1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

IUH | TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT CHỦ THỂ KINH DOANH | CHẾ ĐỘ THÀNH VIÊN VÀ TÀI CHÍNH CỦA HỢP TÁC XÃ

49 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 153,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Mục đích và nhiệm vụ (7)
    • 2.1 Mục đích (7)
    • 2.2 Nhiệm vụ (7)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu (7)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (8)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ (8)
    • 1.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc về hợp tác xã (8)
      • 1.1.1 Khái niệm về HTX (8)
      • 1.1.2 Mục tiêu của HTX (10)
      • 1.1.3 Nguyên tắc của HTX (10)
    • 1.2 Đặc điểm về hợp tác xã (11)
    • 1.3 Phân loại hợp tác xã (12)
    • 1.4 Vai trò của HTX (15)
    • 1.5 So sánh HTX và Doanh nghiệp (15)
      • 1.5.1 Giống nhau (15)
      • 1.5.2 Khác nhau (15)
  • CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ THÀNH VIÊN VÀ TÀI SẢN CỦA HỢP TÁC XÃ (17)
    • 2.1 Chế độ thành viên của hợp tác xã (17)
    • 2.2 Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã (18)
    • 2.3 Điều kiện trở thành Thành viên Hợp tác xã (21)
      • 2.3.1. Điều kiện đối với Thành viên chính thức và Thành viên liên kết góp vốn (21)
        • 2.3.1.1 Đối với cá nhân (21)
        • 2.3.1.2 Đối với tổ chức (21)
      • 2.3.2. Điều kiện đối với Thành viên liên kết không góp vốn (22)
        • 2.3.2.1 Đối với cá nhân (22)
        • 2.3.2.2 Đối với tổ chức (23)
      • 2.3.3 Nguyên tắc tự nguyện và Điều kiện Điều lệ (23)
      • 2.3.4 Khả năng là thành viên của nhiều HTX (23)
      • 2.3.5 Điều kiện bổ sung và Hạn chế tỷ lệ đối với nhà đầu tư nước ngoài (24)
    • 2.4 Các trường hợp chấm dứt tư cách Thành viên Hợp tác xã (24)
      • 2.4.1. Chấm dứt tư cách Thành viên chính thức (24)
      • 2.4.2 Chấm dứt tư cách Thành viên liên kết (25)
      • 2.4.3 Thẩm quyền quyết định chấm dứt tư cách thành viên (25)
    • 2.5 Nguồn hình thành tài sản trong hợp tác xã (26)
    • 2.6 Các loại tài sản (29)
      • 2.6.1 Tài sản chung không chia (29)
      • 2.6.2 Tài sản chung có thể chia (33)
    • 2.7 Nguyên tắc quản lý và sử dụng tài sản (35)
    • 2.8 Xử lý tài sản sau khi Hợp tác xã giải thể (37)
    • 2.9 Kiểm toán và minh bạch (40)
      • 2.9.1 Về kiểm toán (41)
      • 2.9.2 Về minh bạch (42)
  • CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ HIỆN NAY (43)
    • 3.1 Đánh giá và kết luận (43)
      • 3.1.1 Ưu điểm của mô hình hợp tác xã (44)
      • 3.1.2 Nhược điểm của mô hình hợp tác xã (45)
      • 3.1.3 Một số bất cập đối với Mô hình Hợp tác xã (47)
    • 3.2 Kiến nghị đối với mô hình Hợp tác xã (47)
  • KẾT LUẬN (48)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (48)

Nội dung

Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, mô hình hợp tác xã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao đời sống thành viên. Đây là loại hình tổ chức kinh tế tập thể dựa trên nguyên tắc hợp tác, tự nguyện và bình đẳng, góp phần thúc đẩy sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức để tạo ra lợi ích chung. Trong thời gian gần đây, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của hợp tác xã đã có nhiều sửa đổi nhằm phù hợp hơn với tình hình thực tiễn và yêu cầu hội nhập. Những thay đổi này tác động trực tiếp đến cơ cấu thành viên và hoạt động tài chính – hai yếu tố then chốt quyết định hiệu quả hoạt động của hợp tác xã – nên cần được nghiên cứu, phân tích để hiểu rõ và áp dụng hiệu quả. Việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này giúp hệ thống hóa kiến thức liên quan đến chế độ thành viên và tài chính của hợp tác xã, đồng thời kết nối giữa lý thuyết và thực tiễn. Qua đó, góp phần nâng cao khả năng phân tích, nhận thức và áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật vào công tác tổ chức và quản lý hợp tác xã, hướng tới phát triển ổn định và bền vững.

Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích

Mục đích của đề tài là tìm hiểu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận cũng như quy định pháp luật hiện hành liên quan đến chế độ thành viên và chế độ tài chính của hợp tác xã.Thông qua việc nghiên cứu, đề tài hướng tới việc làm rõ nội dung, ý nghĩa và tác động của các quy định này đối với hoạt động của hợp tác xã, từ đó góp phần nâng cao nhận thức và khả năng vận dụng hiệu quả trong thực tiễn.

Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau: thu thập và tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành về chế độ thành viên và chế độ tài chính của hợp tác xã; nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích nội dung và những điểm mới của các quy định này; đánh giá tác động của chúng đối với hoạt động của hợp tác xã;đồng thời liên hệ với một số trường hợp thực tiễn nhằm minh họa và rút ra nhận xét, kiến nghị phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để hệ thống hóa và khái quát các quy định pháp luật liên quan đến chế độ thành viên và chế độ tài chính của hợp tác xã.Phương pháp so sánh – đối chiếu được áp dụng nhằm nhận diện sự khác biệt và điểm mới giữa Luật Hợp tác xã năm 2023 với các quy định trước đây Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu tài liệu được vận dụng để thu thập thông tin từ các văn bản pháp luật, giáo trình, bài báo khoa học và các nguồn dữ liệu đáng tin cậy, phục vụ cho việc phân tích và minh họa nội dung nghiên cứu.

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ

Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc về hợp tác xã

Con người có thể chọn đi nhanh khi đi một mình, nhưng muốn đi xa thì cần có sự đồng hành của tập thể Trong suốt lịch sử, chính tinh thần “chung sức để bền lâu” đã thôi thúc các cá nhân tìm đến những hình thức liên kết, nhằm hỗ trợ và phát triển cùng nhau Từ việc cùng nhau lao động sản xuất, chia sẻ nguồn lực cho đến tìm kiếm lợi ích chung, những mô hình tập thể dần khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế–xã hội.

Và trong số đó, hợp tác xã được xem là một minh chứng tiêu biểu, kết tinh cả giá trị cộng đồng lẫn tính bền vững về kinh tế

Hình thức hợp tác xã đã dần hình thành từ thế kỷ XVIII ở châu Âu khi công nhân và nông dân liên kết để tự bảo vệ quyền lợi trước áp lực của cách mạng công nghiệp Hình thức này được công nhận lần đầu xuất hiện trên thế giới vào khoảng năm 1844 tại Anh, còn tại Việt Nam ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa tư tưởng HTX vào Việt Nam Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công năm 1945, ngày 11/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư kêu gọi điền chủ, nông gia Việt Nam tham gia HTX nông nghiệp

“Hợp tác xã” ở nước ta lần đầu được ghi nhận trong văn bản pháp luật chính thức là tại Hiến pháp năm 1959 Ở Điều 13 “Kinh tế hợp tác xã thuộc hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã.” chủ yếu nêu tinh thần và định hướng phát triển. Đến năm 1996, Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã 1996 đây văn bản đầu tiên điều chỉnh toàn diện về hợp tác xã Luật Hợp tác xã 1996 đã nêu khái niệm chính thức đầu tiên về hợp tác xã, tại Điều 1 Luật này định nghĩa về hợp tác xã “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.” Lần đầu tiên đưa hợp tác xã từ chỗ chỉ được điều chỉnh bằng Điều lệ, nghị định thành một chế định pháp luật cấp Luật Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế, khái niệm về hợp tác xã đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Đến hiện tại khái niệm hợp tác xã mới nhất được nêu tại Luật Hợp tác xã hiện hành (năm 2023), ở khoản 7 Điều 4 Luật Hợp tác xã 2023 khái niệm Hợp tác xã được nêu “Hợp tác xã là tổ chức có tư cách pháp nhân do ít nhất 05 thành viên chính thức tự nguyện thành lập, hợp tác tương trợ trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành viên, góp phần xây dựng cộng đồng xã hội phát triển bền vững; thực hiện quản trị tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ.”

So sánh với khái niệm đầu tiên ở phiên bản năm 1996 thì hiện tại Luật Hợp tác xã

2023 khái niệm về hợp tác xã có khá nhiều thay đổi Nếu như Luật Hợp tác xã 1996 chỉ dừng lại ở việc khẳng định hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức để hỗ trợ nhau đạt hiệu quả thì ở khái niệm năm 2023 đã mở rộng và hoàn thiện khái niệm khẳng định hợp tác xã là tổ chức có tư cách pháp nhân và chỉ định rõ cần ít nhất 05 thành viên chính thức tự nguyện thành lập và tổ chức này là một tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, bình đẳng và dân chủ Có thể thấy sự đổi mới khái niệm hợp tác xã hiện nay vừa thể hiện rõ tính tập thể, vừa có cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn, nhờ đó hợp tác xã trở thành một mô hình kinh tế rõ ràng, bền vững và phù hợp với bối cảnh hội nhập.”

Ngay trong khái niệm hợp tác xã hiện hành tại khoản 7 Điều 4 Luật Hợp tác xã 2023 cũng đã xác định rõ mục tiêu cốt lõi của hợp tác xã chính là hợp tác, tương trợ trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng các nhu cầu chung về kinh tế , văn hoá xã hội Trước hết là cải thiện, nâng cao đời sống cho các thành viên, cùng với đó góp phần xây dựng cộng đồng xã hội Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, nhiều HTX nông nghiệp đã thành công trong việc giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm ổn định, tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhờ đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo Bên cạnh đó, các HTX dịch vụ, tín dụng hay vận tải cũng góp phần giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển cộng đồng Hợp tác xã về mục tiêu không đơn thuần chỉ là hợp tác làm ăn sinh lời mà mang tính xã hội giúp nâng cao cải thiện đời sống các thành viên Từ mô hình hợp tác xã không ít các hộ gia đình không có ruộng nương, không nghề nghiệp ổn định cũng như phương hướng kinh tế đã có thể cùng vươn lên theo mô hình tập thể từ đó giúp thoát nghèo, ổn định cuộc sống.

Hợp tác xã là một tổ chức vậy nên cần có một số nguyên tắc nhằm đảm bảo hoạt động ổn định Căn cứ Điều 8 Luật Hợp tác xã 2023 quy định về “Nguyên tắc tổ chức, quản lý và hoạt động của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã “ các vấn đề nguyên tắc được quy định rõ:

Các cá nhân, tổ chức có quyền tự do thành lập, gia nhập hoặc rời khỏi hợp tác xã, đồng thời được bảo đảm quyền lợi không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, dân tộc hay tôn giáo Trong hoạt động, các thành viên được tham gia dân chủ, bình đẳng vào quá trình quyết định, quản lý và giám sát, không phụ thuộc vào phần vốn góp Hợp tác xã đề cao trách nhiệm của mỗi thành viên trong việc tham gia hoạt động kinh tế, cùng góp vốn,quản lý tài sản chung và hưởng lợi dựa trên mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc công sức đóng góp Bên cạnh đó, nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm được nhấn mạnh,gắn liền với việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Hợp tác xã cũng chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ cho thành viên, đồng thời bảo đảm kết giữa các tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với nhau và với các tổ chức khác, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tiêu thụ và hội nhập kinh tế Cuối cùng, hợp tác xã còn quan tâm đến việc xây dựng cộng đồng đoàn kết, tương trợ và tham gia tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, trong nước và quốc tế.

Đặc điểm về hợp tác xã

Căn cứ vào khái niệm hợp tác xã có thể thấy những đặc điểm như:

Thứ nhất, hợp tác xã là một tổ chức tập thể, có các thành viên là cá nhân hoặc tổ chức.

