1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

IUH - BÁO CÁO BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG - XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG? TỔN THẤT TINH THẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG CÁC LOẠI THIỆT HẠI NÀO, TẠI SAO?

11 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định thiệt hại được bồi thường trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng? Tổn thất tinh thần được áp dụng trong các loại thiệt hại nào, tại sao?
Tác giả Nguyễn Thị Thảo Nghi, Mai Đức Huy, Vũ Phương Uyên, Trần Kiều Khanh
Người hướng dẫn Trần Thị Thúy Hằng, Giảng viên
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật và Khoa học Chính trị
Thể loại Báo cáo môn
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 266,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG. 1. Khái niệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng; Người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. 2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Căn cứ theo Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định: “1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. 2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. 3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”. Như vậy, căn cứ theo quy định trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT VÀ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

- -BÁO CÁO MÔN: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

ĐỀ TÀI: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG? TỔN THẤT TINH THẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG CÁC LOẠI THIỆT HẠI NÀO, TẠI SAO?

Giảng viên hướng dẫn: TRẦN THỊ THÚY HẰNG

Nhóm thực hiện: Nhóm 9 Lớp: DHLKT19BTT

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2025

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM:

word

Kiến nghị

Trang 3

MỤC LỤC CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG 3

1 Khái niệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” 3

2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 3

3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 3

4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5

4.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 5

4.2 Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra 5

5 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5

Tiểu kết chương: 5

CHƯƠNG II: TỔN THẤT TINH THẦN TRONG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 6

1 Khái niệm về bồi thường tổn thất tinh thần 6

2 Một số trường hợp được coi là tổn thất về tinh thần 6

3 Khoản bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật 7

4 Lý do tổn thất tinh thần được áp dụng trong một số loại thiệt hại 8

III VỤ ÁN THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ 9

1 Vụ Án Thực Tiễn 9

2 Kiến Nghị 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.

1 Khái niệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng;

Người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ theo Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định:

“1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác

2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”

Như vậy, căn cứ theo quy định trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi

cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

“1 Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

2 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình

3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

Trang 5

4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra

5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”

4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

4.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Tại Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của

cá nhân được quy định như sau:

“1 Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường

2 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám

hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”

4.2 Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

Tại Điều 587 Bộ luật dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra quy định: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức

độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau”

5 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Tại Điều 588 Bộ luật dân sự 2015  quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

Tiểu kết chương:

Trang 6

Cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định khá đầy đủ về căn cứ phát sinh, điều kiện áp dụng và nguyên tắc bồi thường Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc cần được hướng dẫn và hoàn thiện Đây là nền tảng để các nghiên cứu tiếp theo phân tích các trường hợp cụ thể và đề xuất giải pháp phù hợp

CHƯƠNG II TỔN THẤT TINH THẦN TRONG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.

1 Khái niệm về bồi thường tổn thất tinh thần

Tổn thất về tinh thần là việc sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh… Tổn thất về tinh thần là việc sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh…

2 Một số trường hợp được coi là tổn thất về tinh thần

Theo quy định tại các Điều 590, 591 và 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, tổn thất tinh thần là một dạng thiệt hại phi vật chất, được xác định trong những trường hợp quyền nhân thân của

cá nhân bị xâm phạm Trước hết, khi sức khỏe của cá nhân bị xâm phạm, tổn thất tinh thần thường thể hiện ở sự đau đớn, khủng hoảng tâm lý do hậu quả của tai nạn, hành vi bạo lực hoặc các hành vi trái pháp luật khác Những thương tật nghiêm trọng không chỉ gây ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động và sinh hoạt hằng ngày mà còn kéo theo cảm giác bất

an, lo âu, sợ hãi, thậm chí trầm cảm, khiến cho đời sống tinh thần của người bị hại bị suy giảm nghiêm trọng Bên cạnh đó, trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm, đặc biệt là khi nạn nhân tử vong do hành vi vi phạm pháp luật như giết người hay tai nạn giao thông gây chết người, sự mất mát này không chỉ dừng lại ở người trực tiếp bị xâm hại mà còn tác động sâu sắc đến thân nhân của họ Đối với những người thân cận nhất như cha mẹ, vợ chồng, con cái, việc mất đi người thân yêu để lại cú sốc tâm lý lớn, tạo ra khoảng trống tinh thần không thể bù đắp, được pháp luật ghi nhận là một dạng tổn thất tinh thần đặc biệt nghiêm trọng Ngoài ra, tổn thất tinh thần cũng phát sinh khi danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân bị xâm phạm Những hành vi như lăng mạ, vu khống, làm nhục công khai hoặc phát tán thông tin sai lệch, gây tổn hại đến hình ảnh cá nhân trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, đều trực tiếp xâm phạm đến giá trị nhân thân cốt lõi của con người Hệ quả là

cá nhân bị hại phải chịu sự tổn thương sâu sắc về lòng tự trọng, uy tín xã hội và các mối quan hệ cá nhân, ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế, sự nghiệp cũng như đời sống tinh thần nói chung Như vậy, có thể thấy pháp luật dân sự Việt Nam đã thiết lập cơ chế bồi thường nhằm

