Với mong muốn rà soát, xem xét,đánh giá thực trạng của CTĐT; xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động nhằmcải tiến và nâng cao chất lượng CTĐT; từ đó điều chỉnh mục tiêu cho giai đo
KHÁI QUÁT
Đặt vấn đề 1.2 Tổng quan chung PHẦN II TỰ ĐÁNH GIÁ THEO CÁC TIÊU CHUẨN VÀ TIÊU CHÍ
1.1.1 Tóm tắt báo cáo tự đánh giá
Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong những năm qua, đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo (CTĐT) đã được các trường Đại học hết sức coi trọng Đặc biệt, Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới (Chương trình GDPT 2018), với nhiều thay đổi so với hiện tại đã đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với các cơ sở giáo dục có đào tạo giáo viên
Là một khoa đào tạo giáo viên của trường Đại học Vinh, trong những năm qua, Khoa Sư phạm Ngoại ngữ thường xuyên quan tâm đến việc đổi mới và nâng cao chất lượng CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh Với mong muốn rà soát, xem xét, đánh giá thực trạng của CTĐT; xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng CTĐT; từ đó điều chỉnh mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo của đơn vị, Nhà trường đã tiến hành tự đánh giá và đăng ký đánh giá ngoài (ĐGN) CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh theo Công văn số 2085/QLCL ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Cục Quản lý chất lượng về việc hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài chương trình đào tạo, Công văn 774/QLCL của Cục Quản lý chất lượng, ngày 10/6/2021 về việc điều chỉnh một số phụ lục của Công văn số 2085/QLCL-KĐCLGD
Việc tự đánh giá CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh đã giúp Nhà trường, khoa Sư phạm Ngoại ngữ tự rà soát, đánh giá thực trạng đào tạo của Ngành làm cơ sở để điều chỉnh, cải tiến nâng cao chất lượng của CTĐT, là điều kiện cần thiết để Nhà trường đăng ký đánh giá ngoài và đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng CTĐT, thể hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của Nhà trường trong toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH) và phục vụ cộng đồng theo chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với sứ mạng và mục tiêu đã được xác định. Để triển khai kế hoạch tự đánh giá CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Vinh đã căn cứ vào các tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT (ban hành kèm theo Công văn số 2085/QLCL ngày 31 tháng 12 năm
2020 của Cục Quản lý chất lượng về việc hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài chương trình đào tạo, Công văn 774/QLCL của Cục Quản lý chất lượng, ngày 10/6/2021 về việc điều chỉnh một số phụ lục của Công văn số 2085/QLCL-KĐCLGD) để tiến hành xem xét, tự đánh giá và làm rõ thực trạng CTĐT; phân tích, giải thích, so sánh, đối chiếu và đưa ra những nhận định, chỉ ra điểm mạnh, điểm tồn tại và kế hoạch hành động nhằm phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm tồn tại
Công tác tự đánh giá CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh đòi hỏi sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong và ngoài trường Hội đồng tự đánh giá CTĐT ngành Ngôn ngữ Anh theo Quyết định số 375/QĐ-ĐHV ngày 21 tháng 02 năm
2024 của Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh gồm Ban Giám hiệu, cán bộ giảng viên khoa Sư phạm Ngoại ngữ, cán bộ các phòng, ban, trung tâm trong trường Các bên liên quan như SV, cựu SV, giảng viên, nhà tuyển dụng, là nguồn cung cấp thông tin quan trọng phục vụ cho việc tự đánh giá Ban giám hiệu (BGH) chỉ đạo chung, Trung tâm Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) của Trường tổ chức tập huấn, hướng dẫn kĩ thuật; các tiểu ban phối hợp với các phòng, ban, trung tâm trong trường hoàn thiện báo cáo tự đánh giá kèm hồ sơ minh chứng
Cấu trúc của báo cáo tự đánh giá CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh bao gồm 4 phần:
Phần I cung cấp cái nhìn khái quát về mục đích của hoạt động tự đánh giá CTĐT, mô tả ngắn gọn quy trình tự đánh giá và các phương pháp, công cụ đánh giá nhằm làm rõ bối cảnh của hoạt động và giúp người đọc hiểu nội dung báo cáo tự đánh giá Đồng thời, phần này nêu bật sự tham gia của các bên liên quan—khoa, ban, phòng, giảng viên, nhân viên, người học và các đối tượng liên quan—và trình bày cách thức tổ chức để các thành phần này tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá CTĐT.
+ Phần II: Tự đánh giá CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh theo các tiêu chuẩn, tiêu chí với các tiểu mục là: (1) Mô tả hiện trạng - phân tích chung về toàn bộ tiêu chuẩn và chỉ ra các minh chứng cụ thể; (2) Điểm mạnh; (3) Điểm tồn tại; (4)
Kế hoạch hành động và (5) Tự đánh giá mức độ đạt so với yêu cầu của tiêu chí.
