00050014084 thực trạng bệnh sâu răng, bệnh nha chu và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng của người cao tuổi dân tộc dao tỉnh yên bái năm 2024
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
DƯƠNG THỊ CẨM VÂN
THỰC TRẠNG BỆNH SÂU RĂNG, BỆNH NHA CHU
VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI DÂN TỘC DAO TỈNH YÊN BÁI NĂM 2024
ĐỀ ÁN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH RĂNG HÀM MẶT
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội, 2025
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
DƯƠNG THỊ CẨM VÂN
THỰC TRẠNG BỆNH SÂU RĂNG, BỆNH NHA CHU
VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI DÂN TỘC DAO
TỈNH YÊN BÁI NĂM 2024
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 8720501
ĐỀ ÁN THẠC SĨ Y HỌC CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Trang 3Em là Dương Thị Cẩm Vân, học viên khóa QH.2022.CH3, ngành Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, em xin cam đoan:
1 Đây là đề án do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đào Thị Dung và TS Nguyễn Ngọc Nghĩa
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu (Sở Y tế tỉnh Yên Bái) Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Học viên
Dương Thị Cẩm Vân
Trang 4Từ khi được nhà trường giao thực hiện đề án, em đã được sự hỗ trợ rất nhiều của các thầy cô, giảng viên, các nhà khoa học và bạn bè trong nhà trường, cùng với sự nỗ lực cố gắng và không ngừng tiếp thu kiến thức của bản thân, nay em đã hoàn thành đề án tốt nghiệp
Với tất cả lòng kính trọng, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Đào Thị Dung và TS Nguyễn Ngọc Nghĩa, giảng viên Khoa Răng Hàm Mặt và bộ môn Y Dược Cộng đồng và Y Dự phòng, trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN Trong thời gian vừa qua, thầy cô giáo
đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề án
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo, cán bộ quản lý, các y bác
sĩ, cán bộ của Trung tâm Y tế huyện Văn Yên,02 Trạm Y tế xã Đại Sơn và Viễn Sơn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện nghiên cứu, thu thập số liệu, phỏng vấn người dân tại xã và hoàn thành đề án tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn, lời yêu thương đến gia đình, người thân và bạn
bè, những người đã luôn sát cánh bên em, cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Học viên
Dương Thị Cẩm Vân
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 3
1.1 Khái niệm người cao tuổi 3
1.2 Cơ sở lý luận về bệnh sâu răng và bệnh nha chu 3
1.2.1 Bệnh sâu răng 3
1.2.2 Bệnh nha chu 11
1.3 Thực trạng bệnh sâu răng, bệnh nha chu ở NCT trên Thế giới 16
1.4 Bệnh sâu răng và bệnh nha chu người cao tuổi tại Việt Nam 19
1.4.1.Thực trạng bệnh sâu răng ở người cao tuổi 19
1.4.2 Thực trạng bệnh nha chu ở người cao tuổi 21
1.5 Nhu cầu CSSKRM và khả năng tiếp cận dịch vụ của người cao tuổi 23
1.6 Nhu cầu phục hồi tình trạng mất răng ở người cao tuổi 24
1.7 Thông tin về Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 24
Chương 2 : NỘI DUNG ĐỀ ÁN 28
2.1 Phương pháp nghiên cứu vấn đề 28
2.1.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu: 28
2.1.3 Các bước tiến hành tiếp cận cộng đồng 29
2.1.4 Kỹ thuật thu thập số liệu 30
2.1.5 Các chỉ số/biến số nghiên cứu 32
2.1.6 Tiêu chuẩn đánh giá 33
2.1.7 Xử lý, phân tích số liệu 36
2.1.8 Sai số và cách khống chế sai số 36
2.1.9 Đạo đức nghiên cứu 37
2.2 Kết quả nghiên cứu 38
Trang 6Văn Yên, tỉnh Yên Bái năm 2024 38
2.2.2 Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng người cao tuổi 43
Chương 3 : ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 46
3.1 Bàn luận 46
3.1.1 Bệnh sâu răng và bệnh nha chu ở người cao tuổi dân tộc Dao huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái năm 2024 46
3.1.2 Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng người cao tuổi 51
3.2 Các giải pháp cụ thể 53
3.2.1 Giải pháp về nhân lực 53
3.2.2 Giải pháp về truyền thông – giáo dục sức khỏe 54
3.2.3Giải pháp về hệ thống y tế 56
3.2.4 Giải pháp về hạ tầng và trang thiết bị 57
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 8Bảng 1.1 Tiêu chuẩn phát hiện sâu răng nguyên phát theo ICDAS II 9
Bảng 1.2 Tình hình SMT qua một số nghiên cứu tại Việt Nam 20
Bảng 2.1 Các biến số/ chỉ số trong nghiên cứu 32
Bảng 2.2 Đánh giá tình trạng sâu răng 33
Bảng 2.3 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 38
Bảng 2.4 Tỷ lệ bệnh sâu răng, mất răng và hàn răng ở người cao tuổi theo từng xã 39
Bảng 2.5 Tỷ lệ bệnh sâu, mất, trám theo giới 39
Bảng 2.6 Chỉ số sâu, mất, trám SMT theo giới 40
Bảng 2.7 Chỉ số SMT theo nhóm tuổi 40
Bảng 2.8 Chỉ số sâu, mất, trám và cơ cấu sâu, mất, trám ở người cao tuổi 40
Bảng 2.9 Tỷ lệ mức độ tổn thương răng do sâu 41
Bảng 2.10 Tình trạng bệnh nha chu theo giới 41
Bảng 2.11 Phân bố tỷ lệ NCT còn đủ 3 vùng lục phân lành mạnh theo giới 42 Bảng 2.12 Chỉ số CPI theo giới tính 42
Bảng 2.13 Tình trạng viêm lợi của người cao tuổi 43
Bảng 2.14 Khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã 43
Bảng 2.15 Cán bộ y tế trên địa bàn xã 44
Bảng 2.16 Các cơ sở y tế trên địa bàn xã 44
Bảng 2.17 Các bệnh thường xuyên được người cao tuổi quan tâm đi khám chữa bệnh 45
Bảng 2.18 Tỷ lệ người cao tuổi được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc răng miệng 45
Trang 9Hình 1.1 Giải phẫu răng 3
Hình 1.2 Sơ đồ White 6
Hình 1.3 Biểu hiện của bệnh sâu răng 10
Hình 1.4 Vùng quanh răng lành mạnh 11
Hình 1.5 Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái 27
Hình 2.1 Biểu diễn các chia vùng lục phân 34
Hình 2.2 Bộ khay khám 36
Trang 10MỞ ĐẦU
Bệnh sâu răng là bệnh phổ biến, bệnh có thể gây ra ở bất kỳ lứa tuổi nào ngay từ khi trẻ bắt đầu mọc răng cho đến người cao tuổi Bệnh sâu răng nếu không được khám phát hiện và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển gây biến chứng tại chỗ và toàn thân, ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, sức khoẻ và thẩm mỹ ở người bệnh Sâu răng là nguyên nhân gây mất răng, giảm hoặc mất sức nhai ở người trưởng thành cũng như trẻ em, gây ra những khó chịu đến ăn uống, nói, và nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống[1], [2]
Tổ chức y tế Thế giới cho biết hiện nay có khoảng 50% dân số trên toàn cầu, tương đương 3,5 tỷ người mắc bệnh răng miệng và đang có xu hướng gia tăng Hệ thống y tế ở các Quốc gia chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc răng miệng của người dân[47]
Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra về sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2019 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi bị sâu răng là 82,5%, mất răng cao chiếm 79,4%, chỉ số sâu mất trám răng là 8.98, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao chiếm 77,3%, tỷ lệ người cao tuổi có đủ 3 vùng lục phân lành mạnh rất thấp chiếm 10,5% [9] Nghiên cứu của Vũ Duy Hưng 2018 cho thấy tỷ lệ sâu răng của người cao tuổi ở tỉnh Yên Bái chiếm 75%, mỗi người trung bình
có 6-10 răng sâu Răng bị mất do sâu chiếm 67%[6] Ngoài ra sức khỏe ở người cao tuổi còn bị ảnh hưởng do bệnh nha chu, bệnh làm tăng quá trình sâu răng, viêm quanh răng, mất răng và viêm lợi từ đó làm cho người cao tuổi kém ăn, thiếu dinh dưỡng và tăng nhiễm khuẩn khoang miệng Bệnh nha chu còn làm tăng quá trình tiêu xương, tiêu dây chằng quanh răng, tụt lợi, làm răng lung lay và gây mất răng[4] Theo nghiên cứu của Võ Thị Hồng Thúy
và Cs (2021) cho thấy người cao tuổi bị sâu răng vĩnh viễn là 97,8%, tỷ lệ sâu răng ở nam giới là 97,6%, nữ giới 98,0%, tỷ lệ sâu răng của bệnh nhân
Trang 11tăng dần theo tuổi, tỷ lệ sâu răng thấp nhất ở bệnh nhân từ 60-65 tuổi là 96,0%, cao nhất ở bệnh nhân từ 71 tuổi trở lên 99%; chảy máu nướu là 72,7%, có tụt nướu là 26,7%; về tình trạng tổn thương niêm mạc miệng, tỷ lệ bệnh nhân bị áp xe là 2,9%, bị loét là 0,8%[9]
Yên Bái là một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn trong công tác chăm sóc sức khỏe Tỷ lệ người dân tộc sinh sống tại tỉnh chiếm trên 50%, sự hiểu biết về sức khỏe còn hạn chế[17]Theo thống kê hàng năm công tác y tế huyện Văn Yên cho thấy tỷ lệ sâu răng, bệnh nha chu ở người cao tuổi dân tộc Dao còn cao chiếm khoảng trên 70%[17] Người cao tuổi dân tộc Dao ít được khám và điều trị bệnh răng miệng do đó tỷ lệ mất răng chiếm trên 75%, trung bình mỗi người mất từ 3 đến 5 răng[17] Khả năng đáp ứng dịch vụ chăm sóc răng miệng tại huyện và xã còn nhiều hạn chế và chưa được quan tâm nhiều
Vì thế đã ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi
Với những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng
bệnh sâu răng, bệnh nha chu và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng của người cao tuổi dân tộc Dao tỉnh Yên Bái năm 2024" Với mục
tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, bệnh nha chu và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng của người cao tuổi dân tộc Dao tỉnh Yên Bái năm 2024
2 Đề xuất giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng của người cao tuổi dân tộc Dao tỉnh Yên Bái năm 2024
Trang 12Chương 1:
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Khái niệm người cao tuổi
Theo Luật người cao tuổi Việt Nam: Những người từ đủ 60 tuổi trở lên
là người cao tuổi (Luật ban hành năm 2009 Theo luật lao động: để tính tuổi nghỉ hưu hoặc nghỉ quản lý thì người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên đối với nam và từ 55 tuổi trở lên với nữ [9]
Để đánh giá đúng thực trạng người cao tuổi và có cách nhìn đúng đắn nhất trong nghiên cứu về sinh lý, bệnh lý ở người cao tuổi thì chúng ta phải thống nhất: thế nào là người cao tuổi? Xét ở góc độ tâm lý, luật pháp, tuổi thọ trung bình thì có thể thống nhất hiểu "người cao tuổi là người có tuổi đời từ
60 tuổi trở lên (không phân biệt nam hay nữ)" Tuy nhiên quan niệm này có thể thay đổi theo thời gian khi điều kiện về kinh tế và tuổi thọ trung bình thay
đổi ở các nước
1.2 Cơ sở lý luận về bệnh sâu răng và bệnh nha chu
1.2.1 Bệnh sâu răng
1.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo tổ chức học của răng
Cấu tạo của răng gồm: men răng, ngà răng, cement và tủy răng
Hình 1.1 Giải phẫu răng
Trang 13* Ngà răng
Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men 70% , chủ yếu là 3[ PO4 2Ca3 2H2O], nước và chất hữu cơ chiếm 30% Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy
* Tuỷ răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm tuỷ chân và tủy thân Tuỷ răng trong buồng tủy gọi là tủy thân hoặc tủy buồng, tuỷ răng trong ống tủy gọi là tủy chân Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy
Tuỷ răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng cụ thể là duy trì sự sống của nguyên bào ngà, tạo ngà thứ cấp và nhận cảm giác của răng Trong tủy răng
có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh
* Cement chân răng
Là tổ chức canxi hóa bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng đến chóp chân răng, cấu trúc cement chia làm 2 loại:
- Cement tiên phát: ở sát lớp ngà vùng cổ răng và là loại cement không
có tế bào bao quanh lớp ngà vùng cổ răng
- Cement thứ phát: có tế bào tạo cement bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng Độ dày cement thay đổi chân răng và cuống răng
Trang 14Độ dày của cement thay đổi theo vị trí, tuổi, mỏng nhất cổ răng và dày nhất ở cuống răng
1.2.1.2 Một số khái niệm cơ bản về bệnh sâu răng
* Khái niệm về bệnh sâu răng
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi
sự huỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của mô cứng Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liên quan đến sự di chuyển các Ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ [20][21]
Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, chân răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng Bệnh không tự khỏi nếu không được điều trị Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi [20][21]][22][23]
* Nguyên nhân của bệnh sâu răng
Sâu răng là kết quả của quá trình vi khuẩn và axit ăn mòn men răng, ngà răng, và sau đó tấn công tủy răng Sâu răng được coi là một bệnh đa yếu
tố phức tạp do nhiều nguyên nhân gây ra
* Thuyết động học
Cơ chế gây sâu răng là do quá trình huỷ khoáng chiếm ưu thế hơn tái khoáng do vai trò chuyển hoá carbohydrate của vi khuẩn trên mảng bám bề mặt răng, lâu ngày sẽ phá hủy men răng
- Sự huỷ khoáng: Các Hydroxyapatite và Fluorapatite- thành phần chính của men, ngà răng bị hoà tan khi pH giảm dưới mức pH tới hạn, pH tới hạn của hydroxyapatite là 5.5 và pH tới hạn của fluorapatite là 4.5
- Sự tái khoáng: quá trình tái khoáng ngược với quá trình huỷ khoáng, xảy ra khi pH trung tính, có đủ ion Ca 2+ và PO4 3- trong môi trường Nước bọt có vai trò cung cấp các ion Ca 2+ và PO4 3- để khoáng hoá
Trang 15Huỷ khoáng và tái khoáng là hai hiện tượng sinh lý luôn diễn ra bình thường trong tổ chức cứng của răng, nếu huỷ khoáng > tái khoáng thì sẽ sinh
ra bệnh sâu răng
Tóm tắt quá trình sinh lý bệnh sâu răng theo sơ đồ White
Bệnh căn và bệnh sinh sâu răng được tóm tắt trong sơ đồ White ( 1975)
và được lý giải qua sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ và các yếu tố gây mất ổn định [36][37][38]
Hình 1.2 Sơ đồ White Quá trình hình thành tổn thương sâu răng