Là một tổ chức kinh tế tập thể được tổ chức và hoạt động trên cơ sở sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và tài sản được đóng góp từ các thành viên khi họ gia nhập hợp tác xã Các thành viên có những nhu cầu chung trong sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ Việc đáp ứng những nhu cầu chung đó thông qua sự hợp tác giữa các thành viên đem lại hiệu quả lớn hơn so với việc từng thành viên đơn lẻ tự thực hiện Trong quá trình hợp tác với nhau, các thành viên của hợp tác xã vẫn giữ được sự độc lập, tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của họ và gia đình họ Các thành viên hợp tác xã và gia đình họ vẫn là những chủ thể kinh tế - xã hội độc lập với hợp tác xã Sự hợp tác của các thành viên trong mô hình hợp tác xã không triệt tiêu các hoạt động sản xuất, kinh doanh độc lập cũng như các lợi ích chính đáng của các thành viên hợp tác xã và gia đình họ.

Thứ hai , hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, một tổ chức được xem là có tư cách pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện tại Điều 74 Bộ Luật dân sự

2015 Hợp tác xã đầy đủ 4 điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ Luật Dân sự 2015:

1 Hợp tác xã được thành lập một cách hợp pháp khi đăng ký kinh doanh ở Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã Trước đây khi chưa áp dụng chính quyền 2 cấp thì việc đăng ký kinh doanh hợp tác xã được thực hiện tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

2 Điều kiện thứ 2 chính là có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 Bộ Luật dân sự 2015 về cơ cấu tổ chức của pháp nhân Hợp tác xã hoàn toàn đáp ứng điều kiện này khi cơ cấu tổ chức của hợp tác xã khá chặt chẽ khi có Đại hội thành viên, hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc/tổng giám đốc, ban kiểm soát/kiểm soát viên….

3 Hợp tác xã là có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

4 Không chỉ có tài sản độc lập mà còn nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập Điều này có nghĩa là hợp tác xã tự đứng ra ký kết hợp đồng, vay vốn, thuê lao động hay tham gia tố tụng trước tòa án mà không phụ thuộc hay ủy quyền bắt buộc từ các xã viên.

Như vậy, hợp tác xã đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, qua đó được công nhận là một pháp nhân độc lập.

Thứ ba, hợp tác xã không chỉ đơn thuần là một mô hình kinh tế, mà còn hàm chứa ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc Nền tảng của hợp tác xã chính là sự tự nguyện liên kết của những người lao động, cùng nhau chia sẻ khó khăn và hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh cũng như trong đời sống thường ngày Điểm đặc biệt của hợp tác xã là không đặt lợi nhuận lên hàng đầu, mà tập trung vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho thành viên, đồng thời tạo việc làm bền vững và xây dựng sự gắn bó dài lâu Tính nhân văn còn thể hiện rõ ở nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công bằng, mỗi xã viên đều có quyền tham gia quản lý và được thụ hưởng thành quả tương xứng với công sức, vốn liếng của mình Thực tế ở Việt Nam cho thấy, nhiều HTX nông nghiệp kiểu mới và các hợp tác xã dịch vụ đã trở thành nền tảng nâng đỡ cho nông dân, giúp xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển cộng đồng và bảo vệ môi trường Chính vì vậy, hợp tác xã không chỉ là nơi làm việc chung, mà còn là một thiết chế xã hội nhân văn, gắn kết lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và sự phát triển bền vững của đất nước Từ những đặc điểm nổi bật này cho thấy hợp tác xã vừa mang bản chất pháp nhân độc lập, vừa mang bản chất cộng đồng hợp tác – tạo nên vị thế riêng, khác biệt so với các mô hình kinh tế khác.

Phân loại hợp tác xã

Hợp tác xã được phân loại theo Điều 16 Luật Hợp tác xã 2023 dựa vào các tiêu chí về doanh thu và tổng nguồn vốn Phân loại hợp tác xã siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn được xác định theo lĩnh vực hoạt động Theo Nghị định 113/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT HỢP TÁC XÃ, áp dụng Điều 4 và 5 Nghị định này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về phân loại hợp tác xã Ở Điều 4 “Lĩnh vực hoạt động và tiêu chí phân loại hợp tác xã” theo khoản 1 Điều này lĩnh vực hoạt động của hợp tác xã được phân loại theo 04 nhóm lĩnh vực căn cứ vào các ngành kinh tế được xác định theo quy định của pháp luật về thống kê như sau:

1 Lĩnh vực nông nghiệp (gồm các ngành sau đây: ngành cấp 1 nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; ngành khai thác muối;)

2 Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng (gồm các ngành cấp 1 sau đây: khai khoáng (trừ khai thác muối); công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải; xây dựng;)

3 Lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (gồm ngành cấp 1 sau đây: hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm;)

4 Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và lĩnh vực khác (gồm các ngành cấp 1 sau đây: bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thông tin và truyền thông; kinh doanh bất động sản; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; nghệ thuật vui chơi và giải trí; hoạt động dịch vụ khác.) Đây là về phân loại lĩnh vực hoạt động của hợp tác xã, tiếp đó tại khoản 2 Điều này là tiê u chí phân loại quy mô hợp tác xã.

Quy mô hợp tác xã được xác định dựa trên ba tiêu chí chính Thứ nhất, số lượng thành viên chính thức, tính tại ngày 14/12 năm trước và được cập nhật trên Hệ thống thông tin quốc gia về hợp tác xã Thứ hai, tổng nguồn vốn, căn cứ trên báo cáo tài chính năm nộp cho cơ quan quản lý thuế; đối với HTX hoạt động dưới 1 năm hoặc chưa có báo cáo, tổng nguồn vốn được xác định theo vốn điều lệ ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký Thứ ba, do anh thu năm, là tổng doanh thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và các thu nhập khác, cũng dựa trên báo cáo tài chính năm; nếu chưa có doanh thu, HTX sử dụng tổng nguồn vốn làm cơ sở xác định quy mô.

Căn cứ lĩnh vực hoạt động tại khoản 1 Điều 4, hợp tác xã được phân loại theo quy mô lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ dựa trên số lượng thành viên chính thức và một trong hai tiêu chí: doanh thu hoặc tổng nguồn vốn khoản 2 Điều 4, cụ thể phân loại hợp tác xã theo Điều 5 Nghị định 113/2023/NĐ-CP như sau:

 Lớn: ≥300 thành viên + doanh thu ≥50 tỷ hoặc vốn ≥10 tỷ

 Vừa: ≥200 thành viên + doanh thu ≥10 tỷ hoặc vốn ≥5 tỷ

 Nhỏ: ≥50 thành viên + doanh thu ≥2 tỷ hoặc vốn ≥1 tỷ

 Siêu nhỏ: không thuộc các mức trên

 Lớn: ≥100 thành viên + doanh thu ≥80 tỷ hoặc vốn ≥20 tỷ

 Vừa: ≥50 thành viên + doanh thu ≥15 tỷ hoặc vốn ≥10 tỷ

 Nhỏ: ≥20 thành viên + doanh thu ≥3 tỷ hoặc vốn ≥2 tỷ

3 Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm:

 Lớn: ≥1.000 thành viên + doanh thu ≥200 tỷ hoặc vốn ≥50 tỷ

 Vừa: ≥500 thành viên + doanh thu ≥100 tỷ hoặc vốn ≥20 tỷ

 Nhỏ: ≥100 thành viên + doanh thu ≥50 tỷ hoặc vốn ≥10 tỷ

4 Thương mại - dịch vụ và lĩnh vực khác:

 Lớn: ≥200 thành viên + doanh thu ≥100 tỷ hoặc vốn ≥20 tỷ

 Vừa: ≥100 thành viên + doanh thu ≥20 tỷ hoặc vốn ≥10 tỷ

 Nhỏ: ≥20 thành viên + doanh thu ≥5 tỷ hoặc vốn ≥2 tỷ

5 Nếu hợp tác xã thỏa mãn nhiều mức quy mô khác nhau, áp dụng mức lớn nhất.

6 Việc phân loại ghi nhận trên Hệ thống thông tin quốc gia về hợp tác xã.

Trong thực tế, việc phân loại hợp tác xã theo Điều 5 Nghị định 113/2024/NĐ-CP giúp cơ quan quản lý, nhà đầu tư và các thành viên HTX đánh giá rõ năng lực hoạt động và quy mô của từng hợp tác xã Cụ thể, HTX nông nghiệp thường có số lượng thành viên lớn nhưng doanh thu và nguồn vốn không quá cao, việc phân loại giúp xác định những HTX có khả năng mở rộng sản xuất, tiếp cận vốn vay hoặc tham gia các dự án liên kết với doanh nghiệp lớn Các HTX trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng thường có quy mô vừa và nhỏ, việc phân loại theo số lượng thành viên, doanh thu và vốn giúp cơ quan quản lý lập kế hoạch hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư hoặc đào tạo quản lý phù hợp với năng lực thực tế HTX thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm thường có ít nhưng đông thành viên, doanh thu và vốn lớn, nhờ phân loại, cơ quan quản lý có thể theo dõi rủi ro tài chính, mức độ an toàn và khả năng huy động vốn củaHTX Trong khi đó, HTX thương mại, dịch vụ và các lĩnh vực khác có quy mô đa dạng từ nhỏ đến lớn, việc phân loại giúp xác định các đối tượng được ưu tiên hỗ trợ về thị trường, quảng bá và ứng dụng công nghệ Thực tiễn cũng cho thấy một HTX có thể thỏa mãn nhiều mức quy mô, vì vậy cần áp dụng mức lớn nhất để đánh giá đúng năng lực, đồng thời việc ghi nhận trên Hệ thống thông tin quốc gia giúp minh bạch,thuận tiện trong tra cứu và quản lý Như vậy, phân loại quy mô không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là công cụ quản lý thực tế, định hướng phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của hợp tác xã.

Vai trò của HTX

Xuất phát và hình thành hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau mà từ đó vai trò của hợp tác xã không chỉ ở việc tạo ra thu nhập Hợp tác xã có vai trò quan trọng không chi đối với riêng các thành viên mà còn đóng góp vào sự phát triển của địa phương, đất nước Đối với các thành viên, hợp tác xã không chỉ là nơi tạo ra việc làm mà còn quản lý tài sản chung cũng như là nhà đầu tư phát triển Đi kèm cải thiển kinh tế, hợp tác xã góp phần nâng cao nhận thức, trình độ cho người dân thông qua các mô hình tiến bộ, các hoạt động tư vấn, tuyên truyền

Các địa phương trước đây còn khó khăn về kinh tế, đã dần ổn định, phát triển hơn khi sự hình thành hợp tác xã trở nên rộng rãi Bởi hợp tác xã khi đưa đời sống các thành viên cải thiện chính là đang cải thiển địa phương mà hợp tác xã ấy thành lập, hợp tác xã cũng đóng góp một khoản thuế đáng kể vào ngân sách thuế cho địa phương hàng năm Từ đó, nhận thấy rằng khi hợp tác xã có khả năng cải thiện kinh tế thành viên, địa phương thì khi mô hình hợp tác xã nhân rộng khắp đất nước, nó sẽ góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức Ở những khu vực vùng sâu, đồng bào các dân tộc thiểu số, các chính sách phát triển hay doanh nghiệp khó có thể tiếp cận thì mô hình hợp tác xã lầ lựa chọn phù hợp Bởi tính cộng đồng vươn lên của mô hình này, giúp sự nổ lực vươn lên vượt khó của người dân được có cơ hội tạo ra kinh tế Mô hình hợp tác xã nếu áp dụng đúng và được tạo điều kiện không chỉ giúp ích ở một số thành viên hay ở địa phương nhỏ mà nó có thể góp phần giúp đất nước phát triển, đời sống ổn định Cùng với đó các vùng địa phương còn nhiều khó khăn có cơ hội được phát triển cùng đất nước.

So sánh HTX và Doanh nghiệp

Hợp tác xã và doanh nghiệp đều là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân (trừ doanh nghiệp tư nhân), 2 kiểu tổ chức này thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và nhằm tạo ra mục đích sinh lời Tuy nhiên so sánh giữa hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ có rất nhiều điểm không tương đồng có sự khác biệt rõ nét về bản chất, mục tiêu và cách thức hoạt động.

