dân gian hai nước, vai trò của biểu tượng động vật trong việc hình thành và truyềntải bản sắc văn hóa dân tộc, và cuối cùng, đóng góp một nghiên cứu đối sánh có tínhhệ thống, nhằm làm ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2025
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Tuân
Hà Nội - 2025
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hình tượng con trâu trong văn học dân gian ViệtNam và Trung Quốc tiếp cận từ góc nhìn so sánh” là công trình nghiên cứu thực tếcủa cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Tuân.Trong luận văn, những thông tin tham khảo từ những công trình nghiên cứu khác đãđược tác giả chú thích rõ nguồn
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này làtrung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xin chịu tráchnhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 21 tháng 8 năm 2025
TÁC GIẢ
FU YUANYUAN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Tuân, người đã tậntình định hướng, chỉ dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Việt Nam học vàTiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia HàNội, những người đã truyền đạt cho tôi nền tảng tri thức quý báu, tạo điều kiệnthuận lợi để tôi có thể tiếp cận, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng đã đọc, nhận xét và góp ý vềluận văn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè - những người luôn ởbên cạnh, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi cả về tinh thần lẫn thực tiễn trong suốtthời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã nỗ lực hoàn thiện luận văn, song chắc chắn không tránh khỏi nhữngthiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và những góp ý quý báu từ các thầy
cô và bạn đọc để công trình này được hoàn thiện hơn
TÁC GIẢ
FU YUANYUAN
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu hình tượng con trâu trong văn học dân gian Việt Nam 3
2.2 Lịch sử nghiên cứu hình tượng con trâu trong văn học dân gian Trung Quốc 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Mục đích và ý nghĩa 11
6 Bố cục luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Sơ lược về hình tượng văn học và hình tượng động vật trong văn học dân gian 13
1.1.2 Khái lược về kí hiệu học và biểu tượng văn hoá 18
1.1.3 Sơ lược về nghiên cứu so sánh và liên văn hoá 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Bối cảnh và đặc điểm văn hóa nông nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc 27
1.2.2 Vai trò của con trâu trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam và Trung Quốc 31
1.2.3 Tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích Việt Nam và Trung Quốc về hình tượng con trâu 34
Tiểu kết 36
CHƯƠNG 2 37
CÁC LỚP NGHĨA BIỂU TƯỢNG CON TRÂU 37
TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 37
2.1 Biểu tượng lao động, gắn với đời sống sản xuất và lý tưởng về sự cần cù, nhẫn nại 37
2.2 Biểu tượng tâm linh liên quan đến lễ hội, tín ngưỡng và phong tục dân gian 48
Trang 62.3 Biểu tượng đạo đức, triết lý nhân sinh, thể hiện cách nhìn về con người, vũ
trụ và các giá trị sống 65
Tiểu kết 77
CHƯƠNG 3 78
TƯ DUY BIỂU TƯỢNG VÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ VIỆT NAM 78
VÀ TRUNG QUỐC TỪ HÌNH TƯỢNG CON TRÂU 78
3.1 Biểu tượng con trâu trong tư duy lao động: từ nhu cầu sống đến cấu trúc thế giới 79
3.1.1 Biểu tượng con trâu trong tư duy lao động của người Việt: Thế giới quan nông nghiệp gắn với đất - làng - người 79
3.1.2 Biểu tượng con trâu trong tư duy lao động của người Trung Hoa: cấu trúc hóa nông nghiệp gắn với trật tự vũ trụ trời - đất - người 84
3.2 Biểu tượng con trâu trong tư duy tâm linh, tín ngưỡng: từ dân gian bản địa đến siêu hình triết học 88
3.2.1 Biểu tượng con trâu trong tư duy tâm linh, tín ngưỡng người Việt: cầu nối giữa đời thường và linh thiêng 88
3.2.2 Biểu tượng con trâu trong tư duy tâm linh, tín ngưỡng Trung Hoa: từ vật tế đến ẩn dụ triết học 91
