1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích 3 bước Đột phá Đầu tiên trong Đổi mới tư duy về kinh tế và Ý nghĩa (bước Đột phá thứ nhất hntw6 (81979); bước Đột phá thứ hai hntw8 (61985); bước Đột phá thứ ba hn bộ chính trị khoá v (81986)

56 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa (bước đột phá thứ nhất hntw6 (8/1979); bước đột phá thứ hai hntw8 (6/1985); bước đột phá thứ ba hn bộ chính trị khoá v (8/1986))
Tác giả Nhóm 10
Người hướng dẫn Nguyễn Ngọc Diệp, Giảng viên
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Biên bản làm việc nhóm
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 263,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. CƠ SỞ CỦA VIỆC THAY ĐỔI TƯ DUY KINH TẾ CỦA ĐẢNG (7)
    • 1.1 Cơ sở lý luận (7)
    • 1.2 Cơ sở thực tiễn (8)
      • 1.2.1 Tình hình quốc tế (8)
      • 1.2.2 Tình hình trong nước (11)
  • II. BA BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐẦU TIÊN TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ KINH TẾ. .10 (14)
    • 2.1 Bước Đột Phá Thứ Nhất: Hội nghị Trung ương 6 (T8/1979) (14)
      • 2.1.1 Hoàn cảnh (14)
      • 2.1.2 Chủ trương (14)
      • 2.1.3 Kết quả (22)
      • 2.1.4 Đánh giá (23)
      • 2.1.5 Ý nghĩa (25)
    • 2.2 Bước Đột Phá Thứ Hai: Hội nghị Trung ương 8 T6/1985 (26)
      • 2.2.1 Hoàn cảnh (26)
      • 2.2.2 Chủ trương (27)
      • 2.2.3 Kết quả (33)
      • 2.2.4 Đánh giá (34)
      • 2.2.5 Ý nghĩa (36)
    • 2.3 Bước Đột Phá Thứ Ba: Hội nghị Bộ Chính trị Khóa V T8/1986 (37)
      • 2.3.1 Hoàn Cảnh (37)
      • 2.3.2 Chủ Trương (38)
      • 2.3.3 Kết quả (48)
      • 2.3.4 Đánh giá (49)
      • 2.3.5 Ý Nghĩa (51)
  • KẾT LUẬN (53)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (55)

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm chúng em quyếtđịnh nghiên cứu đề tài: “Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa bước đột phá thứ nhất: Hội nghị Trung

CƠ SỞ CỦA VIỆC THAY ĐỔI TƯ DUY KINH TẾ CỦA ĐẢNG

Cơ sở lý luận

Trong bối cảnh biến động của thế giới và trong nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 14 đến 20 tháng 12 năm 1976, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế nước ta sau giải phóng và thống nhất, đồng thời đối mặt với nhiều thách thức kinh tế Đại hội xác định những nhiệm vụ cấp bách và ban hành các quyết sách nhằm khắc phục sai lầm và thiếu sót trong tổ chức và quản lý kinh tế, quản lý xã hội sau khi thống nhất Trên cơ sở phân tích thực tế và tự phê bình những khuyết điểm, Đại hội IV đề ra định hướng và chiến lược đổi mới toàn diện về tư duy lý luận kinh tế.

Đại hội IV xác định mục tiêu đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa và phù hợp với thực tế, triển khai ở nhiều cấp độ từ cơ cấu công-nông nghiệp, cơ cấu ngành trong nông nghiệp đến sự phân chia các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nặng, cùng với kết cấu hạ tầng Đặc biệt, đại hội đưa ra các giải pháp táo bạo để thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm như chương trình lương thực, thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình hàng xuất khẩu, nhằm giải quyết thiếu hụt hàng hóa thiết yếu, tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất cùng mở rộng thị trường tiêu thụ Để đạt được mục tiêu này, đại hội nhấn mạnh xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, đồng thời chỉ đạo cải tiến các chính sách lưu thông, phân phối, của giá cả, lương, tiền tệ, tài chính và ngân hàng để phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất Mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ, bảo đảm cho Nhà nước kiểm soát được nguồn hàng hóa, làm chủ thị trường và khuyến khích sự sáng tạo cùng năng động của người lao động để họ được hưởng lợi từ công sức lao động của mình.

Đại hội VI đưa ra ba nguyên tắc mang tính định hướng cho cải tạo xã hội chủ nghĩa: thứ nhất, bảo đảm sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức tổ chức sản xuất cho phù hợp; thứ hai, căn cứ vào thực tế của đất nước và vận dụng quan điểm của Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần cùng đặc trưng của thời kỳ quá độ để xác định các chiến lược phát triển phù hợp; thứ ba, trong quá trình cải tạo cần xây dựng và phát triển một quan hệ sản xuất mới với ba yếu tố then chốt là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý xã hội chủ nghĩa và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa Đây là ba trụ cột quan trọng để củng cố và phát triển nền kinh tế, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác nhau phát triển hài hòa và bền vững.

Những mục tiêu và nhiệm vụ do Đại hội IV đề ra là nền tảng và tiền đề cho ba bước đột phá đầu tiên trong tư duy kinh tế của Đảng, phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của Đảng đối với con đường phát triển đất nước và làm cơ sở để tiếp tục triển khai các chính sách đổi mới ở những giai đoạn tiếp theo Những đường lối mà Đại hội IV đề ra cung cấp cơ sở lý luận vững chắc, mở ra cơ hội lớn để đất nước vươn lên mạnh mẽ trong xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình quốc tế a) Các chương trình cải cách kinh tế - xã hội của Liên Xô

Trong thế kỷ 20, Liên Xô đã thực hiện nhiều chương trình cải cách kinh tế nhằm hiện đại hóa đất nước và củng cố mô hình chủ nghĩa xã hội Các chương trình này diễn ra qua ba giai đoạn quan trọng, mỗi giai đoạn mang lại những thay đổi đáng kể nhưng cũng bộc lộ nhiều bất cập và thách thức mà hệ thống phải đối mặt.