Hợp tác xã Doanh nghiệp

Khái niệm Hợp tác xã là tổ chức có tư cách pháp nhân do ít nhất 05 thành viên chính thức tự nguyện thành lập, hợp tác tương trợ trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành viên, góp phần xây dựng cộng đồng xã hội phát triển bền vững; thực hiện quản trị tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ (Khoản

7, Điều 4, Luật Hợp Tác Xã 2023).

Doanh nghiệp là một tổ chức có đặc điểm riêng biệt, bao gồm tên riêng, sở hữu tài sản và trụ sở giao dịch. Được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật, mục đích chính của doanh nghiệp là thực hiện các hoạt động kinh doanh (Khoản 10, Điều 4, Luật Doanh Nghiệp 2020).

- Tổ chức (Việt Nam hoặc nước ngoài)

Giới hạn thành viên Không giới hạn Có giới hạn số thành viên trừ công ty cổ phần.

Phục vụ nhu cầu chung của thành viên về sản xuất, tiêu dùng, dịch vụ. Ưu tiên lợi ích thành viên hơn lợi nhuận.

Mục tiêu kinh doanh nhằm sinh lời là chính.

Bình đẳng Thành viên chính thức có 1 phiếu, không phụ thuộc vốn góp.

Theo tỷ lệ vốn góp, cổ phần sở hữu (đối với công ty TNHH, CTCP) hoặc không theo vốn góp như công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.

Cơ chế sở hữu Đồng sở hữu giữa các thành viên Sở hữu theo vốn góp hoặc cổ phần của cá nhân/tổ chức.

Hữu hạn Vô hạn hoặc hữu hạn.

Theo vốn góp, mức độ sử dụng sản phẩm hoặc công sức lao động của thành viên Theo vốn góp

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ THÀNH VIÊN VÀ TÀI SẢN CỦA HỢP TÁC XÃ

Chế độ thành viên của hợp tác xã

Theo Luật Hợp tác xã 2023, Hợp tác xã phải được thành lập bởi ít nhất năm thành viên chính thức thể hiện sự linh hoạt và khuyến khích mô hình hợp tác xã nhỏ, phù hợp với điều kiện thực tiễn Nếu Luật 2012 chỉ công nhận một loại thành viên chính thức, thì Luật Hợp tác xã năm 2023 mở rộng thành 3 loại theo Điều 4: Thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn và thành viên liên kết không góp vốn Đầu tiên thành viên chính thức được coi là hạt nhân của hợp tác xã, là những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý Thành viên chính thức có thể là cá nhân hoặc tổ chức góp vốn và sử dụng sản phẩm, dịch vụ; góp vốn và góp sức lao động hoặc kết hợp cả ba yếu tố trên.Vai trò của nhóm này là đóng góp tích cực và hưởng lợi từ các giao dịch nội bộ Một ví dụ điển hình là hợp tác xã Sen Việt tại TP Cao Lãnh, hợp tác xã này chuyên sản xuất các sản phẩm từ sen như trà tâm sen, trà lá sen và sữa sen, đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh Các thành viên của hợp tác xã, như chị Hồ Thị Diễm Thúy – chủ cơ sở sữa sen Diễm Thúy 2, đã tận dụng nguồn nguyên liệu sen dồi dào để phát triển sản phẩm, nâng cao giá trị kinh tế và thu nhập ổn định, như vậy Thúy là thành viên chính thức của hợp tác xã Tiếp theo thành viên liên kết góp vốn bao gồm cá nhân hoặc tổ chức chỉ góp vốn vào hợp tác xã, không sử dụng sản phẩm, dịch vụ và không góp sức lao động.Điều này tạo điều kiện thuận lợi để hợp tác xã huy động vốn từ các nhà đầu tư không có nhu cầu trực tiếp sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, chẳng hạn như các doanh nghiệp hoặc quỹ đầu tư muốn hỗ trợ và chia sẻ lợi ích kinh tế với HTX Đồng thời sự xuất hiện của loại thành viên này là một giải pháp trực tiếp nhằm giải quyết tình trạng thiếu vốn vốn có của các hợp tác xã kiểu cũ vì Luật HTX năm 2012 quy định vốn góp của một thành viên không quá 20% vốn điều lệ nhưng Luật HTX năm 2023 đã không chỉ nâng giới hạn vốn góp của một thành viên chính thức lên tối đa 30% tổng vốn điều lệ mà còn cho phép hợp tác xã huy động vốn từ các thành viên liên kết.Điều này cũng giúp các hợp tác xã đa dạng hóa nguồn vốn, thu hút các nhà đầu tư bên ngoài chẳng hạn như các tổ chức kinh tế hoặc các chuyên gia tài chính giỏi Ví dụ năm 2024, Hợp tác xã nuôi tôm sạch Tân Tiến được thành với 10 hộ dân làm thành viên chính thức, để mở rộng Hợp tác xã kêu gọi Công tyTNHH Thủy sản Minh Hòa góp một tỷ đồng làm thành viên liên kết đầu tư thiết bị và bao tiêu sản phẩm, giúp nâng cao chất lượng và đầu ra cho tôm Cuối cùng thành viên liên kết không góp vốn là cá nhân hoặc tổ chức chỉ sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc góp sức lao động, không góp vốn vào HTX, sự tồn tại của nhóm thành viên này cho phép HTX thu hút các cá nhân có kinh nghiệm, chuyên môn và uy tín mà không ràng buộc họ bằng nghĩa vụ tài chính cũng như mở rộng mạng lưới xã hội Ví dụ như năm 2024, HTX Rau hữu cơ Xuân Hương (Lâm Đồng) được thành lập với 6 hộ dân góp vốn và đất sản xuất rau VietGAP để mở rộng và hỗ trợ hộ nghèo, HTX kết nạp thêm thành viên liên kết như gia đình chị Lan mặc dù không góp vốn nhưng vẫn được tham gia cùng HTX.

Như vậy Luật Hợp tác xã 2023 thể hiện sự linh hoạt và phù hợp với thực tiễn khi quy định về số lượng thành viên và cơ cấu thành viên của hợp tác xã Việc phân loại thành viên thành thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn và thành viên liên kết không góp vốn không chỉ đảm bảo vai trò cốt lõi của những người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh và quản lý, mà còn mở rộng khả năng huy động vốn, thu hút nguồn lực và chuyên môn từ bên ngoài.

Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã

Về quyền và nghĩa vụ của thành viên, Điều 31 Luật hợp tác xã 2023 quy định chi tiết quyền lợi của các nhóm thành viên Thành viên chính thức được HTX cung cấp sản phẩm, dịch vụ và việc làm Họ cũng được phân phối thu nhập từ hoạt động của HTX và hưởng các phúc lợi khác như bảo hiểm y tế, đào tạo, hỗ trợ khác Việc phân phối thu nhập này thường ưu tiên theo mức độ sử dụng dịch vụ hoặc đóng góp lao động, sau đó mới đến vốn góp Ví dụ thành viên A góp 100 triệu và cung ứng 10 tấn rau và thành viên B góp 50 triệu nhưng cung ứng 20 tấn rau thì lợi nhuận sẽ phân phối dựa trên cả vốn và sản lượng mà không chỉ vốn góp Họ có quyền tham dự hoặc bầu đại biểu tham dự Đại hội thành viên và được biểu quyết các nội dung thuộc thẩm quyền của Đại hội Đặc biệt, quyền biểu quyết này hoạt động theo nguyên tắc "một thành viên, một phiếu bầu", không phụ thuộc vào số vốn góp của họ Điều này đảm bảo mọi quyết định quan trọng của HTX đều dựa trên ý chí của số đông thành viên, ngăn ngừa sự chi phối bởi một nhóm người có nhiều vốn Họ cũng có quyền ứng cử, đề cử vào các chức vụ quản lý như thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc và thành viên Ban kiểm soát Ngoài ra họ có quyền cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hoạt động của HTX và được HTX hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ hoạt động của HTX Quyền kiến nghị,yêu cầu Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), Ban kiểm soát giải trình về hoạt động của HTX ví dụ như thành viên có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị giải trình lý do chi phí trong kỳ hoạt động lại tăng cao, và được yêu cầu Hội đồng quản trị hoặc Giám chính thức được quyền rút khỏi HTX, nhận lại vốn góp cũng như phần giá trị tài sản còn lại và có thể khiếu nại, khởi kiện khi quyền lợi bị xâm phạm Đối với thành viên liên kết góp vốn thì quyền của họ tương tự như thành viên chính thức như được phân phối thu nhập và hưởng phúc lợi của HTX, cung cấp thông tin, hỗ trợ đào tạo, và quyền kiến nghị, yêu cầu giải trình về hoạt động của HTX, khiếu nại, tố cáo cũng như có quyền ra khỏi HTX và được trả lại vốn góp Nhưng có một điểm khác biệt quan trọng là họ có thể tham gia và phát biểu tại Đại hội thành viên khi được mời, nhưng không có quyền biểu quyết.

Vì nếu cho phép thành viên liên kết có quyền biểu quyết, đặc biệt là những người góp vốn lớn, HTX có thể bị biến thành một công ty cổ phần Quyền lực sẽ tập trung vào những người có nhiều vốn, làm mất đi bản chất dân chủ và tương trợ của HTX Đối với thành viên liên kết không góp vốn có ít quyền hơn, cũng tương tự được hưởng phúc lợi, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, cung cấp thông tin, hỗ trợ đào tạo, và quyền khiếu nại, tố cáo cũng như có quyền ra khỏi HTX và được trả lại vốn góp, được tham gia Đại hội thành viên Mặc dù không có quyền biểu quyết tại Đại hội thành viên nhưng lại đóng vai trò tư vấn, phản hồi ý kiến, giúp hợp tác xã cân nhắc quyết định nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc thành viên chính thức Ví dụ: Cá nhân B là thành viên liên kết không góp vốn có thể tham dự Đại hội và đặt câu hỏi, nhưng không có quyền bầu ra Hội Đồng Quản Trị hay quyết định nội dung đại hội.

Song song với quyền lợi là các nghĩa vụ được quy định tại Điều 32 Luật Hợp tác xã