Trang 7

ghi nhận và bảo vệ đầy đủ các giá trị tinh thần vốn khó định lượng, qua đó bảo đảm công bằng và khẳng định ý nghĩa nhân văn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền nhân thân của mỗi cá nhân

3 Khoản bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật

Khoản bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật hiện hành được xác định trên từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào dạng thiệt hại mà cá nhân phải gánh chịu Trước hết, trong trường hợp sức khỏe của một cá nhân bị xâm phạm, pháp luật quy định người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp cho những đau đớn, khủng hoảng tinh thần mà người bị hại phải chịu Theo khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm

2015, được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, mức bồi thường này trước tiên do các bên tự thỏa thuận Tuy nhiên, trong trường hợp không đạt được sự thống nhất, thì mức tối đa không được vượt quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định Tại thời điểm hiện nay, theo Nghị định 73/2023/NĐ-CP, mức lương cơ sở là 2,34 triệu đồng, do đó khoản bồi thường tổn thất tinh thần tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm có thể lên đến 90 triệu đồng Điều này cho thấy nhà làm luật đã tạo ra một giới hạn pháp lý nhất định, vừa bảo đảm tính linh hoạt trong thỏa thuận, vừa duy trì sự công bằng và tránh lạm dụng Đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm, quy định pháp luật càng thể hiện rõ tính nhân văn khi quan tâm đến những người thân thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại, hoặc trong một số trường hợp đặc biệt là người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc được nuôi dưỡng bởi nạn nhân Căn cứ khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người gây ra thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền

để bù đắp cho sự đau thương, mất mát tinh thần to lớn mà những người thân của nạn nhân phải gánh chịu Nguyên tắc chung vẫn là thỏa thuận giữa các bên, nhưng nếu không thể đạt được sự đồng thuận, mức tối đa cho khoản bồi thường này là không vượt quá một trăm lần mức lương cơ sở Với mức lương cơ sở hiện hành là 2,34 triệu đồng, số tiền tối đa mà pháp luật cho phép bồi thường trong trường hợp này là 234 triệu đồng Có thể nhận thấy rằng, so với thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tính mạng có phạm vi bồi thường cao hơn gấp đôi, phản ánh đúng bản chất nghiêm trọng và không thể khắc phục của mất mát này

Ngoài ra, bộ luật dân sự cũng đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ các giá trị nhân thân gắn liền với danh dự, nhân phẩm và uy tín của mỗi cá nhân Khi một người bị xâm phạm đến các giá trị này, ngoài thiệt hại vật chất có thể phát sinh, sự tổn thương về tinh thần cũng cần được xem xét bù đắp Căn cứ khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, cùng với hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người có hành vi xâm phạm phải bồi thường một khoản tiền nhằm bù đắp cho sự đau khổ, nhục nhã, mất mát tinh thần mà người bị hại phải gánh chịu Về nguyên tắc, mức bồi thường này được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên liên quan Tuy nhiên, khi không đạt được sự đồng thuận, mức tối đa mà pháp luật cho phép được xác định là không vượt quá mười lần mức lương cơ sở Như vậy, với mức lương cơ sở 2,34 triệu đồng, khoản bồi thường tối đa trong trường hợp danh dự, nhân phẩm

và uy tín bị xâm phạm là 23,4 triệu đồng Đây là cơ chế nhằm bảo vệ những giá trị nhân thân

Trang 8

vốn không thể đo đếm bằng vật chất, đồng thời khẳng định vai trò của pháp luật trong việc duy trì công bằng xã hội

