1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngữ văn 9 - Bếp lửa

15 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bếp lửa
Tác giả Bằng Việt
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Đề thi
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 32,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

BẾP LỬA (Bằng Việt)

I Một số câu hỏi đọc – hiểu

Đề 1: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.

Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Câu 1: Em hiểu như thế nào về cụm từ “biết mấy nắng mưa” trong

câu thơ đầu đoạn? Hãy tìm 1 thành ngữ chứa 2 từ “nắng”, “mưa và giải thích ngắn gọn ý nghĩa câu thành ngữ em vừa tìm được

- Cụm từ “biết mấy nắng mưa” trong câu thơ đầu đoạn: Không chỉ nói về những ngày nắng, ngày mưa đời bà từng trải qua mà còn nói tới những vất vả, nhọc nhằm mà bà từng nếm trải (đói nghèo, bom đạn, thay con nuôi cháu…)

- 1 câu TN có chứa 2 từ “nắng”, “mưa” và giải thích ngắn gọn ý nghĩa:

+ Thành ngữ: Dãi nắng dầm mưa

+ Ý nghĩa: Chỉ những khó khăn, vất vả

Câu 2: Tìm trong khổ thơ chi tiết nào được tác giả nhắc đi nhắc lại

nhiều lần? Việc nhắc lại nhiều lần chi tiết này có ý nghĩa gì?

- Chi tiết được nhắc đi nhắc lại: “nhóm”

- Ý nghĩa:

+ Từ “nhóm” – “nhóm bếp lửa, nhóm nồi xôi” mang nghĩa gốc: Làm cho lửa bén vào chất đốt và cháy lên

+ Từ “nhóm” – “nhóm niềm yêu thương, nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ

Trang 2

=> Khơi dậy, làm sáng lên niềm yêu thương, những kí ức đẹp có giá trị trong cuộc đời con người

+ Điệp ngữ “nhóm”:

 Gợi bàn tay chăm chút khéo léo của bà trong công việc nhóm lửa

 Nhấn mạnh tình yêu thương, sức sống, niềm tin, những giá trị lớn lao mà bà đã dành cho cháu

 Khẳng định bà không chỉ là người nhóm lửa mà bà còn là người truyền lửa, giữ lửa cho thế hệ mai sau

Đề 2: Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt đã gợi lại những kỉ niệm đầy

xúc động về tình bà cháu và thể hiện tình cảm trân trọng, biết ơn của người cháu đối với bà

1 Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ

- Bài thơ ra đời năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài

- In trong tập “Hương cây – Bếp lửa”

2 Kết thúc khổ thơ thứ sáu, tác giả đã viết: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!” Xét về mục đích nói, câu thơ thuộc kiểu câu gì? Em hãy

lí giải vì sao nhà thơ cho rằng bếp lửa “kì lạ và thiêng liêng”?

– Xét về mục đích nói, câu thơ thuộc kiểu câu: câu cảm thán (Vì có

từ cảm thán “ôi” và dấu (!) ở cuối câu)

- Bếp lửa “kì lạ và thiêng liêng” vì:

+ Bếp lửa “kì lạ” vì nó không chỉ được nhen lên bằng nhiên liệu thông thường mà còn được nhen nhóm bởi tình yêu, niềm tin, sức sống mà bà luôn ủ sẵn Chính vì vậy, qua thời gian và mọi hoàn cảnh khó khăn, bếp lửa vẫn luôn ấm nóng, cháy sáng và mang một sức sống mãnh liệt, bồi đắp cho con người về tâm hồn, tình cảm + Bếp lửa “thiêng liêng” vì luôn gắn với hình ảnh của bà – người phụ nữ VN giàu tình yêu thương, giàu đức hi sinh Vì vậy, nó trở thành biểu tượng của quê hương, đất nước, là cội nguồn của mỗi con người

Trang 3

Đề 3: Cho khổ thơ:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

… Ôi, kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Câu 1: Những khổ thơ trên được trích trong tác phẩm nào? Của ai?

Trình bày hoàn cảnh sáng tác bài thơ và cho biết hoàn cảnh đó có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện chủ đề bài thơ?