- Giai đoạn đầu của bệnh sâu răng là sự huỷ khoáng và hoà tan cấu trúc răng do giảm pH khu trú của mảng bám và huỷ khoáng men răng
- Ở pH <5,5, các chất khoáng của răng hoạt động như một chất đệm, giải phóng các ion calci và phosphate vào trong mảng bám Khả năng đệm của răng duy trì pH tại chỗ ở mức 5.0 và là nguyên nhân hình thành các tổn thương mô bệnh học điển hình của sâu răng Ở pH 5,0 bề mặt men không bị
Trang 16tổn thương cho tới khi có hiện tượng mất khoáng dưới bề mặt Các tổn thương mới chớm này, giới hạn ở mô men, được đặc trưng bởi một bề mặt men răng còn nguyên vẹn ảo, nhưng lớp dưới về mặt xốp Lỗ sâu chỉ được hình thành khi các tổn thương men xốp dưới về mặt huỷ khoáng nhiều tới mức làm sập lớp men bề mặt[26]
- Trên lâm sàng các tổn thương mới chớm này có thể được phát hiện khi thổi khô bề mặt răng Khi các tổn thương men xốp dưới về mặt được hydrate hoá rất khó phát hiện trên lâm sàng vì men xốp lúc này trở nên trong suốt Các tổn thương mới chớm có khả năng tái khoáng hoá và hồi phục[26]
- Các lỗ sâu trên bề mặt men là các tổn thương không hồi phục và nếu không được điều trị thì mô ngà sẽ bị phá huỷ nhanh, phá huỷ cấu trúc răng[26]
1.2.1.3 Các phương pháp phát hiện sâu răng
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh sâu răng theo WHO trong cộng đồng[39]
Các tổn thương ban đầu của sâu răng D1, D2 có thể chia ra 3 loại theo vùng mỗi vùng có những chẩn đoán riêng biệt như sau:
- Các rãnh măt nhai, mặt ngoài và mặt trong của răng: ở vùng này sẽ được chẩn đoán là sâu răng nếu như thám trâm phát hiện một đường nứt, rạn trên men răng chỉ với một lực vừa phải và sự mắc thám trâm này đi cùng với một hoặc với vài dấu hiệu sau:
+ Có cảm giác xốp ở đáy, phần men bên cạnh bị đục
+ Vùng men ở rìa có đổi màu hoặc tối màu hơn do có vùng rỗng ở dưới hay thoái khoáng hóa
- Mặt nhẵn ở mặt trong và mặt ngoài răng: những vùng này được chẩn đoán là sâu răng nếu chúng bị mất vôi hóa hoặc có những đốm trắng chứng tỏ
có thoái hóa khoáng ở phía dưới và cảm giác mềm xốp bởi:
+ Sự thăm dò cẩn thận của thám trâm
Trang 17+ Cạo nhẹ trên men răng bằng thám trâm
- Những mặt này được chẩn đoán là lành nếu ở đây chỉ có 1 bằng chứng là thoái hóa khoáng, không có cảm giác mềm xốp
- Các mặt bên: khi không có các răng bên cạnh,các tiêu chuẩn đánh giá cũng giống như ở mặt nhẵn của mặt ngoài và mặt trong răng Khi những mặt này không thể đánh giá trực tiếp thì theo những tiêu chuẩn sau:
+ Sự mất liên tục của men răng được phát hiện bởi thám trâm sẽ được coi là sâu răng, nếu ở đó có cảm giác mềm xốp
+ Ở các răng hàm nhỏ và lớn , nếu chỉ có bằng chứng xói mòn ở cạnh rìa của răng sẽ không được coi là sâu răng, trừ khi bề mặt bị vỡ khi thăm khám
+ Ở vùng răng cửa và răng nanh phương pháp soi qua rất ích lợi cho sự phát hiện những tổn thương ở mặt bên
- Các điều kiện đặc biệt
+ Sâu thân răng được tính từ phía trên từ ranh giới giữa xương chân răng và men thân răng Nếu trong cùng một tổn thương có cả sâu thân răng và sâu chân răng, cần phân biệt tổn thương ban đầu bắt đầu từ chân răng hay thân răng Nếu tổn thương hơn một nửa ở thân răng thì có thể cho rằng tổn thương ban đầu ở thân răng Nếu tổn tương ban đầu ở chân răng thì không được chẩn đoán là sâu thân răng Nếu tổn thương ở cả 2 mặt như nhau, cả 2 mặt đều có thể được ghi nhận.Trong trường hợp trám răng cũng cùng nguyên tắc này[4], [7]
Nhược điểm cơ bản của tiêu chuẩn trên là bỏ xót các tổn thương sâu răng sớm của mỗi cá nhân trong cộng đồng đặc biệt là tình trạng sâu răng tiến triển ra sao
Tiêu chuẩn chẩn đoán sâu răng theo ICDAS II[47]
ICDAS II là một hệ thống mới nhằm đánh giá và phát hiện tình trạng sâu răng
Trang 18Bảng 1.1 Tiêu chuẩn phát hiện sâu răng nguyên phát theo ICDAS II
D1 Đốm trắng đục (sau khi thổi khô 5 giây)
D2 Đổi màu trên men răng ướt)
D3 Vỡ men định khu (không thấy ngà)
D4 Bóng đen ánh lên từ ngà
D5 Xoang sâu thấy ngà
D6 Xoang sâu thấy ngà lan rộng (>1/2 mặt răng
* Đặc điểm sâu răng ở người cao tuổi:
Sâu răng là bệnh tổn thương không hồi phục do đó nếu sâu răng mà không được chữa trị triệt để và dự phòng kịp thời, đúng cách thì tỷ lệ răng sâu
sẽ lũy tích ngày càng cao, sự hủy khoáng ngày càng nhiều, răng nhanh chóng
bị phá hủy, gây ra các biến chứng nặng do sâu răng gây ra Tổn thương các tổ chức quanh răng bệnh nha chu , đặc biệt là bị tụt lợi gây sâu chân răng và gây mất răng ở người già
Cơ chế phát triển sâu răng và sâu chân răng ở người lớn tuổi tương tự như ở những người trẻ tuổi Sâu răng bắt đầu bằng việc khử khoáng men răng hoặc xi măng bằng axit hữu cơ ví dụ, lactic, acetic , được tạo ra khi vi khuẩn trong mảng bám chuyển hóa carbohydrate Tổn thương có thể được tái khoáng hóa và bị ngăn chặn hoặc có thể tiến triển đến ngà răng [40]
Sâu răng ở người cao tuổi thường tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, khi thăm lỗ sâu thường thấy đáy lỗ sâu có màu nâu sẫm, men bờ
lỗ sâu sứt mẻ, bệnh nhân ít ê buốt, tủy thường bị ảnh hưởng chậm nhưng thường là tủy viêm không hồi phục hoặc tủy hoại tử do không đau nên bệnh nhân thường ít đi khám chữa sớm)
Trang 19Ở người lớn tuổi gặp thể sâu ngừng hoạt động với đáy cứng Theo vị trí,
lỗ sâu ít gặp ở mặt nhai, mặt láng, nếu có thường là sâu tái phát xung quanh mối hàn cũ Thể sâu ở cổ chân răng thường hay gặp ở những răng tụt lợi Mặt xương chân răng thường không nhẵn, tạo điều kiện dễ dàng cho mảng bám hình thành Lỗ sâu chân răng có thể gặp ở mặt ngoài, trong, đặc biệt là mặt bên ngay sát cổ răng Tổn thương phát triển có khuynh hướng lan theo chiều rộng về phía chân răng và các mặt răng kế cận, không tạo hốc rõ ràng, thường
có hiện tượng quá cảm được gọi là thể sâu răng lan [27] Người cao tuổi thường có nhiều chân răng trong miệng do sâu vỡ hết thân răng hay hình ảnh tổn thương sâu cộng với rạn nứt, vi khuẩn chính là Actinomyces và các chủng
vi khuẩn khác như S mutans và Lactobacillus [28]
Việc chữa răng là khá tốn kém nhưng cũng không thể nào phục hồi được như trước đối với tổ chức cứng của răng Sâu răng nếu không chữa trị kịp thời
sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể còn gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm tủy răng, viêm quanh cuống, mất răng
Hình 1.3 Biểu hiện của bệnh sâu răng
Trang 20Nhìn chung về tình hình sâu răng ở người cao tuổi ở tất cả các nước trên thế giới đều khá nghiêm trọng Hầu hết các nước có tỷ lệ sâu và mất răng
ở mức cao, từ 70% đến 90% Những năm gần đây, thì tỷ lệ sâu răng, bệnh nha chu chưa có xu hướng giảm xuống, nhưng một số nước trên thế giới đã giảm xuống đáng kể Theo số liệu điều tra của Tổ chức Y tế thế giới năm 2020, tỷ
