Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, giáo dục đại học không chỉ đơn thuần là nơi truyền thụ kiến thức mà còn là môi trường rèn luyện, chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết để thích ứng với thị trường lao động đầy biến động. Một trong những xu hướng nổi bật và ngày càng phổ biến trong đời sống sinh viên hiện nay là việc đi làm thêm. Hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân mà còn được xem là một kênh hiệu quả để tích lũy kinh nghiệm, trau dồi kỹ năng mềm và mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích rõ rệt đó, việc đi làm thêm cũng tiềm ẩn những rủi ro và tác động tiêu cực, đặc biệt là đối với kết quả học tập, một trong những thước đo quan trọng nhất về hiệu quả đào tạo của nhà trường và nỗ lực cá nhân của người học. Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế, GDP năm 2024 ước tính tăng khoảng 6,5%, thể hiện sự ổn định đáng kể trong khi kinh tế toàn cầu gặp nhiều biến động. Thị trường lao động cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn khoảng 2,2% so với 2,6% của năm 2023, góp phần cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, cả nước vẫn còn 1.258.997 hộ nghèo và cận nghèo đa chiều, chiếm 4,06% tổng số hộ dân [1]. Trong bức tranh đó, giáo dục đại học nổi lên như một lĩnh vực vừa phản ánh vừa chịu tác động trực tiếp của quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, những năm gần đây, chi phí học tập tại các trường đại học công lập có xu hướng gia tăng đáng kể. Xu hướng này gắn liền với quá trình đổi mới cơ chế tài chính và tự chủ đại học, khi học phí trở thành nguồn thu chủ yếu nhằm bù đắp chi phí đào tạo và nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục [2,3]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương chính sách học phí trong bối cảnh tự chủ đã tạo ra áp lực tăng mức thu để bảo đảm nguồn lực cho giảng dạy và nghiên cứu [2]. Tương tự, Trần Quang Hùng cũng nhấn mạnh rằng học phí tại các trường công lập ngày càng cao [3]. Do đó, ngày càng nhiều sinh viên lựa chọn đi làm thêm trong quá trình học tập tại trường đại học. Động cơ phổ biến là để trang trải chi phí sinh hoạt, tích lũy kinh nghiệm làm việc và phát triển kỹ năng mềm. Tuy nhiên, việc làm thêm cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập, sức khỏe và khả năng gắn kết với môi trường học đường. Việc làm thêm là một “con dao hai lưỡi”: bên cạnh lợi ích về tài chính và kỹ năng xã hội, nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe và kết quả học tập. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thư và Trương Thị Ngọc Điệp trên 275 sinh viên Khoa Ngoại ngữ, Đại học Cần Thơ cho thấy: khi thời gian làm thêm vượt quá 14 giờ/tuần, sinh viên có xu hướng giảm khả năng tập trung, thiếu ngủ, bỏ bữa và khó duy trì việc tự học [4]. Nghiên cứu này ra đời nhằm lấp đầy khoảng trống đó. Bằng cách phân tích một cách có hệ thống các yếu tố ảnh hưởng, từ các yếu tố cá nhân (động cơ, mục tiêu học tập, năng lực quản lý thời gian), đến các yếu tố công việc (loại hình công việc, số giờ làm thêm, thu nhập), và các yếu tố xã hội (áp lực từ bạn bè, gia đình), đề tài sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc.Từ thực trạng trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM” nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên, đề xuất các định hướng giúp sinh viên cân bằng giữa học tập và công việc và góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên về việc lựa chọn công việc phù hợp với năng lực và thời gian học tập.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐI LÀM BÁN THỜI GIAN ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG NGHIỆP TP HCM
