm đối với các chi tiết HS có thể dành thời gian nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về các chủ đề mà chúng quan tâm, từ đó phát triển khả năng tư duy phê phán và giải quyết vấn đề Khả năng tập trung cũng giúp các em phát triển kỹ năng lắng nghe và quan sát, là những kỹ năng quan trọng trong quá trình học và giao tiếp Khi HS lắng nghe và quan sát kỹ, các
em sẽ hiểu được ý nghĩa của các từ ngữ và hành động, từ đó phản ánh và phản hồi một cách phù hợp Ngoài ra, khả năng tập trung còn giúp các em phát triển kỹ năng tự quản
lý và tự kiểm soát HS sẽ học được cách kiên nhẫn và kiên trì trong việc đạt được mục tiêu của mình, đồng thời học được cách tự chủ và tự quyết định Bên cạnh việc phát triển khả năng tập trung, việc tạo ra một môi trường học tập phải đảm bảo sự yên tĩnh và thoáng đãng, giúp các em có thể tập trung hoàn toàn vào bài học của mình Ngoài ra, việc đặt ra các mục tiêu hợp lý và phù hợp với khả năng cũng là cách tốt để khuyến khích sự tập trung và hỗ trợ quá trình học tập của các em Việc sử dụng các phương pháp giáo dục sáng tạo cũng là cách hiệu quả để nâng cao khả năng tập trung của các
em Các phương pháp giáo dục này có thể bao gồm việc sử dụng các trò chơi giáo dục, các hoạt động nghệ thuật và âm nhạc, cũng như các bài học tương tác và thú vị
Học sinh lớp 2 đã phát triển khả năng so sánh và phân loại thông tin dựa trên các đặc điểm chung, giúp tổ chức thông tin một cách có hệ thống và hiệu quả Khi được tiếp xúc với một lượng thông tin mới, các em có khả năng phân loại và sắp xếp chúng theo các tiêu chí nhất định, từ đó tạo nên một hình ảnh rõ ràng và dễ hiểu trong tâm trí Khả năng này cũng giúp các em nhận biết và hiểu được mối quan hệ giữa các đối tượng và
sự kiện khác nhau Các em đã bắt đầu chuyển từ việc học một cách thụ động sang việc học một cách chủ động, từ việc nhận thức đơn thuần sang việc phân tích và tổng hợp
Trang 31thông tin HS không chỉ đơn giản là tiếp nhận kiến thức từ giáo viên và sách vở, mà còn biết cách tìm kiếm, xử lý, và áp dụng kiến thức đó vào thực tế
Một đặc điểm nổi bật của tư duy ở học sinh lớp 2 là sự sáng tạo và tò mò, là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện Với bản chất tò mò, các em thích khám phá và tìm hiểu về thế giới xung quanh mình Các em thường đặt ra hàng loạt câu hỏi như "Tại sao bầu trời lại xanh?", "Làm thế nào mà cây cối có thể mọc lên từ hạt giống?",
đó là cách các em tìm kiếm kiến thức và hiểu biết về môi trường sống của mình Bên cạnh đó, khả năng sáng tạo của các em cũng được biểu hiện rõ nét qua việc sử dụng trí tưởng tượng để tạo ra các câu chuyện, hình ảnh, và thế giới riêng Các em có thể vẽ nên những bức tranh đầy màu sắc, sáng tạo ra những câu chuyện phong phú với các nhân vật và tình tiết độc đáo Điều này không chỉ giúp các em phát triển khả năng nghệ thuật
và ngôn ngữ, mà còn là phương tiện giúp các em thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình Môi trường học tập tích cực, sáng tạo và khuyến khích sự tò mò sẽ giúp kích thích khả năng tư duy của các em, giúp các em mở rộng tầm nhìn và phát triển tư duy phê phán Sự hỗ trợ từ gia đình và giáo viên cũng đóng một vai trò trong việc phát triển khả năng tư duy của các em
1.4.3 Về tưởng tượng
Ở độ tuổi này, các em đã bắt đầu phát triển khả năng tưởng tượng từ những trải nghiệm và kiến thức các em học được từ môi trường xung quanh Từ những câu chuyện ngắn mà giáo viên kể hay những hình ảnh mà các em được tiếp xúc, các em có thể tạo
ra một thế giới tưởng tượng riêng biệt, với những nhân vật, môi trường và sự kiện độc đáo