lệ sâu răng và bệnh nha chu ở người cao tuổi chiếm 65%[47]
đỏ hồng san hô nhạt hay sẫm hoặc xanh lơ tuỳ thuộc vào lượng sắc tố, mật độ mao mạch và mức độ sừng hoá của niêm mạc lợi [29]
Hình 1.4 Vùng quanh răng lành mạnh
Trang 21* Dây chằng quanh răng
Dây chằng quanh răng là một tổ chức liên kết có nhiều mạch máu, bao quanh chân răng làm nhiệm vụ kết nối xương chân răng với xương ổ răng Dây chằng quanh răng nằm ở khoảng trống giữa chân răng và xương ổ răng, Chuyển động của răng được quyết định bởi chiều rộng, chiều cao của khe quanh răng và chất lượng của dây chằng quanh răng[1][29]
* Xương ổ răng
Xương ổ răng là phần lõm của xương hàm ôm các chân răng, là mô chống đỡ quan trọng nhất của răng Xương ổ răng gồm có hai phần là xương Have đặc ở thành trong huyệt răng, có những lỗ nhỏ để mạch máu và thần kinh đi qua, gọi là lá cứng và xương Have xốp là tổ chức xương chống đỡ xung quanh huyệt răng [1],[29]
* Mạch máu và thần kinh quanh răng
Cung cấp máu cho vùng quanh răng là động mạch răng Nó là nhánh của động mạch ổ răng trên hoặc dưới, tách khỏi động mạch vách trong trước khi
nó đi vào tủy răng
Thần kinh của tổ chức quanh răng bao gồm các thụ thể (receptor) tiếp nhận cảm giác đau, sờ mó, áp lực thông qua dây thần kinh số 5 Các thụ thể này đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà lực và chuyển động nhai [29]
Trang 221.2.2.2 Phân loại các thể bệnh vùng quanh răng
Có nhiều cách phân loại, nhưng xu hướng chung chia ra 2 loại là các bệnh viêm lợi gồm các bệnh chỉ tổn thương ở lợi và các bệnh viêm quanh răng bao gồm các bệnh liên quan đến cấu trúc chống đỡ răng [31], [32]
* Viêm lợi
Viêm nhiễm tấn công mô lợi, thường thấy dưới dạng mạn tính Viêm có thể lan tràn xuống bên dưới gây phá huỷ dây chằng hay xương ổ răng tạo thành bệnh nha chu viêm Viêm lợi có dạng thiểu dưỡng hay tụt lợi thì tuỳ tính chất của viêm và tình trạng sức khoẻ của ký chủ Loại bỏ nguyên nhân chính gây bệnh, viêm lợi có thể hồi phục
* Định nghĩa viêm lợi
Viêm lợi là tổn thương viêm cấp tính hay mạn tính xảy ra ở tổ chức phần mềm xung quanh răng Tổn thương khu trú ở lợi không ảnh hưởng đến xương ổ răng, dây chẳng quanh răng và xương răng
* Nguyên nhân
Bệnh viêm lợi do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, cụ thể như thiếu vitamin, sang chấn khớp cắn, vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém Trong đó nguyên nhân chính là do vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém Những yếu tố này sẽ tạo mảng bám và là nguyên nhân chính gây viêm lợi
Mảng bám được hình thành do các vi khuẩn sinh ra men Carbohydraze, Neutraminidaze tác đông lên acid Syalic của mucin nước bọt lắng đọng hình thành mảng kết tủa bám vào răng Lúc đầu những mảng bám
vô khuẩn vì chưa có vi khuẩn xâm nhập Khi đó hình thành trên mặt răng, mảng này tạo thành chất tựa hữu cơ cho vi khuẩn xâm nhập Các vi khuẩn sẽ định cư và phát triển hình thành mảng bám răng hay màng vi khuẩn
Về cấu trúc tổ chức học, 70% mảng bám là vi khẩn, 30% là chất tựa hữu
cơ Thành phần vi khuẩn của mảng bám răng là khác nhau tuỳ thuộc vào thời
Trang 23gian Trong 2 ngày đầu chủ yếu là cầu khuẩn gram dương, 2 ngày tiếp theo có vi khuẩn sợi phát triển, từ ngày thứ tư đến thứ chín có xoắn khuẩn Khi mảng bám răng già thì vi khuẩn sợi chiếm tới 40%, vi khuẩn yếm khí và xoắn khuẩn
Mảng bám bám chắc vào răng, không bị bong ra do súc miệng hoặc chải răng qua loa Có thể loại trừ mảng bám bằng việc chải răng đúng kỹ thuật, Đánh răng 2 lần/ngày kết hợp dùng chỉ nha khoa, hạn chế ăn đường và
vệ sinh răng miệng sau ăn hoặc dùng biện pháp hoá học[33]
Viêm lợi là bệnh lý xuất hiện rất sớm khi mảng bám răng hình thành được 7 ngày Vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích gây viêm lợi Một vài biểu hiện dễ nhận thấy khi mắc bệnh viêm lợi
- Lợi chảy máu trong và sau khi đánh răng
- Lợi đỏ, sưng tấy hoặc khi chạm vào dễ gây đau
- Hơi thở hôi liên tục hoặc vị giác kém khi ăn
- Lợi bị tụt sâu
- Giữa răng và lợi xuất hiện khe hổng, sâu
*Viêm quanh răng
Viêm quanh răng mạn tính (Chronic Periodontitis) là dạng phổ biến nhất của bệnh viêm quanh răng “Viêm quanh răng mạn tính” là một bệnh nhiễm khuẩn gây ra phản ứng viêm ở các mô nâng đỡ răng dẫn đến tình trạng mất bám dính và tiêu xương ổ răng Đặc trưng của bệnh là tiến triển chậm, hình thành túi quanh răng và mất bám dính, có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào Tỉ
lệ mắc bệnh và mức độ trầm trọng của bệnh gia tăng theo tuổi Yếu tố bệnh căn là mảng bám vi khuẩn, nhưng cơ chế đáp ứng của vật chủ đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh học [31] Viêm quanh răng mạn tính có các đặc điểm sau (theo Flemming 1999):
+ Bệnh thường gặp ở người trưởng thành
+ Có biểu hiện viêm lợi mạn tính
Trang 24+ Có túi lợi bệnh lý và mất bám dính quanh răng
+ Răng lung lay ở các mức độ khác nhau
+ Có nhiều mảng bám răng và cao răng trên và dưới lợi
+ Có hình ảnh tiêu xương ổ răng trên phim X-quang
+ Mức độ phá huỷ xương phù hợp với sự hiện diện của các yếu tố tại chỗ + Tốc độ phát triển chậm hoặc trung bình, nhưng cũng có những thời kỳ tiến triển nhanh gia tăng xuất tiết PGE2 và IL-1b [46]
Như vậy, ở NCT viêm quanh răng chủ yếu sẽ ở các thể:
- Viêm quanh răng mạn tính
- Viêm quanh răng là biểu hiện của bệnh lý toàn thân
Theo điều tra Petersen P.E., Baez R.J (2013), tỉ lệ người trưởng thành mắc bệnh nha chu và mất bám dính ở bề mặt chân răng gia tăng theo tuổi Điều này đã chỉ ra tỉ lệ người có ít nhất một răng mất bám dính tối thiểu 4mm
là 3% (từ 18-24 tuổi), 12% (từ 25-34 tuổi), 22% (từ 35-44 tuổi), 55% (từ
65-74 tuổi và 65% ≥75 tuổi)[34] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tỉ lệ viêm nha chu cao ở NCT liên quan đến bệnh toàn thân như tim mạch, tiểu đường, bệnh mạch máu não, bệnh hô hấp (bệnh phổi tắt nghẽn mãn tính, viêm phổi) Khi nhận định về đặc điểm bệnh quanh răng ở NCT, một số nghiên cứu của trong và ngoài nước cho rằng: viêm quanh răng ở NCT hình như đã ít quan trọng hơn và mặc dù tỉ lệ mắc bệnh vẫn còn cao hơn người trẻ, nhưng đang có chiều hướng giảm dần do việc chăm sóc răng miệng ngày càng được cải thiện Bệnh quanh răng NCT là biểu hiện của sự phối hợp giữa những tác hại tích luỹ và sự thoái hóa ở tổ chức vùng quanh răng Đặc biệt là có đóng góp của sự suy giảm ở hệ thống miễn dịch
Nếu bệnh nha chu không được điều trị có thể gây tổn thương tổ chức quanh răng khiến răng lung lay hoặc mất răng Bệnh nha chu là bệnh khá phổ biến, thường xuất hiện ở người trung niên và người già Đây cũng là nguyên
Trang 25nhân chính dẫn đến việc mất răng ở người lớn Do bệnh tiến triển một cách lặng lẽ, nên nó thường bị bỏ qua và chỉ được phát hiện khi đã trở nên nghiêm trọng[33]