Môn học: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Lớp học phần: DHDKTD19CTT
Mã học phần: 422000362315
Tên nhóm: 7
TIỂU LUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2025
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐI LÀM BÁN THỜI GIAN ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG NGHIỆP TP HCM
Môn học: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Lớp học phần: DHDKTD19CTT
Mã học phần: 422000362315
Tên nhóm: 7
1 Trần Khắc Huy 22637631
2 Đinh Xuân Nguyên 22650881
3 Nguyễn Hoàng Phúc 22646701
4 Lê Đức Minh 22679211
5 Nguyễn Hoàng Nam Quỳnh 22662061
6 Nguyễn Ngọc Thắng 22725081
7 Nguyễn Hoàng Minh 22669011
8 Nguyễn Hoàng Quân
TIỂU LUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2025
Trang 3KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
TỔ GIÁO DỤC HỌC
BẢN CHẤM ĐIỂM TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
(ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU)
Học kỳ 1 năm học 2025 – 2026
Đề tài: Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng của việc đi làm bán thời gian tới kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Điểm tiểu luận nhóm
CLO
CL 2
Phần
mở đầu
(2)
Lý do chọn đề tài
0,50
Câu hỏi nghiên
Đối tượng/
phạm vi nghiên cứu
0,25
Ý nghĩa khoa học
0,25
Ý nghĩa thực
Tổng
quan tài
liệu
(1.5)
Phương
pháp
nghiên
cứu
(3)
Thiết kế nghiên
Phương pháp
Hình
thức
(0.5)
Diễn đạt/ Chính tả
0,25
Hình thức trình
CL 4
Trích
dẫn và
tài liệu
Ghi nguồn đầy
Trang 4khảo
(2)
dẫn trong bài Trình bày trích
Số lượng/ chất lượng tài liệu tham khảo
0,25
Trình bày danh mục TLTK
0,50
BẢNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM CLO STT Họ và Tên Xếp loại Điểm quy
đổi (b)
Điểm tổng kết (a+b)
CLO 4
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 6
2.1 Mục tiêu chính 6
2.2 Mục tiêu cụ thể 6
3 Câu hỏi nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1 Các khái niệm 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước theo khung khái niệm 6
3 Những vấn đề/ khía cạnh còn chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước đó 7
NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP 7
1 Thiết kế nghiên cứu 7
2 Chọn mẫu 7
3 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 7
4 Mô hình nghiên cứu, biến số và thang đo (nếu có) 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Quy trình thu thập dữ liệu 7
5.2 Xử lý dữ liệu 7
CẤU TRÚC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN 7
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
PHỤ LỤC 10
Phụ lục 1 10
Phụ lục 2 10
BIÊN BẢN HOẠT ĐỘNG NHÓM 10
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Hồ Chí Minh HCM
Trang 7TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐI LÀM BÁN THỜI GIAN ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, giáo dục đại học không chỉ đơn thuần là nơi truyền thụ kiến thức mà còn là môi trường rèn luyện, chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết để thích ứng với thị trường lao động đầy biến động Một trong những xu hướng nổi bật và ngày càng phổ biến trong đời sống sinh viên hiện nay là việc đi làm thêm Hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân mà còn được xem là một kênh hiệu quả để tích lũy kinh nghiệm, trau dồi kỹ năng mềm và mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội Tuy nhiên, cùng với những lợi ích rõ rệt đó, việc đi làm thêm cũng tiềm ẩn những rủi ro và tác động tiêu cực, đặc biệt là đối với kết quả học tập, một trong những thước đo quan trọng nhất về hiệu quả đào tạo của nhà trường và nỗ lực cá nhân của người học
Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế, GDP năm 2024 ước tính tăng khoảng 6,5%, thể hiện sự ổn định đáng kể trong khi kinh tế toàn cầu gặp nhiều biến động Thị trường lao động cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn khoảng 2,2% so với 2,6% của năm 2023, góp phần cải thiện đời sống của người dân Tuy nhiên, cả nước vẫn còn 1.258.997 hộ nghèo và cận nghèo đa chiều, chiếm 4,06% tổng số hộ dân [1]
Trong bức tranh đó, giáo dục đại học nổi lên như một lĩnh vực vừa phản ánh vừa chịu tác động trực tiếp của quá trình phát triển kinh tế – xã hội Đặc biệt, những năm gần đây, chi phí học tập tại các trường đại học công lập có xu hướng gia tăng đáng kể Xu hướng này gắn liền với quá trình đổi mới cơ chế tài chính và tự chủ đại học, khi học phí trở thành nguồn thu chủ yếu nhằm bù đắp chi phí đào tạo và nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục [2,3] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương chính sách học phí trong bối cảnh tự chủ đã tạo ra áp lực tăng mức thu để bảo đảm nguồn lực cho giảng dạy và nghiên cứu [2] Tương tự, Trần Quang Hùng cũng nhấn mạnh rằng học phí tại các trường công lập ngày càng cao [3]
Do đó, ngày càng nhiều sinh viên lựa chọn đi làm thêm trong quá trình học tập tại trường đại học Động cơ phổ biến là để trang trải chi phí sinh hoạt, tích lũy kinh nghiệm
Trang 8làm việc và phát triển kỹ năng mềm Tuy nhiên, việc làm thêm cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập, sức khỏe và khả năng gắn kết với môi trường học đường
Việc làm thêm là một “con dao hai lưỡi”: bên cạnh lợi ích về tài chính và kỹ năng xã hội, nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe và kết quả học tập Nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thư và Trương Thị Ngọc Điệp trên 275 sinh viên Khoa Ngoại ngữ, Đại học Cần Thơ cho thấy: khi thời gian làm thêm vượt quá 14 giờ/tuần, sinh viên có xu hướng giảm khả năng tập trung, thiếu ngủ, bỏ bữa và khó duy trì việc tự học [4]
Nghiên cứu này ra đời nhằm lấp đầy khoảng trống đó Bằng cách phân tích một cách có
hệ thống các yếu tố ảnh hưởng, từ các yếu tố cá nhân (động cơ, mục tiêu học tập, năng lực quản lý thời gian), đến các yếu tố công việc (loại hình công việc, số giờ làm thêm, thu nhập), và các yếu tố xã hội (áp lực từ bạn bè, gia đình), đề tài sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc.Từ thực trạng trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM” nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên, đề xuất các định hướng giúp sinh viên cân bằng giữa học tập và công việc và góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên về việc lựa chọn công việc phù hợp với năng lực và thời gian học tập
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chính
Tìm hiểu sự ảnh hưởng của việc làm bán thời gian đến hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Mục tiêu cụ thể
Khảo sát thực trạng việc làm bán thời gian của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Tìm hiểu tác động của việc đi làm bán thời gian đến hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các giải pháp nhằm giúp sinh viên cân bằng giữa việc làm thêm và học tập, góp phần nâng cao hiệu quả học tập tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 93 Câu hỏi nghiên cứu
Yếu tố nào tác động nghiêm trọng nhất của việc đi làm bán thời gian đến học tập của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh?
