1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

IUH - TIỂU LUẬN LUẬT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG - XÁC ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP CHỦ SỞ HỮU TÀI SẢN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NGAY CẢ KHI KHÔNG CÓ LỖI

30 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 98,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm và nguyên tắc chung (11)
  • 1.2. Các trường hợp cụ thể chủ sở hữu phải bồi thường không cần lỗi (12)
    • 1.2.1. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (12)
    • 1.2.2. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường (13)
    • 1.2.3. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra (13)
    • 1.2.4. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra (15)
    • 1.2.5. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra (15)
  • 1.3. Các trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường khi không có lỗi (16)
  • 1.4. Giải quyết tranh chấp và mức bồi thường (17)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NGAY CẢ KHI KHÔNG CÓ LỖI (18)
    • 2.1. Thực tiễn áp dụng trong một số trường hợp tiêu biểu (18)
      • 2.1.2. Trường hợp do làm ô nhiễm môi trường (18)
      • 2.1.3. Trường hợp do súc vật gây ra (19)
      • 2.1.4. Trường hợp do cây cối gây ra (19)
      • 2.1.5. Trường hợp do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra (21)
    • 2.2. Nguyên nhân đến những bất cập (21)
      • 2.2.1. Pháp luật còn chung (21)
      • 2.2.2. Khó khăn trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm (22)
      • 2.2.3. Sự khác biệt trong hoạt động xét xử (22)
      • 2.2.4. Hạn chế trong việc xác định yếu tố lỗi và cơ sở chịu trách nhiệm (22)
      • 2.1.5. Thiếu sự bảo đảm hướng dẫn và án lệ thống nhất (0)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI (24)
    • 3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật (24)
      • 3.1.1. Đối với nguy hiểm cao độ (24)
      • 3.1.2. Đối với súc vật (24)
      • 3.1.3. Đối với nhà cửa, công trình xây dựng (25)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi (25)
  • KẾT LUẬN (10)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (10)

Nội dung

Đề tài này giúp ta xác định được những trường hợp đặc biệt trong pháp luật, khi trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi chủ sở hữu tài sản không có lỗi, giúp hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại đặc biệt đối với các tài sản có tính chất nguy hiểm hoặc trong các tình huống xã hội cụ thể. Đề tài góp phần đảm bảo công bằng, bảo vệ quyền lợi người bị thiệt hại và hướng đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế thị trường. Đối với tính chất đặc biệt của chế định trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không có lỗi là một trong những lý do quan trọng nhất của đề tài. Mặc dù thường ta có thể thấy việc bồi thường sẽ thường do lỗi của cong người gây ra nhưng trong pháp luật vẫn có những quy định ngoại lệ về sự việc rủi ro nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên yếu thế hơn trong xã hội. Có thể thấy điển hình như trường hợp thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chủ sở hữu buộc phải chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi. Quy định chịu trách nhiệm này không chỉ là một nguyên tắc pháp lý mà nó còn là một cơ chế xã hội nhằm đảm bảo bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và người bị thiệt hại khi tài sản của họ bị xâm phạm bởi các yếu tố khác chứa nhiều sự rủi ro gây ra. Việc xác định các trường hợp chủ sở hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không có lỗi sẽ giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự, giúp cho các quy định dần trở nên chặt chẽ và hiệu quả hơn khi áp dụng vào thực tiễn, nhất là đối với xã hội đang phát triển ngày càng phức tạp trong hiện nay. Nghiên cứu này được áp dụng thiết thực trong cuộc sống nhằm giải quyết các tranh chấp trong thực tế, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự phức tạp vì không phải lúc nào yếu tố lỗi cũng có thể được dễ dàng xác định. Vì vậy, đề tài này sẽ giúp chúng ta nghiên cứu rõ hơn về các trường hợp bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi.