+ Phần III: Kết luận, tóm tắt những điểm mạnh, điểm cần phát huy của đơn vị đào tạo, được tổng hợp theo từng tiêu chuẩn, tóm tắt những điểm tồn tại, cần cải tiến chất lượng, Kế hoạch hành động và tổng hợp kết quả tự đánh giá.
+ Phần IV: Phụ lục, bao gồm cơ sở dữ liệu gồm kiểm định chất lượng CTĐT, các quyết định văn bản liên quan khác và danh mục minh chứng.
Nội dung chính của Báo cáo tự đánh giá CTĐT trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Anh dựa theo bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT do Bộ GD&ĐT ban hành, bao gồm 11 tiêu chuẩn, 50 tiêu chí Trong đó, các tiêu chuẩn 1, 2, 3, 4 tập trung vào mục tiêu, chuẩn đầu ra (CĐR), bản mô tả CTĐT, cấu trúc, nội dung chương trình dạy học và phương pháp tiếp cận trong dạy - học; tiêu chuẩn 5 tự đánh giá về hoạt động đánh giá kết quả học tập của người học; tiêu chuẩn 6, 7 hướng đến việc tự đánh giá về đội ngũ cán bộ giảng viên và đội ngũ nhân viên; tiêu chuẩn 8 tập trung đánh giá việc tuyển sinh, các yếu tố liên quan đến người học và hoạt động hỗ trợ người học; tiêu chuẩn 9 gắn với các vấn đề về cơ sở vật chất và trang thiết bị; tiêu chuẩn 10 đưa ra những nhận định chính xác trong nâng cao chất lượng CTĐT; tiêu chuẩn 11 đưa ra các đánh giá về kết quả đạt được của cả CTĐT ngành Ngôn ngữ Anh trong chu kì đánh giá (2019-2023)
Mỗi tiêu chí sẽ có một hệ thống các thông tin, minh chứng đi kèm Mã thông tin và minh chứng (Mã MC) được ký hiệu bằng chuỗi có ít nhất 11 ký tự, bao gồm 1 chữ cái, ba dấu chấm và 7 chữ số; cứ 2 chữ số có 1 dấu chấm (.) để phân cách theo công thức sau: Hn.ab.cd.ef; Trong đó:
- H: viết tắt “Hộp minh chứng” (Minh chứng của mỗi tiêu chuẩn được tập hợp trong 1 hộp hoặc một số hộp)
- n: số thứ tự của hộp minh chứng được đánh số từ 1 đến hết (trường hợp n ≥
10 thì chuỗi ký hiệu có 12 ký tự trở lên)
- ab: số thứ tự của tiêu chuẩn (tiêu chuẩn 1 viết 01, tiêu chuẩn 10 viết 10)
- cd: số thứ tự của tiêu chí (tiêu chí 1 viết 01, tiêu chí 10 viết 10)
- ef: số thứ tự của minh chứng theo từng tiêu chí (thông tin và minh chứng thứ nhất viết 01, thứ 15 viết 15 )
Ví dụ: H1.01.01.01: là MC thứ nhất của tiêu chí 1 thuộc tiêu chuẩn 1, được đặt ở hộp 1; H3.03.02.15: là MC thứ 15 của tiêu chí 2 thuộc tiêu chuẩn 3, được đặt ở hộp 3.
1.1.2 Mục đích, quy trình tự đánh giá, phương pháp và công cụ đánh giá Mục đích tự đánh giá : Đánh giá tổng thể các hoạt động của ngành theo Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT các trình độ GDĐH của Bộ GD&ĐT, ban hành kèm theo Thông tư
04/2016/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 3 năm 2016. Đây là quá trình nhằm giúp cho ngành Ngôn ngữ Anh và Khoa Sư phạm ngoại ngữ tự xem xét, nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do
Bộ GD&ĐT ban hành để báo cáo về tình trạng chất lượng đào tạo, hiệu quả hoạt động đào tạo, NCKH, nhân lực, cơ sở vật chất, cũng như các vấn đề liên quan khác; từ đó tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn chất lượng đào tạo, từng bước xây dựng ngành trở thành đơn vị đào tạo giáo viên, nghiên cứu và triển khai các hoạt động liên quan đến Tiếng Anh và giảng dạy tiếng Anh đứng đầu khu vực Bắc trung bộ. Đánh giá các điểm mạnh, điểm tồn tại của ngành Ngôn ngữ Anh, Khoa Sư phạm ngoại ngữ trong công tác đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ nhằm đề ra kế hoạch, biện pháp cụ thể để từng bước cải tiến, nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, NCKH và phục vụ cộng đồng của ngành Ngôn ngữ Anh.
Hoạt động tự đánh giá thể hiện tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của Khoa trong toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng theo chức năng và nhiệm vụ được giao Quá trình này phản ánh sứ mạng và mục tiêu của Nhà trường và đóng góp vào nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.