2023 Đầu tiên thành viên chính thức có nghĩa vụ góp đủ vốn đúng thời hạn đã cam kết vì vốn góp không chỉ thể hiện sự gắn bó về lợi ích mà còn là điều kiện để HTX có nguồn lực tài chính hoạt động Nếu thành viên không thực hiện đúng cam kết thì HTX sẽ thiếu vốn ảnh hưởng đến khả năng sản xuất kinh doanh cũng như nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc lao động theo thỏa thuận Một nguyên tắc pháp lý quan trọng khác là thành viên chính thức chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của HTX trong phạm vi vốn góp Điều này khẳng định cơ chế “trách nhiệm hữu hạn” tạo sự yên tâm khi tham gia HTX, ví dụ HTX nợ ngân hàng 2 tỷ, cá nhân góp 100 triệu thì chỉ phải chịu trách nhiệm trong 100 triệu thì không phải lấy tài sản riêng để trả nợ Ngoài ra, nếu thành viên trực tiếp gây ra thiệt hại cho HTX, họ vẫn phải bồi thường theo mức độ lỗi của mình dựa trên nguyên tắc dân sự “ai gây thiệt hại thì phải bồi thường” Tuy nhiên, mức bồi thường không phải lúc nào cũng tuyệt đối mà phụ thuộc vào quy định pháp luật, Điều lệ HTX và đặc biệt là mức độ lỗi của thành viên Cụ thể về pháp lý, Điều lệ HTX có quyền quy định cách xác định thiệt hại, mức bồi thường và thủ tục xử lý để đảm bảo minh bạch, công bằng Nếu về yếu tố lỗi thiệt hại do lỗi cố ý hoặc thiếu trách nhiệm nghiêm trọng thì thành viên phải bồi thường toàn bộ hoặc nếu do lỗi vô ý thì chỉ bồi thường phần giá trị thiệt hại, có thể được giảm nhẹ nhưng trường hợp thiệt hại xuất phát từ nguyên nhân khách quan hoặc bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh…) thì thành viên không phải bồi thường Đồng thời mỗi thành viên chính thức còn phải tuân thủ tôn chỉ, mục đích, Điều lệ và các nghị quyết của Đại hội thành viên, cũng như quyết định của Hội đồng quản trị đối với tổ chức quản trị đầy đủ hoặc Giám đốc đối với tổ chức quản trị rút gọn. Đây là cơ sở duy trì kỷ luật, sự thống nhất và hiệu quả trong hoạt động tập thể, ví dụ Đại hội HTX đã quyết định chỉ trồng rau hữu cơ nhưng một số thành viên vẫn dùng thuốc trừ sâu thì đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ, làm ảnh hưởng uy tín và chất lượng sản phẩm chung của HTX Ngoài ra, họ còn có nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật và Điều lệ, chẳng hạn như đóng góp vào quỹ dự phòng, quỹ phúc lợi hoặc thực hiện nghĩa vụ bảo mật thông tin sản xuất kinh doanh Đối với thành viên liên kết góp vốn chỉ cần góp đủ số vốn đã cam kết, chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đó, bồi thường khi gây thiệt hại và tuân thủ Điều lệ, nghị quyết của HTX và thực hiện nghĩa vụ khác theo luật Điểm khác biệt là họ không buộc phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ hay tham gia lao động trực tiếp, bởi vai trò của họ thiên về đóng góp nguồn lực để hỗ trợ HTX phát triển Ví dụ, Công ty TNHH An Phát góp 1 tỷ đồng vào HTX không cần mua rau hay trực tiếp lao động, nhưng phải đóng đủ vốn và tuân thủ Điều lệ Nếu vi phạm hợp đồng hay gây thiệt hại cho HTX thì công ty vẫn phải bồi thường Cuối cùng đối với thành viên không liên kết góp vốn phải nộp khoản phí thành viên theo Điều lệ HTX nhưng khoản phí này không phải là khoản thu ngân sách Nhà nước vì không phải thuế hay phí ngân sách Cụ thể hơn về khoản phí thành viên, Luật không quy định mức phí cố định mà giao cho Điều lệ HTX và Đại hội thành viên quyết định Chính vì vậy tùy HTX, nơi thì chỉ thu vài trăm nghìn mỗi năm để trang trải chi phí quản lý, nơi quy mô lớn có thể thu cao hơn để đổi lại dịch vụ và phúc lợi tốt hơn Ngoài ra họ vẫn phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ theo cam kết (nếu có), bồi thường thiệt hại khi gây ra tổn thất, tuân thủ Điều lệ và các nghị quyết quản trị Ví dụ chị Hoa tham gia với tư cách thành viên liên kết không góp vốn, chị phải nộp phí hằng năm cũng như tuân thủ quy định sản xuất rau sạch và nếu làm hỏng hàng chung thì phải bồi thường.

Như vậy quyền và nghĩa vụ không chỉ là cơ sở pháp lý quan trọng bảo vệ quyền lợi và trách nhiệm của tất cả các thành viên mà còn giúp hạn chế mâu thuẫn nội bộ, tăng cường sự tin tưởng và hợp tác giữa các thành viên, từ đó thúc đẩy hợp tác xã phát triển bền vững của kinh tế tập thể nói chung và hợp tác xã nói riêng trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

Điều kiện trở thành Thành viên Hợp tác xã

Việc gia nhập HTX đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải đáp ứng những tiêu chí nhất định, được phân loại rõ ràng theo vai trò và mức độ tham gia.

2.3.1 Điều kiện đối với Thành viên chính thức và Thành viên liên kết góp vốn Để trở thành thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết có góp vốn, các đối tượng cần thỏa mãn các yêu cầu về năng lực pháp lý và tư cách cụ thể theo Khoản 1 Điều 30 Luật HTX 2023 Các điều kiện này được thiết lập nhằm đảm bảo rằng mỗi thành viên đều có đủ khả năng và sự cam kết cần thiết để đóng góp vào sự phát triển bền vững của hợp tác xã.

Công dân Việt Nam: Phải từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự Điều kiện này không chỉ là một quy định về tuổi tác mà còn là thước đo về khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm pháp lý Một thành viên có năng lực hành vi đầy đủ sẽ có thể tự mình thực hiện các giao dịch, tham gia biểu quyết và chịu trách nhiệm về mọi quyết định của mình trong hợp tác xã, từ đó góp phần vào tính minh bạch và hiệu quả trong quản trị nội bộ.

Nhà đầu tư nước ngoài: Việc tham gia của nhà đầu tư nước ngoài được coi là một kênh quan trọng để thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến Tuy nhiên, để đảm bảo an ninh kinh tế và tuân thủ các quy định pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định pháp luật về đầu tư Điều này nhằm xác lập tính hợp pháp của nguồn vốn và các hoạt động đầu tư, đồng thời tạo cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước giám sát, quản lý chặt chẽ.

Ví dụ: Một công ty có trụ sở tại Hàn Quốc, là một nhà đầu tư nước ngoài, muốn góp vốn 5 tỷ đồng vào một hợp tác xã (HTX) chế biến nông sản tại Việt Nam để mở rộng thị trường xuất khẩu Trước khi nộp đơn xin gia nhập HTX, công ty này cần phải hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật Đầu tư 2020 Giấy chứng nhận này không chỉ xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư mà còn quy định rõ ràng về lĩnh vực, địa điểm và quy mô dự án, đảm bảo hoạt động đầu tư phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam.

Hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân: Các nhóm này có thể trở thành thành viên, song cần cử một người đại diện hợp pháp Việc này là bắt buộc và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm Người đại diện sẽ nhân danh tổ chức để thực hiện các quyền và nghĩa vụ, tham gia các cuộc họp và biểu quyết Quy định này giúp tránh sự mập mờ về mặt pháp lý khi các tổ chức chưa có tư cách pháp nhân tham gia vào hoạt động của HTX, đảm bảo tính chặt chẽ trong quản trị. Pháp nhân Việt Nam: Các doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân được phép tham gia và có vai trò then chốt trong việc tăng cường nguồn vốn, nâng cao năng lực quản trị, mở rộng mạng lưới kinh doanh và thị trường đầu ra cho HTX Sự tham gia của các pháp nhân tạo ra mối liên kết kinh tế vững chắc, thúc đẩy sự phát triển của cả hai bên.

2.3.2 Điều kiện đối với Thành viên liên kết không góp vốn

Luật HTX 2023 thể hiện sự linh hoạt khi mở rộng đối tượng thành viên liên kết không góp vốn, cho phép những cá nhân, tổ chức có mong muốn gắn bó, sử dụng sản phẩm, dịch vụ nhưng không có khả năng góp vốn vẫn có thể tham gia (Khoản 2 Điều 30 Luật HTX 2023) Điều này mở rộng cơ hội cho nhiều đối tượng khác nhau tham gia vào mô hình kinh tế tập thể, làm phong phú thêm cơ cấu thành viên của hợp tác xã.

Công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam: Tương tự thành viên chính thức, họ phải từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Điều này đảm bảo rằng tất cả các thành viên, dù không góp vốn, vẫn phải có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi của mình Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi: Đây là một điểm mới đáng chú ý, thể hiện tầm nhìn khuyến khích sự tham gia của thế hệ trẻ vào các hoạt động kinh tế tập thể Tuy nhiên, họ phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ như không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, không gặp khó khăn trong nhận thức, và phải tuân thủ các quy định pháp luật khi tham gia giao dịch. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên và đảm bảo tính hợp pháp của các giao dịch.

Ví dụ: Một học sinh 16 tuổi, đam mê công nghệ thông tin, muốn học hỏi và hỗ trợ các hoạt động chuyển đổi số của HTX nông nghiệp Nếu em đáp ứng các điều kiện về năng lực hành vi và Điều lệ HTX cho phép, em có thể trở thành thành viên liên kết không góp vốn Em sẽ tham gia các buổi tập huấn, đóng góp ý tưởng và hỗ trợ về kỹ thuật, đồng thời đóng phí thành viên hàng năm để duy trì tư cách Sự tham gia này không chỉ giúp HTX tiếp cận với công nghệ mới mà còn tạo ra môi trường để người trẻ phát triển kỹ năng và hiểu biết.

Hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân: Tương tự như thành viên góp vốn, cần cử một người đại diện hợp pháp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Pháp nhân Việt Nam: Các doanh nghiệp cũng có thể tham gia dưới hình thức này, chủ yếu để sử dụng dịch vụ của HTX, ví dụ như một công ty thực phẩm tham gia vào HTX nông sản để được ưu tiên cung cấp nguồn nguyên liệu sạch, ổn định Hình thức này giúp các HTX mở rộng tệp khách hàng, đảm bảo đầu ra và tối ưu hóa hoạt động sản xuất.

2.3.3 Nguyên tắc tự nguyện và Điều kiện Điều lệ

Nguyên tắc cốt lõi của việc gia nhập HTX là sự tự nguyện (Khoản 3 Điều 30 Luật HTX 2023) Mọi cá nhân, tổ chức đều phải nộp đơn bày tỏ nguyện vọng gia nhập, thể hiện ý chí tự do của mình Nguyên tắc này là nền tảng của kinh tế hợp tác, khác biệt với mô hình kinh doanh truyền thống Việc nộp đơn là thủ tục pháp lý để khởi động quá trình xét duyệt thành viên Ngoài ra, thành viên phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn (đối với thành viên chính thức và liên kết góp vốn) hoặc nộp phí thành viên (đối với thành viên liên kết không góp vốn) và đáp ứng các điều kiện cụ thể được quy định trong Điều lệ của từng HTX Điều lệ này đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa các quy định của Luật, phù hợp với đặc thù và mục tiêu hoạt động của từng tổ chức.

Ví dụ: Một HTX thủ công mỹ nghệ có thể quy định trong Điều lệ rằng thành viên chính thức phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trong nghề và cam kết tham gia ít nhất 100 giờ công lao động thủ công mỗi năm Đây là điều kiện bổ sung được thiết lập để đảm bảo chất lượng sản phẩm và sự gắn kết của thành viên Mặc dù Luật cho phép mọi công dân đủ điều kiện tham gia, Điều lệ của HTX lại cụ thể hóa các tiêu chí, giúp HTX chọn lọc được những thành viên phù hợp nhất với mục tiêu phát triển.

2.3.4 Khả năng là thành viên của nhiều HTX

Luật HTX 2023 cho phép thành viên của một HTX có thể đồng thời là thành viên của nhiều HTX khác (Khoản 4 Điều 30 Luật HTX 2023), trừ khi Điều lệ của HTX có quy định khác Quy định này thể hiện sự linh hoạt và khuyến khích sự liên kết, hợp tác giữa các HTX, tạo điều kiện cho cá nhân và tổ chức tối ưu hóa nguồn lực và đóng góp vào nhiều mô hình kinh tế tập thể khác nhau.

Ví dụ, một hộ nông dân có thể vừa là thành viên của HTX sản xuất lúa, vừa là thành viên của HTX dịch vụ thủy lợi Điều này giúp họ tận dụng tối đa các dịch vụ và lợi ích từ các HTX khác nhau, nâng cao hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, Điều lệ của các HTX có thể đưa ra các quy định hạn chế để tránh xung đột lợi ích hoặc đảm bảo sự cam kết của thành viên đối với một tổ chức nhất định.

2.3.5 Điều kiện bổ sung và Hạn chế tỷ lệ đối với nhà đầu tư nước ngoài

Khi có sự tham gia của yếu tố nước ngoài, Luật đưa ra các điều kiện bổ sung nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và an ninh kinh tế (Khoản 5, 6, 7 Điều 30 Luật HTX 2023) Đây là các quy định mang tính phòng vệ, đảm bảo rằng HTX vẫn giữ được bản sắc và mục tiêu hoạt động vì lợi ích của cộng đồng thành viên trong nước Nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo pháp luật về đầu tư và các luật liên quan, đồng thời tuân thủ các quy định về bảo đảm quốc phòng, an ninh Bản thân HTX có thành viên là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài cũng phải đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường tương ứng Một quy định quan trọng là tổng số thành viên chính thức là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài phải chiếm tỷ lệ dưới 35% tổng số thành viên chính thức củaHTX Giới hạn này có ý nghĩa chiến lược nhằm đảm bảo quyền kiểm soát và định hướng phát triển của HTX vẫn chủ yếu thuộc về các thành viên trong nước Nó ngăn ngừa tình trạng HTX bị chi phối bởi các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó bảo vệ các giá trị cốt lõi của kinh tế tập thể và lợi ích của cộng đồng thành viên.