3.3 Biểu tượng con trâu trong tư duy triết lý sống: từ dung dị hòa thuận đến quy phạm vũ trụ 95
3.3.1 Biểu tượng con trâu trong tư duy triết lý người Việt: sự dung dị, hòa thuận và cần lao 96
3.3.2 Biểu tượng con trâu trong tư duy triết lý Trung Hoa: sự quy phạm, tu thân và trật tự vũ trụ 100
Tiểu kết 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 115
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng so sánh hình tượng con trâu trong tục ngữ ca dao và truyện cổ tíchViệt Nam và Trung Quốc mang biểu tượng lao động, sản xuất nông nghiệp 38Bảng 2: Bảng so sánh hình tượng con trâu trong tục ngữ ca dao và truyện cổ tíchViệt Nam và Trung Quốc mang biểu tượng tâm linh, lễ hội, tín ngưỡng và phongtục dân gian 49Bảng 3: Bảng so sánh hình tượng con trâu trong tục ngữ ca dao và truyện cổ tíchViệt Nam và Trung Quốc mang biểu tượng đạo đức và triết lý nhân sinh 66
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển văn hóa nông nghiệp ở khu vực Đông Á, đặc biệt làtại Việt Nam và Trung Quốc, con trâu được xem là công cụ sản xuất không thểthiếu Tục ngữ Việt Nam có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp” để khẳng định con vậtnày là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất, giúp người nông dân kéo cày, bừa ruộng,vận chuyển hàng hoá và hỗ trợ cho toàn bộ quá trình canh tác Ở Trung Quốc, contrâu là phương tiện tối ưu để hỗ trợ nông dân làm ruộng và canh tác từ thời cổ đại.Đặc biệt hơn, không chỉ là công cụ sản xuất, con trâu là nguồn cảm hứng sáng táccho nhiều tác phẩm, trở thành biểu tượng về lao động nông nghiệp, đạo đức haytriết lý sống của con người trong văn học dân gian Việt Nam và Trung Quốc Có thểthấy, người dân Việt Nam và Trung Quốc đã đưa hình ảnh con trâu vào các sáng tácdân gian như một biểu trưng văn hóa vừa gần gũi, vừa đa nghĩa Đây không chỉ làhình tượng phản ánh mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, mà còn thể hiện rõquan niệm sống, đạo đức lao động và thế giới tinh thần đặc trưng của cư dân nôngnghiệp truyền thống
Trong kho tàng văn học dân gian, truyện cổ tích, tục ngữ và ca dao có thể xem
là ba thể loại truyền tải sinh động, phản ánh rõ nét cách nhìn, cách nghĩ và hệ giá trịvăn hóa của cộng đồng Hình tượng con trâu xuất hiện trong nhiều truyện cổ tíchnhư một nhân vật có tính cách, số phận, gắn với bài học đạo đức và triết lý sống.Trong tục ngữ, con trâu thường được dùng như một đơn vị biểu đạt cho các kinhnghiệm sống, quy tắc ứng xử, các chuẩn mực đạo đức và quan hệ xã hội Còn trong
ca dao, hình ảnh con trâu thường mang sắc thái biểu cảm, chứa đựng những tìnhcảm mộc mạc, hồn hậu của người lao động, đó có thể là tình cảm gia đình, tình yêuđôi lứa và cả những nỗi niềm trong đời sống thường nhật Đặc biệt, điểm thú vị là,cùng là biểu tượng con trâu nhưng ở mỗi nền văn hóa, biểu tượng ấy lại mangnhững tầng ý nghĩa khác nhau Nếu trong văn học dân gian Việt Nam, con trâu hiệnlên cụ thể, gần gũi, chất phác, mang tinh thần hồn hậu, thực tế của người nông dânViệt Nam, thì trong văn học dân gian Trung Quốc, hình tượng này lại được soi
Trang 9chiếu qua lăng kính triết lý Nho giáo, gắn với con đường tu đạo, với các giá trị đạođức như trung thành, nhẫn nại và hy sinh Việc so sánh cách thể hiện hình tượngcon trâu trong văn học dân gian, tập trung vào ba thể loại dân gian này giúp chúng
ta vừa thấy được sự tương đồng về nền tảng nông nghiệp và văn hóa, nhưng cũngvừa thấy rõ đặc tính tư duy dân gian và mỹ cảm đặc trưng của từng dân tộc Rõ ràng,khi xét trong bối cảnh toàn cầu hóa và giao thoa văn hóa hiện nay, việc nghiên cứuhình tượng con trâu không chỉ nhằm mục đích hiểu rõ hơn di sản văn hóa truyềnthống, mà còn giúp khẳng định bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc trong sự tươngquan với các nền văn hóa trong khu vực Trong trường hợp này, Việt Nam và TrungQuốc, tuy cùng chia sẻ mô hình canh tác lúa nước, cùng có hệ tư tưởng chịu ảnhhưởng của Nho - Đạo - Phật, nhưng lại sản sinh những cách biểu đạt khác biệt vềcùng một biểu tượng văn hóa Những khác biệt ấy có thể phản ánh sâu xa những lựachọn văn hóa, hệ giá trị bản địa và cách thức con người ở từng cộng đồng tương tácvới tự nhiên và với nhau