1.3 Thực trạng bệnh sâu răng, bệnh nha chu ở NCT trên Thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì bệnh sâu răng ở người cao tuổi đang có
xu hướng gia tăng, vì điều kiện chăm sóc sức khỏe răng miệng cho nguời cao tuổi ở các quốc gia còn rất hạn chế Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng chiếm từ 50-75% ở người cao tuổi[34] Nhiều nghiên cứu thường xem xét tỉ lệ người mắc
và chỉ số SMT trung bình mỗi người trong cộng đồng Sâu răng trước đây thường được cho là bệnh của trẻ em và của tuổi vị thành niên nhưng nay là bệnh phổ biến của người cao tuổi Kết quả là nhóm đích là người cao tuổi trong chương trình phòng sâu răng ở các quốc gia đã được triển khai tại cộng đồng và viện dưỡng lão Tuy nhiên, ở nhiều nước chưa phát triển với mức độ mắc sâu răng thấp, những thông tin về bệnh ở người cao tuổi là chưa đủ để
mô tả về tình trạng sâu răng của cộng đồng Một số tác giả khác cho rằng tình trạng sâu răng theo tuổi thường do sâu răng tích luỹ và điều đó giải thích sự mất răng của người trưởng thành và NCT Các nghiên cứu về sâu răng trong những thập niên gần đây cho thấy những năm 2000-2010 ở các nước Bắc Âu,
Mỹ và các nước công nghiệp khác bệnh sâu răng người cao tuổi chưa có dấu hiệu giảm Nhưng năm gần đây 2010-2017 bệnh sâu răng ở NCT vẫn đang trên đà tiến triển ở khắp các châu lục với những mức độ khác nhau, đặc biệt là
ở các nước Châu Á thì tỷ lệ bệnh sâu răng người cao tuổi còn cao trên 60%[44], [32] Từ thập kỷ 80 cho đến nay, nhiều công trình đánh giá sâu răng
ở NCT đã được tiến hành với mục đích xác định tình trạng và nhu cầu, làm cơ
sở cho chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng NCT, với mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở người cao tuổi xuống dưới 50%[32] Ở khu
Trang 26vực Châu Á, Theo báo cáo của Hiệp hội Nha khoa Thái Lan (The Dental Association of Thailand and Thammasat University, Faculty of Dentistry năm 2011), cho thấy sự hợp tác ngày càng tăng giữa Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên đoàn Nha khoa Thế giới (FDI) và Hiệp hội Nghiên cứu Nha khoa Quốc tế (IADR) trong việc xác định và đề xuất giải pháp cho các mối quan tâm lớn về sức khỏe răng miệng trên toàn thế giới[39] Tháng 11 năm
2016, ba tổ chức quốc tế đã triệu tập một cuộc họp gồm hơn 80 chuyên gia từ
30 quốc gia tại Geneva và Ferney Voltaire ở Pháp để “Tư vấn toàn cầu về sức khỏe răng miệng thông qua việc sử dụng Fluoride” Báo cáo của cuộc họp này bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về sự chênh lệch ngày càng tăng về sức khỏe răng miệng trên toàn thế giới và sự thiếu chuyên môn hóa rõ ràng trong việc giải quyết gánh nặng sâu răng và bệnh nha chu ở cả trẻ em và người cao tuổi Vai trò thiết yếu của fluoride được quản lý trên cơ sở cộng đồng, chuyên môn hoặc trên cơ sở tự thân đã được nhất trí thông qua[47]
Theo nghiên cứu của Wang H.Y và Cs (2012), điều tra 338 người 66 tuổi tại Trung Quốc thấy ở tuổi 66-69 chỉ số SMT là 16.6 và ở tuổi 70 trở lên
là 21,4 [4] Theo điều tra cơ bản toàn quốc lần thứ 2 tại Trung Quốc (2012), Wang H.Y và Cs cho thấy, ở lứa tuổi 65-74 chỉ số SMT theo răng là 12,4, trong đó, nữ cao hơn nam [43] Theo nghiên cứu của Sumaiya Zabin E.Z, Nafij B.J et al (2013) tại Bangladesh về thực trạng bệnh răng miệng ở người cao tuổi đã cho thấy hơn một nửa số người được hỏi không bao giờ đánh răng vào buổi sáng 64,5% Một phần ba số người được hỏi đã sử dụng kem đánh răng 34,3% Chưa đến một phần ba số người được hỏi đã từng hút thuốc thường xuyên 27,9% [35] Như vậy ở người cao tuổi rất ít sử dụng kem để chải răng và vệ sinh răng miệng, tỷ lệ sâu răng tương đối cao chiếm 82,5% và
tỷ lệ mất răng ở người cao tuổi chiếm 62,7% Nghiên cứu của Paul Eke
Trang 27(Center for Disease Contral and Prevention-CDC) (2012) tại Mỹ về các bệnh quanh răng đã đánh giá mức độ nghiêm trọng bệnh sâu răng và mức độ viêm nha chu ở người cao tuổi ở Hoa Kỳ, với dữ liệu từ chu kỳ Khảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia NHANES năm 2009 và 2010[36] Các ước tính được lấy từ mẫu gồm 3.742 người trưởng thành từ 60 tuổi trở lên Đối với người lớn từ 65 tuổi trở lên, 64% bị viêm nha chu ở mức độ trung bình hoặc nặng[36] Viêm nha chu cao nhất ở nam giới, người Mỹ gốc Mexico, người lớn có trình độ học vấn dưới trung học, người lớn dưới 100% mức nghèo ở Liên bang (FPL) và những người đang hút thuốc Qua nghiên cứu này đã chỉ ra gáng nặng về bệnh sâu răng và bệnh nha chu ở người cao tuổi Nghiên của Kim S Y., Lee J K., Chang B S et al (2014) về điều trị hỗ trợ ngăn ngừa mất răng ở người cao tuổi tại Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ mất răng
ở người cao tuổi chiếm 76,3%, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng tới 81,2%[42] Bên cạnh đó nghiên cứu tại Hàn Quốc còn cho thấy nếu bệnh nhân tuân thủ tốt các qui định trong điều trị và phòng bệnh thì tỷ lệ sâu răng, viêm quanh răng giảm
đi hơn 35,5%
Theo nghiên cứu của Paul Eke (2012) cho thấy đối với người Mỹ gốc Phi tại New York ở tuổi từ 55 - 64 chỉ số SMT theo răng trung bình là 15,9[36] Một số công trình nghiên cứu ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương như Đan Mạch, Úc, New Zeland, Canada, Na Uy như kết quả cho thấy chỉ số SMT của NCT là rất cao ở mức từ 24,0 trở lên[34], [35] Tại Việt Nam, một nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Võ Thị Hồng Thúy và
Cs (2021) cũng chỉ ra tình trạng sâu răng ở nhóm người ≥ 60 tại các nhà dưỡng lão có tỉ lệ mắc tới 96,8% với số răng sâu chưa được trám là 7,9 và chỉ
số SMT là 18,1[9] Năm 1986, Banting tổng kết 12 công trình nghiên cứu về sâu chân răng ở nhiều nước cho biết: sâu chân răng xuất hiện nhiều ở nhóm
Trang 28người già với tỷ lệ mắc khoảng 20 - 40% Vị trí lỗ sâu thường gặp là ở mặt trong và mặt bên của răng hàm trên, mặt ngoài và mặt bên của răng hàm dưới Một số các công trình ở Anh (1996), Mỹ (1990), New Zeland (1992), Canada (1993) nghiên cứu về vấn đề này đã cho thấy tỉ lệ mắc khá[32] Tuy nhiên, Wang H.Y (2012), điều tra tại Trung Quốc lại cho một tỉ lệ thấp hơn[43] Đặc biệt, Thomas S và Cs khám 300 NCT Ấn Độ (1994) thấy 11,8% người có mặt chân răng bị hở nhưng không có sâu [47], còn tại Việt Nam, Võ Thị Thúy Hồng và Cs (2021), Thực trạng sâu răng và nhu cầu điều trị của người cao tuổi tại tỉnh Bình Dương (2021) cho biết tỉ lệ Sâu răng và sâu chân răng chiếm tỷ lệ 32,1% & 5,7%[9] Tỷ lệ sâu răng và sâu chân răng giảm dần theo tuổi Chỉ số trung bình SMT là 13.26 răng, trong đó S là 0.9 răng 6,8% , M là 12.28 răng 92,8% và T là 0.08 răng 0,6% Sâu răng và mất răng tăng dần theo tuổi Nhu cầu điều trị sâu răng chiếm tỉ lệ 32,1% với trung bình mỗi người cần điều trị 2,81 răng sâu Từ kết quả nghiên cứu về tình trạng răng SMT ở NCT tại nhiều quốc gia thuộc các châu lục khác nhau chúng ta có thể thấy tình trạng có răng sâu, mất răng do sâu và nhất là răng sâu chưa được trám có trị số rất cao Ở nhiều cộng đồng, chỉ số SMT chiếm từ 3/4 trở lên trong tổng số răng của mỗi người Đây là con số vượt xa so với chỉ số SMT ở các tuổi 12, 15, 34 - 45 nếu so sánh với điều tra tại Việt Nam năm 2019[47]