Khái niệm và nguyên tắc chung

Theo Điều 584 BLDS 2015 quy định

Hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác: Ai có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Đây là căn cứ cơ bản, phổ biến nhất để xác định trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng Chỉ cần thỏa mãn hai yếu tố thứ nhất có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền/lợi ích hợp pháp, thứ hai có thiệt hại thực tế phát sinh Lỗi (cố ý hay vô ý) thường là yếu tố được xem xét, trừ trường hợp pháp luật quy định trách nhiệm khách quan (ví dụ: nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối ).

Ví dụ: Một người lái xe bất cẩn đâm vào người đi bộ thì phải bồi thường chi phí chữa trị, tổn thất tinh thần, thu nhập bị mất

Trường hợp loại trừ trách nhiệm người gây thiệt hại không phải bồi thường nếu:

+ Thiệt hại do sự kiện bất khả kháng;

+ Thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại;

+ Trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác.

Sự kiện bất khả kháng (Điều 156 BLDS): là sự kiện khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết (ví dụ: động đất, bão lũ cực đoan).

Hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại: nếu người bị hại tự gây nguy hiểm cho mình thì người khác không phải bồi thường (ví dụ: trèo rào vào khu vực công trình xây dựng có cảnh báo).

Ngoài ra, nếu các bên có thỏa thuận khác (ví dụ trong hợp đồng) hoặc luật chuyên ngành quy định khác (ví dụ: bảo hiểm bắt buộc), thì vẫn có thể phải bồi thường.

Trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra nếu tài sản gây ra thiệt hại, thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu tài sản phải bồi thường, trừ trường hợp thuộc khoản 2 Đây là trách nhiệm khách quan chủ tài sản có thể phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi Nguyên tắc này thể hiện tư tưởng "ai hưởng lợi từ tài sản thì phải gánh rủi ro từ tài sản đó" Áp dụng cho các trường hợp đặc thù trong BLDS

2015 như là Điều 601 Nguồn nguy hiểm cao độ (xe cơ giới, vũ khí, chất nổ, nhà máy, thú dữ…); Điều 603 Súc vật gây thiệt hại; Điều 604 Cây cối gây thiệt hại; Điều 605 Nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại.

Các trường hợp cụ thể chủ sở hữu phải bồi thường không cần lỗi

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

Nguồn nguy hiểm cao độ là những sự vật, phương tiện, công cụ mà trong quá trình tồn tại, vận hành có khả năng gây thiệt hại lớn cho con người, tài sản và môi trường, bao gồm phương tiện giao thông cơ giới (ôtô, xe máy, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay…); Hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động;

Vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ; Thú dữ; Các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định Quy định này có ý nghĩa xác định rõ phạm vi đối tượng áp dụng để tránh tùy tiện, đồng thời đặt ra nghĩa vụ quản lý chặt chẽ của chủ sở hữu trong việc vận hành, bảo quản, trông giữ, vận chuyển

Cơ sở pháp lý quan trọng vì nếu để xảy ra thiệt hại, chủ sở hữu thường phải chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi.

Chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu nguồn nguy hiểm cao độ do mình quản lý gây thiệt hại Nếu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng (ví dụ: cho thuê xe ô tô, giao phương tiện cho nhân viên lái), thì người đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường, trừ khi có thỏa thuận khác Pháp luật chú trọng trách nhiệm gắn liền với người trực tiếp kiểm soát nguồn nguy hiểm cao độ tại thời điểm xảy ra thiệt hại, thay vì chỉ gắn với chủ sở hữu.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường kể cả khi họ đã tuân thủ đầy đủ quy định, không có lỗi trực tiếp Tuy nhiên, có 2 trường hợp loại trừ trách nhiệm: Thiệt hại hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại (ví dụ: một người cố tình lao vào xe ô tô đang chạy); Thiệt hại do sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ khi pháp luật có quy định khác (ví dụ: động đất, bão lớn làm đổ cột điện) Quy định này khẳng định ngay cả khi không có lỗi, chủ thể quản lý nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải bồi thường, thể hiện tính nghiêm ngặt và nhân văn của pháp luật dân sự.