Ngoài ra, trong bối cảnh hiện đại, khi các giá trị văn hóa truyền thống đangđứng trước nguy cơ mai một, việc quay trở lại khảo sát các biểu tượng văn hóatrong văn học dân gian như hình tượng con trâu không chỉ có giá trị học thuật, màcòn mang ý nghĩa giáo dục và bảo tồn văn hóa, có ý nghĩa thiết thực, có khả năngkhai thác sâu sắc các chiều kích văn hóa qua biểu tượng và tư tưởng dân gian Bêncạnh đó, mặc dù hình tượng con trâu đã xuất hiện rải rác trong một số công trìnhnghiên cứu dân gian ở cả hai quốc gia, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu hiện tạimới chỉ khảo sát riêng lẻ trong phạm vi một nền văn hóa hoặc một thể loại cụ thể,thiếu đi sự đối sánh xuyên văn hóa có hệ thống
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Hình tượng con trâutrong văn học dân gian Việt Nam và Trung Quốc tiếp cận từ góc nhìn so sánh”, tậptrung vào ba thể loại truyện cổ tích, tục ngữ và ca dao Với hướng tiếp cận liênngành, nghiên cứu so sánh và kí hiệu học văn hoá, đề tài sẽ góp phần làm rõ nhữnglớp nghĩa đa dạng và phong phú của hình tượng con trâu qua các thể loại văn họcdân gian, mối quan hệ giữa văn hóa - tư tưởng - biểu tượng trong cấu trúc văn học
Trang 10dân gian hai nước, vai trò của biểu tượng động vật trong việc hình thành và truyềntải bản sắc văn hóa dân tộc, và cuối cùng, đóng góp một nghiên cứu đối sánh có tính
hệ thống, nhằm làm phong phú thêm kho tàng tri thức văn hóa dân gian Đông Á nóichung và Việt Nam - Trung Quốc nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 Lịch sử nghiên cứu hình tượng con trâu trong văn học dân gian Việt Nam
Hình tượng con trâu là một biểu tượng văn hóa sâu sắc, gắn liền với nền vănminh lúa nước và đời sống lao động của người Việt Tuy nhiên, số lượng công trìnhchuyên sâu nghiên cứu về hình tượng này dưới góc nhìn văn học dân gian vẫn cònkhiêm tốn Dù vậy, theo khảo sát của chúng tôi, có thể nhận diện ba hướng tiếp cậnchính trong các công trình học thuật đã công bố, đó là tiếp cận dân tộc học -folklore học, tiếp cận ngôn ngữ - biểu tượng học và tiếp cận liên văn hóa - so sánh.Đầu tiên là nhóm nghiên cứu dân tộc học, folklore học Từ đầu thế kỷ XX, cácnhà nghiên cứu như Phan Kế Bính đã bước đầu ghi nhận vai trò biểu tượng của con
trâu trong đời sống nông nghiệp Việt Nam Trong Việt Nam phong tục (1915), ông
mô tả con trâu như một thực thể không thể tách rời khỏi đời sống làng xã và kinh tếlúa nước Đây là tư liệu sớm nhất hệ thống hóa hình tượng con trâu từ góc nhìn dântộc học
Tiếp đó, các công trình nghiên cứu dân gian có xu hướng nhấn mạnh con trâuvới vai trò lao động, giai cấp và là biểu tượng của đời sống nông thôn Khi đó, contrâu được nghiên cứu trong mối quan hệ với nền kinh tế nông nghiệp và hình tượngngười nông dân Nguyễn Đổng Chi và Vũ Ngọc Phan đã đề cập đến hình tượng contrâu trong các công trình sưu tầm - tuyển chọn văn học dân gian của mình Trong
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã tập hợp nhiều truyện cổ
tích có sự xuất hiện của con trâu như một nhân vật phụ thể hiện phẩm chất lao động,lòng trung thành và sự gắn bó với người nông dân Tương tự, Vũ Ngọc Phan trong
Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam cũng đề cập đến các tục ngữ như “Trâu buộc
ghét trâu ăn”, “Trâu hay không ngại cày trưa” để phản ánh tư duy triết lý, kinhnghiệm sống và đạo đức cộng đồng nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, trong giai
Trang 11đoạn này, hình tượng con trâu chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ công cụ laođộng và biểu tượng đạo đức, sản xuất, mà chưa thực sự được tiếp cận như một hệbiểu tượng đa tầng trong văn học dân gian.