1.4 Bệnh sâu răng và bệnh nha chu người cao tuổi tại Việt Nam
1.4.1.Thực trạng bệnh sâu răng ở người cao tuổi
Tỷ lệ sâu răng ở người cao tuổi ở Việt Nam vẫn còn cao do điều kiện kinh tế xã hội, sự thiếu hiểu biết về sự cần thiết trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng với người cao tuổi, đặc biệt là với đối tượng người già ở những nơi vùng sâu vùng xa chưa được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc răng miệng
Trang 29Bảng 1.2 Tình hình SMT qua một số nghiên cứu tại Việt Nam [48], [49],
- Nguyễn Trà Mi và cs 2012 nghiên cứu trên 133 người cao tuổi gồm
48 nam và 85 nữ ở phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội thấy tỷ lệ SMT trung bình 5,34 ± 6,47 [54]
Trang 30- Nguyễn Thị Sen 2015 nghiên cứu trên người cao tuổi tỉnh Yên Bái cho thấy tỷ lệ sâu răng chung là 68,8, chỉ số SMT trung bình là 4,81 [55]
- Trịnh Đình Hải và cs 2019 theo Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc cho thấy tỷ lệ sâu răng ở người >65 tuổi ở khu vực vùng núi phía bắc là 57,9 % và chỉ số SMT chung là 3.44 [8]
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào chi tiết về tình trạng sâu răng của đối tượng người cao tuổi thuộc dân tộc Dao huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái
1.4.2 Thực trạng bệnh nha chu ở người cao tuổi
Các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy thực trạng mắc bệnh quanh răng của người cao tuổi (NCT) tại các vùng miền của Việt Nam đang ở mức cao, nhu cầu điều trị theo thực trạng bệnh rất lớn, thực trạng bệnh được điều trị thấp
Tại Việt Nam, Theo nghiên cứu của Nguyễn Trà My (2012), khảo sát thực trạng bệnh sâu răng và bệnh quanh răng ở một số nhóm người cao tuổi tại phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội cho thấy tỷ lệ viêm lợi 56,2% Chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là 1,2, cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8%[11] Nghiên cứu của tác giả Đỗ Mai Phương 2015 Thực trạng bệnh sâu răng và bệnh quanh răng ảnh hưởng của bệnh đến chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi quận Cầu Giấy, Hà Nội thấy tỷ lệ CPITN 0 chỉ có 6,1%, có CPITN3 và CPITN4 là 65%[12] Báo cáo kết quả nghiên cứu và đánh giá về sức khỏe răng miệng của Petersen P.E., Baez R.J (2013) World Health Organization,
tễ học về sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi rất đáng quan tâm, bệnh quanh răng ở người cao tuổi đang gia tăng ở các quốc gia CPITN0 chiếm 7,3%, CPITN3 chiếm 52,5%[34] Tỷ lệ viêm quanh răng cũng khác nhau giữa các quốc gia và nó cho thấy sự mất cân bằng sâu sắc giữa các quốc gia và khu vực và như một chức năng của thể chế hóa trong công tác chăm sóc sức khỏe
Trang 31răng miệng cho người cao tuổi Theo nghiên cứu của Võ Thị Thúy Hồng (2021) về bệnh quanh răng ở tình Bình Dương Trong 1350 NCT được khám lâm sàng đánh giá tình trạng mô nha chu dựa trên chỉ số quanh răng cộng đồng (CPI), tỷ lệ NCT có mô quanh răng mắc bệnh (CPI 1+ CP 2+ CP 3) tương đối cao 71,9%, ngoài ra có chảy máu lợi chiếm 12,5%[9]
Nghiên cứu của Lương Xuân Tuấn (2012) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị viêm quanh răng bảo tồn ở người cao tuổi cho thấy tỷ
lệ bệnh quanh răng lên tới 96,1%, và có 54,15% NCT có túi quanh răng [16] Nghiên cứu của Ngô Nhật Phương, Đinh Văn Quỳnh (2019), Tỷ lệ bệnh nha chu và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi đến khám ngoại trú tại bệnh viện quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh quanh răng là 76,3%, trong đó tỷ lệ NCT mắc bệnh viêm lợi là 69,5% và viêm quanh răng là 13,6%[13]
Nhiều công trình nghiên cứu về bệnh mô quanh răng ở NCT theo chỉ số nhu cầu điều trị nha chu cộng đồng (CPITN) Chỉ số này dựa trên cơ sở có hay không có túi lợi, cao răng và chảy máu lợi khi khám đã cho thấy tính chất phổ biến, tỉ lệ mắc cao và mức độ nặng nề của bệnh Tuy nhiên, theo một số tác giả: khi đánh giá mô quanh răng của NCT, điều cần thiết là phải xác định tình trạng mất bám dính hay hậu quả của các tổn thương tích luỹ theo thời gian ở vùng quanh răng Từ 1998, WHO đã đưa ra cách đánh giá thống nhất
về mức độ mất bám dính Cùng với CPITN, tình trạng mất bám dính được coi
là hai tiêu chí để đánh giá tình trạng quanh răng NCT[47]
Như vậy, đặc điểm nổi bật của bệnh nha chu (mô quanh răng) ở NCT qua nhiều nghiên cứu là đã cho thấy tỉ lệ mắc rất cao, trong đó tình trạng viêm ở vùng quanh răng nhiều hơn tình trạng viêm ở lợi Mất bám dính là một đặc điểm xuất hiện với tỉ lệ rất cao và khác nhau về mức độ và tính phổ biến theo khu vực sống, chủng tộc và kiến thức của người cao tuổi
Trang 321.5 Nhu cầu CSSKRM và khả năng tiếp cận dịch vụ của người cao tuổi
Bệnh sâu răng và bệnh nha chu,viêm quanh răng dẫn đến sự phá hủy răng, các cấu trúc nâng đỡ răng và xương ổ răng và là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người trưởng thành Do đó việc đánh giá nhu cầu khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe răng miệng, bệnh viêm quanh răng cho NCT là rất cần thiết
Nghiên cứu của Hà Ngọc Chiều, Trương Mạnh Dũng và Cs 2017), nghiên cứu về thực trạng sâu răng và nhu cầu điều trị ở người cao tuổi Việt Nam năm 2015 đã ghi nhận nhu cầu điều trị viêm quanh răng ở thành thị: hướng dẫn vệ sinh răng miệng 82,3%, lấy cao răng, kết hợp hướng dẫn vệ sinh răng miệng 90,7%, điều trị viêm quanh răng chuyên sâu kết hợp lấy cao răng và hướng dẫn vệ sinh răng miệng 51,7%[3]
Nghiên cứu của Võ Thị Thúy Hồng và Cs (2021), về thực trạng sâu răng và nhu cầu điều trị của người cao tuổi tại tỉnh Bình Dương cho kết quả
về nhu cầu điều trị bệnh viêm quanh răng ở NCT tại tỉnh Bình Dương là rất cao như hướng dẫn vệ sinh răng miệng 87,5% Lấy cao răng, kiểm tra lợi và các tổ chức quanh răng kết hợp hướng dẫn vệ sinh răng miệng là 81,7%, điều trị viêm quanh răng chuyên sâu kết hợp hàn răng sâu và hướng dẫn vệ sinh răng miệng 64,8%[9]