Nếu nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (ví dụ: trộm cắp xe ô tô, chiếm giữ vũ khí, lấy thú dữ ra ngoài…) thì người chiếm hữu trái pháp luật phải chịu trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, nếu chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý có lỗi trong việc để xảy ra tình trạng đó (ví dụ: để xe ô tô nổ máy ngoài đường và bị người khác lấy đi gây tai nạn), thì chủ sở hữu và người chiếm hữu trái pháp luật phải liên đới bồi thường.

Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Theo Điều 602 BLDS 2015 quy định:

Môi trường là yếu tố sống còn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đời sống của cộng đồng Hành vi làm ô nhiễm (thải chất độc, khói bụi, tiếng ồn, nước thải công nghiệp…) có tính chất nguy hiểm, khó kiểm soát, lan rộng Nếu buộc người bị thiệt hại phải chứng minh lỗi thì rất khó (ví dụ: người dân khó chứng minh doanh nghiệp có lỗi trong xả thải) Chủ thể gây ô nhiễm không được viện dẫn lý do “cố ý” hoặc “vô ý” để thoát trách nhiệm Đây là sự ràng buộc trách nhiệm xã hội đối với những ai hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh, sản xuất, khai thác tài nguyên nhưng gây nguy cơ ô nhiễm Tuy nhiên, pháp luật vẫn cho phép tính đến các yếu tố giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm trong một số trường hợp bất khả kháng (ví dụ: thiên tai làm rò rỉ hóa chất từ nhà máy).

Người dân, cộng đồng bị thiệt hại do ô nhiễm có cơ sở pháp lý yêu cầu bồi thường Buộc các chủ thể sản xuất, kinh doanh phải thận trọng, đầu tư công nghệ xử lý chất thải để tránh rủi ro Người gây ô nhiễm, hưởng lợi từ hoạt động kinh tế phải gánh chi phí khắc phục thiệt hại, không đẩy gánh nặng cho xã hội.

Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, kể cả khi không có lỗi Đây là trách nhiệm bồi thường khách quan nhằm bảo vệ quyền lợi người bị hại và thể hiện nguyên tắc “ai hưởng lợi từ tài sản thì phải gánh chịu rủi ro từ tài sản đó”.

Ví dụ, dù đã nhốt chó cẩn thận nhưng nếu chó thoát ra cắn người thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường.

Nếu người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm súc vật gây thiệt hại thì người thứ ba phải bồi thường; trường hợp cả người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường Như vậy, dù chủ sở hữu không trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng nếu quản lý súc vật lỏng lẻo, tạo điều kiện cho người thứ ba tác động thì vẫn phải chịu trách nhiệm.

Ví dụ, một người ném đá chọc tức con chó khiến nó chạy ra cắn người đi đường; nếu chứng minh chủ nhà đã rào chắn không đảm bảo, thì cả người ném đá và chủ nhà đều phải liên đới bồi thường cho nạn nhân.

Theo đó, người chiếm hữu hoặc sử dụng trái pháp luật sẽ phải trực tiếp bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra Tuy nhiên, trong một số tình huống, ngay cả khi chủ sở hữu không có lỗi trực tiếp, họ vẫn có thể phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường nếu có sơ suất trong việc quản lý, giám sát để súc vật bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái phép.

Ví dụ, nếu chủ sở hữu để chuồng trại hỏng hóc, không khóa cửa cẩn thận khiến người khác dễ dàng dắt súc vật đi và gây ra tai nạn, thì dù không trực tiếp gây ra thiệt hại, chủ sở hữu vẫn phải liên đới bồi thường cùng với người chiếm hữu trái pháp luật.

Ngay cả khi chủ sở hữu không có lỗi trực tiếp, họ vẫn phải bồi thường nếu súc vật gây ra thiệt hại, nhưng việc bồi thường được thực hiện theo tập quán địa phương và không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Điều này phản ánh đặc thù sinh hoạt ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, nơi người dân thường thả rông trâu, bò, dê, lợn… Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bị thiệt hại, pháp luật buộc chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về hậu quả do súc vật của mình gây ra, thay vì miễn trách nhiệm vì lý do “thả rông theo tập quán”.