- Khổ thơ trên trích từ VB “Bếp lửa”

- Tác giả: Bằng Việt

- HCST:

+ Bài thơ sáng tác năm 1963

+ Khi đó, tác giả đang theo học ngành Luật ở Liên Xô cũ

+ In trong tập “Hương cây – bếp lửa”

- HCST “Bếp lửa” có tác dụng tô đậm tình yêu quê hương, đất nước

và gia đình của tác giả qua những kỉ niệm cụ thể về bà và bếp lửa

Câu 2: Xét về từ loại, từ “lận đận” trong câu thơ trên thuộc từ loại

nào? Việc đảo từ “lận đận” lên đầu câu có tác dụng như thế nào trong việc diễn tả tình cảm của tác giả?

- Xét về từ loại, từ “lận đận” là tính từ

- Việc đảo từ “lận đận” lên đầu câu có tác dụng:

+ Tạo điểm nhấn cho câu thơ

+ Nhấn mạnh, tô đậm một cách sâu sắc và trọn vẹn những vất vả, cực nhọc mà đời bà phải trải qua

+ Thể hiện tình cảm yêu mến, biết ơn và cả xót thương của người cháu với bà

Câu 3: Chỉ ra BPTT trong khổ thơ và nêu tác dụng.

- BPTT: Điệp ngữ “nhóm”

- Tác dụng:

+ Tạo nhịp điệu cho câu thơ

+ Gợi hình dung người bà tần tảo, vất vả sớm hôm

Trang 4

+ Nhấn mạnh, tô đậm ý nghĩa công việc mà bà làm: Bà không chỉ

là người nhóm lửa, giữ lửa mà bà còn là người truyền lửa, ngọn lửa của tình yêu thương, sức sống, niềm tin luôn ủ sẵn trong lòng bà + Thể hiện những tình cảm, suy ngẫm sâu sắc của cháu về bà

Đề 4: Cho khổ thơ sau:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”

(Trích “Bếp lửa” – SGK Ngữ văn 9 - tập 1)

Câu 1 Hãy nêu ý nghĩa nhan đề “Bếp lửa”.

- Nhan đề có cấu tạo là 1 danh từ

- Bếp lửa là hình ảnh đầy sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, nó vừa thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ:

+ Nghĩa thực: Là bếp lửa quen thuộc, gần gũi với mỗi người Việt Nam, là hình ảnh kỉ niệm thời ấu thơ gắn với hình ảnh người bà + Nghĩa ẩn dụ:

 Biểu trưng cho tình yêu thương, sức sống, niềm tin mà bà thắp lên, khơi dậy trong tâm hồn cháu

 Biểu tượng hơi ấm gia đình, quê hương, đất nước, nguồn cội – điểm tựa nâng đỡ tâm hồn cháu

=> Nhan đề thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm

Câu 2 Cụm từ “một ngọn lửa” trong câu “Một ngọn lửa lòng bà

luôn ủ sẵn” thuộc thành phần nào trong câu? Thành phần đó có tác dụng gì?

- Cụm từ “một ngọn lửa” thuộc thành phần khởi ngữ trong câu

- Tác dụng: Nhấn mạnh đề tài được nói đến trong câu: Hình ảnh bếp lửa khơi gợi tình yêu thương, niềm tin, sức sống luôn ủ sẵn trong lòng bà

Câu 3 Hãy tìm mối liên hệ giữa hình ảnh “bếp lửa” với âm thanh

“Tiếng gà trưa” trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Xuân Quỳnh để thấy điểm gặp gỡ của hai tác giả?

Trang 5

- Mối liên hệ giữa hình ảnh “bếp lửa” và âm thanh “tiếng gà trưa”: + Hình ảnh bếp lửa và âm thanh tiếng gà trưa đều mang nghĩa biểu tượng, thể hiện tình cảm gia đình thắm thiết, tình bà cháu ấm

áp, thiêng liêng

+ Những tình cảm ấy đều bắt nguồn từ những sự vật giản dị, gần gũi, thân quen

+ Khơi gợi những tình cảm đẹp, rộng lớn: Tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước trong mỗi con người VN

+ Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị, giàu sức biểu cảm, giàu hình ảnh

Đề 5: Nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ, trong bài thơ Bếp lửa, Bằng

Việt viết:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.”