Hướng tiếp cận hình tượng con trâu thứ hai là hướng nghiên cứu ngôn ngữ,
biểu tượng Theo khảo sát của chúng tôi, có thể kể đến bài viết “Con trâu trong ngôn ngữ ca dao” của Lê Đức Luận Trong bài viết, tác giả sử dụng phương pháp
phân tích ngôn ngữ để khẳng định vai trò biểu tượng của con trâu trong kho tàng cadao Việt Nam, khi đó, con trâu không chỉ phản ánh văn hóa vật chất mà còn truyềntải các thông điệp đạo lý và tư tưởng nhân sinh Tương tự, Hà Quang Năng trong
bài viết “Hình ảnh con trâu trong thành ngữ tục ngữ và ca dao Việt Nam” (1997) đã
thống kê được hơn 60 câu tục ngữ, 30 thành ngữ và nhiều bài ca dao có hình ảnhcon trâu, điều này khẳng định chiều sâu của biểu tượng này trong ngôn ngữ dân
gian Việt Nam Ngoài ra, bài viết “Hình tượng con trâu trong văn hóa” (2021) trên
Báo Phú Thọ đã so sánh hình tượng con trâu trong các nền văn hóa như Việt Nam,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Philippines; bài viết “Biểu tượng con trâu trong dòng chảy văn hóa Việt Nam” (2021) của Hà Thị Đan trên Tạp chí điện
tử văn hóa nghệ thuật; bài viết “Hình tượng con trâu trong văn học Việt Nam”
(2021) của Trần Trung Sáng trên Trang thông tin điện tử tổng hợp văn nghệ Đà
Nẵng; bài viết “Hình ảnh con trâu trong ngôn ngữ tục ngữ, ca dao Việt Nam” trên
Trang thông tin về trâu và di sản trâu Việt Nam… cũng phân tích hình tượng contrâu từ hướng nghiên cứu hình tượng, biểu tượng Có thể thấy, những bài viết này
đã phân tích hình tượng trâu từ nhiều khía cạnh: biểu tượng lao động, vai trò tínngưỡng, và đạo đức truyền thống Mặc dù chủ yếu mang tính tổng hợp phổ biến,nhưng các bài viết này góp phần tái khẳng định tầm quan trọng của con trâu trongvăn học và văn hóa dân gian
Hướng tiếp cận thứ ba là tiếp cận theo hướng liên văn hóa và so sánh đối chiếuvới các quốc gia khác trên thế giới Ở nhóm này, theo khảo sát của chúng tôi có thể
kể đến công trình “From Work Animal to Cultural Symbol: The Changing Status of the Water Buffalo in Contemporary Vietnam” của David W Biggs Bài viết đã khảo
Trang 12sát vai trò của trâu nước từ thời kỳ cổ truyền đến hiện đại, trong đó có nhắc đếnhình tượng trâu trong truyện dân gian và lễ hội như lễ hội chọi trâu, nghi thức cấy
lúa đầu năm Tiếp đó, trong bài “Buffalo Husbandry and Rural Identity in the Mekong Delta, Vietnam”, Philip C C Huang tiếp cận từ góc độ nhân học, nhấn
mạnh con trâu không chỉ là phương tiện sản xuất mà còn là biểu tượng xã hội, thểhiện vai trò phân phối lao động và thể hiện bản sắc cộng đồng
Tiếp đó, các học giả Trung Quốc cũng có nghiên cứu về hình tượng con trâu
trong văn hóa dân gian Việt Nam Trong bài “Nghiên cứu phân tích về hình tượng động vật và ý nghĩa văn hóa trong tranh Đông Hồ Việt Nam” (浅析越南东湖年画中的 动物形象及其文化含义) của Ngô Đức Chí (吴德识) khẳng định, con trâu trên tranhĐông Hồ Việt Nam là một phần không thể thiếu trong văn hóa nông nghiệp với
hình tượng phổ biến, thân thiết Trong bài nghiên cứu “Nghiên cứu nhân học nông nghiệp về văn hóa con trâu ở Việt Nam – Trường hợp vùng đồng bằng sông Hồng”
(越南水牛文化的农业人类学考察 -以红河三角洲为例), tác giả Vương Tuyết (王雪) đã sosánh sự thay đổi vai trò của con trâu trước và sau cơ giới hóa, mặc dù máy móc đãthay thế chức năng cày bừa, nhưng con trâu vẫn được giữ lại như một “biểu tượngvăn hóa”, thể hiện qua các câu chuyện dân gian và trang trí trong các lễ hội Bài
“Nghiên cứu mẫu hình Việt Nam trong tín ngưỡng con trâu ở Đông Nam Á - Tập trung vào truyền thuyết “Thần Trâu” của người Thái” (东南亚水牛信仰中的越南样本 - 以泰族“水牛神”传说为中心) của Lý Hồng (李红) đã lấy truyền thuyết về “Thần Trâu”của người Thái (Tày) ở miền Bắc Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu, bài viếtphân tích logic tín ngưỡng và chức năng văn hóa ẩn sau truyền thuyết này Ngoài ra,