Trong thế giới tưởng tượng của học sinh lớp 2, không giới hạn trong khuôn khổ thực tế, mở ra một không gian vô cùng rộng lớn cho các em thỏa sức sáng tạo Trong thế giới tưởng tượng, các em có thể điều khiển mọi thứ, từ thời gian, không gian, đến các nhân vật và sự kiện Đặc biệt, trong những trò chơi tưởng tượng, các em thường kết hợp nhiều yếu tố khác nhau từ thế giới xung quanh, từ đó tạo nên những câu chuyện mới
mẻ và phong phú Bên cạnh đó, thế giới tưởng tượng của học sinh lớp 2 còn là nơi các
em thể hiện cảm xúc của mình Khi vui, các em có thể tạo ra những câu chuyện hạnh phúc, vui nhộn; khi buồn, các em có thể sử dụng tưởng tượng để tạo ra một không gian
an ủi, giúp các em vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Đối với giáo viên và phụ huynh, việc hiểu và tôn trọng thế giới tưởng tượng của các em là rất cần thiết Điều này không chỉ giúp các em phát triển tốt hơn về mặt tư duy sáng tạo, mà còn giúp các em tự tin hơn, dám thể hiện bản thân mình Việc khuyến khích các em sáng tạo, thể hiện tưởng tượng của mình qua vẽ, viết lách hay kể chuyện là cách tốt để phát triển khả năng tưởng tượng và sự tự tin của các em
Một đặc điểm nổi bật khác của tưởng tượng ở học sinh lớp 2 là khả năng liên kết thông tin Ví dụ, sau khi học về động vật trong giờ khoa học và nghe về câu chuyện thần tiên trong giờ văn, các em có thể tạo ra một câu chuyện về một con hổ biết bay và có
Trang 32khả năng phép thuật Điều này cho thấy khả năng tưởng tượng của các em không chỉ là một thế giới riêng biệt, mà còn là một công cụ giúp các em liên kết và tổ chức thông tin một cách sáng tạo Các em không chỉ đơn giản là kết hợp những kiến thức được học mà còn biến chúng thành những câu chuyện mới lạ và phong phú, giúp các em dễ dàng nhớ
và hiểu bài học hơn Ví dụ, các em có thể kết hợp những kiến thức về thực vật, động vật
và thời tiết để tạo ra một câu chuyện về một khu rừng kỳ bí, nơi cây cối và động vật có thể nói chuyện và cùng nhau bảo vệ khu rừng khỏi những nguy hiểm Hoặc các em có thể kết hợp những kiến thức về lịch sử và địa lý để tạo ra một câu chuyện về một cuộc phiêu lưu xuyên qua thời gian và không gian, khám phá những nền văn minh cổ đại và những vùng đất xa xôi
Một môi trường học tập nơi mà các em được tự do thể hiện ý kiến, sáng kiến và tưởng tượng của mình sẽ làm tăng khả năng sáng tạo và phát triển tư duy của các em Các hoạt động như vẽ, làm đồ thủ công, chơi trò chơi tưởng tượng, và đọc sách cũng giúp kích thích trí tưởng tượng và sự sáng tạo của các em
và nhanh nhẹn trong quá trình học tập Tuy nhiên, việc ghi nhớ nhanh chóng này cũng
có một số hạn chế Các em thường chỉ ghi nhớ được thông tin trong một khoảng thời gian ngắn nếu không có sự lặp lại và ôn tập Điều này đặt ra một thách thức cho cả giáo viên và phụ huynh trong việc giúp các em duy trì và củng cố kiến thức đã học Một phương pháp hiệu quả để giúp các em củng cố kiến thức là thông qua việc áp dụng phương pháp học tương tác và thực hành Việc thực hành và áp dụng kiến thức vào thực
tế sẽ giúp các em củng cố và lưu giữ thông tin trong trí nhớ dài hạn Bên cạnh đó, việc tạo ra một môi trường học tập tích cực và khích lệ các em tham gia vào các hoạt động nhóm cũng sẽ giúp tăng cường khả năng ghi nhớ của các em Qua các hoạt động nhóm, các em có cơ hội chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm học tập, từ đó tăng cường khả năng ghi nhớ và hiểu biết