Câu 1: Chỉ ra số từ mà tác giả sử dụng trong đoạn thơ và cho biết

sự kiện lịch sử nào được nhắc tới trong những câu thơ trên? Sự kiện này giúp em hiểu thêm điều gì về tuổi thơ của người cháu?

- Số từ: bốn

- Sự kiện lịch sử: Nạn đói khủng khiếp năm 1945 khiến 2 triệu người chết

- Sự kiện này giúp em hiểu thêm về tuổi thơ của người cháu là tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn Sự thiếu thốn càng được thể hiện cụ thể, sâu sắc qua thành ngữ “đói mòn đói mỏi” và hình ảnh “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

Câu 2: Xét theo mục đích nói, câu “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn

cay” thuộc kiểu câu nào và thực hiện hành động nói gì?

- Kiểu câu: Câu trần thuật

- HĐN: Bộc lộ cảm xúc (xúc động, buồn khi nhớ về quá khứ)

Trang 6

Câu 3: Năm tháng và thời gian có trôi qua nhưng trong tâm trí của

mình, người cháu vẫn khắc ghi lời dặn dò của bà “Bố ở chiến khu,

bố còn việc bố/Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ/Cứ bảo nhà vẫn được bình yên” Vì sao vậy?

- Cháu mãi nhớ lời dặn dò của bà:

+ Vì lời dặn ấn tượng – dặn cháu nói sai sự thật; vì cháu hiểu đucợ lòng bà, những phẩm chất lòng bà

+ Câu nói của bà vi phạm phương châm về chất

+ Giải thích: Thực chất làng bị giặc đốt cháy tàn cháy rụi nhưng

bà vẫn dặn cháu nếu viết thư cho bố thì nói rằng nhà vẫn bình yên + Câu nói thể hiện nét đẹp của người bà: Giàu tình yêu thương, giàu đức hi sinh, kiên cường trước khó khăn => Là điểm tựa tinh thần của con cháu

Đề 6: Cho đoạn thơ:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

1 Chỉ ra một thành ngữ trong đoạn thơ và giải thích ý nghĩa thành ngữ đó

- Thành ngữ: Đói mòn đói mỏi

- Giải thích: Gợi cái đói triền miên, dai dẳng khiến người ta kiệt sức

2 Chỉ ra nét đặc sắc của hình ảnh “khói bếp” trong đoạn thơ trên

- Cảm xúc về mùi khói bếp vừa quen thuộc nhưng cũng đọng lại thành dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn của cháu “Sống mũi còn cay” vừa là phản ứng tự nhiên với khói lửa, vừa là cảm xúc xúc động khi nhớ về bà, nhớ về những năm tháng tuổi thơ cơ cực => Cảm xúc vừa xót xa, vừa ngậm ngùi xúc động

II Đoạn văn

Khổ 1 (Chưa hoàn thành)

Trang 7

Bài làm

Những hồi tưởng, cảm xúc về bà đã được tác giả Bằng Việt khắc họa chân thực, rõ nét qua khổ 1 bài thơ “Bếp lửa” Thật vậy, trôi theo dòng kí ức, có lẽ kỉ niệm sâu đậm nhất trong người sinh viên

xa nhà là dáng hình người bà và bếp lửa bà nhóm lên mỗi sớm mỗi chiều thân thương, ấm áp:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

Lặp lại 2 lần ba tiếng “một bếp lửa”, bài thơ mở đầu bằng điệp khúc với giọng điệu sâu lắng, khẳng định hình ảnh “bếp lửa” như một dấu

ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng, bếp lửa nhỏ nhoi bé bỏng đủ tỏa sáng, sưởi ấm cả tuổi thơ cháu, đủ soi sáng quãng đường cháu đi, đủ để gợi về một quá khứ, một yêu thương Có thể thấy, hình ảnh “bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh vô cùng quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam mỗi sớm mùa đông lạnh giá, mang lại hơi ấm, giúp con người xích lại gần nhau hơn, là biểu tượng của tình thân ấm nóng, bền chặt Hình ảnh gần gũi, bình dị