Ví dụ, nếu trâu được thả rông phá hoại hoa màu của hàng xóm, chủ trâu phải bồi thường theo mức mà tập quán địa phương đã hình thành, chẳng hạn bồi thường bằng thóc, gạo hoặc bằng tiền mặt.

Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Điều 604 Bộ luật Dân sự 2015 quy định

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý cây cối phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra Điểm đặc biệt của quy định này là trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào việc chủ sở hữu có lỗi hay không Nghĩa là, dù cây cối đã được chăm sóc, cắt tỉa, quản lý đúng quy định, nhưng nếu bất ngờ gãy, đổ gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường Đây chính là biểu hiện của trách nhiệm bồi thường khách quan, nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại trong những tình huống rủi ro bất ngờ từ tài sản tưởng chừng “tự nhiên” này Quy định này phản ánh nguyên tắc “ai hưởng lợi từ tài sản thì phải chịu rủi ro từ tài sản đó”, đồng thời đặt ra trách nhiệm xã hội đối với chủ sở hữu trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của mình, bảo đảm an toàn cho cộng đồng.

Ví dụ, một cây cổ thụ trong sân nhà dân dù được chăm sóc thường xuyên, nhưng vào ngày nắng to, cành cây bất ngờ gãy rơi xuống người đi đường, thì chủ sở hữu cây vẫn phải bồi thường cho người bị hại, ngay cả khi bản thân không hề có lỗi.

Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường nếu công trình đó gây thiệt hại cho người khác Nếu người thi công có lỗi trong việc để công trình gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường cùng với chủ sở hữu hoặc người quản lý.

Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường:

+ Chủ sở hữu công trình: Người có quyền sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng (ví dụ: chủ căn nhà, chủ đầu tư dự án).

+ Người chiếm hữu: Người đang nắm giữ, sử dụng công trình nhưng không phải chủ sở hữu (ví dụ: người thuê nhà, đơn vị quản lý).

+ Người được giao quản lý, sử dụng: Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ quản lý công trình theo hợp đồng hoặc theo quy định pháp luật (ví dụ: ban quản lý tòa nhà, doanh nghiệp khai thác công trình công cộng).

Trách nhiệm không chỉ giới hạn ở chủ sở hữu, mà còn mở rộng đến bất kỳ ai có quyền kiểm soát, quản lý, sử dụng công trình.

Nguyên tắc khách quan: Chỉ cần công trình gây thiệt hại thì chủ sở hữu/người quản lý đã phải bồi thường, không phụ thuộc vào việc có lỗi hay không.

Người thi công có lỗi thì liên đới bồi thường: Nếu thiệt hại xảy ra do lỗi của đơn vị thi công (ví dụ: thi công sai quy trình, không đảm bảo an toàn), thì đơn vị này phải cùng chịu trách nhiệm với chủ sở hữu/nhà quản lý.

Các trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường khi không có lỗi

- Thiệt hại hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại

Nếu người bị thiệt hại đã cố ý hoặc có lỗi dẫn đến thiệt hại thì chủ sở hữu không phải bồi thường.

Ví dụ: Vượt đèn đỏ, tự đâm vào dải phân cách, bị thương Thiệt hại hoàn toàn do lỗi của người điều khiển xe vì đã vi phạm luật giao thông.

- Thiệt hại do sự kiện bất khả kháng

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục được, dẫn đến việc gây thiệt hại.

Ví dụ: Bão lớn làm sập cầu, khiến xe tải chở hàng hoá bị mắc kẹt và không giao hàng đúng hẹn Thiệt hại này là do sự kiện bất khả kháng (thiên tai).