Các trường hợp chấm dứt tư cách Thành viên Hợp tác xã

Việc chấm dứt tư cách thành viên là một khía cạnh quan trọng trong quản lý HTX, có thể phát sinh từ các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan, được quy định chi tiết tại Điều

2.4.1 Chấm dứt tư cách Thành viên chính thức

Tư cách thành viên chính thức thường chấm dứt do hai nhóm nguyên nhân chính: Nguyên nhân khách quan (không phụ thuộc ý chí thành viên): Cá nhân qua đời hoặc mất năng lực hành vi dân sự: Khi một thành viên cá nhân qua đời, bị tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích, hoặc không còn khả năng tự chủ hành vi, tư cách thành viên sẽ tự động chấm dứt để đảm bảo tính pháp lý và khả năng tham gia thực tế Đây là một quy định tất yếu để giải quyết các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của thành viên đã mất hoặc không còn khả năng thực hiện

Ví dụ: Ông Ba, một thành viên HTX vận tải, không may qua đời Tư cách thành viên của ông Ba sẽ được chấm dứt theo quy định của pháp luật Các quyền, nghĩa vụ tài chính của ông (ví dụ: phần vốn góp) sẽ được giải quyết theo quy định của Điều lệ HTX và pháp luật về thừa kế, giúp đảm bảo tính công bằng và minh bạch.

Tổ chức thành viên chấm dứt tồn tại: Nếu một tổ chức thành viên (như một doanh nghiệp) bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động, tư cách thành viên của tổ chức đó trong HTX cũng sẽ chấm dứt Bản thân HTX chấm dứt hoạt động: Trong trường hợp toàn bộ HTX giải thể hoặc phá sản, đương nhiên tất cả các thành viên cũng không còn tư cách thành viên

Nguyên nhân chủ quan (liên quan đến hành vi hoặc quyết định của thành viên): Tự nguyện rút khỏi HTX: Đây là nguyên tắc cốt lõi của kinh tế hợp tác, thể hiện quyền tự do tham gia và rút lui của thành viên Thủ tục rút lui thường được quy định rõ trong Điều lệ HTX, bao gồm việc nộp đơn và xử lý các vấn đề tài chính liên quan.

Bị khai trừ theo Điều lệ: Khi thành viên vi phạm nghiêm trọng các quy định của Điều lệ hoặc gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích chung của HTX, họ có thể bị khai trừ để duy trì kỷ luật và lợi ích tập thể

Ví dụ: Một thành viên HTX dịch vụ nông nghiệp liên tục không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin sản xuất theo quy định, làm ảnh hưởng đến kế hoạch chung của HTX. Sau khi được Hội đồng quản trị nhắc nhở nhiều lần nhưng không khắc phục, thành viên này có thể bị đề xuất khai trừ tại Đại hội thành viên Việc khai trừ được coi là một biện pháp cuối cùng để bảo vệ sự ổn định và phát triển của HTX.

2.4.2 Chấm dứt tư cách Thành viên liên kết

Luật HTX 2023 cũng quy định cụ thể các trường hợp chấm dứt tư cách của thành viên liên kết (gồm liên kết góp vốn và liên kết không góp vốn):

Thành viên liên kết góp vốn: Các trường hợp chấm dứt tư cách tương tự như thành viên chính thức, ngoại trừ việc không sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc không góp sức lao động Điều này thể hiện sự nhất quán trong quản lý đối với những thành viên có góp vốn. Thành viên liên kết không góp vốn: Ngoài các trường hợp chung, điểm đặc biệt đối với nhóm này là việc không nộp phí thành viên theo Điều lệ cũng sẽ là căn cứ để chấm dứt tư cách Khoản phí này được xem là cam kết tài chính tối thiểu để duy trì tư cách thành viên và hỗ trợ hoạt động của HTX

Ví dụ: Chị Mai là thành viên liên kết không góp vốn của HTX thủ công mỹ nghệ, cam kết đóng phí thành viên hàng năm Nếu chị không thực hiện nghĩa vụ đóng phí trong thời gian quy định, HTX có quyền xem xét chấm dứt tư cách thành viên của chị.

2.4.3 Thẩm quyền quyết định chấm dứt tư cách thành viên

Việc quyết định chấm dứt tư cách thành viên và xử lý các quyền, nghĩa vụ liên quan được thực hiện dựa trên sự kết hợp giữa quy định của Luật và Điều lệ của HTX Luật Hợp tác xã 2023 quy định khung pháp lý chung, giao quyền cho các cơ quan quản lý nội bộ của HTX như Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát, tùy thuộc vào từng trường hợp và mức độ quan trọng Điều này đảm bảo tính dân chủ và tự chủ của HTX trong việc quản lý và điều hành nội bộ Cụ thể, Đại hội thành viên có thẩm quyền cao nhất để quyết định khai trừ hoặc chấp nhận đơn xin ra khỏi HTX Hội đồng quản trị có trách nhiệm xem xét, đề xuất và thực hiện các thủ tục theo Điều lệ Việc phân quyền rõ ràng giúp quá trình chấm dứt tư cách thành viên diễn ra minh bạch, công bằng và đúng quy định pháp luật.

Nguồn hình thành tài sản trong hợp tác xã

Căn cứ theo khoản 1 điều 73 Luật hợp tác xã 2023, Tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác, quyền khác định giá được bằng Đồng Việt Nam Những tài sản này là cơ sở vật chất và nguồn lực quan trọng bảo đảm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã Chúng bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô hoạt động và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên Là nền tảng để hợp tác xã phát triển bền vững và đóng góp sự phát triển chung của nền kinh tế.

Dựa vào Luật hợp tác xã 2023 theo khoản 1 điều 88, tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được hình thành từ các nguồn:

Thứ nhất: Vốn góp của thành viên, hợp tác xã thành viên

Góp vốn là nghĩa vụ bắt buộc của thành viên khi tham gia, gia nhập hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã Tài sản góp vốn có thể là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các loại tài sản khác hoặc quyền tài sản khác được định giá bằng đồng Việt Nam Việc xác định giá trị vốn góp được thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận giữa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc thông qua tổ chức thẩm định giá.Trường hợp định giá thông qua tổ chức thẩm định, thì giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% tổng số thành viên chính thức và thành viên liên kết góp vốn tham gia hội nghị thành lập chấp thuận Đối với hợp tác xã, mức vốn góp của thành viên được thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ, nhưng không vượt quá 30% vốn điều lệ. thỏa thuận và theo điều lệ, nhưng không vượt quá 40% vốn điều lệ So với các quy định trước đây, Luật Hợp tác xã hiện hành đã nâng mức trần vốn góp lên thêm 10%, cho thấy tính xã hội cũng như khả năng thu hút, tập hợp rộng rãi thành viên.

Thời hạn để thành viên góp đủ vốn được quy định chậm nhất là 06 tháng kể từ ngày hợp tác xã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày thành viên được kết nạp Lưu ý rằng khoảng thời gian này không bao gồm thời gian cần thiết để vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn hay thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản (nếu có) Trong thời hạn nói trên, thành viên vẫn được hưởng đầy đủ quyền và thực hiện nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ vốn đã cam kết góp Nếu hết thời hạn quy định mà thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ phần vốn cam kết thì sẽ bị xử lý như sau:

 Thành viên chưa thực hiện nghĩa vụ góp vốn theo cam kết hoặc góp vốn thấp hơn mức tối thiểu quy định trong Điều lệ sẽ bị chấm dứt tư cách thành viên.

 Thành viên chưa góp đủ phần vốn góp đã cam kết nhưng có phần vốn góp bằng hoặc cao hơn vốn góp tối thiểu theo quy định của Điều lệ có quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp theo quy định của Luật Hợp tác xã và Điều lệ Hợp tác xã. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn góp vốn, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo phần vốn đã góp, trừ trường hợp thành viên đã góp đủ phần vốn còn thiếu trong thời hạn này Trường hợp chưa góp đủ vốn theo cam kết, thành viên phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính phát sinh trước thời điểm được cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp.

Thứ hai: Vốn huy động từ thành viên, hợp tác xã thành viên và các nguồn vốn huy động khác Đây là loại tài sản dễ bị nhầm lẫn với vốn góp của thành viên Nếu như vốn góp là việc thành viên chuyển giao tài sản hoặc quyền tài sản của mình cho chính hợp tác xã, thì trong trường hợp này, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sẽ ưu tiên huy động vốn từ thành viên, hợp tác xã thành viên thông qua các phương thức như vay, mượn tài sản Bên cạnh đó, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã cũng có thể huy động vốn từ các chủ thể khác trong trường hợp thành viên, hợp tác xã thành viên chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn cần thiết.Hoạt động huy động vốn thực chất là một giao dịch dân sự, do đó hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo thỏa thuận Đồng thời, việc huy động vốn này không làm tăng vốn điều lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Thứ ba: Vốn tự tích lũy của hợp tác xã

Vốn tự tích lũy, hay còn gọi là tài sản hình thành trong quá trình hoạt động, là phần tài sản không được chia cho các thành viên mà được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh Để duy trì sự tồn tại và thúc đẩy phát triển, hầu hết các tổ chức kinh tế đều tiến hành tích lũy vốn; phần vốn tích lũy này trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng tài sản của mình.

Trong quá trình hoạt động, tài sản của hợp tác xã có thể được phân loại như sau:

 Bất động sản: Bao gồm nhà xưởng, văn phòng, đất đai.

 Máy móc, thiết bị: Phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

 Công cụ, dụng cụ: Các loại tài sản hỗ trợ cho hoạt động dài hạn.

 Nguyên vật liệu: Dùng trong quá trình sản xuất.

 Hàng hóa: Dùng để kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ.

 Tiền mặt và các khoản tương đương tiền: Đảm bảo khả năng thanh khoản ngắn hạn.

- Tài sản vô hình: Bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ (như nhãn hiệu, sáng chế), phần mềm quản lý…

Thứ tư: Khoản trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước và các khoản được tăng thêm

Kinh tế tập thể ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều hình thức đa dạng như tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã…, trong đó hợp tác xã giữ vai trò nòng cốt Hợp tác xã phát triển dựa trên sự kết hợp giữa sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tập thể Đây là thành phần kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động; đồng thời góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, hạn chế bất bình đẳng trong xã hội Kinh tế tập thể vận hành theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, với sự đóng góp về vốn, tài sản và sức lao động của các thành viên Chính vì vậy, để tạo điều kiện cho hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã mở rộng, phát triển bền vững, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực như: hỗ trợ tài chính, tín dụng, phát triển nguồn nhân lực, cùng các ưu đãi về thuế.

Ngoài ra, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã còn có thể tiếp nhận các khoản trợ cấp, hỗ trợ từ Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước trên cơ sở thỏa thuận phù

Hệ thống tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được cấu thành phong phú, bao gồm cả tài sản do thành viên đóng góp, huy động từ bên ngoài cũng như tài sản phát sinh trong quá trình hoạt động, qua đó tạo nên nền tảng để phân loại thành các loại hình tài sản cụ thể của hợp tác xã.

Các loại tài sản

2.6.1 Tài sản chung không chia

Khoản 14 Điều 4 Luật Hợp tác xã 2023 đã đưa ra định nghĩa về “tài sản chung không chia”, theo đó đây là loại tài sản thuộc quyền sở hữu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và không được phân chia cho các thành viên trong quá trình tồn tại, hoạt động của tổ chức.