4 Lý do tổn thất tinh thần được áp dụng trong một số loại thiệt hại

Tổn thất tinh thần là loại thiệt hại đặc thù, bởi nó không biểu hiện bằng con số cụ thể hay giá trị vật chất hữu hình, mà gắn liền với sự đau buồn, lo lắng, mất mát, suy giảm đời sống tinh thần của con người Đây là hệ quả tất yếu khi những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân bị xâm phạm, như quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín Khác với thiệt hại tài sản vốn có thể được xác định thông qua giá thị trường, hóa đơn, chứng

từ hoặc các căn cứ kinh tế khác, tổn thất tinh thần lại mang tính vô hình, không thể đo lường hay chứng minh một cách chính xác bằng các công cụ định lượng Chính vì vậy, pháp luật dân sự Việt Nam không công nhận bồi thường tổn thất tinh thần trong mọi trường hợp, mà chỉ giới hạn ở những tình huống đặc biệt, khi quyền nhân thân bị xâm phạm và hậu quả tinh thần là rõ ràng, không thể khắc phục bằng bồi thường vật chất đơn thuần Điều này được quy định rõ trong Bộ luật Dân sự 2015, theo đó người gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường một khoản tiền để bù đắp cho những mất mát về tinh thần mà người bị hại hoặc thân nhân của họ phải gánh chịu Việc giới hạn phạm vi áp dụng nhằm bảo đảm tính khả thi, tránh tình trạng mở rộng bồi thường tràn lan gây khó khăn cho quá trình xét xử Đồng thời,

Bộ luật cũng đưa ra khung giới hạn cụ thể để định hướng cho việc xác định mức bồi thường: tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở nếu sức khỏe bị xâm phạm, 100 tháng lương cơ sở nếu tính mạng bị xâm phạm và 10 tháng lương cơ sở trong trường hợp danh dự, nhân phẩm,

uy tín bị xâm phạm Cách quy định này vừa thể hiện sự công bằng, tạo căn cứ rõ ràng cho tòa án khi ra phán quyết, vừa hạn chế nguy cơ lạm dụng yêu cầu bồi thường vượt quá mức hợp lý

Thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự cũng cho thấy, việc chứng minh thiệt hại tinh thần thường gặp nhiều khó khăn, bởi trạng thái tâm lý và cảm xúc của con người mang tính chủ quan, không có thước đo chung Do đó, mức bồi thường chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên, và chỉ khi không đạt được sự thống nhất thì tòa án mới áp dụng mức giới hạn đã được luật định Điều này giúp cân bằng lợi ích giữa người bị thiệt hại và người gây thiệt hại, đồng thời khuyến khích các bên tìm kiếm sự đồng thuận thay vì chỉ trông chờ vào sự can thiệp của cơ quan tư pháp Ở góc độ so sánh pháp luật, có thể thấy cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng chung của nhiều quốc gia, vốn cũng chỉ thừa nhận bồi thường tổn thất tinh thần trong phạm vi các quyền nhân thân bị xâm phạm, chứ không mở rộng sang các thiệt hại vật chất thông thường Có thể nói, việc thừa nhận bồi thường tổn thất tinh thần trong các trường hợp nhất định là sự bảo đảm quan trọng để pháp luật dân sự không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tài sản, mà còn bảo vệ những giá trị vô hình gắn liền với nhân phẩm và giá trị con người Đây cũng là sự ghi nhận rằng bên cạnh tổn thất vật chất, con người còn có nhu cầu được bù đắp về mặt tinh thần, được xã hội thừa nhận sự mất mát mà họ phải chịu đựng Qua đó, quy định về bồi thường tổn thất tinh thần không chỉ góp phần duy trì công bằng xã

Trang 9

hội, mà còn nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ các quyền nhân thân cơ bản của người khác

CHƯƠNG III VÍ DỤ THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ.

1 Ví dụ thực tiễn

BẢN ÁN 28/2024/DS-PT NGÀY 26/01/2024 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HAI

DO TỔN THẤT TINH THẦN, DANH DỰ, NHÂN PHẨM

Link bản án: https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-ve-boi-thuong-thiet-hai-do-ton-that-tinh-than-danh-du-nhan-pham-so-282024dspt-311239

Nội Dung Bản Án:

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Bùi Thanh H trình bày: phải bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm với số tiền là 100.000.000 để anh cưới vợ mới Do trước khi anh và chị Y ly hôn thì chị Y và anh M có mối quan hệ bất chính, dẫn đến anh và chị Y ly hôn làm cho tinh thần anh bị ảnh hưởng không tập trung được vào việc làm kinh tế Hiện nay anh và chị Y đã ly hôn có quyết định công nhận thuận tình ly hôn ở Toà án