Nghiên cứu của Ngô Nhật Phương, Đinh Văn Quỳnh (2019), Tỷ lệ bệnh nha chu và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi cho thấy bệnh nha chu có liên quan trực tiếp đến công tác khám chữa bệnh răng miệng, chăm sóc răng miệng tại các cơ sở y tế Các chỉ định phổ biến trong điều trị răng sâu và nhổ răng là điều trị phục hồi là chính trong chăm sóc sức khỏe răng miệng ở Việt Nam[13] Đây là thông tin cần thiết để lãnh đạo bệnh viện đưa ra chiến lược giáo dục, tuyên truyền, vận động NCT nên khám răng định kỳ, điều trị các bệnh răng miệng sớm nhằm nâng cao sức khỏe răng miệng cho NCT để
họ có chất lượng cuộc sống tốt hơn Tăng số lượng người cao tuổi được hướng dẫn vệ sinh răng miệng và lấy cao răng là 85,6%
Trang 331.6 Nhu cầu phục hồi tình trạng mất răng ở người cao tuổi
Mất răng là tình trạng phổ biến ở NCT Tuỳ số lượng và vị trí các răng mất mà gây ảnh hưởng ở nhiều phương diện với các mức độ khác nhau: các răng còn lại bị xô lệch, chồi lên, thòng xuống, di lệch Đường cong sinh lý Spee của khớp cắn bị biến dạng Kích thước chiều cao và chiều rộng của sống hàm giảm, trường hợp nặng sống hàm hàm trên gần như phẳng với vòm hầu, sống hàm dưới ở ngang bằng với sàn miệng Tầng mặt dưới bị hạ thấp, tương quan giữa hai hàm thay đổi, đôi khi ngược nhau làm rối loạn về tương quan
và các hoạt động chức năng của khớp cắn Do mất răng, các cơ nhai, cơ bám
da mặt thoái hoá, mất trương lực dẫn đến những thay đổi ở vùng mặt, miệng:
má xệ xuống, hóp lại, rãnh múi - má rõ nét hơn, mặt mất cân xứng hai bên, môi xập xuống, bĩu ra, khoé môi cụp xuống dẫn đến những ảnh hưởng thẩm
mỹ của khuôn mặt Chức năng tiêu hoá ảnh hưởng do nhai giảm, tác dụng nghiền nhỏ thức ăn bị hạn chế, nói không rõ tiếng và đôi khi hô hấp cũng bị rối loạn[4]
Nhu cầu của NCT về điều trị phục hình răng là rất cao theo Ngô Nhật Phương, Đinh Văn Quỳnh (2019) cho thấy tình trạng mất răng là ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người cao tuổi Vì thế người cao tuổi muốn trồng răng giả, hàm răng giả có một ý nghĩa rất thiết thực, nhằm khôi phục lại các chức năng ăn nhai và có ý nghĩa phòng bệnh, tiêu hóa duy trì sự bền vững tương đối của các răng còn lại vốn không hoàn toàn khoẻ mạnh, hạn chế tối đa sự mất thêm răng Theo các nghiên cứu cho thấy khi có răng, hàm giả sẽ giúp NCT hoà nhập vào cộng đồng tốt hơn, tránh tâm lý mặc cảm già nua, bệnh tật hay tàn phế[13]
1.7 Thông tin về Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Theo số liệu mới nhất trong kho dữ liệu điện tử của Chi cục Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình Yên Bái, ước tính năm 2023, dân số Yên Bái có trên 889.900 người, trong đó gần 535.000 người trong độ tuổi lao động (chiếm gần
Trang 3460,8% , trên 230.800 người dưới 16 tuổi (chiếm 26,3%), gần 113.600 người cao tuổi (chiếm 12,9%) Tuổi thọ trung bình của người dân Yên Bái tăng dần qua các năm và đến năm 2023 đạt trung bình 73,9 tuổi[20] Đây là mức tuổi thọ cao của một tỉnh miền núi như Yên Bái khi so với tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt trên 73 tuổi Tuổi thọ tăng là một trong những thành tựu, điểm nhấn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy tốc độ già hóa dân số đang diễn ra nhanh và đặt ra nhiều thách thức [20] trong đó công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng cho NCT cần được quan tâm và thực hiện mạnh mẽ hơn nữa
Văn Yên là một huyện vùng núi phía Bắc của tỉnh Yên Bái, được thành lập từ tháng 3 năm 1965 Có tọa độ địa lý 104º23' đến 104º23' độ kinh đông
và từ 21º50'30'' đến 22º12' vĩ độ bắc Phía Đông giáp huyện Lục Yên, Yên Bình, Phía Tây giáp huyện Văn Chấn, Phía Nam giáp huyện Trấn Yên, Phía Bắc giáp huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên - tỉnh Lao Cai Huyện Văn Yên có tổng diện tích đất tự nhiên 1.391,54 Km2 Huyện Văn Yên cách trung tâm tỉnh
lỵ Yên Bái 40 km về phía Bắc Toàn huyện có 24 xã và 1 thị trấn, với 172 thôn, tổ dân phố Toàn huyện có 12 dân tộc trong đó Dân tộc Dao chiếm 25,4% Xã Đại Sơn và xã Viễn Sơn thuộc huyện Văn Yên là hai xã với hoạt động nông nghiệp chủ yếu là trồng cây quế Người cao tuổi trên địa bàn huyện Văn Yên vẫn tiếp tục tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế[17]
Trên địa bàn huyện không có bệnh viện chuyên khoa răng hàm mặt và chỉ có 5 phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt Những chương trình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại đây chưa được triển khai mạnh mẽ, NCT vẫn chưa thực sự coi trọng việc chăm sóc răng miệng cho bản thân mình, việc phát hiện và điều trị sớm còn hạn chế Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Duy Hưng 2019 thực hiện nghiên cứu tại tỉnh Yên Bái cho thấy có 75,1% NCT sống ở gần các cơ sở khám chữa răng dưới 5km); 24,9% NCT sống xa cơ sở
Trang 35khám chữa răng > 5km Chỉ số trung bình SMT của 1435 đối tượng nghiên cứu là 4,99 ± 6,89; trong đó chỉ số S là 1,01 ± 2,52; chỉ số M là 3,92 ± 6,23; chỉ số T thấp là 0,09 ± 0,73[6] Theo báo cáo của Trung tâm y tế huyện Văn
Yên cho thấy số phòng khám RHM trên địa bàn huyện còn rất hạn chế
và chưa đủ cán bộ y tế chuyên ngành RHM để tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe răng miệng cho nhân dân tại các xã Các trạm y tế xã chỉ tổ chức khám bệnh thông thường và cũng không khám chuyên sâu được về RHM và các bệnh quanh răng[17] Vì thế sự tiếp cận của người cao tuổi đối với các dịch vụ chăm sóc răng miệng trên địa bàn còn rất hạn chế Tỷ lệ mắc các bệnh sâu răng, bệnh nha chu ở NCT còn cao
Đặc trưng Văn hóa – Xã hội của Người Dao ở Yên Bái
Người Dao ở tỉnh Yên Bái là một nhóm dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng núi Họ có nền văn hóa riêng biệt, với phong tục tập quán, tín ngưỡng và lối sống truyền thống đã hình thành qua nhiều thế hệ Đa phần cộng đồng người Dao bao gồm các nhóm Dao Đỏ, Dao Trắng, Dao Đen, Dao Tiền, v.v cư trú tại những thôn bản vùng sâu, vùng xa; điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn và mức độ dân trí trình độ học vấn nhìn chung thấp
hơn so với người Kinh ở đồng bằng
Phong tục tập quán: Người Dao duy trì nhiều phong tục truyền thống độc đáo trong đời sống hàng ngày Về sinh kế, họ làm nông nghiệp trên nương rẫy bậc thang, chăn nuôi nhỏ lẻ và tự cung tự cấp là chính Đời sống gắn với thiên nhiên hình thành thói quen sinh hoạt giản dị và vệ sinh cá nhân theo cách truyền thống Ví dụ, nhiều người Dao lớn tuổi có tập tục ăn trầu và nhuộm răng đen Tục nhuộm răng đen không chỉ mang ý nghĩa thẩm mỹ mà còn được tin là giúp bảo vệ răng tránh sâu hỏng – thực tế, phụ nữ dân tộc Kammu ở Lào và Việt Nam cũng nhuộm răng đen “để vừa đẹp vừa không bị
sâu răng”, dù nay phong tục này chỉ còn ở người già