- Thiệt hại do hành vi của bên thứ ba không liên quan

Nếu thiệt hại hoàn toàn do lỗi của một bên thứ ba (không phải người bị thiệt hại và không phải chủ sở hữu tài sản), chủ sở hữu có thể được miễn trách nhiệm bồi thường Ví dụ ông A đậu xe ô tô đúng nơi quy định, ông C lái xe chạy quá tốc độ và tông vào xe ông A Vì lực va chạm mạnh nên xe ông A đã bị đẩy trượt và làm hư tường nhà ông B Vì vậy thiệt hại của ông B hoàn toàn do bên thứ ba gây ra là ông C

Giải quyết tranh chấp và mức bồi thường

Điều 585 BLDS 2015 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, song việc xác định mức bồi thường thực tế Đầu tiên thì thiệt hại cần được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể tự thỏa thuận về mức mức bồi thường, hình thức bồi thường (tiền, hiện vật, thực hiện công việc…) với nhau Có thể giảm mức bồi thường nếu người gây thiệt hại không có lỗi hoặc thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế tùy vào từng hoàn cảnh mà xác định Nếu không thỏa thuận được thì đưa ra Tòa án có thẩm quyền để giải quyết Nguyên tắc điều chỉnh mức bồi thường có thể thỏa thuận mức bồi thường cao hơn hoặc thấp hơn thực tế Nếu thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại → có thể yêu cầu giảm mức bồi thường Nếu người bị thiệt hại cũng có lỗi → chỉ bồi thường phần thiệt hại tương ứng.

Trình tự giải quyết tranh chấp

(b) Hòa giải (ngoài tố tụng)

(c) Khởi kiện tại Tòa án

(a) Thiệt hại về tài sản – Điều 589 BLDS

(b) Thiệt hại về sức khỏe – Điều 590 BLDS

(c) Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm – Điều 591 BLDS

(d) Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm – Điều 592 BLDS

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NGAY CẢ KHI KHÔNG CÓ LỖI

Thực tiễn áp dụng trong một số trường hợp tiêu biểu

2 1.1 Trường hợp do nguồn nguy hiểm cao độ

Theo Bản án về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra số 79/2022/DS-ST Anh K điều khiển xe ô tô biển số 63C-018.55 (thuộc sở hữu của chị Nguyễn Đình Kim Th) đã gây thiệt hại cho xe ô tô biển số 63A-046.31 của anh T đang đỗ trong bãi xe.

Theo Điều 601 BLDS 2015, phương tiện giao thông cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ; người chiếm hữu, sử dụng hoặc chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại Anh K là người lái xe thuê cho chị Th, nhận tiền công theo chuyến, không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe theo pháp luật Chủ thể chiếm hữu, sử dụng xe vẫn là chị Th Tòa án xác định: trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về chủ sở hữu xe (chị Th), chứ không phải người điều khiển thuê (anh K) Do đó, chị Th phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh T với số tiền 21.482.700 đồng. Đây là ví dụ điển hình cho thấy: chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không trực tiếp gây ra thiệt hại, trong trường hợp việc điều khiển do người khác thực hiện nhưng không làm phát sinh quan hệ chiếm hữu, sử dụng hợp pháp đối với người đó.

2.1.2 Trường hợp do làm ô nhiễm môi trường

Vụ cháy & ô nhiễm thủy ngân Công ty Rạng Đông (Hà Nội) Ngày

28/8/2019 xảy ra vụ cháy lớn tại kho xưởng của Công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội) Sau khi đám cháy được dập tắt, trong đó có hàng triệu bóng đèn huỳnh quang, compact chứa thủy ngân một loại hóa chất cực độc hại cho sức khỏe con người và môi trường Hậu quả là lượng thủy ngân phát tán ra môi trường ước tính từ 15,1 kg-

27,2 kg, vượt xa tiêu chuẩn cho phép, ảnh hưởng trực tiếp đến không khí, nguồn nước và đất trong khu vực bán kính 200-500m Người dân hoang mang, nhiều hộ phải sơ tán, đóng cửa hàng quán, thậm chí bán nhà để tránh nguy cơ nhiễm độc Bộ TN&MT, UBND TP Hà Nội đã khuyến cáo người dân phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp như tẩy rửa, phun rửa mái nhà, thau rửa bể nước, đi khám sức khỏe định kỳ để theo dõi nguy cơ ngộ độc thủy ngân Hoạt động gây ô nhiễm môi trường đều thuộc diện phải bồi thường thiệt hại, kể cả khi không có lỗi Công ty Rạng Đông là chủ thể quản lý, sở hữu kho hóa chất tức là chủ tài sản gây ô nhiễm.