HS ở lứa tuổi này thường dễ dàng ghi nhớ thông qua trải nghiệm thực tế và trực quan hơn là thông qua việc nghe giảng Khả năng xử lý thông tin và ghi nhớ của các em chưa phát triển hoàn thiện, nên việc trực quan hóa thông tin sẽ giúp các em dễ dàng hình dung và ghi nhớ hơn Các hoạt động thực tế và trải nghiệm cụ thể giúp các em gắn kết kiến thức với thế giới xung quanh mình, từ đó tạo ra những liên kết vững chắc giữa kiến thức và trải nghiệm, giúp kiến thức được lưu giữ trong trí nhớ dài hạn Ngoài ra, việc sử dụng các phương tiện truyền thông như hình ảnh, video và trò chơi giáo dục cũng là cách tốt để kích thích sự tò mò và hứng thú của các em, từ đó giúp các em tập trung và
Trang 33ghi nhớ tốt hơn Các phương tiện này cung cấp cho các em những trải nghiệm học tập phong phú và đa dạng, giúp các em phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của mình Việc sử dụng các kỹ thuật học nhóm cũng là phương pháp hiệu quả để cải thiện trí nhớ của các em Qua các hoạt động nhóm, các em có thể chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm học tập với bạn bè, từ đó giúp tăng cường khả năng ghi nhớ và hiểu biết Ngoài ra, việc kết hợp giữa học và chơi cũng là phương pháp tốt để tăng cường trí nhớ của các em Trò chơi giáo dục không chỉ giúp các em giải trí, mà còn giúp các em phát triển các kỹ năng như tư duy phê phán, sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề Tất cả những yếu tố này đều đóng góp vào việc cải thiện trí nhớ của các em
Trí nhớ tại lứa tuổi này còn liên quan chặt chẽ đến cảm xúc Sự kết hợp giữa cảm xúc và thông tin có sức mạnh đặc biệt trong việc củng cố trí nhớ của các em Khi các
em cảm thấy hứng thú và thích thú với một hoạt động hay sự kiện, khả năng ghi nhớ của các em cũng sẽ tăng lên đáng kể Điều này là do khi các em có cảm xúc tích cực, não bộ của các em sẽ được kích thích và tạo ra các liên kết mạnh mẽ giữa thông tin và cảm xúc, giúp các em nhớ lâu hơn Ngược lại, những trải nghiệm tiêu cực cũng có thể gây ấn tượng mạnh mẽ và được ghi nhớ lâu dài Tuy nhiên, việc gắn kết thông tin với cảm xúc tiêu cực có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến tinh thần và tư duy của các em,
vì vậy, việc tạo ra một môi trường học tập tích cực và khuyến khích sự hứng thú, niềm vui là vô cùng cần thiết Ngoài ra, việc kể chuyện cũng là một cách hiệu quả để gắn kết thông tin với cảm xúc Khi các em nghe một câu chuyện hấp dẫn, não bộ của các em sẽ tạo ra các hình ảnh và liên kết thông tin với cảm xúc, từ đó giúp các em nhớ lâu hơn Điều này giải thích tại sao các truyện cổ tích và câu chuyện dân gian lại có sức hấp dẫn đặc biệt với các em em
Hoạt động tương tác đóng vai trò trong việc phát triển trí nhớ của học sinh lớp 2 Trò chơi giáo dục, đố vui, câu đố không chỉ là phương pháp học tập thú vị mà còn giúp các em kích thích trí óc, phát triển khả năng tư duy và ghi nhớ thông tin hiệu quả Những hoạt động này tạo điều kiện cho các em học mà chơi, chơi mà học, từ đó hình thành tình yêu với việc học Các trò chơi giáo dục thường được thiết kế để phát triển kỹ năng nhận thức, tăng cường trí nhớ và cải thiện sự tập trung của các em Qua các trò chơi, các em
có thể rèn luyện sự nhạy bén trong việc quan sát, phân loại và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác Điều này giúp các em có khả năng ghi nhớ và tái tạo thông tin khi cần thiết
1.4.5 Về ngôn ngữ
Đây là giai đoạn mà khả năng ngôn ngữ của các em phát triển mạnh mẽ Vốn từ vựng của các em được mở rộng nhanh chóng, các em bắt đầu sử dụng các từ ngữ phức tạp và câu cấu trúc đa dạng hơn Các em không chỉ diễn đạt ý của mình thông qua lời nói mà còn bằng cách sử dụng ngôn ngữ cơ thể, ánh mắt và biểu cảm khuôn mặt