Việc anh biết chị Y và anh M có mối quan hệ bất chính là do cha anh M điện thoại cho anh

là ông Đỗ Quốc T, thực tế anh không chứng kiến và cũng không có chứng cứ nào xác định

là chị Y và anh M có mối quan hệ bất chính hay không Hiện nay anh yêu cầu anh M bồi thường cho anh số tiền 100.000.000 đồng để cưới vợ mới

Bị đơn anh Đỗ Quốc M trình bày tại biên bản ghi lời khai: Anh và chị Nguyễn Thị Y có mối quan hệ quen biết với nhau từ lâu, anh xem chị Y là chị, không có quan hệ bất chính như anh

H đã nêu Theo anh được biết chị Y và anh H ly hôn là do anh H đánh chị Y, dẫn đến ly hôn chứ không liên quan đến anh Giữa anh và ông T có mối quan hệ cha con, cũng không có mâu thuẫn gì, cha anh nói như thế nào với ông H anh không biết Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường 100.000.000 đồng của anh H

Người liên quan: Chị Nguyễn Thị Y là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến tại biên bản ghi lời khai: Chị và anh H chung sống với nhau gần 20 năm có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trong quá trình chung sống thì anh H bạo lực gia đình khiến hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị nộp đơn ly hôn tại Toà án và đã thuận tình ly hôn năm 2022 Việc chị và anh H ly hôn không liên quan gì đến anh M Việc anh H nói chị và anh M có mối quan hệ bất chính trước khi ly hôn là không đúng hoàn toàn không

có căn cứ

Trang 10

2 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng trong giải quyết bồi thường tổn thất tinh thần

Thứ 1 Rà soát, bổ sung quy định rõ ràng về mức bồi thường tổn thất tinh thần trong trường hợp danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm

Pháp luật hiện hành theo Điều 592 Bộ Luật dân sự 2015 đã công nhận quyền bồi thường tổn thất tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; mức bồi thường do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì không vượt quá mười lần mức lương cơ sở Tuy nhiên, trong thực tế các vụ án như 28/2024/DS-PT, việc đề nghị bồi thường lớn (100.000.000 đồng) vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện chứng minh, mức ảnh hưởng, hoàn cảnh cụ thể Việc cụ thể hóa khung mức tham khảo có thể giúp Tòa án, đương sự có thể rõ cơ sở để đề xuất hoặc quyết định mức bồi thường hợp lý

Thứ 2 Làm rõ các loại chứng cứ được chấp nhận để chứng minh tổn thất tinh thần, danh

dự, nhân phẩm bị xâm phạm

Trong bản án 28/2024/DS-PT, nguyên đơn đã trình bày tổn thất về tinh thần, nhân phẩm, danh dự; nhưng để yêu cầu được chấp nhận, cần có các chứng cứ rõ ràng Do đó, luật và các văn bản hướng dẫn cần quy định những loại chứng cứ cụ thể: lời khai của nhân chứng, thư từ, tin nhắn, xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền hoặc chuyên gia tâm lý, ảnh hưởng thực tế đến đời sống, công việc, tâm sinh lý Việc này sẽ giúp người bị thiệt hại có

cơ sở chuẩn bị và Tòa án có căn cứ xét xử công bằng

Thứ 3 Bảo đảm quyền lợi của người bị tổn thất tinh thần trong hoàn cảnh khó khăn thu thập chứng cứ

Tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm là những thiệt hại rất khó lượng hóa và có thể thiếu chứng cứ vật chất rõ ràng Trong trường hợp như bản án 28/2024/DS-PT, nếu người

bị ảnh hưởng không có khả năng thu thập các chứng cứ chuyên môn, hướng dẫn thi hành pháp luật nên quy định nguyên tắc chấp nhận chứng cứ gián tiếp, lời khai khách quan, hoàn cảnh xung quanh để bảo vệ quyền lợi thực sự của người bị thiệt hại. 

Thứ 4 Hướng dẫn thống nhất áp dụng nguyên tắc xác định thiệt hại và tổn thất tinh thần giữa các cấp Tòa án

Các bản án phúc thẩm như 28/2024/DS-PT cho thấy có sự khác biệt trong cách đánh giá mức độ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, cũng như cách luận lý khi xác định mức bồi thường Do đó, cần có văn bản hướng dẫn hoặc án lệ rõ ràng hơn về cách đánh giá thiệt hại tinh thần, nhân phẩm, danh dự ví dụ: tần suất, mức độ, hậu quả thực tế, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, tinh thần Việc hướng dẫn này sẽ góp phần làm cho quyết định của Tòa án các cấp được thống nhất hơn và minh bạch hơn trong việc áp dụng. 

Ngày đăng: 29/09/2025, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w