Trang 36Họ thường nhai trầu cau, dùng vỏ cây, muối hoặc than củi để chà răng thay cho kem đánh răng công nghiệp Những phương thức truyền thống này phần nào làm sạch răng và sát khuẩn, nhưng không hiệu quả bằng phương pháp chải răng Đồng thời, tục ăn trầu và nhuộm răng lâu ngày khiến răng chuyển màu, có thể che lấp dấu hiệu sâu răng cho đến khi bệnh đã nặng Nhìn chung, trong nếp sống cổ truyền, việc chăm sóc răng miệng chưa được coi trọng như ngày nay; người Dao không có thói quen đi khám răng định kỳ,
chỉ xử lý khi “có vấn đề” rõ rệt
Kiến thức khoa học về sức khỏe răng miệng như khái niệm vi khuẩn gây sâu răng, vai trò fluor, kỹ thuật chải răng đúng cách… còn khá xa lạ với nhiều người Dao lớn tuổi, hoặc chỉ mới được thế hệ trẻ biết đến qua trường học Trình độ học vấn thấp cũng dẫn đến nhận thức hạn chế về tầm quan trọng của phòng bệnh
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG ĐỀ ÁN 2.1 Phương pháp nghiên cứu vấn đề
2.1.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những người cao tuổi dân tộc Dao từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Là người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên, không kể nam hoặc nữ Có khả năng giao tiếp tốt và đồng ý tham gia khám và phỏng vấn
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những người đang mắc các bệnh nhiễm trùng răng miệng cấp tính phải nằm điều trị tại các cơ sở y tế Đang điều trị bệnh mãn tính mà không tham gia được Những người tuổi cao, sức yếu không di chuyển đến điểm khám và phỏng vấn được
2.1.1.2 Địa điểm
Tại 02 xã Đại Sơn và Viễn Sơn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.1.1.3 Thời gian: Từ tháng 05/2024 đến 12/2024
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.1.2.1.Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Trang 38- Kỹ thuật chọn mẫu:
+ Chọn chủ đích huyện Văn Yên của tỉnh Yên Bái, Văn Yên là huyện có
tỷ lệ người dân tộc Dao sinh sống chiến trên 70% Lập danh sách các xã có số người Dao sinh sống đông nhất trong huyện, sau đó bốc thăm ngẫu nhiên lấy
02 xã Qua bốc thăm ngẫu nhiên chọn được 02 xã đó là Đại Sơn và Viễn Sơn hai xã có trên 90% người Dao sinh sống) Tiếp tục lập danh sách người cao tuổi dân tộc Dao tại hai xã sau đó chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống cho đủ số mẫu theo thiết kế Qua thống kê danh sách người cao tuổi tại hai xã tổng cộng có hơn 800 người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên xã Đại Sơn có
400 người và xã Viễn Sơn có 420 người)
+ Tiến hành tính khoảng cách k = 800/400=2, như vậy số đối tượng nghiên cứu được lập danh sách và chọn là 02 người lấy 01 người được 400 người và dự phòng 5% là 420 người Số người dự phòng sẽ lấy ở xã Viễn Sơn
vì xã Viễn Sơn có số người cao tuổi nhiều hơn so với xã Đại Sơn Như vậy số người cao tuổi đưa vào nghiên cứu tại xã Đại Sơn là 200 người và xã Viễn Sơn là 220 người
2.1.3 Các bước tiến hành tiếp cận cộng đồng
- Trước khi bắt đầu điều tra sức khỏe răng miệng người cao tuổi dân tộc Dao tại Yên Bái Nhóm nghiên cứu đã gửi công văn, kế hoạch của nhà trường đến 2 địa điểm khám là xã Đại Sơn và Viễn Sơn và 2 xã đã có văn bản đồng ý
để gửi Sở Y tế tỉnh Yên Bái để đề nghị cho phép thực hiện và phối hợp với địa phương nghiên cứu Sau khi Sở y tế Yên Bái có văn bản đồng ý thì nhóm nghiên xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công các nghiên cứu viên để tổ chức
Trang 39xã để khám Sau đó, nhóm nghiên cứu được thành lập, được tập huấn phương pháp khám, phỏng vấn Nhóm nghiên cứu gồm các bác sĩ chuyên ngành Răng hàm mặt
2.1.4 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Tập huấn cán bộ nghiên cứu: gồm 4 người trong đó 2 người khám và 2 người phỏng vấn
- Thu thập số liệu bằng việc sử dụng một bộ câu hỏi để phỏng vấn từng người, khám răng miệng cho người cao tuổi dân tộc Dao từ 60 tuổi trở lên Bộ câu hỏi phỏng vấn và phiếu khám răng miệng: sử dụng bộ công cụ mẫu của
Tổ chức Y tế Thế giới năm 1997, được bổ sung năm 2013
+ Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu để thu thập các thông tin về đặc điểm
cá nhân (tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp trước khi về hưu, học vấn, chuyên môn, hôn nhân, sống gia đình hay độc thân, kinh tế gia đình, bảo hiểm y tế, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất, khoảng cách từ nhà đến cơ sở răng hàm mặt gần nhất), kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến bệnh răng miệng của người cao tuổi
+ Khám lâm sàng xác định thực trạng sâu răng và bệnh nha chu ở người cao tuổi Phỏng vấn sâu cán bộ y tế nhằm cung cấp thông tin tìm hiểu thêm về: mức độ phổ biến của bệnh sâu răng, bệnh nha chu ở người cao tuổi trong cộng đồng, quan niệm của người cao tuổi về chăm sóc và dự phòng bệnh răng miệng, sự tiếp cận của người cao tuổi với dịch vụ chăm sóc răng miệng, trong trường hợp nào người cao tuổi thấy nhu cầu cần phải đến cơ sở khám chữa răng, đánh giá của người cao tuổi về các dịch vụ y tế hiện có, mong muốn của người cao tuổi nhằm được chăm sóc và điều trị răng miệng tốt hơn Cán bộ y
tế và chính quyền địa phương phải làm gì để nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc răng miệng cho người cao tuổi
Trang 40+ Người cao tuổi được Trạm y tế xã thông báo về kế hoạch, thời gian, nội dung khám và phỏng vấn về răng miệng Số người cao tuổi dân tộc Dao được thông báo ở xã Đại Sơn là 200 người và ở xã Viễn Sơn là 220 người có
độ tuổi từ 60 tuổi trở lên
Việc điều tra phỏng vấn và khám lâm sàng các đối tượng nghiên cứu được thực hiện tại 02 Trạm y tế xã Đại Sơn và Viễn Sơn Thời gian tiến hành
từ 8h00-11h30 sáng và 14h - 16h30 chiều Khám dưới ánh sáng tự nhiên và đèn soi
Trung bình mỗi lần phỏng vấn khoảng 15 phút/đối tượng, khám khoảng
+ Nhóm nghiên cứu đã tiến hành đồng thời phỏng vấn sâu cán bộ y tế
xã về triển khai các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi Phỏng vấn và đánh giá về sự tiếp cận của người cao tuổi đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng nói chung và của người cao tuổi nói riêng Nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn sâu cán bộ y tế xã
về số lượng các phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt trên địa bàn xã và huyện Số cán bộ y tế có trình độ chuyên khoa răng hàm mặt tham gia khám chữa bệnh trên địa bàn huyện hiện nay như thế nào Số người cao tuổi được khám bệnh răng miệng hàng tháng đạt % Bệnh sâu răng, bệnh quanh răng được khám, điều trị và quản lý như thế nào so với các loại bệnh khác như bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, bệnh đường hô hấp…Những định hướng trong thời gian tới thì cơ sở y tế tuyến xã sẽ làm gì
để tăng cường CSSK răng miệng cho người cao tuổi