Điều này giúp các em thể hiện được sự giàu có của ngôn ngữ và khả năng giao tiếp tinh tế, đồng thời tăng cường khả năng hiểu và đồng cảm với người khác Các em
Trang 34cũng bắt đầu nhận thức được về cấu trúc ngôn ngữ và có khả năng tạo ra những câu chuyện, bài thơ hay bài hát của riêng mình Sự sáng tạo này được thể hiện qua việc kết hợp các từ vựng, cấu trúc ngữ pháp và ý tưởng một cách linh hoạt và phong phú Hơn nữa, khả năng nghe hiểu của các em cũng phát triển mạnh mẽ Các em có khả năng theo dõi và hiểu được nội dung của những câu chuyện dài hơn, có cấu trúc phức tạp hơn, và
có thể trả lời những câu hỏi liên quan đến nội dung đó Điều này giúp các em tăng cường khả năng tư duy phê phán và phản xạ nhanh nhạy trong giao tiếp
HS cũng bắt đầu biết cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình một cách rõ ràng và chính xác hơn Khả năng này không chỉ giúp các em diễn đạt được suy nghĩ và cảm xúc của mình mà còn giúp các em phát triển kỹ năng lắng nghe và thấu hiểu người khác Khi các em kể chuyện hay miêu tả một sự kiện, các em
sẽ học cách chú ý đến phản ứng của người nghe, từ đó điều chỉnh cách diễn đạt của mình cho phù hợp và dễ hiểu hơn Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt cảm xúc còn giúp các em phát triển khả năng tự nhận thức và kiểm soát cảm xúc của mình Các em
sẽ học cách nhận biết và đặt tên cho cảm xúc của mình, từ đó tìm ra cách thích hợp để
xử lý và chia sẻ cảm xúc đó với người khác Với khả năng kể chuyện và miêu tả sự kiện, các em cũng học được cách sắp xếp thông tin và tạo ra một câu chuyện có logic và hấp dẫn Điều này giúp các em phát triển kỹ năng tư duy logic, khả năng tập trung và trí tưởng tượng phong phú
Việc sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian và không gian còn giúp các em phát triển khả năng hình dung và hiểu biết về môi trường xung quanh Các em sẽ học được cách
mô tả một địa điểm, một sự kiện hay một hoạt động mà các em đã tham gia, từ đó tăng cường khả năng ghi nhớ và liên kết thông tin Khả năng nghe hiểu của các em cũng phát triển đáng kể Các em có thể hiểu và theo dõi câu chuyện, hướng dẫn hay bài giảng dài hơn, và đồng thời có thể trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung mà các em đã nghe được Việc phát triển khả năng ngôn ngữ giúp các em có thể tham gia hiệu quả vào các hoạt động học tập và giao tiếp trong trường học cũng như trong cuộc sống hàng ngày
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mỗi các em phát triển ngôn ngữ với tốc độ khác nhau, và một số các em có thể cần thêm sự hỗ trợ và thời gian để phát triển khả năng này Việc tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích các em thể hiện ý kiến của mình và cung cấp những cơ hội để các em thực hành và phát triển khả năng ngôn ngữ là rất quan trọng
1.4.6 Về chú ý
Giai đoạn này là lúc các em bắt đầu phát triển khả năng chú ý và tập trung cao
độ Tuy nhiên, khả năng này vẫn còn hạn chế và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như môi trường, tâm trạng và sức khỏe của các em
Về mặt thời gian, học sinh lớp 2 thường có khả năng tập trung chú ý trong thời gian ngắn, khoảng từ 15-20 phút Điều này cũng giải thích tại sao việc chia nhỏ bài học thành các phần ngắn, dễ tiếp cận lại rất hiệu quả đối với học sinh lớp 2 Việc này giúp