ấy được tác giả cảm nhận bằng thị giác qua từ láy “chờn vờn” rất tinh tế, gợi hình dung bếp lửa lúc vươn cao, lúc lại vờn xuống thấp, mang ngọn lửa lập lòe, không định hình, lúc to, lúc nhỏ, ẩn hiện trong làn sương sớm lành lạnh Bếp lửa chờn vờn hay chính là ký ức đang chờn vờn sống dậy trong tâm trí người cháu, khơi dậy cảm giác nồng ấm tận đáy sâu tâm hồn – “ấp iu nồng đượm” Từ láy “ấp iu” vừa là sự kết hợp của ấp ủ và yêu thương, vừa như nét bút gợi tả đôi bàn tay khéo léo và sự nâng niu, kiên nhẫn, tấm lòng chi chút của người nhóm lửa

Khổ 3

Bài làm

Những kí ức thân thương về tình bà cháu sâu đậm trong suốt tám năm tuổi thơ đã được nhà thơ Bằng Việt khắc họa chân thực, rõ

nét qua khổ 3 bài thơ “Bếp lửa” (1) Thật vậy, ngay ở câu thơ đầu

Trang 8

tiên, số từ “tám” như một dấu ấn về quãng thời gian “tám năm ròng” dài đằng đẵng, tưởng như vô tận bởi cái đói, cái vất vả luôn đeo đẳng hai bà cháu, nhưng đây cũng là thước phim đẹp nhất đong đầy tình yêu thương, che chở, sự nuôi dưỡng tâm hồn mà cháu nhận được từ tấm lòng hiền hậu của bà: “Tám năm ròng cháu cùng bà

nhóm lửa” (2) Dòng hồi tưởng của thước phim diệu kỳ ấy luôn gắn

với tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc chốn đồng quê mỗi độ

hè về cứ mãi vang vọng, réo rắc trong lòng người con xa xứ:

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

(3)

Tác giả đã tái hiện một cách sống động âm thanh của tu hú kêu ở những cung bậc, cảnh vật khác nhau qua việc sử dụng điệp ngữ “tu hú” rất tinh tế: Khi từ cánh đồng xa vọng lại, gợi không gian rộng lớn, mênh mông và vắng lặng; lúc lại trở thành tiếng chuông báo thức của tự nhiên đánh thức cháu dậy sớm nhen lửa cùng bà, là khởi nguồn của những câu chuyện về những ngày bà còn ở Huế - những câu chuyện nhắc nhở cháu về truyền thống gia đình, về những đau

thương mất mát và cả những chiến công của dân tộc (4) Khác hẳn

âm thanh tiếng chim “Khi con tu hú gọi bầy/Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần” – điệp khúc khơi dậy sức sống căng tràn của thiên nhiên cũng như khát khao tự do trong tâm hồn người tù Cách mạng, thì đến với những câu thơ bồi hồi, da diết kia, năm lần tiếng

Trang 9

tu hú vang lên thảng thốt, sao mà như giục giã, gợi nhớ, gợi thương, gieo vào lòng người đọc nỗi buồn vắng đến vô bờ: “Tiếng tu hú sao

mà tha thiết thế!” (5) Có lẽ, bên cạnh tiếng chim tu hú, tuổi thơ

cháu đẹp nhất khi thấm đẫm tình cảm yêu thương, đùm bọc, cưu mang từ trái tim người bà kính yêu: “Mẹ cùng cha công tác bận không về/Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe/Bà dạy cháu làm, bà

chăm cháu học” (6) Những năm kháng chiến bùng nổ, “mẹ cùng

cha công tác bận không về”, chẳng ai quên được hình ảnh điển hình trong các gia đình Việt Nam lúc bấy giờ - hai bà cháu nương tựa vào nhau, bên bếp lửa, bà kể chuyện cho cháu nghe, bà bảo ban, dạy dỗ