bài viết “Biểu tượng con trâu và hàm nghĩa đạo đức trong truyện dân gian Việt Nam” (越南民间故事中的水牛形象及其伦理隐喻) của Trần Phương (陈芳), đã phân tíchcác truyện dân gian Việt Nam, từ đó chỉ ra ý nghĩa biểu tượng đạo đức của con trâutrong văn học dân gian Việt Nam
Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu theo hướng so sánh hình tượng con trâu ở các
nền văn hoá có thể kể đến: “Hình tượng con trâu trong văn hóa Á Đông” (2021) của Quang Duy trên VTV.vn nghiên cứu về hình tượng con trâu ở các nước phương
Trang 13Đông như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc; Đinh Thị Trang trong
bài viết “Con trâu trong văn hóa Việt Nam và các nước trên thế giới” trên Tạp chí
Sông Hương đã tìm hiểu và so sánh sự hiện diện của hình tượng con trâu trong vănhóa Việt và văn hóa của Philippines, Hy Lạp và Ai Cập…
Thứ tư là nhóm các nghiên cứu trong Nhà trường Các nghiên cứu học thuậttrong môi trường đại học cũng có đề cập đến hình tượng con trâu như một phầntrong hệ thống biểu tượng văn hóa dân gian Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngọc
Diệp “Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt”(2002) đã khảo
sát một hệ thống biểu tượng phong phú, trong đó có con trâu như một biểu tượng
kết nối con người với tự nhiên và lao động; Luận văn của Son Sun Yeong “So sánh biểu trưng 12 con giáp trong tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc” và Lê Thị Hương
“Thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói về động vật và thực vật - Một vài so sánh với Việt Nam” đều có đề cập đến hình tượng con trâu trong tương quan với các con vật
khác, tuy nhiên không đi sâu vào phân tích biểu tượng này ở ba thể loại tục ngữ, cadao và truyện cổ tích - điểm mà luận văn hiện tại sẽ bổ sung và hệ thống hóa
2.2 Lịch sử nghiên cứu hình tượng con trâu trong văn học dân gian Trung Quốc
Hình tượng con trâu là một đối tượng nghiên cứu phong phú trong nhiều côngtrình học thuật Trung Quốc, trải rộng trên các lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng, văn học,nghệ thuật dân gian và ngôn ngữ dân gian Từ cách tiếp cận biểu tượng học đếnphân tích ngôn ngữ học so sánh, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã góp phần làmsáng tỏ giá trị của hình tượng con trâu trong văn hóa truyền thống, cũng như nhữngchuyển biến của nó trong bối cảnh hiện đại Theo khảo sát của chúng tôi, có thểphân chia các công trình nghiên cứu thành năm nhóm chính như sau:
Thứ nhất, nhiều học giả Trung Quốc tiếp cận hình tượng con trâu từ chiều sâuvăn hóa và tín ngưỡng dân gian, nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa trâu và nền
văn hóa nông nghiệp cổ truyền Trong bài viết “Nghiên cứu ý nghĩa tinh thần của con trâu trong văn hóa truyền thống Trung Quốc” (试论中国传统牛文化中的精神内涵),
Đỗ Diễm (杜艳) khai thác khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo và tư tưởng nông canh,làm rõ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa con người và vũ trụ qua biểu
Trang 14tượng con trâu Vương Lập Dân (王立民), trong công trình “Biểu tượng văn hóa của con trâu trong thời đại nông nghiệp” (中国农耕时代牛的文化意象), đã mở rộng phạm
vi khảo sát hình tượng con trâu trong nghệ thuật, lao động sản xuất và tôn giáo, qua
đó cho thấy chức năng vừa thực dụng vừa thiêng liêng của loài vật này
Ở góc độ lễ nghi dân gian, Hàn Hiểu Thì (韩晓时) trong bài viết “Năm Sửu