Các giải pháp nhằm giúp sinh viên cân bằng giữa việc làm bán thời gian và học tập, góp phần nâng cao hiệu quả học tập tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là gì ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Tìm hiểu sự ảnh hưởng của việc làm bán thời gian đến hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi thời gian : từ 8/2025 đến 11/2025
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Bổ sung tri thức khoa học về hành vi sinh viên : Làm rõ mối quan hệ giữa việc làm thêm và việc học Qua việc phân tích đó phân biệt được yếu tố nào ảnh hưởng tích cực , yếu tố nào ảnh hưởng tiêu cực
Làm rõ tính chất và mức độ ảnh hưởng : Bài nghiên cứu không chỉ làm rõ các yếu
tố ảnh hưởng của việc làm thêm tới kết quả học tập của sinh viên mà còn đánh giá cường
độ tác động của các yếu tố từ đó góp phần cung cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo đồng thời cũng là đóng góp thêm dự liệu để kiểm chứng hay so sánh kết quả với các nghiên cứu trước đó
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đối với sinh viên : Giúp sinh viên nhận thức rõ mặt tích cực và hạn chế của việc làm thêm Qua đó giúp sinh viên định hướng việc chọn công việc làm thêm phù hợp để cân bằng giữa việc đi làm và việc học cần bao nhiêu thời gian là hợp lý để không bỏ lỡ những mục tiêu mong muốn trong thời sinh viên của mình
Đối với nhà trường : Cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà trường về tình hình việc làm thêm của sinh viên là cơ sở để xây dựng các chính sách hỗ trợ học tập cho
Trang 10sinh viên để khuyến khích sinh viên tập trung học tập cũng như các định hướng làm thêm đúng chuyên ngành
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Các khái niệm
1.1 Hành vi học tập
Hoạt động học tập của sinh viên có thể được hiểu là một quá trình tâm lý mang tính tự giác và có ý thức, được tổ chức nhằm hướng tới việc phát triển người học trở thành những cá nhân toàn diện, sáng tạo và có năng lực chuyên môn vững vàng Đây
là một hoạt động có mục tiêu cụ thể, có hệ thống động cơ thúc đẩy, đồng thời gắn liền với hàng loạt các quá trình nhận thức như tư duy, ghi nhớ, phân tích và vận dụng kiến thức Trong thực tiễn, sinh viên vừa có thể tự tổ chức hoạt động học tập của mình dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên, vừa có thể chủ động tự học để đạt được các mục tiêu
đã đặt ra Thông qua đó, sinh viên không chỉ tích lũy kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp
mà còn hoàn thiện nhân cách, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cá nhân Bên cạnh yếu tố trí tuệ, hoạt động học tập còn phản ánh các mặt khác của đời sống tâm lý sinh viên như cảm xúc, ý chí, thái độ và toàn bộ những đặc điểm nhân cách, góp phần hình thành nên bản lĩnh và phong cách học tập riêng của mỗi người [5]
1.2 Sinh viên
Sinh viên, thường được gọi là “thanh niên sinh viên”, là những người đang học tập trong các trường Đại học và Cao đẳng, với độ tuổi phổ biến từ 18 đến 25 có nhiệm vụ chính là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho nghề nghiệp sau này Đồng thời, đây cũng là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, lý tưởng sống và trách nhiệm xã hội, góp phần tạo nên nguồn nhân lực trí thức chất lượng cao cho đất nước trong tương lai [6]
1.3 Làm thêm
Việc làm bán thời gian được hiểu là công việc mà sinh viên làm thêm với thời gian không quá giờ làm việc toàn thời gian, nhằm mục đích tài chính, rèn luyện kỹ năng, có cả lợi ích và ảnh hưởng tiêu cực lên học tập, sức khỏe [7]
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.1 Nghiên cứu trong nước