Do đó, dù vụ cháy có thể xuất phát từ sự cố bất khả kháng, doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản, môi trường cho cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng.

2.1.3 Trường hợp do súc vật gây ra

Bản án về yêu cầu bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra số 78/2023/DS-

ST Ngày 20/12/2021, cháu Dương Châu Ngọc H (con bà T) bị chó của bà Trần Thị L chạy ra cắn vào chân khi đang đi ngang nhà Gia đình bà T phải đưa cháu đi tiêm phòng dại nhiều lần, mất chi phí thuốc men, đi lại và thu nhập, đồng thời yêu cầu bồi thường cả tổn thất tinh thần tổng cộng 25 triệu đồng.

Bà L cho rằng không chắc chắn chó của mình cắn cháu H nên chỉ đồng ý hỗ trợ chi phí tiêm ngừa 1,225 triệu đồng Vụ việc không hòa giải được nên được đưa ra Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm.

Tòa án xét xử và căn cứ Điều 603 BLDS 2015 về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, tuy chủ sở hữu không trực tiếp có lỗi nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm Kết quả, Tòa buộc bà L bồi thường một phần chi phí cho cháu H với số tiền 5.715.000 đồng.

2.1.4 Trường hợp do cây cối gây ra

Trong những năm gần đây, đã xảy ra nhiều vụ việc cây xanh bất ngờ gãy đổ ở các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Ngày 14/6 tại Hà Nội, một cây phượng cổ thụ trên đường Quán

Sứ bất ngờ đổ xuống, làm hai xe máy bị đè, 4 người bị thương, trong đó có 2 người chấn thương nặng do cành cây rơi trúng đầu Năm 2017, cây phượng già tại ngã tư Phan Huy Chú - Trần Hưng Đạo gãy đổ, làm hỏng nhiều xe ô tô và xe máy Năm 2016, tại phố Chùa Bộc (Hà Nội), một cây phượng lớn bật gốc, đè trúng nhiều xe, khiến nhiều người bị thương TP.HCM năm 2016, chỉ trong 5 ngày mưa lớn, liên tiếp 3 vụ cây xanh gãy đổ, gây hư hỏng nhiều phương tiện và làm 2 người tử vong.

Nguyên nhân được cho là: Biến đổi bất thường của thời tiết, mưa bão lớn; Cây bị sâu mục, thối rễ nhưng khó phát hiện bằng mắt thường; Việc thi công hạ tầng đô thị làm rễ cây bị ảnh hưởng, dẫn đến mất cân bằng, dễ gãy đổ Vấn đề đặt ra là Ai phải chịu trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp này: Theo Điều 604 BLDS 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc đơn vị được giao quản lý cây xanh phải bồi thường thiệt hại do cây gây ra.

Luật sư Lê Vi (Đoàn Luật sư TP.HCM) khẳng định: Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh đơn vị được UBND thành phố giao trồng, quản lý và chăm sóc cây xanh phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do việc quản lý, chăm sóc không chu đáo (không cắt tỉa, xử lý cây nguy hiểm trước mùa mưa bão) Tương tự, luật sư Giang Hồng Thanh (Đoàn Luật sư Hà Nội) cũng cho rằng nạn nhân có quyền khởi kiện Công ty cây xanh để yêu cầu bồi thường, căn cứ vào thiệt hại thực tế về sức khỏe, tính mạng, tài sản.

Tuy nhiên, theo Điều 584 và Điều 156 BLDS 2015, Mặc dù trong nhiều vụ cây đổ, người quản lý cây xanh có thể không có lỗi cố ý hoặc vô ý rõ ràng, nhưng nếu họ đã được giao nhiệm vụ quản lý cây xanh thì có trách nhiệm kiểm tra, xử lý trước rủi ro Nếu họ lơ là, để cây mục, không cắt tỉa trước mùa mưa, khi gãy cây gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường trong các luật về cây cối gây hại, nguồn nguy hiểm cao độ, ô nhiễm môi trường.Trong trường hợp đơn vị quản lý có thể chứng minh đã thực hiện mọi biện pháp kiểm tra, phòng ngừa (ví dụ họ đã cắt tỉa, kiểm tra trước mùa bão nhưng thiên tai quá mạnh vượt khả năng xử lý thì có thể được xem là sự kiện bất khả kháng, từ chối hoặc giảm trách nhiệm).

