Trong đời sống xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động và thương mại, nguy cơ phát sinh thiệt hại do hành vi trái pháp luật ngày càng đa dạng và phức tạp. Khi một chủ thể có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc tài sản của chủ thể khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ phát sinh. Đây là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự, vừa nhằm khôi phục sự cân bằng lợi ích giữa các bên, vừa thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với những hành vi vi phạm. Tuy nhiên, điểm khó khăn nhất và cũng gây nhiều tranh luận nhất trong thực tiễn áp dụng chính là vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường. Đối với những thiệt hại vật chất, pháp luật và thực tiễn xét xử có thể căn cứ vào các chứng từ, hóa đơn, định giá tài sản hoặc các tài liệu cụ thể khác để làm cơ sở bồi thường. Ngược lại, đối với tổn thất tinh thần – một dạng thiệt hại vô hình, gắn liền với đời sống tâm lý, tình cảm và danh dự của con người – việc xác định lại vô cùng phức tạp. Nỗi đau mất người thân, sự tổn thương khi bị xúc phạm danh dự hay những ảnh hưởng lâu dài về tinh thần khi sức khỏe bị xâm hại là những tổn thất không thể đo đếm bằng tiền, nhưng nếu bỏ qua thì sẽ không bảo đảm công bằng cho người bị hại. Trong thực tiễn, các vụ án dân sự, lao động, thậm chí hình sự đều phát sinh nhiều tranh cãi về phạm vi, mức độ và cơ sở pháp lý của bồi thường tổn thất tinh thần. Không ít trường hợp, các bản án chỉ có thể viện dẫn đến mức trần được quy định trong Bộ luật Dân sự mà không đưa ra được tiêu chí cụ thể để định lượng. Điều này gây nên sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, đồng thời làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường, đặc biệt là làm rõ cơ chế bồi thường tổn thất tinh thần, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT VÀ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
-
-BÁO CÁO MÔN: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
ĐỀ TÀI: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG? TỔN THẤT TINH THẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG CÁC LOẠI THIỆT HẠI NÀO, TẠI SAO?
Giảng viên hướng dẫn: TRẦN THỊ THÚY HẰNG
Nhóm thực hiện: Nhóm 9 Lớp: DHLKT19BTT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2025
Trang 2
DANH SÁCH NHÓM:
Nguyễn Thị Thảo Nghi 23676361 100% Làm Chương I Cơ sở pháp lý
word
Vũ Phương Uyên 23716911 100% Làm Chương II Tổn thất tinh thần Trần Kiều Khanh 23682901 100% Làm Chương III Vụ án thực tiễn và
Kiến nghị
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 6
1 Khái niệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” 6
2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 6
3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7
4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7
4.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 7
4.2 Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra 8
5 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 8
Tiểu kết chương I 8
CHƯƠNG II: TỔN THẤT TINH THẦN TRONG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 9
1 Khái niệm về bồi thường tổn thất tinh thần 9
2 Một số trường hợp được coi là tổn thất về tinh thần 9
3 Khoản bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật 10
4 Lý do tổn thất tinh thần được áp dụng trong một số loại thiệt hại 11
Tiểu kết Chương II 13
III VỤ ÁN THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ 12
1 Vụ Án Thực Tiễn 12
2 Kiến Nghị 13
Tiểu kết Chương III 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động và thương mại, nguy cơ phát sinh thiệt hại do hành vi trái pháp luật ngày càng đa dạng và phức tạp Khi một chủ thể có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc tài sản của chủ thể khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ phát sinh Đây là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự, vừa nhằm khôi phục sự cân bằng lợi ích giữa các bên, vừa thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với những hành vi vi phạm Tuy nhiên, điểm khó khăn nhất và cũng gây nhiều tranh luận nhất trong thực tiễn áp dụng chính là vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường
Đối với những thiệt hại vật chất, pháp luật và thực tiễn xét xử có thể căn cứ vào các chứng
từ, hóa đơn, định giá tài sản hoặc các tài liệu cụ thể khác để làm cơ sở bồi thường Ngược lại, đối với tổn thất tinh thần – một dạng thiệt hại vô hình, gắn liền với đời sống tâm lý, tình cảm và danh dự của con người – việc xác định lại vô cùng phức tạp Nỗi đau mất người thân, sự tổn thương khi bị xúc phạm danh dự hay những ảnh hưởng lâu dài về tinh thần khi sức khỏe bị xâm hại là những tổn thất không thể đo đếm bằng tiền, nhưng nếu bỏ qua thì sẽ không bảo đảm công bằng cho người bị hại Trong thực tiễn, các vụ án dân sự, lao động, thậm chí hình sự đều phát sinh nhiều tranh cãi về phạm vi, mức độ và cơ sở pháp lý của bồi thường tổn thất tinh thần Không ít trường hợp, các bản án chỉ có thể viện dẫn đến mức trần được quy định trong Bộ luật Dân sự mà không đưa ra được tiêu chí cụ thể để định lượng Điều này gây nên sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, đồng thời làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường, đặc biệt là làm rõ cơ chế bồi thường tổn thất tinh thần, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu từ khá sớm Các công trình thường tập trung phân tích những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, các nguyên tắc cơ bản như bồi thường toàn bộ, bồi thường kịp thời, hay vấn đề chứng minh lỗi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với hậu quả xảy ra Đối với vấn đề xác định thiệt hại, phần lớn nghiên cứu dành sự quan tâm nhiều hơn đến thiệt hại vật chất như tài sản bị xâm phạm, thu nhập bị mất hoặc chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại Ngược lại, tổn thất tinh thần chỉ được nhắc đến như một dạng thiệt hại đặc thù, được viện dẫn trong các điều luật nhưng ít có sự phân tích chuyên sâu về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng
Trong thực tiễn xét xử, các tranh chấp liên quan đến bồi thường tổn thất tinh thần thường đặt ra nhiều câu hỏi mà pháp luật hiện hành chưa giải đáp đầy đủ Chẳng hạn, vì sao pháp luật chỉ thừa nhận bồi thường tinh thần trong ba trường hợp là xâm phạm sức khỏe, tính mạng và danh dự, nhân phẩm, uy tín? Tiêu chí nào để xác định mức độ đau thương, mất mát tinh thần của các bên liên quan? Cách nào để bảo đảm sự công bằng và thống nhất trong các bản án khi quy định pháp luật chỉ đưa ra mức trần bồi thường mà không quy định cụ thể
Trang 5mức tối thiểu hay tiêu chí định lượng? Những khoảng trống này làm cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn còn nhiều bất cập và gây tranh luận Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu chuyên sâu vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường, đặc biệt nhấn mạnh đến tổn thất tinh thần, là cần thiết để bổ sung vào kho tàng học thuật và góp phần tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn xét xử
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là phân tích và làm sáng tỏ cơ sở pháp lý về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc biệt tập trung vào khía cạnh tổn thất tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 Trên cơ sở đó, đề tài hướng đến việc nhận diện rõ các loại thiệt hại được bồi thường, lý giải cơ chế pháp luật trong việc áp dụng bồi thường tổn thất tinh thần, đánh giá những bất cập và mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu giới hạn trong các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt là các điều từ 584 đến 592, nơi tập trung các quy định liên quan trực tiếp đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đề tài không đi sâu vào trách nhiệm bồi thường trong quan hệ hợp đồng mà chỉ phân tích những trường hợp phát sinh ngoài hợp đồng Các loại thiệt hại được xem xét bao gồm cả thiệt hại vật chất như tài sản, chi phí, thu nhập bị mất hoặc giảm sút, và thiệt hại phi vật chất là tổn thất tinh thần Không gian nghiên cứu tập trung vào thực tiễn xét xử ở Việt Nam, nhưng trong một số trường hợp sẽ tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống pháp luật dân sự phát triển để có cái nhìn so sánh
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.
Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
là một trong những chế định quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Quy định này không chỉ góp phần khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra mà còn nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của mọi cá nhân, tổ chức Trên
cơ sở đó, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến khái niệm, căn cứ phát sinh, nguyên tắc
áp dụng, năng lực chịu trách nhiệm và thời hiệu khởi kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
1 Khái niệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng; người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định pháp lý quan trọng trong Bộ luật dân
sự, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị người khác xâm phạm ngoài khuôn khổ quan hệ hợp đồng Nói cách khác, đây là một loại trách nhiệm dân
sự phát sinh độc lập, không dựa trên sự tồn tại của quan hệ hợp đồng đã được xác lập từ trước giữa các bên Theo đó, bất kỳ người nào có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác thì phải có nghĩa vụ bồi thường Quy định này thể hiện nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là bảo đảm công bằng, buộc người gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra
2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ theo Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định:
“1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quanquy định khác
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bịthiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật cóquy định khác
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, ngườichiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”
Trang 7Như vậy, để trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh, cần phải hội tụ đủ các điều kiện pháp lý: Thứ nhất, phải có thiệt hại thực tế xảy ra; thứ hai, hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật; thứ ba, tồn tại mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; cuối cùng, phải có lỗi của người gây thiệt hại, có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Đây chính là bốn căn cứ quan trọng, là cơ sở pháp lý để Tòa án xem xét, quyết định trách nhiệm bồi thường của các bên
3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 nguyêntắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
“1 Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không
có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình
3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường
4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra
5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không
áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại chochính mình” Các nguyên tắc này vừa thể hiện tính công bằng, vừa bảo đảm sự linh hoạt khi giải quyết tranh chấp Trên thực tế, nguyên tắc “thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” là nguyên tắc chung, song pháp luật vẫn cho phép sự thỏa thuận để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Đồng thời, việc xét đến yếu tố lỗi của cả bên gây thiệt hại lẫn bên bị thiệt hại cũng giúp việc bồi thường khách quan và hợp lý hơn
4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
4.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
Tại Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được quy định như sau:
“1 Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường
2 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy địnhtại Điều 599 của Bộ luật này
Trang 8Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình
3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đóđược dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được xác định dựa trên độ tuổi, khả năng nhận thức và tình trạng năng lực hành vi dân sự Đối với người trưởng thành, họ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Đối với người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi, trách nhiệm bồi thường sẽ có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người giám
hộ Điều này thể hiện tính nhân văn của pháp luật khi vừa bảo đảm quyền lợi cho bên bị thiệt hại, vừa chú ý đến khả năng chịu trách nhiệm của người gây thiệt hại
4.2 Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Tại Điều 587 Bộ luật dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra quy định:
“Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau”
Quy định này phản ánh nguyên tắc liên đới trách nhiệm trong dân sự, bảo đảm rằng người
bị thiệt hại sẽ nhận được bồi thường đầy đủ, bất kể việc xác định lỗi của từng người có khó khăn hay không Sau đó, những người cùng gây thiệt hại có thể tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia nghĩa vụ bồi thường dựa trên mức độ lỗi thực tế
5 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tại Điều 588 Bộ luật dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
Vấn đề thời hiệu khởi kiện cũng là một nội dung quan trọng Điều 588 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Điều này
có nghĩa là, sau khoảng thời gian ba năm tính từ thời điểm phát hiện hành vi xâm phạm, nếu bên bị thiệt hại không khởi kiện thì sẽ mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định khác
Trang 9Tiểu kết chương I:
Qua nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể thấy rằng, chế định này giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội Trước hết, pháp luật đã xác định rõ khái niệm và bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, coi đây
là loại trách nhiệm phát sinh độc lập, không dựa trên quan hệ hợp đồng, mà từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác Tiếp đó, các căn cứ phát sinh trách nhiệm cũng được quy định cụ thể, bao gồm thiệt hại thực tế, hành vi trái pháp luật, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, cùng với yếu tố lỗi của người gây thiệt hại Đồng thời, pháp luật cũng đưa ra những nguyên tắc bồi thường nhằm bảo đảm công bằng, hợp lý, vừa bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, vừa cân nhắc khả năng thực tế của người gây thiệt hại Từ đó có thể khẳng định rằng chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một công cụ pháp lý quan trọng, không chỉ góp phần bảo đảm công bằng xã hội, khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm mà còn nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong việc tôn trọng, tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
CHƯƠNG II TỔN THẤT TINH THẦN TRONG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.