Trang 11Hiện nay , việc đi làm bán thời gian ngày càng phổ biến rộng rãi , không chỉ các nhà báo , các doanh nghiệp quan tâm mà nó đã thấm đậm vào suy nghĩ của những sinh viên khi vừa mới nhập học đại học còn mới chập chững làm quen với môi trường đại học Theo tác giả Nguyễn Như Ý , trong nghiên cứu về khảo sát nhu cầu làm thêm của sinh viên Trường đại học Cần Thơ sử dụng phương pháp phân tích phân biệt Kết quả cho thấy có 10 nhân tố tác động đến nhu cầu làm thêm của sinh viên Qua quá trình nghiên cứu , chọn lọc được 3 yếu tố chính là kinh nghiệm – kỹ năng , chi tiêu của sinh viên và kênh thông tin tìm việc [8] Bên cạnh đó , trong nghiên cứu của Vương Quốc Duy , Trương Thị Thúy Hằng , Nguyễn Hồng Diễm và Lê Long Hậu tại Đại học Cần Thơ bằng phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích số liệu cũng đã chỉ ra có khoảng 50,3% sinh viên đang theo học ở trường đi làm thêm với nhiều mục đích khác nhau , nhưng hầu hết các sinh viên đều cho rằng việc làm thêm là 1 phần tất yếu khá là quan trọng Đồng thời cũng chỉ ra nhân tố ảnh hưởng tới việc chọn đi làm thêm là năm đang học , thu nhập, chi tiêu , thời gian rảnh , kinh nghiệm – kỹ năng sống và kết quả học tập [9] Từ đó ta có thể thấy rằng, chính những nhân tố ảnh hưởng tới quyết định có đi làm thêm của sinh viên hay không cũng đồng thời cũng là những yếu tố gián tiếp ảnh hưởng đến kết quả học tập, sức khỏe và khả năng tập trung của các bạn khi tham gia công việc ngoài giờ học
Nghiên cứu “ Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ “ đã phân tích các vấn đề của sinh viên đối với học tập khi chọn đi làm thêm trong quá trình tiếp thu kiến thức ở ghế nhà trường Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng , bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự khác biệt về kết quả học tập ở những sinh viên có đi làm thêm và sinh viên không đi làm thêm , thứ hai có sự khác nhau về kết quả học tập ở những sinh viên trước khi đi làm thêm
và và khi đi làm thêm và cuối cùng là số giờ đi làm thêm có sự tác động ngược chiều lên kết quả học tập Việc đi làm thêm ảnh hưởng đến thời gian học tập của sinh viên bao gồm việc học trên lớp và những giờ tự học cùng với đó là sức khỏe của sinh viên Việc đi làm thêm thời gian dài gây ra cảm giác mệt mỏi khi học tập và không có hứng thú khi học Ngoài ra do đặc thù của một số công việc đòi hỏi sự tập chung , sự chính xác , tư vấn khánh hàng làm cho sinh viên bị phân tâm khi học và khó tập chung khi học
Bên cạnh đó nghiên cứu “ Thực Trạng đi làm thêm của sinh viên Trường Đại học Kỹ Thuật Y Tế Hải Dương” bằng phương pháp nghiên cứu mô tả ngang qua khảo sát lấy ý kiến từ 1433 sinh viên theo học ở trường cũng chỉ ra rằng có 24.7% sinh viên nghỉ học khi đi làm thêm vì trùng lịch học và 54,5% sinh viên học cho rằng làm thêm khiến kết
Trang 12quả học tập giảm sút và 40,7 % cho rằng dễ bị cám dỗ , sa ngã Đam mê kiếm tiền ảnh hưởng tới kết quả học tập rất lớn Lý do chủ yếu của việc đi làm thêm là muốn tăng thêm thu nhập , trang trải cho sinh hoạt của bản thân , đặc biệt là muốn khẳng định bản thân chiếm tới 42,2 % chỉ có một số ít là tận dụng khoảng thời gian rảnh rỗi và rèn luyện kỹ năng làm việc tích lũy kinh nghiệm làm việc cho nghề nghiệp sau này [11]
Bài nghiên cứu “ Đánh giá kết quả học tập của sinh viên đi làm thêm và sinh viên không đi làm thêm ở các khoa trong trường Đại học Cần Thơ” với mô hình Probit và mô hình phân tích điểm số xu hướng thu thập từ 400 sinh viên ở các khoa trong trường cũng chỉ ra như là phần lớn công việc sinh viên chọn làm thêm là tiếp tân Điểm học tập giữa sinh viên dành phần lớn thời gian đi làm và sinh viên tập chung học có sự khác biệt do chưa phân bổ thời gian hợp lý cho việc làm và việc làm [12] Điều đó cho thấy, việc lựa chọn làm thêm tuy mang lại kinh nghiệm thực tiễn, nhưng nếu sinh viên không biết cân đối quỹ thời gian hợp lý thì sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kết quả học tập
3 Những vấn đề/ khía cạnh còn chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước đó NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP
1 Thiết kế nghiên cứu
2 Chọn mẫu
3 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát
4 Mô hình nghiên cứu, biến số và thang đo (nếu có)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quy trình thu thập dữ liệu
5.2 Xử lý dữ liệu
CẤU TRÚC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN
(Dự kiến gồm bao nhiêu chương, nội dung từng chương, từng tiểu mục của chương…)