 Giai đoạn 1927 - 1953: Công nghiệp hóa dưới thời Stalin

Dưới sự lãnh đạo của Joseph Stalin, Liên Xô tiến hành một đợt công nghiệp hóa tập trung, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Chỉ sau một thập kỷ, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Liên Xô đã vươn lên trở thành một trong những cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới Thành công này phần lớn nhờ vào chính sách kế hoạch hóa tập trung, tập thể hóa nông nghiệp và duy trì quan hệ kinh tế với các nước tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ Tuy nhiên, nền kinh tế kế hoạch hóa cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bao gồm sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt và tình trạng thiếu hụt hàng tiêu dùng.

 Giai đoạn 1953 - 1964: Cải cách của Khrushchev

Sau khi Stalin qua đời, Nikita Khrushchev lên nắm quyền và thực hiện một loạt cải cách nhằm giảm sự tập trung quyền lực ở trung ương và thúc đẩy phát triển nông nghiệp Chính sách của ông tập trung vào phi Stalin hóa để xóa bỏ các tệ nạn cai trị cứng nhắc thời kỳ Stalin, đồng thời tăng cường quản lý kinh tế ở cấp địa phương và đổi mới cơ chế động lực cho sản xuất Ông đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp qua Chiến dịch đất hoang và cải cách nông nghiệp tập thể nhằm nâng cao sản lượng lương thực và đời sống nông dân Việc nới lỏng quyền tự chủ cho các cấp quản lý địa phương và khuyến khích đổi mới công nghệ nông nghiệp là những yếu tố then chốt trong chương trình cải cách Dù đạt được một số thành tựu về sản lượng và hiện đại hóa, các chương trình này cũng gặp khó khăn và phải điều chỉnh trước những thách thức thực tế của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Chinh phục miền đất hoang nhằm mở rộng diện tích canh tác, nhưng hiệu quả đạt được không như kỳ vọng Các biện pháp cải cách kinh tế của Khrushchev thiếu nhất quán, gây ra bất ổn và làm suy yếu nền kinh tế Liên Xô Giai đoạn này cũng phản ánh khủng hoảng lý luận về chủ nghĩa xã hội, đặt tiền đề cho những biến động và thay đổi sau này.

 Giai đoạn 1964 - 1982: Cải cách của Kosygin

Trong thời kỳ cầm quyền của Leonid Brezhnev, Thủ tướng Aleksei Kosygin đề xuất một loạt cải cách nhằm trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp và áp dụng phương pháp hạch toán kinh tế theo cơ chế thị trường Nỗ lực này được kỳ vọng sẽ đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, tăng sản lượng xuất khẩu và cải thiện mức sống của người dân Tuy nhiên, sự bảo thủ của bộ máy lãnh đạo đã ngăn chặn triển khai chương trình, khiến Liên Xô rơi vào tình trạng trì trệ kinh tế kéo dài.

 Giai đoạn 1985 - 1991: Cải tổ của Gorbachev

Năm 1985, Mikhail Gorbachev lên nắm quyền và triển khai hai chính sách đổi mới quan trọng: Perestroika (tái cấu trúc kinh tế) và Glasnost (công khai hóa) Perestroika nhằm chuyển nền kinh tế kế hoạch sang cơ chế thị trường nhưng thực hiện quá vội vàng, gây ra sự bất ổn nghiêm trọng Glasnost thúc đẩy tự do ngôn luận và dân chủ hóa, nhưng đồng thời làm suy yếu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Những cải cách này, thay vì giúp Liên bang Xô viết ổn định, đã dấy lên các thách thức chính trị và xã hội rộng lớn, góp phần dẫn đến sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và những biến đổi lớn trên trường thế giới.

Trong giai đoạn phục hồi, Liên Xô lại rơi vào khủng hoảng chính trị và kinh tế, dẫn tới sự tan rã của nước này vào năm 1991; đồng thời, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải cách kinh tế - xã hội nhằm mở cửa thị trường, đổi mới thể chế và thúc đẩy tăng trưởng để hiện đại hóa đất nước.

Trái ngược với Liên Xô, Trung Quốc đã thực hiện một công cuộc cải cách kinh tế bài bản từ năm 1978 dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình, chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Nhờ các chính sách mở cửa, đổi mới và tái cơ cấu, nước này đã gặt hái những thành công đáng kể, thúc đẩy tăng trưởng, hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu.

 Giai đoạn 1978 - 1992: Khởi đầu công cuộc đổi mới

Vào Hội nghị Trung ương 3 khóa XI năm 1978, Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định xây dựng kinh tế là trọng tâm và chuyển phương châm từ "đấu tranh giai cấp" sang "phát triển kinh tế" Chính phủ triển khai một loạt chính sách đổi mới như khoán sản phẩm trong nông nghiệp và giao quyền sử dụng đất cho nông dân để nâng cao năng suất Đồng thời thúc đẩy phát triển doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các xí nghiệp hương trấn ở nông thôn Việc mở cửa nền kinh tế được đẩy mạnh thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thiết lập các đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn Những bước đi này đánh dấu quá trình cải cách kinh tế và hiện đại hóa đất nước, mở đường cho tăng trưởng kinh tế và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

 Giai đoạn 1992 - Nay: Tiếp tục cải cách và hội nhập

Những thành công ban đầu đã giúp Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế sâu rộng, thông qua các biện pháp quan trọng như cải cách doanh nghiệp nhà nước, giảm bớt sự kiểm soát của nhà nước và cho phép các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, đồng thời mở rộng quan hệ thương mại quốc tế với dấu mốc quan trọng là gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001.

Nhờ các cải cách kinh tế được triển khai mạnh mẽ, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và nâng cao mức sống của người dân Thành tựu này cho thấy tác động tích cực của quá trình mở cửa và cải cách thể chế đối với đầu tư, đổi mới và năng suất Từ đó, Việt Nam chịu ảnh hưởng và suy nghĩ lại về chiến lược kinh tế, chú trọng cải cách thị trường, tăng cường liên kết khu vực và toàn cầu, nâng cao hiệu quả quản trị và thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững.