2.1.5 Trường hợp do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Công trình xây dựng tại số 430 - 430A Nguyễn Thị Minh Khai (Quận 3) do ông/bà Nguyễn Quốc Hưng Văn Duy Nghĩa, Hoàng Thanh Ngân làm chủ đầu tư, Công ty TNHH MTV C.B.S Việt Nam là đơn vị thi công, đã được

UBND Quận 3 cấp phép Quá trình thi công (đặc biệt khi đào móng, xây tầng hầm) đã gây lún, nứt, nghiêng nhiều căn nhà liền kề, trong đó nghiêm trọng nhất là nhà số 2/36A Cao Thắng của bà P.T.K.H 26/01/2023: Thanh tra Sở Xây dựng tổ chức buổi làm việc với bà H., chủ đầu tư và UBND phường Đơn vị thi công thừa nhận trách nhiệm, xuất trình biên bản cam kết bồi thường Kết quả kiểm định của Công ty CP Kiểm định xây dựng Sài Gòn xác định: nguyên nhân chính gây hư hỏng nhà 2/36A là do quá trình thi công công trình 430-430A Chủ đầu tư muốn bồi thường bằng tiền để bà H tự sửa chữa, nhưng bà H yêu cầu ngưng thi công, trực tiếp khắc phục theo đúng phương án kiểm định, đồng thời bồi thường tiền thuê nhà 32 triệu đồng/tháng trong thời gian sửa chữa

Nguyên nhân đến những bất cập

Hiện nay, các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn mang tính khái quát, chưa thật sự cụ thể Chẳng hạn, Điều

584 BLDS 2015 quy định “người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”, tuy nhiên chưa chỉ rõ cách xác định thiệt hại trong các trường hợp đặc thù như thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ Điều này dẫn đến tình trạng pháp luật thiếu định hướng rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn.

2.2.2 Khó khăn trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm

Trong nhiều vụ việc, tài sản không chỉ do một cá nhân hoặc tổ chức duy nhất quản lý mà có thể do nhiều người cùng tham gia quản lý, sử dụng Điều

601 BLDS 2015 có quy định về trách nhiệm của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng trong thực tế, việc xác định ai là người trực tiếp chịu trách nhiệm bồi thường thường gặp nhiều vướng mắc Điều này làm kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp và dễ dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm.

2.2.3 Sự khác biệt trong hoạt động xét xử

Một bất cập khác là việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử giữa các Tòa án chưa thống nhất Ví dụ, Điều 585 BLDS 2015 nêu nguyên tắc bồi thường thiệt hại, song các Tòa án có thể có cách hiểu khác nhau về mức độ lỗi, phạm vi bồi thường hoặc căn cứ giảm trừ trách nhiệm Chính sự khác biệt này làm cho những vụ việc tương tự đôi khi lại có kết quả xử lý khác nhau, ảnh hưởng đến tính công bằng và sự ổn định của hệ thống pháp luật.

2.2.4 Hạn chế trong việc xác định yếu tố lỗi và cơ sở chịu trách nhiệm

Pháp luật hiện hành vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể để phân định rõ ràng mức độ lỗi trong từng trường hợp cụ thể Điều 584 và Điều 585 BLDS 2015 đều nhấn mạnh đến yếu tố lỗi của người gây thiệt hại, nhưng khi áp dụng, nhiều trường hợp Tòa án còn lúng túng trong việc xác định thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý, lỗi vô ý hay do sự kiện bất khả kháng Việc thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng dẫn đến khó khăn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp và có thể làm giảm niềm tin của người dân vào tính minh bạch của pháp luật.