1 Khái niệm về bồi thường tổn thất tinh thần
Tổn thất về tinh thần là việc sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh… Tổn thất về tinh thần là việc sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh…
2 Một số trường hợp được coi là tổn thất về tinh thần
Theo quy định tại các Điều 590, 591 và 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, tổn thất tinh thần là một dạng thiệt hại phi vật chất, được xác định trong những trường hợp quyền nhân thân của
cá nhân bị xâm phạm Trước hết, khi sức khỏe của cá nhân bị xâm phạm, tổn thất tinh thần thường thể hiện ở sự đau đớn, khủng hoảng tâm lý do hậu quả của tai nạn, hành vi bạo lực hoặc các hành vi trái pháp luật khác Những thương tật nghiêm trọng không chỉ gây ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động và sinh hoạt hằng ngày mà còn kéo theo cảm giác bất
an, lo âu, sợ hãi, thậm chí trầm cảm, khiến cho đời sống tinh thần của người bị hại bị suy giảm nghiêm trọng Bên cạnh đó, trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm, đặc biệt là khi nạn nhân tử vong do hành vi vi phạm pháp luật như giết người hay tai nạn giao thông gây chết người, sự mất mát này không chỉ dừng lại ở người trực tiếp bị xâm hại mà còn tác động sâu sắc đến thân nhân của họ Đối với những người thân cận nhất như cha mẹ, vợ chồng, con cái, việc mất đi người thân yêu để lại cú sốc tâm lý lớn, tạo ra khoảng trống tinh thần không thể bù đắp, được pháp luật ghi nhận là một dạng tổn thất tinh thần đặc biệt nghiêm
Trang 10trọng Ngoài ra, tổn thất tinh thần cũng phát sinh khi danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân bị xâm phạm Những hành vi như lăng mạ, vu khống, làm nhục công khai hoặc phát tán thông tin sai lệch, gây tổn hại đến hình ảnh cá nhân trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, đều trực tiếp xâm phạm đến giá trị nhân thân cốt lõi của con người Hệ quả là
cá nhân bị hại phải chịu sự tổn thương sâu sắc về lòng tự trọng, uy tín xã hội và các mối quan hệ cá nhân, ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế, sự nghiệp cũng như đời sống tinh thần nói chung Như vậy, có thể thấy pháp luật dân sự Việt Nam đã thiết lập cơ chế bồi thường nhằm ghi nhận và bảo vệ đầy đủ các giá trị tinh thần vốn khó định lượng, qua đó bảo đảm công bằng và khẳng định ý nghĩa nhân văn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền nhân thân của mỗi cá nhân
3 Khoản bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật
Khoản bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật hiện hành được xác định trên từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào dạng thiệt hại mà cá nhân phải gánh chịu Trước hết, trong trường hợp sức khỏe của một cá nhân bị xâm phạm, pháp luật quy định người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp cho những đau đớn, khủng hoảng tinh thần mà người bị hại phải chịu Theo khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm
2015, được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, mức bồi thường này trước tiên do các bên tự thỏa thuận Tuy nhiên, trong trường hợp không đạt được sự thống nhất, thì mức tối đa không được vượt quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định Tại thời điểm hiện nay, theo Nghị định 73/2023/NĐ-CP, mức lương cơ sở là 2,34 triệu đồng, do đó khoản bồi thường tổn thất tinh thần tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm có thể lên đến 90 triệu đồng Điều này cho thấy nhà làm luật đã tạo ra một giới hạn pháp lý nhất định, vừa bảo đảm tính linh hoạt trong thỏa thuận, vừa duy trì sự công bằng và tránh lạm dụng Đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm, quy định pháp luật càng thể hiện rõ tính nhân văn khi quan tâm đến những người thân thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại, hoặc trong một số trường hợp đặc biệt là người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc được nuôi dưỡng bởi nạn nhân Căn cứ khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người gây ra thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền
để bù đắp cho sự đau thương, mất mát tinh thần to lớn mà những người thân của nạn nhân phải gánh chịu Nguyên tắc chung vẫn là thỏa thuận giữa các bên, nhưng nếu không thể đạt được sự đồng thuận, mức tối đa cho khoản bồi thường này là không vượt quá một trăm lần mức lương cơ sở Với mức lương cơ sở hiện hành là 2,34 triệu đồng, số tiền tối đa mà pháp luật cho phép bồi thường trong trường hợp này là 234 triệu đồng Có thể nhận thấy rằng, so với thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tính mạng có phạm vi bồi thường cao hơn gấp đôi, phản ánh đúng bản chất nghiêm trọng và không thể khắc phục của mất mát này
Ngoài ra, bộ luật dân sự cũng đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ các giá trị nhân thân gắn liền với danh dự, nhân phẩm và uy tín của mỗi cá nhân Khi một người bị xâm phạm đến các giá trị này, ngoài thiệt hại vật chất có thể phát sinh, sự tổn thương về tinh thần cũng cần được xem xét bù đắp Căn cứ khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, cùng với hướng