Các chương trình cải cách của Liên Xô và Trung Quốc đã tác động sâu sắc đến tư duy kinh tế của Việt Nam Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung nhưng nhanh chóng gặp khó khăn do khan hiếm lương thực, năng suất thấp và hiệu quả quản lý kém Từ những bài học ấy và từ thực tiễn của Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam nhận thấy sự cần thiết của đổi mới và chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam bắt đầu quá trình Đổi mới tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, tập trung cải cách cấu trúc nền kinh tế, mở cửa và thúc đẩy cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng trưởng bền vững Đổi mới đã đưa Việt Nam từ kinh tế kế hoạch trung ương sang mô hình kinh tế nhiều thành phần, dựa trên hiệu quả quản lý, đổi mới công nghệ và phát huy nguồn lực tri thức.

Đổi Mới được triển khai từ năm 1986 với ba nội dung chính: chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế và khuyến khích kinh tế tư nhân; cải cách nông nghiệp với chính sách khoán sản phẩm tương tự như Trung Quốc nhằm tăng năng suất và hiệu quả; mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế Nhờ các cải cách này, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, từ một nước nghèo đói chuyển mình thành nền kinh tế năng động ở Đông Nam Á.

1.2.2 Tình hình trong nước a) Tình hình Việt Nam sau năm 1975

Sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975, Việt Nam thống nhất toàn vẹn, hai miền Nam Bắc sum vầy một nhà và kết thúc hơn hai thập kỷ chia cắt do chiến tranh Đây là thắng lợi chính trị to lớn, mở đường cho Đảng và Nhà nước thực hiện nhiệm vụ cấp bách nhất lúc ấy là hoàn tất thống nhất về mặt nhà nước Sự thống nhất này không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn ổn định chính trị và tạo sức mạnh tổng hợp để khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho tiến trình đưa đất nước tiến tới chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, dù đã có hòa bình, Việt Nam vẫn đối mặt với vô vàn khó khăn do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại.

Về kinh tế, đất nước sau khi thống nhất vẫn tồn tại sự chênh lệch lớn giữa Nam-Bắc: miền Bắc sau hơn hai mươi năm xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu về cơ sở vật chất-kỹ thuật nhưng vẫn duy trì mô hình kế hoạch hóa tập trung với nhiều bất cập và tốc độ tăng trưởng chậm, trong khi miền Nam có nền kinh tế phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa ở mức độ nhất định nhưng cơ cấu mất cân đối, sản xuất chủ yếu nhỏ lẻ, manh mún và lệ thuộc nặng vào viện trợ nước ngoài Bên cạnh đó, cả hai miền đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của chiến tranh với hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà máy và đồng ruộng bị bom đạn tàn phá; hàng triệu hecta đất bị ô nhiễm chất độc hóa học và bom mìn còn sót lại gây nguy hiểm cho tính mạng người dân; thất nghiệp gia tăng nhanh và mù chữ còn ở mức cao, tạo ra thách thức lớn cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh Đây là bối cảnh và các hạn chế của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp cần được xem xét trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế.

BA BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐẦU TIÊN TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ KINH TẾ .10

Bước Đột Phá Thứ Nhất: Hội nghị Trung ương 6 (T8/1979)

Sau thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sự thống nhất đất nước về mặt nhà nước, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước độc lập, thống nhất — con đường tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của Việt Nam và là điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh thời đại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chính là bước khởi đầu cho công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong quá trình cách mạng của nước ta; khi giai cấp công nhân đảm nhận vai trò lãnh đạo, thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đánh dấu sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trước những thách thức lớn về kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định tổ chức Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) vào tháng 8 năm 1979 Hội nghị tập trung thảo luận các định hướng phát triển nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm hàng hóa thiết yếu và thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong nước.

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đối mặt nhiều khó khăn, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV đã đưa ra các quyết sách đột phá nhằm khắc phục khủng hoảng, thúc đẩy sản xuất và ổn định đời sống nhân dân; dựa trên đánh giá toàn diện tình hình thực tiễn, hội nghị xác định nhiệm vụ trọng tâm là điều chỉnh các chính sách kinh tế, khắc phục những hạn chế trong quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa, đồng thời từng bước tháo gỡ các rào cản kiềm hãm lực lượng sản xuất, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Một trong những nội dung cốt lõi của hội nghị là xác định và thực thi chủ trương khắc phục những sai lầm, khuyết điểm trong quản lý kinh tế, đặc biệt trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa Việc nhận diện và sửa chữa các yếu tố làm giảm hiệu quả quản lý kinh tế được xem là nền tảng để nâng cao năng lực điều hành và phân bổ nguồn lực hợp lý Hội nghị nhấn mạnh tính cấp thiết của cải cách cơ chế quản lý, tăng cường giám sát và đánh giá kết quả nhằm đảm bảo tính công bằng và bền vững cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Qua đó, mục tiêu cải cách không chỉ khắc phục sai lệch mà còn thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và tiến bộ của hệ thống kinh tế.

Với tinh thần đổi mới tư duy, Đảng xác định phải loại bỏ những cơ chế, chính sách đã lỗi thời, không còn phù hợp, để tạo điều kiện cho sản xuất bung ra và phát huy tối đa tiềm năng kinh tế Việc hiện đại hóa cơ chế quản lý và cải cách chính sách sẽ giải phóng nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới sáng tạo Đảng đồng thời khẳng định mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước, xây dựng nền kinh tế đa dạng, cạnh tranh và bền vững.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Hội nghị đề ra mục tiêu ổn định sản xuất lương thực trong giai đoạn 5 năm, đồng thời cho phép phần sản lượng dư thừa được lưu thông tự do hoặc bán cho Nhà nước theo cơ chế linh hoạt Để khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, Đảng chủ trương khuyến khích tận dụng ao hồ, ruộng hoang, mở rộng quy mô sản xuất nhằm nâng cao năng suất và đảm bảo an ninh lương thực Bên cạnh đó, Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu phát triển chăn nuôi theo nhiều hình thức khác nhau, bao gồm quốc doanh, tập thể và hộ gia đình Việc đa dạng hóa mô hình chăn nuôi không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước mà còn tạo điều kiện cho các hộ sản xuất kinh doanh phát triển, đóng góp vào nền kinh tế quốc dân Nhằm tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp, Đảng chủ trương điều chỉnh chính sách thuế và giá lương thực theo hướng khuyến khích nông dân gia tăng sản xuất Chính sách này giúp cải thiện đời sống người lao động, thúc đẩy sản xuất hàng hóa và từng bước hình thành cơ chế vận hành linh hoạt hơn trong nền kinh tế.