Tài sản chung không chia là bộ phận tài sản mang tính chất đặc biệt, được quy định rõ cụ thể hơn tại khoản 2 Điều 88 Luật hợp tác xã là những tài sản có tính chất đặc thù, gắn liền với sự tồn tại và phát triển lâu dài của tổ chức, được sử dụng để phục vụ lợi ích chung của toàn thể thành viên, chứ không phân chia cho từng cá nhân Nhóm tài sản này bao gồm nhiều loại khác nhau Trước hết, đó là quyền sử dụng đất do Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc giao có thu tiền, cho thuê, hay do hợp tác xã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp mà nguồn kinh phí hình thành từ sự hỗ trợ của Nhà nước Các tài sản được hình thành từ quỹ chung không chia, những khoản hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần từ Nhà nước và được xác định rõ là tài sản chung không chia cũng thuộc phạm vi này Ngoài ra, hợp tác xã còn có thể tiếp nhận tài sản từ sự tặng cho, tài trợ hợp pháp của cá nhân, tổ chức với thỏa thuận rằng đó sẽ là tài sản chung không chia; hoặc được Nhà nước đầu tư, xây dựng và chuyển giao những công trình phục vụ lợi ích cộng đồng để hợp tác xã quản lý, khai thác, sử dụng Điều lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cũng có thể quy định thêm những loại tài sản khác được xác định là tài sản chung không chia, tùy theo nhu cầu thực tiễn.

Về nguyên tắc hợp tác xã quản lý, sử dụng tài sản chung không chia được quy định tại khoản 3 Điều 88 Luật Hợp tác xã 2023 nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và phục vụ đúng lợi ích tập thể Theo đó, hợp tác xã có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản chung không chia dựa trên quy định của pháp luật, Điều lệ hoặc theo thỏa thuận cụ thể với cá nhân, tổ chức đã tặng cho, tài trợ hợp pháp Mỗi loại tài sản phải được ghi chép,theo dõi chi tiết trong sổ sách kế toán, thể hiện rõ nguồn gốc hình thành nhằm tránh thất thoát, nhầm lẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát Trong quá trình sử dụng, hợp tác xã phải thường xuyên bảo vệ, bảo dưỡng, bảo trì và tự bỏ kinh phí để sửa chữa, bảo đảm tài sản duy trì được giá trị và hiệu quả sử dụng lâu dài Trường hợp tài sản không còn phù hợp hoặc không còn nhu cầu khai thác, hợp tác xã được quyền chuyển nhượng, thanh lý, nhưng phải thực hiện định giá theo quy định của pháp luật, được Đại hội thành viên biểu quyết thông qua và phải phù hợp với Điều lệ cũng như các cam kết liên quan Bên cạnh đó, hợp tác xã còn có thể dùng tài sản chung không chia để làm tài sản bảo đảm khi vay vốn, qua đó tạo thêm nguồn lực tài chính phục vụ sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, một số loại tài sản đặc thù, chẳng hạn như quyền sử dụng đất do Nhà nước giao không thu tiền hoặc tài sản do Nhà nước, tổ chức, cá nhân hỗ trợ có điều kiện ràng buộc, thì không được phép sử dụng làm tài sản bảo đảm.

Chẳng hạn, tại tỉnh Đồng Tháp, Nhà nước đã đầu tư trên 15 tỷ đồng để xây dựng hệ thống kênh mương và trạm bơm điện phục vụ cho Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Cường. Công trình này, sau khi bàn giao cho hợp tác xã quản lý, đã trở thành tài sản chung không chia, giúp đảm bảo tưới cho gần 300 ha lúa của xã viên Nhờ nguồn nước ổn định, năng suất lúa trung bình tăng từ 5,8 tấn/ha lên 6,5 tấn/ha, góp phần nâng cao thu nhập bình quân của mỗi hộ xã viên thêm 7–10 triệu đồng/năm Tuy nhiên, hợp tác xã không được phép dùng hệ thống kênh mương này làm tài sản bảo đảm để vay vốn, bởi đây là loại tài sản Nhà nước đầu tư phục vụ lợi ích cộng đồng Ngược lại, một số tài sản khác do quỹ chung không chia hình thành, như nhà kho chứa nông sản trị giá 2 tỷ đồng, đã được hợp tác xã thế chấp tại ngân hàng để vay vốn mở rộng dịch vụ sấy, xay xát, từ đó tăng thêm nguồn thu ổn định.

Từ những quy định này có thể thấy rằng, so với Luật Hợp tác xã 2012, Luật Hợp tác xã

2023 đã có nhiều điểm thay đổi quan trọng, cụ thể và toàn diện hơn trong việc điều chỉnh chế độ pháp lý đối với tài sản chung không chia của hợp tác xã.

Trước đây theo Khoản 2 Điều 48 Luật Hợp tác xã 2012, phạm vi tài sản chung không chia của hợp tác xã chỉ được liệt kê khá chung chung như là quyền sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê; các khoản trợ cấp, hỗ trợ không hoàn lại; khoản tặng, cho theo thỏa thuận; phần trích lại từ quỹ đầu tư phát triển hằng năm; và vốn, tài sản khác theo điều lệ quy định Cách quy định này tuy có ưu điểm là ngắn gọn, dễ hiểu, nhưng lại bộc lộ nhiều hạn chế Thứ nhất là về quy định chưa bao quát được các trường hợp thực tế, chẳng hạn một hợp tác xã nông nghiệp được Nhà nước đầu tư xây dựng trạm bơm hoặc kênh mương nội đồng rồi bàn giao cho hợp tác xã quản lý loại tài sản này rất quan trọng nhưng Luật

2012 không nêu rõ có thuộc tài sản không chia hay không Thứ hai, theo khoản 3 Điều 48 gốc tài sản hay cơ chế bảo vệ, bảo dưỡng tài sản chung, dẫn đến lúng túng trong thực tiễn Ví dụ như tình trạng nhiều hợp tác xã được Nhà nước hỗ trợ nhà kho, sân phơi nhưng không lập sổ theo dõi, không có quy định về bảo trì, khiến tài sản xuống cấp nhanh, gây lãng phí Về vấn đề thứ ba, Luật 2012 cũng không cho biết hợp tác xã có được dùng tài sản không chia để vay vốn ngân hàng hay không Thực tế đã có những hợp tác xã muốn thế chấp quyền sử dụng đất hoặc nhà xưởng được Nhà nước hỗ trợ để vay vốn phát triển sản xuất nhưng không có cơ sở pháp lý rõ ràng, dẫn tới việc ngân hàng từ chối, làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn. Để khắc phục những bất cập ở năm 2012, Luật Hợp tác xã 2023 tại Khoản 2 Điều 88 đã có bước hoàn thiện quan trọng Thay vì chỉ quy định khái quát thì luật mới đã liệt kê cụ thể, chi tiết hơn các loại tài sản chung không chia Ngoài các loại đã có từ Luật 2012, Luật 2023 bổ sung quyền sử dụng đất hình thành từ nhiều nguồn khác nhau (giao đất có thu tiền, mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng hợp pháp từ cá nhân, tổ chức nhưng có nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ); tài sản hình thành từ quỹ chung không chia; tài sản do Nhà nước đầu tư phục vụ lợi ích cộng đồng rồi chuyển giao cho hợp tác xã; cũng như tài sản do tổ chức, cá nhân tặng cho, tài trợ hợp pháp theo thỏa thuận Ví dụ, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng và bàn giao cho hợp tác xã một công trình cấp nước sinh hoạt nhằm phục vụ cộng đồng dân cư trong khu vực, theo Luật Hợp tác xã

2023, công trình đó sẽ được xác định rõ ràng là “tài sản chung không chia” của hợp tác xã Điều này đồng nghĩa với việc hợp tác xã không được tự ý phân chia hay chuyển nhượng cho thành viên, mà phải quản lý theo cơ chế đặc thù được pháp luật quy định Cơ chế này bao gồm việc ghi nhận cụ thể nguồn gốc tài sản, xác lập trách nhiệm bảo trì, bảo dưỡng, cũng như đảm bảo việc khai thác, sử dụng đúng mục đích là cung cấp lợi ích chung cho cộng đồng Nhờ đó, không chỉ hạn chế được tình trạng tranh chấp giữa hợp tác xã với thành viên hoặc giữa các thế hệ lãnh đạo hợp tác xã, mà còn khắc phục tình trạng sử dụng sai mục đích hoặc buông lỏng quản lý dẫn đến xuống cấp, lãng phí như từng xảy ra trong thực tiễn trước đây.

Không dừng ở việc liệt kê, tại khoản 3 Điều 88 Luật Hợp tác xã 2023 còn đặt ra cơ chế quản lý, sử dụng tài sản chung không chia Hợp tác xã buộc phải lập sổ theo dõi nguồn hình thành tài sản; có trách nhiệm bảo vệ, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản bằng chi phí của mình; và chỉ được chuyển nhượng, thanh lý sau khi định giá, có nghị quyết của đại hội thành viên và phù hợp với pháp luật Đã khắc phục rõ được tình trạng “không ai chịu trách nhiệm”, “đổ lỗi cho nhau” vốn khá phổ biến trước đây Đồng thời, Luật mới còn mở rộng đáng kể quyền tự chủ cho hợp tác xã khi cho phép sử dụng một số loại tài sản chung không chia làm tài sản bảo đảm vay vốn, ngoại trừ những tài sản mang tính công cộng hoặc đã được quy định rõ là không được thế chấp Quy định này được xem là một bước tiến lớn so với Luật 2012, bởi nó không chỉ tháo gỡ vướng mắc pháp lý trong việc tiếp cận tín dụng, mà còn tạo ra cơ chế để hợp tác xã chủ động hơn trong việc huy động các nguồn lực tài chính phục vụ sản xuất, kinh doanh Nhờ đó, nhiều hợp tác xã – đặc biệt là các hợp tác xã nông nghiệp quy mô nhỏ vốn thường gặp khó khăn khi vay vốn do thiếu tài sản bảo đảm – sẽ có thêm cơ hội tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng, qua đó mở rộng quy mô hoạt động, đầu tư vào máy móc, công nghệ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường.

Có thể thấy, sự thay đổi của Luật Hợp tác xã 2023 về quy định tài sản chung không chia không chỉ mang ý nghĩa khắc phục hạn chế của luật cũ vốn còn khái quát, thiếu toàn diện, mà quan trọng hơn là đem lại những kết quả thiết thực Nhờ có hành lang pháp lý rõ ràng, hợp tác xã dễ dàng xác định và quản lý tài sản; nguy cơ tranh chấp, lạm dụng hay sử dụng sai mục đích được hạn chế tối đa; đồng thời trách nhiệm xã hội của hợp tác xã trong việc quản lý tài sản phục vụ lợi ích chung cũng được thể hiện rõ nét.

Trong quá trình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, vấn đề định giá tài sản góp vốn và tài sản chung không chia luôn giữ vai trò then chốt, bởi nó không chỉ gắn liền với quyền và nghĩa vụ tài chính của các thành viên mà còn bảo đảm sự minh bạch, công bằng và ổn định trong quản lý tài sản Nhằm thiết lập cơ chế rõ ràng, hạn chế tranh chấp cũng như tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hợp tác xã hoạt động bền vững, Điều 77 Luật Hợp tác xã 2023 đã quy định cụ thể về việc định giá tài sản góp vốn và tài sản chung không chia như sau:

-Tài sản góp vốn khi thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải được tất cả thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn định giá đồng thuận hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá

Trường hợp tài sản góp vốn được thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự định giá mà giá trị tài sản góp vốn cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên này cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% số thành viên chính thức và thành viên liên kết góp vốn tham gia hội nghị thành lập chấp thuận.

- Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do Đại hội thành viên hoặc Hội đồng quản trị của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và Đại hội thành viên hoặc Hội đồng quản trị của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chấp thuận.