Trang 35các em không cảm thấy quá áp đặt và giữ cho sự tập trung của các em không bị giảm sút quá nhanh Một kỹ thuật hay được giáo viên áp dụng là kết hợp việc giảng dạy với các hoạt động tương tác, như trò chơi hay bài tập nhóm, để giữ cho tinh thần của các em luôn tỉnh táo và quan tâm Đồng thời, việc đưa ra những ví dụ thực tế và gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em cũng là một cách giúp tăng cường sự quan tâm và tập trung Khi các em có thể thấy được liên hệ giữa bài học và thế giới xung quanh, các em
sẽ dễ dàng hứng thú và tìm hiểu sâu hơn Tuy nhiên, các giáo viên và phụ huynh cần nhận biết và đánh giá đúng lúc nên dừng lại, cho các em một khoảng thời gian nghỉ ngơi, sau đó mới tiếp tục Việc này không chỉ giúp các em phục hồi năng lượng và tập trung tốt hơn mà còn giúp tránh cảm giác mệt mỏi, căng thẳng từ việc học
Các em còn dễ bị phân tâm bởi các yếu tố môi trường xung quanh như tiếng ồn, ánh sáng chói chang do đó, bất kỳ sự kiện hoặc vật dụng nào không liên quan đến bài học cũng có thể trở thành nguồn phân tâm cho các em Điều này yêu cầu giáo viên và phụ huynh phải chú ý đến việc sắp xếp và quản lý không gian học tập của các em sao cho phù hợp và không có những yếu tố phân tâm không cần thiết Ngoài ra, việc thiết lập các quy tắc rõ ràng về hành vi và thái độ trong lớp học cũng là một yếu tố cần thiết Các quy tắc này sẽ giúp các em biết được mình cần phải làm gì và không được làm gì khi ở trong lớp, từ đó giảm thiểu sự xao nhãng và tăng cường sự tập trung
Các hoạt động ngoại khóa và giải lao cũng đóng vai trò trong việc giúp các em giảm mệt mỏi và tăng cường khả năng tập trung Việc cho các em thời gian để vận động, chơi đùa và giao tiếp với bạn bè sẽ giúp các em phục hồi năng lượng và sẵn sàng cho việc học
Bên cạnh đó, việc khen ngợi và khích lệ các em khi các em tập trung và hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng là một cách hiệu quả để tăng cường khả năng tập trung của các
em Sự khen ngợi sẽ tạo cho các em động lực và tăng cường niềm tin vào khả năng của bản thân, từ đó giúp các em tự tin và tập trung hơn vào việc học Các em còn thể hiện
sự tập trung chú ý tốt hơn khi được tham gia vào các hoạt động giáo dục có tính tương tác và giải quyết vấn đề Những trò chơi giáo dục, câu đố và bài tập thực hành sẽ kích thích sự tò mò, sự sáng tạo và khả năng tập trung của các em
1.5 Các phương pháp dạy học đọc hiện nay ở cấp Tiểu học
1.5.1 Phương pháp dạy học đọc tích hợp
Một trong những phương pháp phổ biến hiện nay là phương pháp dạy đọc tích hợp, việc học đọc không còn là việc ngồi lặng im và đọc sách một cách tĩnh tại Trái lại, học sinh được khuyến khích tham gia vào các hoạt động thú vị và sáng tạo, giúp kết nối kiến thức đọc với thế giới xung quanh mình Bài học đọc trở nên sinh động và gần gũi hơn, qua đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hứng thú
Ví dụ: Khi học bài thơ: ”Gọi bạn” (Sách Tiếng Việt 2 – Tập 1- Tr 79 – Bộ sách
Kết nối tri thức với cuộc sống) ngoài việc giảng dạy cho học sinh hiểu về tình bạn của
Trang 36Bê Vàng và Dê Trắng, giáo viên có thể kết hợp giới thiệu thêm về nơi sống và tập tính của hai loài động vật này Giúp học sinh không chỉ rèn luyện khả năng đọc hiểu mà còn
mở rộng kiến thức về đời sống và sinh học của động vật
Phương pháp dạy đọc tích hợp không chỉ giúp học sinh phát triển khả năng ngôn ngữ mà còn tăng cường kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm Qua việc làm việc cùng bạn bè trong các dự án và hoạt động nhóm, học sinh học cách trao đổi ý kiến, chia sẻ thông tin và tôn trọng ý kiến của người khác Điều này tạo ra một môi trường học tập cộng tác, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm cần thiết cho tương lai của họ