Ngoài ra, Hội nghị xác định cần đổi mới phương thức phân phối trong nội bộ hợp tác xã nông nghiệp Thay thế lối phân phối theo định suất, định lượng bằng cơ chế phân phối dựa trên hiệu quả lao động là giải pháp quan trọng nhằm khuyến khích tinh thần trách nhiệm, tính chủ động của người lao động, qua đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Những chủ trương tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) không chỉ khắc phục những bất cập của cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước mà còn đặt nền tảng cho quá trình điều chỉnh chính sách kinh tế sau này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn tới a) Trong công nghiệp, các định hướng nhằm tăng cường năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và tái cấu trúc ngành công nghiệp được đặt ra để nâng cao hiệu quả, tăng trưởng và khả năng cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong giai đoạn 1979-1985, nhiều địa phương miền Nam, tiêu biểu là Long An và Thành phố Hồ Chí Minh, đã “xé rào” để hình thành nền kinh tế “bù giá”, dù là làm “chui” và thử nghiệm để sau đó báo cáo lên Trung ương; trước tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực do viện trợ từ nước ngoài giảm dần vào thập niên 1980, Nhà nước không thể cung cấp đầy đủ đầu vào cho nông dân và các đơn vị sản xuất như phân bón, xăng dầu, thuốc trừ sâu và vật tư chiến lược, nên nhiều nơi chủ động mở rộng hoạt động, tự tìm nguồn cung cấp đầu vào từ thị trường tự do; đầu vào cho sản xuất phải mua bằng giá đắt, khiến Nhà nước không thể bắt nông dân và doanh nghiệp bán sản phẩm cho Nhà nước theo giá thấp.

Khi Nhà nước không đảm bảo được cung cấp đầu vào, không thể kế hoạch hóa đầu ra và phải thừa nhận sự tồn tại của thị trường tự do với mặt bằng giá cao hơn mức Nhà nước quy định, dẫn đến việc Nhà nước không mua đủ và không nhập khẩu đủ lương thực cho lực lượng phi nông nghiệp, kể cả một bộ phận cán bộ, công nhân viên và quân đội; vấn đề cốt lõi là giá-lương-tiền, thể hiện rõ qua cơ chế định giá mang tính áp đặt và tùy tiện đã tạo ra sự chênh lệch lớn giữa giá thị trường tự do và giá chỉ đạo của Nhà nước, chênh lệch này trở thành nguồn lợi cho các hoạt động bòn rút từ Nhà nước sang túi cá nhân và làm đời sống của cán bộ, công nhân viên chức cùng lực lượng vũ trang ngày càng khó khăn; năm 1979 lương của công nhân viên chức chỉ 51,95 đồng/tháng, tương đương với 11 kg gạo so với năm 1976 tương đương 70 kg, trong khi thu nhập bình quân của nông dân là 105 đồng/tháng, tiểu thương nhỏ 573 đồng/tháng, kinh doanh vừa 702 đồng/tháng và kinh doanh lớn 877 đồng/tháng, cho thấy sự bất cân đối nghiêm trọng giữa giá cả và thu nhập.

Lương quá thấp nên công nhân viên chức tìm mọi cách để lo toan cuộc sống gia đình.

Vì lương không kịp theo giá nên hàng ngàn công nhân, viên chức, giáo viên xin nghỉ hoặc bỏ việc để đi buôn, làm ruộng hoặc làm thuê kiếm sống Ở miền Nam, Long An và một số tỉnh đã thực hiện những bước đi táo bạo: sau khi nhận toàn bộ định mức hiện vật trong tháng, mặt hàng xà bông được chọn đem ra thị trường; để tránh đầu cơ và phòng tình huống xấu bất ngờ, xà bông được chia để bán làm 3 lần với giá bán cao gấp 10 lần giá phân phối và tương đương giá chợ, đồng thời lương của viên chức tháng đó được cộng thêm định mức xà bông theo giá thị trường Ai muốn mua xà bông thì ra chợ, thoải mái lựa chọn, không phải lo mua dự trữ, khiến giá xà bông giảm rất nhiều Đó là lần đầu tiên một mặt hàng không phân phối nhưng vẫn đầy ngoài chợ hay cửa hàng quốc doanh, và bước thử nghiệm đã thành công Tiếp theo đó, trong 3 tháng cuối năm 1979, tất cả các mặt hàng phân phối (trừ gạo) đều được Long An bán ra thị trường; toàn bộ số hiện vật của cán bộ, viên chức được quy ra tiền theo giá thị trường và cộng vào lương hằng tháng, với giải pháp “bù giá vào lương” mang lại hiệu ứng tích cực.

Với tình hình trên, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25 CP (1/1981) về quyền sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Quyết định này đánh dấu bước mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước trong quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng các nguồn lực tài chính, đồng thời xác lập cơ chế giám sát và phối hợp giữa Nhà nước và xí nghiệp quốc doanh nhằm tăng hiệu quả và tính tự chủ trong quản trị.

26 CP về mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của nhà nước nhằm tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản lý chi phí Nội dung khuyến khích áp dụng linh hoạt hình thức trả lương khoán và lương sản phẩm cùng với tiền thưởng để thúc đẩy kết quả làm việc thực tế của người lao động, đồng thời yêu cầu các đơn vị nhà nước xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, phương pháp tính và cơ chế thưởng minh bạch, công bằng Mục tiêu là cân đối giữa động lực làm việc và ổn định thu nhập, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực nhà nước và thúc đẩy quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả hơn.