Nguyên tắc quản lý và sử dụng tài sản

Nguyên tắc chung về sở hữu và quản lý tài sản trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm sự minh bạch, công bằng và bảo vệ quyền lợi của các thành viên Theo khoản 1 Điều 88 Luật Hợp tác xã năm 2023, tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được xác định là thuộc sở hữu tập thể của toàn thể thành viên, hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vốn góp, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ của Nhà nước, cũng như các khoản tài trợ, tặng cho hợp pháp Với tính chất sở hữu tập thể, tài sản không thuộc quyền định đoạt riêng lẻ của bất kỳ cá nhân nào, mà được quản lý và sử dụng để phục vụ cho mục tiêu chung của hợp tác xã Việc quản lý, sử dụng tài sản phải bảo đảm nguyên tắc minh bạch, công khai và đúng mục đích, tuyệt đối không được sử dụng sai lệch gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên. Để quản lý tài sản một cách khoa học, minh bạch và hiệu quả, Luật Hợp tác xã năm

2023 đã quy định rõ việc phân loại tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Cách phân loại này giúp cho việc quản lý, sử dụng và hạch toán tài sản trở nên dễ dàng hơn, đồng thời bảo đảm sự công bằng trong phân phối lợi ích giữa các thành viên Luật Hợp tác xã năm 2023 quy định việc phân loại tài sản thành các nhóm cụ thể Tài sản chung không chia như đất đai, công trình hạ tầng, tài sản hình thành từ quỹ không chia được sử dụng cho lợi ích cộng đồng và tuyệt đối không phân chia cho thành viên, mà phải được bảo quản, duy tu lâu dài Tài sản chung có thể chia, chủ yếu phát sinh từ thu nhập sau khi đã trích lập quỹ và hoàn thành nghĩa vụ tài chính, được phân phối cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ Ngoài ra, còn có tài sản khác từ vốn góp, vốn vay hoặc hình thành trong hoạt động sản xuất – kinh doanh Sự phân loại này tạo cơ sở minh bạch trong quản lý, hạch toán và bảo đảm công bằng trong phân phối lợi ích giữa các thành viên.

Theo quy định Luật Hợp tác xã năm 2023, trách nhiệm quản lý tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được giao trực tiếp cho Ban quản trị, Giám đốc hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị Những chủ thể này có nghĩa vụ tổ chức quản lý, bảo vệ và sử dụng tài sản đúng mục đích, phù hợp với Điều lệ và pháp luật Đồng thời, họ phải lập sổ sách kế toán và theo dõi tài sản theo từng nguồn hình thành, bảo đảm sự minh bạch, tránh thất thoát hay lạm dụng Bên cạnh đó, định kỳ hợp tác xã phải lập báo cáo tài chính, công khai tình hình quản lý và sử dụng tài sản, cũng như kết quả thu nhập để các thành viên được biết và thực hiện quyền giám sát.

Căn cứ theo khoản 3 Điều 88, tài sản phải được quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bảo toàn và phát triển vốn, tránh tình trạng thất thoát hoặc sử dụng sai mục đích Bên cạnh đó, một số tài sản hợp tác xã có quyền sử dụng làm tài sản bảo đảm trong hoạt động vay vốn, thế chấp, cầm cố để huy động nguồn lực tài chính, tạo điều kiện mở rộng sản xuất và tăng cường khả năng cạnh tranh; tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra giới hạn rõ ràng, chẳng hạn như quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì không được dùng làm tài sản bảo đảm Mở ra cơ chế linh hoạt trong khai thác tài sản, vừa đảm bảo sự an toàn pháp lý và duy trì ổn định nguồn lực lâu dài cho sự phát triển bền vững của hợp tác xã.

Theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023, việc chuyển nhượng hoặc thanh lý tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc dân chủ và công khai Cụ thể, tài sản chỉ được phép chuyển nhượng, thanh lý khi có nghị quyết hoặc quyết định của Đại hội thành viên và phải phù hợp với Điều lệ cũng như quy định pháp luật hiện hành Đồng thời, để bảo đảm tính minh bạch, công bằng, việc định giá tài sản trước nêu tại Điều 77 Luật Hợp tác xã 2023, bảo đảm giá trị thực và tránh thất thoát vốn chung. Bên cạnh đó, đối với những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ, tài trợ có điều kiện , hợp tác xã chỉ được phép xử lý theo đúng các thỏa thuận với bên viện trợ hoặc tài trợ, tuyệt đối không được sử dụng sai mục đích hoặc phân chia trái cam kết.

Theo Điều 101 Luật Hợp tác xã 2023, khi hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã giải thể, tài sản sẽ được xử lý theo trình tự và nguyên tắc

- Trước hết, phải thu hồi và xử lý quỹ chung không chia, tài sản chung không chia và các tài sản khác Quỹ chung không chia được xử lý tùy nguồn hình thành: nếu từ Nhà nước hỗ trợ thì chuyển vào ngân sách; nếu từ tài trợ, tặng cho thì thực hiện theo thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận thì xử lý theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 101 Tài sản chung không chia cũng được phân định: tài sản Nhà nước giao, hỗ trợ phải bàn giao lại cho cơ quan có thẩm quyền; tài sản từ tài trợ, tặng cho xử lý theo thỏa thuận; các tài sản khác tuân thủ Điều lệ và luật

- Sau khi hoàn tất xử lý các quỹ và tài sản chung, phần còn lại được phân chia theo thứ tự ưu tiên: chi phí giải thể; nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và quyền lợi người lao động; nợ thuế; các khoản nợ khác

- Chỉ khi đã hoàn tất các nghĩa vụ này, nếu còn dư thì mới chia cho thành viên chính thức và liên kết góp vốn theo tỷ lệ vốn góp.

Xử lý tài sản sau khi Hợp tác xã giải thể

Việc giải thể hợp tác xã là điều tất yếu khi tổ chức không còn khả năng tồn tại hoặc không đáp ứng nhu cầu phát triển Quá trình này không chỉ chấm dứt tư cách pháp lý mà còn đặt ra vấn đề quan trọng là xử lý tài sản nhằm bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, chủ nợ, người lao động và xã viên Luật Hợp tác xã 2023 đã có quy định cụ thể về nội dung này, giúp làm rõ cơ sở pháp lý và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong hoạt động kinh doanh.

Theo như quy định tại Điều 101 của Luật Hợp tác xã năm 2023 thì việc xử lý tài sản sau khi hợp tác xã giải thể được thực hiện theo một trình tự nhất định , nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan Trước hết hợp tác xã có trách nhiệm thu hồi và xử lý toàn bộ tài sản thuộc quỹ chung không chia, tài sản chung không chia cũng như các tài sản khác, sau đó mới tiến hành chuyển nhượng, thanh lý Đây là bước khởi đầu mang tính kỹ thuật nhưng rất cần thiết để tránh thất thoát tài sản, đặc biệt là những phần được hình thành từ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước.

Về quỹ chung không chia, theo Khoản 2 Điều 101 quy định rõ nguồn gốc hình thành để có cách xử lý phù hợp Nếu quỹ có được từ hỗ trợ của Nhà nước thì khi hợp tác xã giải thể, phần này phải nộp lại ngân sách, qua đó bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm sử dụng vốn công Nếu quỹ được hình thành từ các khoản tài trợ hoặc tặng cho, thì việc xử lý dựa trên thỏa thuận giữa bên tài trợ và hợp tác xã Trong trường hợp không có thỏa thuận, pháp luật đã dự liệu cách thức xử lý tiếp theo, thể hiện tính chặt chẽ và hạn chế khoảng trống pháp lý Điểm này cho thấy pháp luật không chỉ bảo vệ lợi ích công cộng mà còn tôn trọng sự thỏa thuận dân sự, hài hòa lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau.

Ví dụ: Giả sử một hợp tác xã nông nghiệp ở Long An có quỹ chung không chia trị giá 1,5 tỷ đồng, trong đó 1 tỷ đồng từ hỗ trợ của Nhà nước để xây kho lạnh, 200 triệu đồng từ doanh nghiệp tài trợ phát triển rau sạch, và 300 triệu đồng do hợp tác xã tự trích lập từ lợi nhuận Khi hợp tác xã giải thể, 1 tỷ đồng phải nộp lại ngân sách Nhà nước; 200 triệu đồng sẽ được xử lý theo thỏa thuận với doanh nghiệp tài trợ (nếu không có thỏa thuận thì xử lý theo luật); còn 300 triệu đồng chỉ được xem xét chia lại cho xã viên sau khi đã thanh toán chi phí giải thể, nợ lương, bảo hiểm xã hội, thuế và các nghĩa vụ khác.

Qua đó có thể thấy, quy định về quỹ chung không chia nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng và giữ đúng bản chất “cùng có lợi” của hợp tác xã Nếu không có quy định này, các thành viên khi rời hợp tác xã hoặc khi hợp tác xã giải thể có thể tranh chấp quyền lợi, dẫn đến tình trạng “tư nhân hóa” tài sản chung Do đó, pháp luật quy định rõ ràng để vừa bảo đảm lợi ích của Nhà nước, của nhà tài trợ, vừa bảo vệ lợi ích chính đáng của xã viên. Đối với tài sản chung không chia, theo Khoản 3 Điều 101 đã quy định các nguyên tắc xử lý dựa trên nguồn gốc hình thành Đây là loại tài sản thuộc sở hữu tập thể của hợp tác xã, không được phân chia cho xã viên ngay cả khi giải thể, thường bao gồm đất đai, công trình, cơ sở vật chất do Nhà nước hỗ trợ, do tổ chức hoặc cá nhân tài trợ, hoặc do hợp tác xã tự tạo lập nhưng được pháp luật xác định là không chia Theo đó, tài sản có nguồn từNhà nước hoặc gắn với lợi ích công cộng sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý Ngược lại, nếu là tài sản do tổ chức, cá nhân tài trợ thì việc xử lý căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên; trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định tại khoản 4 và khoản 5 của điều luật Cách tiếp cận này thể hiện sự nhất quán của pháp luật:vừa tôn trọng nguồn gốc tài sản, vừa bảo đảm tính minh bạch trong quản lý, đồng thời ngăn ngừa việc tư hữu hóa tài sản công hoặc tài sản phục vụ lợi ích tập thể sau khi hợp tác

Ví dụ : Năm 2023, tại tỉnh Sóc Trăng, nhiều hợp tác xã nông nghiệp hoạt động kém hiệu quả buộc phải giải thể Vấn đề nổi bật là xử lý tài sản chung không chia (như trụ sở, sân phơi lúa, kho chứa) vốn được Nhà nước hỗ trợ trước đây Theo phản ánh của Báo Sóc

Trăng, sau khi hợp tác xã giải thể, các tài sản này không được bán chia cho xã viên, mà phải bàn giao lại cho chính quyền địa phương quản lý và sử dụng cho lợi ích cộng đồng, chẳng hạn giao cho hợp tác xã khác hoặc làm nhà văn hóa phục vụ người dân.

Qua đó có thể thấy, quy định về tài sản chung không chia không chỉ có ý nghĩa pháp lý, mà còn mang giá trị xã hội, giúp bảo vệ lợi ích công cộng và thể hiện rõ bản chất tập thể của hợp tác xã Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa hợp tác xã và doanh nghiệp thông thường.

Một điểm quan trọng trong xử lý tài sản khi giải thể hợp tác xã là thứ tự ưu tiên thanh toán Khoản 4 Điều 101 Luật Hợp tác xã 2023 quy định: trước hết, tài sản được dùng để thanh toán chi phí giải thể như thu hồi, định giá, thanh lý tài sản nhằm bảo đảm quá trình giải thể diễn ra minh bạch, đúng pháp luật Tiếp theo, pháp luật ưu tiên thanh toán quyền lợi người lao động như tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, thể hiện quan điểm nhân văn khi bảo vệ nhóm đối tượng yếu thế trước cả nghĩa vụ thuế Sau đó, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để bảo đảm nguồn thu ngân sách và duy trì trách nhiệm pháp lý Cuối cùng mới thanh toán các khoản nợ khác như nợ tổ chức tín dụng, nhà cung cấp Thứ tự này thể hiện rõ pháp luật đặt lợi ích xã hội và người lao động lên hàng đầu, đồng thời buộc hợp tác xã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước trước khi phân chia lợi ích cho các thành viên.

Ví dụ : Một HTX trồng lúa ở Long An khi giải thể còn lại 100 triệu đồng Trước tiên, HTX dùng 10 triệu để trả chi phí giải thể Số tiền còn 90 triệu, HTX trả 60 triệu tiền lương cho xã viên làm công, sau đó nộp 20 triệu tiền thuế cho Nhà nước Cuối cùng, với

10 triệu còn lại, HTX trả cho cửa hàng phân bón dù thực tế còn nợ 30 triệu, nên chỉ trả được một phần Điều này cho thấy pháp luật ưu tiên bảo vệ người lao động trước, rồi mới đến nghĩa vụ thuế và các chủ nợ khác.