Bên cạnh đó, việc tích hợp nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động sáng tạo khác vào bài học đọc cũng là một phần quan trọng của phương pháp này Những hoạt động này không chỉ làm phong phú thêm bài học mà còn giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo và tưởng tượng
1.5.2 Phương pháp dạy học đọc qua trò chơi và hoạt động vui chơi
Một phương pháp khác là phương pháp dạy đọc qua trò chơi và hoạt động vui chơi và lòng tò mò, giúp các em học mà không cảm thấy áp lực hay nhàm chán Các trò chơi và hoạt động vui chơi không chỉ giúp các em rèn luyện khả năng ngôn ngữ, mà còn phát triển kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng làm việc nhóm
Trò chơi học tập thường được tổ chức khi luyện đọc hoặc đọc diễn cảm, luyện học thuộc lòng Tùy thời gian và điều kiện cho phép, giáo viên lựa chọn trò chơi học tập thích hợp để tổ chức cho học sinh tham gia Ví dụ: thi đọc nối tiếp từng đoạn (theo nhóm, tổ), đọc truyền điện thì tìm nhanh – đọc đúng; nhìn một từ đọc cả câu hoặc nhìn một câu đọc cả đoạn; nghe đọc đoạn – đoán tên bài; thi đọc truyện theo vai; thả thơ; đố vui
Trò chơi ”đố vui” giúp các em rèn luyện khả năng đọc hiểu và từ vựng Qua việc trả lời các câu hỏi, các em được kích thích tư duy và mở rộng kiến thức của mình Câu
đố không chỉ giúp các em học từ vựng mới, mà còn rèn luyện khả năng suy luận và tư
duy logic Ví dụ: Khi học bài: ”Vè chim” (Sách Tiếng Việt 2 – Tập 2- Tr 39 – Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), giáo viên sử dụng trò chơi đố vui về đặc điểm, hình
dáng, tính cách của các loài chim để học sinh đoán được tên loài chim Từ đó khắc ghi được bài đọc, kích thích khả năng tư duy và ghi nhớ ở học sinh
Trò chơi ”thả thơ” giáo viên viết vào phiếu câu thơ đầu (hoặc giữa) ở mỗi khổ thơ, hoặc 1 – 2 từ đầu của mỗi câu thơ Mỗi lượt chơi gồm 2 nhóm và số người bằng số phiếu, mỗi nhóm cử ra 2 nhóm trưởng bốc thăm để giành quyền thả thơ trước Mỗi em trong nhóm cầm 1 tờ phiếu (giữ kín) Giáo viên hô ”bắt đầu” nhóm được thả thơ trước
cử một người thả ra 1 tờ phiếu cho một người nhóm kia Bạn nhận được phiếu phải đọc
cả câu thơ hoặc cả khổ thơ có câu từ ghi trên phiếu Nếu đọc đúng thì tính 1 điểm Đổi
Trang 37nhóm tương tự như trên Ví dụ: Bài Cánh cửa nhớ bà (Sách Tiếng Việt 2 – Tập 1- Tr
123 – Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), sau khi học xong giáo viên tổ chức cho
học sinh thi thả thơ bằng những tờ phiếu ghi các từ đầu của mỗi dòng thơ Qua trò chơi giúp học sinh nhớ và thuộc được bài thơ Bên cạnh đó còn tạo không khí lớp học vui vẻ, học sinh cảm thấy giờ học không còn nhàm chán
Hoạt động kể chuyện và đọc thơ là cách tuyệt vời để các em phát triển khả năng nghe hiểu và kể chuyện Các em được thưởng thức vẻ đẹp của ngôn từ, cảm nhận được nhịp điệu và âm điệu của thơ ca Đồng thời, kể chuyện giúp các em phát triển khả năng tưởng tượng và sáng tạo, rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ và phát triển kỹ năng giao tiếp
Ngoài ra, việc kết hợp các yếu tố nghệ thuật như vẽ, múa, và âm nhạc trong các hoạt động đọc cũng là một phần quan trọng của phương pháp này Các hoạt động nghệ thuật không chỉ giúp các em phát triển khả năng sáng tạo, mà còn giúp các em thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình một cách tự do và sáng tạo
Việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy cũng là một phương pháp hiệu quả Các ứng dụng và trò chơi giáo dục trên máy tính, máy tính bảng có thể giúp các em phát triển kỹ năng đọc và ngôn ngữ một cách hiệu quả Việc sử dụng các phần mềm và ứng dụng giáo dục giúp các em tiếp cận với ngôn ngữ và văn học một cách mới lạ và thú vị,