Xác định lại phương hướng và nhiệm vụ của các xí nghiệp cho phù hợp với điều kiện hiện nay nhằm tăng hiệu quả và ổn định sản xuất Những xí nghiệp có vị trí kinh tế quan trọng phải được bảo đảm các phương tiện vật chất một cách tập trung và được giao các điều kiện để hoạt động hiệu quả và bền vững Trong trường hợp một xí nghiệp không có khả năng tiếp tục hoạt động, cần tạm ngừng sản xuất, tổ chức bảo quản thiết bị tốt, giải quyết thỏa đáng việc sắp xếp công việc cho công nhân viên và giữ gìn số cán bộ, công nhân kỹ thuật nòng cốt.

Bước Đột Phá Thứ Hai: Hội nghị Trung ương 8 T6/1985

2.2.1 Hoàn cảnh a) Tình hình chính trị - xã hội

Trên thế giới và trong nước vẫn tồn tại cả thuận lợi lẫn khó khăn, thách thức mới đang nổi lên Mỹ tiếp tục duy trì chính sách bao vây cấm vận và kế hoạch hậu chiến, trong khi chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc về nghĩa vụ quốc tế của quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, gây áp lực lên Việt Nam và làm rạn nứt quan hệ giữa ba nước Đông Dương Trong nước, tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng b) Tình hình trong nước.

Sau ngày giải phóng miền Nam, kinh tế-tài chính nước ta trải qua thay đổi căn bản khi viện trợ không hoàn lại hầu như không còn, vốn vay dài hạn từ các nước bạn bè giảm mạnh để nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và hàng tiêu dùng cũng bị thu hẹp Mặc dù ta nỗ lực phát triển sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và nhập khẩu và đạt được một số kết quả từ năm 1981 trở đi, tổng giá trị tăng thêm từ sản xuất nội địa vẫn chưa vượt được mức giảm sút do nguồn lực bên ngoài Hai cuộc chiến tranh xâm lược và các hoạt động phá hoại ở biên giới phía tây nam và phía bắc đã gây nhiều thiệt hại, khiến dân số gia tăng nhanh và thu nhập quốc dân bình quân đầu người sau khi giảm 20% năm 1975 vẫn tiếp tục giảm 2-3% mỗi năm; trong khi nhu cầu tiêu dùng xã hội và chi phí quốc phòng, xây dựng cơ bản vẫn được duy trì ở mức cao.

Trước tình hình này, Đảng và Nhà nước chưa kiên quyết sắp xếp lại sản xuất và xây dựng, cũng chưa định lại chính sách tài chính quốc gia để dựa vào nguồn động viên trong nước Cơ chế quản lý tập trung quan liêu - bao cấp vẫn còn, chưa được chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế và mô hình kinh doanh xã hội chủ nghĩa Do tư tưởng bảo thủ, quan liêu, thiếu nhạy bén trong chỉ đạo và điều hành, cùng với nặng nề sự phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chúng ta đã chậm đổi mới chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế.

Hội nghị Trung ương 8 thuộc khuôn khổ Đại hội V của Đảng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam, thể hiện quyết tâm xóa bỏ tư duy cũ lạc hậu và xây dựng một chiến lược kinh tế phù hợp với thực tế đất nước Đây được xem là bước đột phá thứ hai trong quá trình tìm tòi và hoàn thiện mô hình phát triển kinh tế mới, mở đường cho các cải cách quan trọng tiếp theo và đặt nền tảng cho sự chuyển đổi kinh tế của đất nước.

Chính sách trọng tâm được xác định lại giá theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giúp người sản xuất có lợi nhuận cùng bảo vệ lợi ích Nhà nước Nhà nước chấm dựt tình trạng mua thấp – bán thấp, thực hiện thả nổi giá và thống nhất giá cả theo thị trường, đồng thời loại bỏ bao cấp hiện vật và thay bằng hệ thống tiền lương theo cơ chế thị trường để tạo động lực phát triển sản xuất Đồng thời, hội nghị đề ra các cải cách tài chính, giảm dần bao cấp ngân sách và chuyển hệ thống ngân hàng sang cơ chế hạch toán kinh tế, nhằm mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh Những thay đổi này đã tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa phát triển, thúc đẩy lưu thông và hình thành một hệ thống kinh tế năng động hơn, với Long An là một trong những địa phương tiên phong áp dụng thả nổi giá – lương – tiền để thúc đẩy phát triển và cạnh tranh trên thị trường.

Hội nghị Trung ương 8 đánh dấu bước tiến mới trong tư duy đổi mới của Đảng và đặt nền móng cho công cuộc Đổi Mới năm 1986, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo Đây là thời khắc xác định lại cơ chế quản lý kinh tế và thể chế, thúc đẩy đổi mới căn bản và toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh và sự bền vững của nền kinh tế a) Tình hình vấn đề về giá – lương – tiền được xem là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến lạm phát, đời sống của người dân và cân đối ngân sách nhà nước, đòi hỏi các biện pháp điều chỉnh giá cả, tiền lương và chính sách tiền tệ phải được thiết kế và thực thi một cách thận trọng để hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế.

Sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IV (tháng 9-1979), Đảng và Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa Các ngành, địa phương và cơ sở chủ động áp dụng những phương thức mới để tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, tăng cường thu mua và cải thiện tài chính quốc gia, đồng thời giải quyết các vấn đề cấp bách liên quan đến giá cả và tiền lương Những nỗ lực này cho thấy sự phối hợp giữa chính sách và thực thi ở cấp cơ sở, góp phần ổn định thị trường và nâng cao đời sống người dân Từ đó, việc đổi mới quản lý và tăng cường nguồn lực được xem là nền tảng để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, các nghị quyết và chỉ thị về phân phối lưu thông vẫn tồn tại những hạn chế lớn: việc giải quyết vấn đề giá cả, tiền lương và các khía cạnh kinh tế khác vẫn dựa trên cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp Hệ thống kế hoạch hóa tiếp tục vận hành chủ yếu theo phương thức cấp phát và giao nộp, trong khi hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức Chế độ phân phối hiện vật với giá thấp kéo dài quá lâu, thậm chí gần như miễn phí, dẫn đến việc cung cấp tràn lan Hệ thống tiền lương mất đi vai trò kích thích lao động.