-Kể về tục lệ con trâu” (牛年说牛俗) đã chỉ ra nguồn gốc và biểu hiện của các phongtục liên quan đến con trâu trong dịp Tết Nguyên đán và các lễ hội truyền thống PhụAnh (傅瑛) và Đinh Sảng (丁爽), trong “Khảo cứu sơ bộ về các truyền thuyết thần thoại liên quan đến con trâu ở Trung Quốc” (中国牛神话传说初探), tiếp cận từ khíacạnh thần thoại dân gian, làm nổi bật vai trò của con trâu trong hệ thống thần thoại
sáng thế và tín ngưỡng thờ vật linh Bài viết “Các điển cố và truyền thuyết về con trâu” (牛 的典 故与 传 说) của Triệu Phong (赵 丰) cũng là một đóng góp trong việcphục dựng không gian thiêng nơi con trâu hiện diện như một biểu tượng văn hóatrung tâm
Bên cạnh đó, góc nhìn tôn giáo về con trâu được thể hiện rõ trong bài “Tìm hiểu nguồn gốc Phật giáo của thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa” trong văn hóa Trung
Hoa” (佛源成语“牛头马面”考) của Cúc Thải Bình (鞠彩萍), phân tích sự giao thoagiữa văn hóa dân gian và Phật giáo trong việc hình thành biểu tượng con trâu nhưmột biểu trưng của thế giới âm phủ
Một hướng tiếp cận quan trọng khác trong các nghiên cứu về con trâu trongvăn học dân gian Trung Quốc là khảo sát biểu tượng con trâu trong văn học và nghệ
thuật Trung Quốc như thơ ca, hội họa, hý kịch và điêu khắc Trong bài viết “Hình tượng con trâu trong văn học Trung Quốc” (牛的形象与中国文学), Đàm Hiển Minh(谭显明) phân tích các văn bản thơ, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch cổ, qua đó cho thấycon trâu không chỉ là biểu tượng nông nghiệp mà còn là hình ảnh ẩn dụ phản ánhcác mâu thuẫn xã hội và giá trị đạo đức truyền thống
Từ góc độ nghệ thuật thị giác, Liu Yaqin trong bài “Water Buffalo in Chinese Art and Literature: Symbols of Power, Fertility, and Rural Virtue” đã khảo sát biểu
tượng con trâu trong hội họa, thơ ca và điêu khắc, chỉ ra rằng hình ảnh trâu biểu
Trang 15hiện sức mạnh sinh sản, phẩm chất nông thôn và năng lực biểu trưng phong phú.Bài viết “The Buffalo in Chinese Folklore: From Myth to Modernity” của WangLina cũng tiếp cận tiến trình lịch sử biến đổi của hình tượng trâu từ một vật linhtrong thần thoại đến biểu tượng đạo đức đời thường trong xã hội hiện đại.
Tiếp đó là nhóm nghiên cứu tập trung vào hệ thống tục ngữ, thành ngữ, ngữnghĩa dân gian liên quan đến con trâu, nơi lưu giữ nhiều lớp văn hóa và tri thức kinhnghiệm của cư dân nông nghiệp Trương Trình Phú (张呈富) trong “Loại hình ngôn ngữ dân gian về con trâu” (牛的民间语类) đã phân loại và phân tích hệ thống thànhngữ, tục ngữ chứa yếu tố “trâu”, làm rõ giá trị biểu đạt và truyền thông của chúng
Bài viết “Nghiên cứu sơ bộ giá trị văn hóa trong tục ngữ Hán liên quan đến hình tượng con trâu” (汉语涉“牛”谚语的文化价值初探) của Trương Hâm (张鑫) và ThôiNhất Kiệt (崔一杰) phân tích tục ngữ về con trâu vừa truyền đạt kinh nghiệm nôngnghiệp vừa phản ánh quan niệm sống, chuẩn mực đạo đức và định hướng hành vi xãhội Mẫn Quân (闵军) trong bài “Tìm hiểu về tục ngữ liên quan đến con trâu” (俗语 牛考源) cũng có đóng góp trong việc làm rõ chức năng và biểu tượng của con trâu
trong ngôn ngữ dân gian Trung Hoa Trong bài viết “Sự khác biệt về hình tượng động vật trong tục ngữ Trung Quốc và Nhật Bản - Lấy hình tượng “con trâu” làm
ví dụ” (中日谚语的动物形象差异—以“牛”为例), Hàn Vũ Phương (韩宇芳) đã tiến hành
so sánh, chỉ ra rằng trong khi con trâu ở Trung Quốc mang tính tích cực như siêngnăng, trung thực, cần cù thì ở Nhật Bản lại gắn với tính chậm chạp và thụ động, đó
là một cách tiếp cận mang tính liên văn hóa rất đáng chú ý
Một số công trình tiêu biểu tiếp cận từ ngôn ngữ học so sánh đã đi sâu vàoviệc đối chiếu hình tượng con trâu trong tiếng Hán và các ngôn ngữ khác (chủ yếu