và chăm cháu học (7) Nghệ thuật liệt kê, điệp ngữ “bà bảo”, “bà

dạy”, “bà chăm” như những dòng kí ức miên man, mỗi một kí ức hiện về là thêm một lần tình thương bao la, sự chăm chút hết mình của bà khắc sâu trong tâm trí đứa cháu nhỏ, từ đó ngời sáng lên

lòng biết ơn sâu sắc của cháu đối với bà (8) Đặc biệt, cặp từ “bà” –

“cháu” xuất hiện gần nhau, được lặp lại 4 lần là minh chứng rõ ràng nhất cho tình bà cháu đầy quấn quýt, gắn bó, là nét bút vẽ lên thế giới mà ở đó, bà là chỗ dựa lớn lao cho cháu, thay thế và lấp đầy tất

cả (9) Người bà lam lũ, lầm lũi nắng mưa ấy tự lúc nào đã trở

thành sự kết hợp tuyệt vời giữa tình cha, nghĩa mẹ, công thầy, để rồi trong vòng tay bà, đứa cháu hiếu thảo đã chạnh lòng thương bà khó nhọc mỗi lần bà nhóm bếp lửa lên: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương

bà khó nhọc/Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà/Kêu chi hoài trên

những cánh đồng xa?” (10) Giản dị, mộc mạc mà ấm áp tràn đầy

biết nhường nào hai tiếng “thương bà” trỗi dậy từ bếp lửa thân thuộc, gói ghém cả một tấm lòng, tình yêu, sự thấu hiểu, cảm thông

sâu sắc với những vất vả, nhọc nhằn mà đời bà đã nếm trải (11)

Thương bà cô đơn, hiu quạnh, tác giả buông lời trách nhẹ nhàng chim tu hú qua câu hỏi tu từ “Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà/Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”, sao cứ bay mãi trên cánh đồng

xa, chẳng đến gần bên bà, để bà đỡ buồn thương, hiu quạnh; phải

Trang 10

chăng, đây còn là lời tự trách chính bản thân mình, lúc này đây

chẳng thể về bên bà, cùng bà hỏi han, tâm sự? (12) Từ sự bồi hồi,

ấm lòng khi nhớ về những năm tháng tuổi thơ, câu thơ cuối tựa như lời đối thoại tâm tình của cháu với bà trong tâm tưởng, của cháu với chim tu hú trong tình yêu thương, mở ra nỗi khắc khoải, da diết

khôn nguôi, nỗi nhớ thương xa thẳm, vời vợi (13)

Khổ 4

Bài làm

Vẻ đẹp của hình ảnh người bà đã được tác giả Bằng Việt khắc

họa rõ nét qua khổ 4 bài thơ “Bếp lửa” (1) Thật vậy, ngay ở những

câu thơ đầu tiên, các chi tiết thơ đậm chất hiện thực kết hợp hài hòa cùng thành ngữ “Cháy tàn cháy rụi” như nét bút gợi tả, đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa chiến tranh:

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh” (2)

Trên cái nền của sự tàn phá, hủy diệt ấy – nhà cửa bị đốt nhẵn, của cải hóa tàn tro – chính là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối

với hai bà cháu (3) Từ láy “lầm lụi” ăm ắp dáng hình những con

người phải chịu đau thương, mất mát, làm cả câu thơ như trĩu xuống, ấy vậy, tình làng nghĩa xóm của những người nông dân chưa lúc nào hết đậm đà, giản dị mà cao cả, vượt lên trên bom đạn, khói

lửa của chiến trường (4) Nhưng có lẽ, trong kí ức của người cháu

xa quê đã lâu, xúc động nhất vẫn là hình ảnh một mình bà già nua, nhỏ bé chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ,

vất vả của cuộc sống (5) Phải chống chọi với bao nhọc nhằn, gian

lao như thế, vậy mà bà vẫn nhẫn nại chịu đựng, chẳng chịu san sẻ cho ai, vẫn dặn cháu đinh ninh “chớ kể này kể nọ”:

“Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

Ngày đăng: 19/09/2025, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w