Trong các hình thức bao cấp, bao cấp qua giá là vấn đề nghiêm trọng nhất khi hàng hóa được mua bán ở mức giá quá thấp Nhà nước bán vật tư và hàng hóa nhưng không đủ để bù đắp chi phí sản xuất, gây ra chênh lệch giá trị lên tới hàng trăm tỷ đồng Khoản chênh lệch này trở thành nguồn thu nhập bổ sung cho một số nhóm trong xã hội, đẩy mạnh sự hình thành và phát triển của thị trường tự do và chợ đen Điều này không chỉ làm giàu cho giới gian thương mà còn tạo điều kiện cho sự tha hóa của một bộ phận trong bộ máy nhà nước.

Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị được ban hành nhằm khắc phục mất cân bằng giữa giá cả, tiền lương và tiền tệ trong bối cảnh kinh tế và tài chính hiện nay, hướng tới cân bằng ngân sách và tiền mặt và chuẩn bị điều kiện để thực hiện cải cách giá và lương.

Việc chia thành ba bước như đề xuất là không hợp lý, vì không thể đồng thời ổn định được tình hình kinh tế và đời sống, cân bằng được ngân sách và tiền mặt, trong khi vẫn duy trì bao cấp qua giá và lương Thực tế cho thấy mục tiêu ổn định kinh tế bền vững đòi hỏi xử lý đồng thời các yếu tố này; nếu tách riêng sẽ làm mất cân đối tài khóa và giảm hiệu lực của các chính sách trợ cấp, khiến việc duy trì hỗ trợ qua giá và mức lương trở nên khó khăn.

Trong giai đoạn 1981-1989, theo nghị quyết và chỉ thị của Bộ Chính trị, Nhà nước đã điều chỉnh tương đối toàn diện hệ thống giá, trừ giá cung cấp áp dụng cho 9 mặt hàng thiết yếu Việc điều chỉnh vào năm 1981-1982 nâng giá lên 5-7 lần, phản ánh sát giá trị hàng hóa, sức mua thực tế của đồng tiền và tiệm cận với giá thị trường lúc đó; nhờ đó, thương mại xã hội chủ nghĩa được mở rộng, thu mua hàng hóa tăng cường, Nhà nước kiểm soát nguồn hàng tốt hơn Việc điều chỉnh tỷ giá giữa công - nông giúp nhiều doanh nghiệp công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải thoát lỗ và bắt đầu có lãi; đồng thời, ngân sách nhà nước phần nào được giảm bớt khó khăn nhờ nền kinh tế có dấu hiệu chuyển biến tích cực Tuy nhiên, do chưa quán triệt triệt để quan điểm xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp và chuyển đổi sang hạch toán kinh tế, quá trình cải cách giá và tiền lương vẫn mang tính nửa vời: chi phí sản xuất chưa được tính đầy đủ vào giá thành, tiếp tục duy trì bù lỗ trên diện rộng và hạch toán theo hình thức; giá mua-bán vẫn ở mức thấp, trong khi cung cấp hiện vật vẫn là chủ yếu, với phạm vi hưởng lợi quá rộng.

Sau khi điều chỉnh giá và lương, Nhà nước vẫn duy trì cơ chế giá tĩnh trong khi nền kinh tế đòi hỏi một cơ chế động hơn Kết quả là hệ thống giá do nhà nước định ra không phản ánh đúng giá trị thực, dẫn tới tình trạng bù lỗ trong sản xuất và kinh doanh ngày càng nghiêm trọng Ngân sách thâm hụt ở mức cao, lượng tiền mặt lưu thông tăng lên khiến sức mua của tiền lương danh nghĩa giảm dần, ảnh hưởng tới đời sống và hiệu quả kinh tế.

Việc điều chỉnh giá và lương được thực hiện một cách riêng lẻ, thiếu sự kết hợp với cải cách cơ chế quản lý kinh tế, tái cơ cấu sản xuất và tăng cường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa Nhà nước chưa kiểm soát chặt chẽ thị trường, khiến giá cả tăng nhanh ngoài tầm kiểm soát Phân phối hàng hóa vẫn dựa chủ yếu vào hệ thống tem phiếu, và tiền lương của người lao động được quy đổi sang lương thực Dù chợ đen bị xem là bất hợp pháp, nó vẫn tồn tại ở quy mô nhỏ, hàng hóa khan hiếm và giá cả rất cao Theo thời gian, khi tem phiếu được áp dụng rộng rãi, đồng tiền mất giá dần.

 Về giá, những nguyên nhân trên đã gây những hậu quả nghiêm trọng:

Khu vực kinh tế quốc doanh có thu nhập chỉ đủ để chi trả lương cho công nhân, viên chức ở mức rất thấp, không đảm bảo đời sống và không đóng góp cho ngân sách Nhà nước cũng như không thể tích lũy để phục vụ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Máy móc, thiết bị và nhà xưởng ngày càng xuống cấp, hư hỏng, trong khi nguồn thu từ khấu hao tài sản cố định không đủ chi cho sửa chữa và khó có thể tái tạo hay phục hồi tài sản cố định Nền kinh tế rơi vào tình trạng tiêu dùng vốn, làm giảm khả năng đầu tư và bảo dưỡng, gây suy giảm năng lực sản xuất và sự ổn định của hệ thống kinh tế.

Bước Đột Phá Thứ Ba: Hội nghị Bộ Chính trị Khóa V T8/1986

Hội nghị Bộ Chính trị khóa V diễn ra vào tháng 8 năm 1986 được coi là “Bước Đột Phá Thứ Ba” trong lịch sử kinh tế Việt Nam, ra đời giữa bối cảnh kinh tế xã hội đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng Cuối những năm 1980, Việt Nam phải đối mặt với lạm phát cao, giá cả tăng vọt và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Chế độ tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng, khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng.