từ đó tạo ra động lực và hứng thú cho việc học
Việc khuyến khích đọc sách và tạo điều kiện để các em tiếp cận với thư viện và sách vở là một phần của quá trình dạy học đọc Việc đọc sách không chỉ giúp các em phát triển khả năng ngôn ngữ mà còn mở rộng kiến thức, phát triển tư duy và trí tưởng tượng Sự yêu thích đọc sách sẽ là nền tảng vững chắc để các em phát triển khả năng đọc hiểu và yêu thích học tập suốt đời
1.6 Thực trạng về việc dạy học đọc ở cấp Tiểu học
1.6.1 Khái quát giới thiệu về trường Tiểu học Phan Ngọc Nhân và trường Tiểu học Nguyễn Phan Vinh
1.6.1.1 Thông tin về trường tiểu học Phan Ngọc Nhân
Trường Tiểu học Phan Ngọc Nhân thuộc phường Điện Nam Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thành lập năm 2007, diện tích 5232m2 Nhà trường được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất tương đối khang trang
Năm học 2021 – 2022 trường có 52 cán bộ giáo viên, nhân viên; 30 lớp học với
1056 học sinh Hàng năm, nhà trường có giáo viên đạt danh hiệu 3 Chiến sỹ thi đua, 49 Lao động Tiên tiến, 4 giáo viên được khen thành tích giáo viên dạy giỏi cấp thị xã Trong
2 năm học gần đây nhà trường liên tục được Ủy ban nhân dân thị xã công nhận là Tập thể lao động tiên tiến Nhìn chung về cơ bản Trường TH Phan Ngọc Nhân đảm bảm yêu cầu về mọi mặt; kết quả đánh giá chất lượng dạy và học có nhiều chuyển biến tích cực so với yêu cầu đặt ra
Trường Tiểu học là Phan Ngọc Nhân nơi đào tạo và giáo dục học sinh từ 6 đến 11 tuổi, trước khi họ bước vào giai đoạn học cấp 2 Trường Tiểu học đóng vai trò quan
Trang 38trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam, đó là giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp học tập của học sinh
1.6.1.2 Thông tin về trường tiểu học Nguyễn Phan Vinh
Trường Tiểu học Nguyễn Phan Vinh thuộc phường Điện Nam Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thành lập năm 2000, diện tích 5863m2 Nhà trường được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất tương đối khang trang
Năm học 2021 – 2022 trường có 49 cán bộ giáo viên, nhân viên; 29 lớp học với
1024 học sinh Hàng năm, nhà trường có 4 giáo viên đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua, 43 giáo viên đạt danh hiệu Lao động Tiên tiến Trong 2 năm học gần đây nhà trường liên tục được Ủy ban nhân dân thị xã công nhận là Tập thể lao động tiên tiến
Tại trường không chỉ đào tạo học sinh về các kiến thức cơ bản mà còn rèn luyện
họ về các kỹ năng mềm và tư duy Các hoạt động giáo dục và rèn luyện thường được tổ chức để giúp học sinh phát triển các kỹ năng này
Các hoạt động giáo dục và rèn luyện bao gồm: tham gia các câu lạc bộ, đội, nhóm; thi đấu thể thao; tham gia các chương trình ngoại khóa, cắm trại; học các kỹ năng giao tiếp và khả năng hợp tác
1.6.2 Quá trình nghiên cứu thực trạng
1.6.2.1 Mục đích khảo sát
Việc khảo sát được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng xây dựng hệ thống bài tập đọc cho học sinh lớp 2 (Theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) Kết quả thu được sẽ là một trong những căn cứ để đề xuất những biện pháp khắc phục những tồn tại của dạy và học đọc ở lớp 2 hiện nay
1.6.2.2 Nội dung khảo sát
- Những điều kiện ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dạy học đọc cho học sinh của nhà trường
- Nhận thức về vai trò của dạy đọc văn bản cho học sinh của giáo viên
- Thực trạng dạy học đọc phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học