Nhìn chung, thứ tự ưu tiên trong Khoản 4, Điều 101 vừa hợp lý, vừa mang tính nhân văn, bảo vệ quyền lợi nhóm yếu thế và nghĩa vụ công Tuy nhiên, trên thực tế, khi tài sản còn lại của hợp tác xã không đủ để trả hết các khoản nợ, nhóm nợ cuối cùng thường gặp rủi ro, dễ phát sinh tranh chấp Vì vậy, việc minh bạch thông tin, công khai danh sách tài sản và nghĩa vụ nợ là rất cần thiết để bảo đảm công bằng, hạn chế khiếu kiện và duy trì niềm tin xã hội vào mô hình hợp tác xã.

Sau khi hoàn tất việc phân chia tài sản theo thứ tự ưu tiên nêu tại Khoản 4 – bao gồm chi phí giải thể, quyền lợi người lao động, nghĩa vụ thuế và các khoản nợ khác – Khoản 5 Điều 101 quy định phần tài sản còn lại sẽ được chia cho các thành viên chính thức và thành viên liên kết góp vốn theo tỷ lệ phần vốn góp Quy định này thể hiện nguyên tắc công bằng trong phân chia tài sản cuối cùng của hợp tác xã, đồng thời tôn trọng quyền lợi của từng thành viên dựa trên mức độ đóng góp vốn Những thành viên nào đóng góp nhiều vốn hơn sẽ nhận được phần tài sản tương ứng, qua đó vừa khuyến khích sự tham gia tích cực của các thành viên vào hoạt động của hợp tác xã, vừa đảm bảo tính minh bạch, hạn chế mâu thuẫn trong quá trình giải thể.

Ví dụ: Một HTX chăn nuôi ở Bến Tre có tổng vốn góp 300 triệu, trong đó ông An góp

90 triệu (30%), bà Bình góp 60 triệu (20%), các thành viên khác góp 150 triệu (50%). Sau khi giải thể và thanh toán hết nợ, còn lại 60 triệu thì ông An được chia 18 triệu (30%), bà Bình được chia 12 triệu (20%), phần 30 triệu còn lại chia cho các thành viên khác theo tỉ lệ vốn họ góp. Điều này cũng phản ánh đặc thù của mô hình hợp tác xã, khác với doanh nghiệp cổ phần, khi mà quyền lợi của các bên liên quan được bảo vệ theo thứ tự ưu tiên rõ ràng: quyền lợi người lao động và nghĩa vụ với Nhà nước được đặt lên trước, phần còn lại mới đến các thành viên Quy định này vừa tôn trọng quyền sở hữu hợp pháp, vừa khuyến khích các thành viên tích cực góp vốn, đồng thời hạn chế tranh chấp và củng cố niềm tin vào mô hình kinh tế tập thể.

Khoản 6 giao cho Chính phủ quy định chi tiết Điều 101, nghĩa là các nội dung về thủ tục phân chia tài sản, xác định tỷ lệ phần vốn góp, công khai thông tin, giám sát và xử lý tranh chấp sẽ được hướng dẫn cụ thể Điều này tạo ra sự linh hoạt, giúp các hợp tác xã thực hiện thống nhất theo nguyên tắc pháp luật, đồng thời hạn chế sai sót hoặc tranh chấp trong thực tiễn giải thể.

Kiểm toán và minh bạch

Hợp tác xã là mô hình kinh tế tập thể dựa trên sự hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi của các thành viên Để mô hình này hoạt động minh bạch, hiệu quả và gắn bó lâu dài với lợi ích cộng đồng, pháp luật quy định rõ nghĩa vụ công khai thông tin và thực hiện kiểm toán Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024, đã bổ sung nhiều quy định quan trọng về minh bạch thông tin (Điều 10, Điều 14) và kiểm toán (Điều 91, Điều 105, Điều 106), nhằm đảm bảo quyền giám sát của thành viên, đồng thời tạo cơ chế kiểm soát tài chính khách quan Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển bền vững của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

Thứ nhất, Điều 91 về chế độ kế toán quy định hợp tác xã phải thực hiện công tác kế toán và lập báo cáo tài chính theo Luật Kế toán Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các số liệu tài chính phản ánh trung thực, khách quan tình hình hoạt động của hợp tác xã Ngoài ra, hợp tác xã được quyền lựa chọn hạch toán riêng giao dịch nội bộ và bên ngoài Quy định này tạo sự linh hoạt, nhưng đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn cho ban quản trị trong việc ghi chép trung thực, nếu không sẽ dễ dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch, ảnh hưởng quyền lợi xã viên.

Thứ hai, Điều 105 về kiểm toán nội bộ quy định hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng bắt buộc phải thực hiện kiểm toán nội bộ theo Luật Các tổ chức tín dụng Đây là yêu cầu chặt chẽ nhằm phòng ngừa rủi ro và gian lận trong lĩnh vực nhạy cảm Với các hợp tác xã hoạt động ở lĩnh vực khác, Nhà nước chỉ dừng lại ở mức khuyến khích Quy định này thể hiện tính hợp lý vì không tạo gánh nặng cho các hợp tác xã nhỏ, nhưng vẫn định hướng họ xây dựng cơ chế giám sát tài chính nội bộ để hoạt động minh bạch và bền vững.

Thứ ba, Điều 106 về kiểm toán độc lập là điểm mới quan trọng Luật yêu cầu hợp tác xã quy mô lớn, liên hiệp hợp tác xã từ 10 thành viên trở lên, hoặc hợp tác xã có nhu cầu thụ hưởng chính sách hỗ trợ Nhà nước phải có báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập. Quy định này giúp bảo đảm tính khách quan, vì báo cáo được kiểm tra bởi một tổ chức kiểm toán bên ngoài Ngoài ra, Luật còn quy định tần suất kiểm toán tối thiểu 2 năm một lần hoặc hằng năm tùy từng loại hợp tác xã, qua đó duy trì tính minh bạch, ngăn chặn tình trạng gian lận và nâng cao uy tín của hợp tác xã đối với xã viên và đối tác.

Ví dụ: Một hợp tác xã có 120 xã viên, tổng vốn góp 4 tỷ đồng Theo Điều 91, ban quản trị lập đầy đủ sổ sách kế toán, báo cáo tài chính hàng năm và công khai kết quả sản xuất – kinh doanh tại trụ sở và gửi đến các tổ sản xuất để xã viên kiểm tra.

Do có quy mô lớn, theo Điều 106, hợp tác xã thuê công ty kiểm toán độc lập kiểm tra báo cáo tài chính định kỳ Kết quả kiểm toán xác nhận tài chính minh bạch, không thất thoát quỹ chung Báo cáo kiểm toán được gửi đến toàn thể xã viên trước đại hội thường niên. Đồng thời, để kiểm soát rủi ro, hợp tác xã thành lập ban kiểm soát nội bộ theo Điều

105 Ban này thường xuyên kiểm tra các khoản chi tiêu, mua sắm và thanh toán, kịp thời phát hiện sai lệch và báo cáo cho hội đồng quản trị.

Nhờ tuân thủ chặt chẽ ba quy định trên, HTX tạo được niềm tin vững chắc với xã viên. Khi cần vay vốn mở rộng diện tích nuôi tôm, ngân hàng thương mại chấp thuận nhanh vì hồ sơ tài chính rõ ràng, minh bạch Các xã viên cũng đồng thuận tăng vốn góp thêm 500 triệu do tin tưởng vào cách quản lý của HTX.

Qua đó, có thể thấy Nhà nước đã thiết lập một cơ chế giám sát tài chính đa tầng: từ kế toán (ghi chép nội bộ) → kiểm toán nội bộ (tự kiểm tra) → kiểm toán độc lập (giám sát bên ngoài) Cơ chế này vừa bảo đảm sự minh bạch trong hoạt động, vừa phù hợp với đặc thù đa dạng về quy mô và lĩnh vực của các hợp tác xã.

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý minh bạch (Điều 10, Khoản 10 và Khoản 13)

Luật Hợp tác xã 2023 khẳng định quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã trong việc công bố thông tin với thành viên Khoản 10 Điều 10 nêu rõ hợp tác xã có nghĩa vụ công bố các thông tin liên quan đến hoạt động quản trị, tài chính, kết quả hoạt động, đồng thời cung cấp thông tin theo yêu cầu của thành viên Khoản 13 nhấn mạnh việc hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ minh bạch này đúng quy định pháp luật, bảo đảm các quyết định, nghị quyết, báo cáo tài chính và các thông tin quan trọng được công khai một cách trung thực, đầy đủ.

Thứ hai, nội dung công bố thông tin (Điều 14)

- Điều 14 quy định chi tiết các loại thông tin phải được công bố, bao gồm: Điều lệ, quy chế nội bộ; nghị quyết của Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị; danh sách và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên; báo cáo tài chính hằng năm; thông tin quản lý, sử dụng quỹ chung không chia và tài sản chung không chia; thông tin về đào tạo, phổ biến, bồi dưỡng cho thành viên và người lao động; cùng các thông tin khác theo Điều lệ Các thông tin này phải được niêm yết công khai tại trụ sở hợp tác xã trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày ban hành, thời gian niêm yết tối thiểu 30 ngày liên tục và được cung cấp cho thành viên khi có yêu cầu.

- Ví dụ: Một hợp tác xã nông nghiệp có 70 thành viên Sau khi kết thúc năm tài chính, ban quản trị thực hiện đúng quy định của Khoản 10 và Khoản 13 Điều 10: công bố báo cáo tài chính, nghị quyết về chia lợi nhuận và danh sách tỷ lệ vốn góp của các thành viên Tất cả thông tin này được niêm yết tại trụ sở trong 30 ngày liên tục và gửi bản điện tử vào nhóm Zalo của các thành viên.

- Theo Điều 14, ban quản trị cũng công khai thông tin về việc sử dụng quỹ chung không chia, bao gồm khoản chi 50 triệu đồng để nâng cấp hệ thống tưới tiêu phục vụ toàn bộ ruộng của xã viên Nhờ đó, thành viên nắm rõ quỹ chung được sử dụng đúng mục đích, không bị thất thoát.

- Cuối năm, hợp tác xã thuê công ty kiểm toán độc lập kiểm tra báo cáo tài chính (theo Điều 106) để bảo đảm số liệu chính xác trước khi đề nghị vay vốn hỗ trợ từ Nhà nước. Báo cáo kiểm toán khẳng định tình hình tài chính minh bạch, giúp HTX được giải ngân nhanh chóng và tạo niềm tin cho thành viên.

- Nhờ tuân thủ quy định về công khai và kiểm toán, hợp tác xã tránh được mâu thuẫn nội bộ, tạo niềm tin để xã viên tiếp tục góp vốn và gắn bó lâu dài Việc công khai nghị quyết, báo cáo tài chính và thông tin về quỹ chung giúp xã viên giám sát hoạt động, phòng ngừa gian lận, bảo đảm tài sản tập thể được sử dụng đúng mục đích Đây cũng là cơ sở để hợp tác xã dễ dàng tiếp cận chính sách hỗ trợ của Nhà nước và nâng cao uy tín với đối tác với các đối tác bên ngoài.

Có thể khẳng định minh bạch và kiểm toán là hai trụ cột trong quản trị hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2023 Minh bạch thông tin thể hiện tinh thần dân chủ, bình đẳng, còn kiểm toán bảo đảm tính chính xác, khách quan trong quản lý tài chính Sự kết hợp của hai yếu tố này tạo thành “lá chắn kép” ngăn ngừa lạm quyền, thất thoát và xung đột lợi ích, bảo vệ quyền lợi thành viên và nâng cao niềm tin xã hội Đây là nền tảng để hợp tác xã trở thành một chủ thể kinh tế minh bạch, đáng tin cậy và phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ HIỆN NAY

Ngày đăng: 22/09/2025, 15:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w