là tiếng Việt và tiếng Mông Cổ) Trong luận văn tiến sĩ “Nghiên cứu và so sánh thành ngữ có yếu tố động vật trong tiếng Hán và tiếng Việt” (含动物语素的汉越成语 对比研究), Đàm Tú Quỳnh (谭秀琼) đã có phân tích kỹ lưỡng về con trâu trong thànhngữ, đặt hình tượng này vào hệ thống biểu tượng học so sánh giữa hai nền văn hóaTrung - Việt Tác giả cho thấy những khác biệt và tương đồng trong cách biểutượng hóa loài vật này qua hệ thống thành ngữ đặc thù của mỗi ngôn ngữ Tương tự,
Trang 16trong luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu và so sánh từ vựng động vật Hán - Mông có yếu
tố cấu tạo là chuột, trâu và chó” (以鼠、牛、狗作为语素的中蒙动物词汇比较研究), HồLan (胡兰) tiến hành đối chiếu từ vựng động vật giữa tiếng Hán và tiếng Mông Cổ,cho thấy sự khác biệt trong ngữ dụng và biểu tượng hóa hình ảnh con trâu trong hai
hệ thống ngôn ngữ Cuối cùng, luận văn thạc sĩ của Vi Lệ Hoa (韦丽华) với đề tài
“Nghiên cứu và so sánh ý nghĩa động vật trong văn hóa Trung Quốc và Việt Nam”
(中越动物文化涵义的比较研究) là một đóng góp đặc biệt cho hướng nghiên cứu đốisánh Tác giả đã đi sâu phân tích hình tượng và ý nghĩa tượng trưng của con trâutrong hai nền văn hóa qua các kênh văn học, nghệ thuật và tín ngưỡng, qua đó đặtbiểu tượng học con trâu vào bối cảnh so sánh liên văn hóa
Ngoài ra, còn có những bài nghiên cứu của học giả Việt Nam như “Những ý nghĩa của con trâu trong quan niệm Trung Quốc”(2021) được đăng trên Vietnam.net đã phân tích 3 ý nghĩa của con trâu Trung Quốc là siêng năng, sức khỏe
và sự bướng bỉnh, sự phú quý Trong bài viết “Biểu tượng trâu trong các nền văn hóa trên thế giới” trên trang AGS Landscape đã tìm hiểu 3 biểu tượng sự sung túc, sức mạnh và sự kiên trì, sự trung thành của con trâu Trung Quốc Trong “Hình tượng con trâu trong các nền văn hóa” (2021) của tác giả Đinh Thị Trang tìm hiểu
về con trâu đóng vai trò quan trọng trong nhiều phương diện văn học, tôn giáo, hộihọa và phong tục
Trên đây là khái lược lịch sử nghiên cứu hình tượng con trâu trong văn họcdân gian Việt Nam và Trung Quốc Có thể thấy, những công trình nghiên cứu liênquan rất phong phú, hình tượng con trâu đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ nhưlịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và biểu tượng, nhân học Những nghiên cứu này cũnggiúp chúng tôi củng cố và tham khảo thêm về cách triển khai hệ thống biểu tượng
về con trâu Tuy nhiên, việc chuyên biệt hóa và hệ thống hóa hình tượng con trâutrong văn học dân gian Việt Nam trong tương quan đối sánh với văn học dân gianTrung Quốc vẫn còn là một khoảng trống cần tiếp tục khai thác Chính khoảngtrống này là tiền đề để chúng tôi lựa chọn đề tài cho luận văn
Trang 173 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là hình tượng con trâu trong văn họcdân gian Việt Nam và Trung Quốc
Phạm vi nghiên cứu: Do các thể loại văn học dân gian tương đối rộng, luận văngiới hạn tập trung nghiên cứu vào ba thể loại chính và quan trọng trong hệ thốngvăn học dân gian của Việt Nam và Trung Quốc là truyện cổ tích, tục ngữ và ca dao
Cụ thể, luận văn sẽ khảo sát hình tượng con trâu trong các công trình sưu tầm, biênsoạn sau:
Ở Việt Nam, đó là: Kho tàng tục ngữ người Việt (tập 1, tập 2) do Nguyễn Xuân
Kính - Nguyễn Thuý Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân biên soạn, Nxb Văn
Hóa Thông Tin, 2002; Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam do Vũ Ngọc Phan biên soạn, Nxb Văn học, 2005; Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1, tập 2) do
Nguyễn Đổng Chi biên soạn, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2000
Ở Trung Quốc, luận văn khảo sát qua: Văn hóa con trâu của Trung Hoa (中华 牛文化) do Tảm Xứ Sâm (昝处森) và Lý Bân Thành (李斌成) biên soạn, Nxb Nông