- Những khó khăn của giáo viên khi xây dựng hệ thống bài tập đọc cho học sinh Tiểu học
1.6.2.3 Tổ chức khảo sát
a Với giáo viên: Chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp
2 theo chương trình GDPT 2018 và cán bộ quản lí của hai trường Tiểu học Phan Ngọc Nhân và trường Tiểu học Nguyễn Phan Vinh (12 GV và 6 CBQL) thông qua bảng hỏi (Phụ lục 1.1) gồm các câu hỏi với nội dung cụ thể:
Câu 1: Vai trò của dạy đọc văn bản văn học cho học sinh lớp 2 (Theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Câu 2: Giáo viên sử dụng bài tập khi dạy đọc cho học sinh lớp 2 như thế nào? Câu 3: Những giải pháp giáo viên đã sử dụng trong quá trình xây dựng và dạy đọc văn bản cho học sinh lớp 2 (Theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Trang 39Câu 4: Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập đọc cho học sinh lớp 2 (Theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Câu 5: Thái độ của học sinh khi học đọc các tác phẩm văn bản, văn học
Câu 6: Độ khó dễ của đọc hiểu so với đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo Câu 7: Khả năng luyện đọc và đọc hiểu của học sinh
b Với học sinh: Chúng tôi tiến hành khảo sát 226 học sinh lớp 2 của trường tiểu học Phan Ngọc Nhân và 210 học sinh lớp 2 của trường tiểu học Nguyễn Phan Vinh thông qua bảng hỏi (Phụ lục 1.2) gồm các câu hỏi với nội dung cụ thể:
Câu 1: Em yêu thích luyện đọc hay đọc hiểu văn bản hơn?
Câu 2: Em có gặp khó khăn khi luyện đọc và đọc hiểu văn bản không?
Câu 3: Em thường được học đọc hiểu theo hình thức nào?
1.6.3 Kết quả khảo sát và một số nhận xét về thực trạng dạy học đọc ở trường Tiểu học
1.6.3.1 Kết quả khảo sát giáo viên về thực trạng dạy học đọc ở trường Tiểu học
* Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lí về vai trò của nâng cao năng lực đọc cho học sinh ở Tiểu học
Bảng 1.1 Vai trò của dạy học đọc cho học sinh lớp 2
Vai trò của dạy học đọc cho
học sinh lớp 2
Các mức độ Rất đồng ý Đồng ý Phân vân Không
đồng ý
SL TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
1 Giúp học sinh đạt kết quả
học tập tốt (đọc và hiểu được
văn bản trong nhà trường và
ngoài nhà trường)
2 Nâng cao khả năng cảm thụ
3 Tạo điều kiện cho học sinh
liên hệ bài học với thực tiễn,
gắn hoạt động dạy học với
cuộc sống
Trang 404 Tăng cường tương tác giữa
học sinh và giáo viên, giữa học
sinh với học sinh trong các
hoạt động ở dạy học đọc
Biểu đồ 1.1 Vai trò của dạy học đọc cho học sinh lớp 2
Kết quả khảo sát cho thấy cán bộ quản lý và giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của vai trò nâng cao năng lực đọc cho học sinh tiểu học Các thầy cô đều cho rằng cần thiết và rất cần thiết, giúp học sinh đạt kết quả tốt và góp phần hình thành phát triển toàn diện năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ Số phiếu đánh giá đồng ý cao như: Nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho học sinh (77,8% đồng ý).Tạo điều kiện cho học sinh liên hệ bài học với thực tiễn, gắn hoạt động dạy học với cuộc sống (66,7% đồng ý). Có thể nói đây là những mục tiêu cao nhất mà dạy học đọc hiểu văn bản hướng đến cho học sinh
* Sử dụng bài tập trong quá tình dạy đọc cho học sinh lớp 2:
Bảng 1.2 Sử dụng bài tập trong quá tình dạy đọc cho học sinh lớp 2
Sử dụng bài tập trong quá
tình dạy đọc cho học sinh
lớp 2
Các mức độ Rất thường
xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
SL TL
(%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
4 Tăng cường tương tác giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh với học sinh trong các hoạt động ở dạy học đọc.
Rất đồng ý Đồng ý