Việc sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã tạo áp lực lớn buộc Việt Nam phải đổi mới mô hình kinh tế nhằm tránh lặp lại những hệ quả tương tự; trước tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới tư duy kinh tế và cơ chế quản lý để duy trì tăng trưởng và hội nhập Hội nghị Bộ Chính trị khóa V tháng 8 năm 1986 được xem như một bước ngoặt quan trọng, mở đường xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cơ chế quản lý mới, từ đó thúc đẩy quá trình đổi mới và cải cách kinh tế ở Việt Nam.

Hội nghị này là bước chuẩn bị quan trọng cho Đại hội Đảng lần thứ VI diễn ra vào tháng 12 năm 1986 để thông qua đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đại hội VI đã khẳng định xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Nói ngắn gọn, Hội nghị Bộ Chính trị khóa V tháng 8 năm 1986 ra đời trong bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam đang khủng hoảng, cần một sự đổi mới căn bản về tư duy kinh tế và cơ chế quản lý để thoát khỏi khó khăn và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

2.3.2.1 Về Cơ Cấu Kinh Tế a) Nhận định của Hội Nghị

Hội nghị nhận định trong hai thập kỷ đã qua Đảng ta đã mắc nhiều sai lầm, nổi bật là giai đoạn 1976-1980 với các quyết định chủ quan and nóng vội, đặt ra các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ xây dựng cơ bản cũng như phát triển sản xuất quá cao Thực tế cho thấy chúng ta quá tập trung vào xây dựng công nghiệp nặng và thực hiện nhiều dự án lớn nhanh, nhưng thiếu sự chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; việc khôi phục và tổ chức lại sản xuất công nghiệp chưa được quan tâm đầy đủ, tiểu thủ công nghiệp không được khuyến khích và định hướng phát triển hợp lý, và hệ thống kết cấu hạ tầng cũng chưa được tăng cường đầy đủ.

Dù đầu tư vào sản xuất ở mức cao, hiệu quả đầu tư lại thấp, khiến cho tiến triển của sản xuất trong 5 năm gần đây hầu như không có dấu hiệu cải thiện Năng suất lao động giảm kéo theo chi phí sản xuất tăng, dẫn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp bị thu hẹp và tình hình kinh tế - xã hội ngày càng bất ổn.

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, dù đã có những điều chỉnh như hoãn một số dự án lớn và tập trung nguồn lực cho các công trình trọng điểm, việc điều chỉnh ở mức độ tổng thể vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong đợi Sự ngập ngừng và thiếu quyết tâm trong việc hoãn các công trình không cấp bách khiến nguồn vốn và vật tư không được phân bổ hợp lý, dẫn đến hiệu quả thấp trong các mục tiêu thiết yếu như phát triển nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng Hậu quả trực tiếp là chậm giải quyết các vấn đề căn bản về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và nguồn hàng xuất khẩu.

Hiện nay, phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp chỉ vận hành ở khoảng một nửa công suất, các công trình xây dựng dở dang chiếm tỷ lệ lớn so với khả năng đầu tư và nhiều dự án dù đã hoàn thành nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để hoạt động hiệu quả Trong bối cảnh nguồn vốn hạn chế, nguyên liệu và vật tư thiếu thốn, nếu tiếp tục duy trì tình trạng này vốn sẽ bị đọng lại lâu dài ở các công trình dở dang kém hiệu quả và các mục tiêu mà Đại hội đề ra sẽ khó có thể thực hiện được Để ổn định cuộc sống của nhân dân và tạo đà cho công nghiệp hóa trong giai đoạn 1986-1990, Đảng đã đề ra một loạt giải pháp quan trọng, trong đó ưu tiên phát triển nông nghiệp được xem là mặt trận hàng đầu; sản xuất nông nghiệp bắt đầu khởi sắc và giá trị sản xuất tăng bình quân 3,5% mỗi năm, không chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước mà còn bắt đầu xuất khẩu, góp phần cải thiện cán cân xuất nhập khẩu.

Công nghiệp nhẹ được đẩy mạnh nhằm tạo việc làm và tích lũy vốn từ nền kinh tế nội bộ, đóng vai trò thiết yếu trong sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, đáp ứng nhu cầu của người dân và thúc đẩy xuất khẩu Phát triển công nghiệp nặng được thực hiện có chọn lọc về quy mô và tốc độ, ưu tiên các dự án vừa và nhỏ để phục vụ phát triển nông nghiệp và xuất khẩu, từ đó tận dụng hiệu quả nguồn lực và hướng tới tăng trưởng bền vững Để hỗ trợ sự phát triển của các ngành kinh tế, Đảng chú trọng cải thiện hạ tầng và dịch vụ, với đầu tư đồng bộ cho hệ thống giao thông vận tải và các công trình hạ tầng thiết yếu, cùng với các ngành dịch vụ cần thiết nhằm tăng cường lưu thông hàng hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh Việc ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến được coi trọng để nâng cao năng lực sản xuất và giúp các ngành kinh tế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Một biện pháp quan trọng là sắp xếp lại cơ sở kinh tế bằng cách rà soát và tái cấu trúc các cơ sở không hiệu quả, chuyển đổi mục đích sử dụng hoặc đóng cửa khi cần thiết, nhằm loại bỏ lãng phí và tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực có tiềm năng phát triển Đồng thời, đổi mới cơ chế quản lý đầu tư để đảm bảo chủ đầu tư chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư và chuyển hoạt động xây dựng sang cơ chế hạch toán kinh doanh thực sự Những biện pháp này tăng cường hiệu quả và tính trách nhiệm trong đầu tư, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

2.3.2.2 Về Cải Tạo Xã hội Chủ nghĩa Và Củng Cố Quan Hệ Sản Xuất Mới a) Nhận định của Hội Nghị

Tư tưởng chỉ đạo chỉ đạo công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa phải được xác định một cách nhất quán.

Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất còn nhỏ yếu và quá trình xã hội hoà sản xuất còn thấp, sự phát triển không đồng đều đòi hỏi ta lựa chọn bước đi và hình thức thích hợp ở mức cả nước và ở từng vùng, từng lĩnh vực Cần vượt qua những bước trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô trung bình rồi tiến tới quy mô lớn Dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất mà ta tiếp tục cải tạo quan hệ sản xuất bằng các hình thức cao hơn và quy mô rộng lớn hơn để từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.

Trong thời kỳ quá độ, cải tạo xã hội chủ nghĩa là một bộ phận trọng yếu của cuộc đấu tranh nhằm giải quyết câu hỏi ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Đặc trưng cơ bản cần nắm là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, với sự phối hợp của các khu vực và mô hình sở hữu khác nhau để hình thành một hệ thống kinh tế đa thành phần, vừa đảm bảo hiệu quả vừa đảm bảo công bằng xã hội.

 Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.

Các thành phần kinh tế khác bao gồm: kinh tế công tư hợp doanh (mô hình nửa xã hội chủ nghĩa); kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân chưa vào hợp tác xã và tiểu thương); kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ); và kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc tồn tại ở một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và ở vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc.

Cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, để kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế và phát huy vượt trội thông qua tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế và nâng cao mức sống của người lao động Đồng thời, thừa nhận sự tồn tại của khu vực tiểu sản xuất hàng hoá và một bộ phận kinh tế tư bản tư nhân ở mức độ nhất định trong thời gian tương đối dài, coi đây là yếu tố khách quan cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng tiềm năng và tạo thêm việc làm cho người lao động.

Cải tạo xã hội chủ nghĩa không chỉ là sự thay đổi chế độ sở hữu mà là giải quyết đồng bộ các quan hệ sản xuất trên cả ba mặt: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối Nội dung chủ yếu của cải tạo là xây dựng, nhằm từng bước làm cho ba mặt này thật sự mang bản chất xã hội chủ nghĩa Cải tạo xã hội chủ nghĩa là một quá trình gắn liền với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất, vì vậy không thể thực hiện một lần hoặc trong một thời gian ngắn là xong.

Theo tinh thần đó, Đảng ta coi đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ thường xuyên và liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thực hiện bằng các hình thức và bước đi thích hợp nhằm bảo đảm quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở từng giai đoạn phát triển.

Ngày đăng: 18/09/2025, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Báo Nhân Dân. (2005, ngày 5 tháng 10). Ðổi mới bắt đầu từ đâu? Nhân Dân. URL:https://nhandan.vn/doi-moi-bat-dau-tu-dau-post418557.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ðổi mới bắt đầu từ đâu
(2) Tạp chí Công Thương. (2023, ngày 11 tháng 8). Thời kỳ thí điểm cơ chế “mua cao, bán cao” thay cho “mua cung, bán cấp”. Tạp chí Công Thương. URL:https://tapchicongthuong.vn/thoi-ky-thi-diem-co-che--mua-cao--ban-cao--thay-cho--mua-cung--ban-cap-108935.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời kỳ thí điểm cơ chế “mua cao,bán cao” thay cho “mua cung, bán cấp”
(3) Tạp chí Trường Chính trị tỉnh Trà Vinh. (n.d.). Cơ sở hoạch định đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam. URL: https://tcttv.travinh.gov.vn/ly-luan-thuc-tien/co-so-hoach-dinh-duong-loi-doi-moi-dat-nuoc-cua-dang-cong-san-viet-nam-621147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hoạch định đường lối đổi mớiđất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
(4) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (1984). Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 12/07/1984 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế. URL:https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-v/nghi-quyet-so-18-nqtw-ngay-12071984-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-v-ve-nhung-nhiem-vu-1095 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 12/07/1984 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa V về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1984
(5) Nghiêm, Y. (2025). Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa bước đột phá thứ nhất HNTW6.URL: https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-thuong-mai/luat-kinh-te/tieu-luan-de-tai-phan-tich-3-buoc-dot-pha-dau-tien-trong-doi-moi-tu-duy-ve-kinh-te-va-y-nghia-buoc-dot-pha-thu-nhat-hntw6/104781489 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tếvà ý nghĩa bước đột phá thứ nhất HNTW6
Tác giả: Nghiêm, Y
Năm: 2025
(6) Vũ, D. L. (2023). Lịch sử Đảng: 3 bước đột phá kinh tế của Đảng và rút ra nhận xét. Trường Đại học Thương mại. URL: https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng: 3 bước đột phá kinh tế của Đảng và rút ra nhận xét
Tác giả: Vũ, D. L
Năm: 2023
(7) Báo Quân đội nhân dân. (2021). Ba đột phá chiến lược có ý nghĩa, giá trị lâu dài.URL: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/ba-dot-pha-chien-luoc-co-y-nghia-gia-tri-lau-dai-650476 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đột phá chiến lược có ý nghĩa, giá trị lâu dài
Tác giả: Báo Quân đội nhân dân
Năm: 2021
(8) Tạp chí Tổ chức nhà nước. (2018). Đổi mới tư duy là yếu tố quyết định, mở đường cho sự phát triển kinh tế - xã hội có tính đột phá ở nước ta trong thời kỳ mới . URL:https://tcnn.vn/news/detail/40756/Doi_moi_tu_duy_la_yeu_to_quyet_dinh_mo_duong_cho_su_phat_trien_kinh_te_xa_hoi_co_tinh_dot_pha_o_nuocall.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy là yếu tố quyết định, mở đườngcho sự phát triển kinh tế - xã hội có tính đột phá ở nước ta trong thời kỳ mới
Tác giả: Tạp chí Tổ chức nhà nước
Năm: 2018
(9) Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM. (2022). Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế đất nước. URL: https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/dang-cong-san-viet-nam-lanh-dao-cong-cuoc-doi-moi-kinh-te-dat-nuoc-1491890466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo côngcuộc đổi mới kinh tế đất nước
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM
Năm: 2022

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w