2.2.5 Thiếu sự bảo đảm hướng dẫn và án lệ thống nhất

Hiện nay, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa được ban hành đầy đủ và đồng bộ Đồng thời, việc áp dụng án lệ trong xét xử (theo quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

2014 và các nghị quyết liên quan) vẫn còn hạn chế, chưa bao quát hết các dạng vụ việc phát sinh trong thực tiễn Hệ quả là cùng một vấn đề pháp lý nhưng lại có nhiều cách xử lý khác nhau, gây thiếu thống nhất và giảm

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI

Giải pháp hoàn thiện pháp luật

3.1.1 Đối với nguy hiểm cao độ

Pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Việc xác định phạm vi trách nhiệm phải rõ ràng, minh bạch, đồng thời bổ sung các quy định về cơ chế phân định trách nhiệm khi có nhiều chủ thể cùng quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ Điều 601 BLDS 2015 đã quy định về trách nhiệm của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng quy định này còn khái quát, cần được chi tiết hóa hơn để tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại.

Về điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Tại Điều 601 BLDS 2015 đang theo hướng liệt kê ra nguồn được coi là nguồn nguy hiểm cao độ, tuy nhiên lại định nghĩa như thế nào là do nguồn nguy hiểm cao độ Chính vì sự định nghĩa không rõ ràng như vậy khiến cho việc trên thực tế đã có không ít các cơ quan nhà nước, Tòa án đã xác định chưa đúng về vấn đề phát sinh trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con người tác động đến nguồn nguy hiểm cao độ hay do hoạt động tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Do đó, cần phải có các quy định cụ thể trường hợp nào là nguồn nguy hiểm cao độ, các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và trường hợp nào là do hành vi của con người có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng tạo ra sự thống nhất, tránh đi sự lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết vẫn đề BTTH ngoài hợp đồng

Trong BLDS 2015, Điều 603 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, nhưng khái niệm “súc vật” và phạm vi áp dụng chưa được giải thích rõ ràng Điều này dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng, nhất là khi phát sinh thiệt hại từ động vật nuôi nguy hiểm hoặc động vật hoang dã Vì vậy, cần bổ sung quy định làm rõ khái niệm và phạm vi này, đồng thời quy định chi tiết trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp cụ thể để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người bị thiệt hại Cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn và trong đó sẽ đưa ra khái niệm súc vật như sau: “Súc vật là một loại động vật đã được con người thuần hóa và nuôi dưỡng, con người có thể điều khiển được hoạt động của chúng để phục vụ cho các nhu cầu của mình” Trường hợp động vật hoang dã, động vật sống trong tự nhiên không chịu sự quản lý của người dân gây thiệt hại cũng cần phải được giải quyết để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người dân Do đó, Nhà nước có trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên rừng và cả các động vật hoang dã sống trong đó Vì vậy, có thể bổ sung vào quy định tại khoản 3 Điều 584 BLDS 2015 hoặc quy định trong văn bản hướng dẫn thi hành: “Trong trường hợp động vật hoang dã gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về Nhà nước”.

3.1.3 Đối với nhà cửa, công trình xây dựng

Theo Điều 605 BLDS 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, công trình xây dựng phải bồi thường khi công trình đó gây ra thiệt hại Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định chi tiết trách nhiệm liên đới trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng có lỗi, ví dụ như giữa chủ sở hữu, đơn vị thi công, và đơn vị giám sát Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của người thứ ba trong BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, theo đó nhà làm luật có thể bổ sung như sau: “Trường hợp người thứ ba có lỗi để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì người thứ ba phải bồi thường hại; nếu người thứ ba có một phần lỗi thì phải liên đới bồi thường” Việc bổ sung quy định như trên sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm BTTH do nhà cửa,công trình xây dựng khác gây ra mà có lỗi của người thứ ba.

Ngày đăng: 29/09/2025, 17:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM  Lớp:  DHLKT19BTT                                Nhóm:  4 - IUH - TIỂU LUẬN LUẬT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG - XÁC ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP CHỦ SỞ HỮU TÀI SẢN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NGAY CẢ KHI KHÔNG CÓ LỖI
p DHLKT19BTT Nhóm: 4 (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w