nghiệp Trung Quốc, 2010; Tổng tập ca dao Trung Quốc (tập 1 Quảng Tây) (中国歌 谣集成 -广西卷) do Ủy ban biên tập Tổng tập văn học dân gian Trung Quốc và Ủy
ban biên tập; Tổng tập ca dao tập Quảng Tây biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội Trung Quốc; Tổng tập ca dao Trung Quốc (tập 1 Vân Nam) (中国歌谣集成 -云南卷)
do Ủy ban biên tập Tổng tập văn học dân gian Trung Quốc và Ủy ban biên tập Tổng
tập ca dao tập Vân Nam biên soạn, Nxb Trung tâm ISBN Trung Quốc; Tổng tập ca dao Trung Quốc (tập 1 Quý Châu) do Ủy ban biên tập Tổng tập văn học dân gian Trung Quốc và Ủy ban biên tập Tổng tập ca dao Quý Châu biên soạn; Tổng tập ca dao Trung Quốc (tập 1 Quý Châu) (中国歌谣集成 -贵州卷) do Ủy ban biên tập Tổngtập văn học dân gian Trung Quốc và Ủy ban biên tập Tổng tập ca dao tập Quý Châu
biên soạn, Nxb Trung tâm ISBN Trung Quốc; Tổng tập truyện cổ tích dân gian Trung Quốc (tập Hồ Bắc) (中国民间故事集成 -湖北卷) do Ủy ban biên tập Tổng tậpvăn học dân gian Trung Quốc và Ủy ban biên tập Tổng tập truyện cổ dân gian tập
Hồ Bắc biên soạn, Nxb Trung tâm ISBN Trung Quốc, 1999; Tổng tập truyện cổ tích
Trang 18dân gian Trung Quốc (tập Quảng Tây) (中国民间故事集成 -广西卷) do Ủy ban biêntập Tổng tập văn học dân gian Trung Quốc và Ủy ban biên tập Tổng tập truyện cổ
dân gian tập Quảng Tây biên soạn, Nxb Trung tâm ISBN Trung Quốc, 2001; Tổng tập truyện cổ tích dân gian Trung Quốc (tập 1) (中国民间故事选) do Giả Chi (贾芝)
và Tôn Kiếm Băng (孙剑冰) biên soạn, Nxb Văn học Nhân dân, 1980
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng rõ và thuyết phục vấn đề nghiên cứu, luận văn sử dụng các lýthuyết tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và thao tác khoa học sau:
Về lý thuyết tiếp cận: luận văn sử dụng tiếp hướng tiếp cận biểu tượng học vănhóa, xem hình tượng con trâu là một biểu tượng văn hóa mang nghĩa đa tầng, cótính truyền thống, bản địa, vùng miền; bên cạnh đó, luận văn sử dụng hướng tiếpcận liên văn hóa - so sánh văn học để phân tích sự tương đồng và dị biệt trong cáchxây dựng hình tượng con trâu giữa hai nền văn học dân gian Việt - Trung
Về phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liênngành, thi pháp học (phân tích hình thức và nội dung các câu tục ngữ, ca dao vàtruyện cổ tích)
Về các thao tác cụ thể: luận văn thống kê, phân loại các câu ca dao, tục ngữ vàtruyện cổ tích về hình tượng con trâu; so sánh, đối chiếu những ca dao, tục ngữ vàtruyện cổ tích theo ý nghĩa biểu tượng của con trâu; phân tích ý nghĩa và giá trị biểutượng của con trâu, so sánh sự tương đồng và khác biệt của hình tượng con trâuViệt Nam và Trung Quốc
5 Mục đích và ý nghĩa
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là qua việc thống kê, phân tích những
ca dao, tục ngữ và truyện cổ tích nói về con trâu của Việt Nam và Trung Quốc, đểchỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thể hiện hình tượng con trâugiữa hai nền văn hóa dân gian Qua đó, luận văn hướng đến đánh giá ý nghĩa tưtưởng, thẩm mỹ và văn hóa của hình tượng này
Nghiên cứu hình tượng con trâu trong văn học dân gian hai nước có thể làm rõvai trò con trâu giúp đỡ con người trong lao động nông nghiệp, khám phá mối quan
Trang 19hệ giữa con người và thiên nhiên; giúp làm rõ con trâu đóng vai trò quan trọngtrong việc phản ánh những giá trị đạo đức, tình cảm và tín ngưỡng đối với ngườinông dân.
Thông qua so sánh hình tượng con trâu trong văn học dân gian Việt Nam vàTrung Quốc, tạo ra một kênh giao lưu văn hóa, làm sâu sắc hơn sự hiểu biết lẫnnhau về các giá trị chung và sự khác biệt trong văn hóa truyền thống của hai dân tộc.Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ giúp những người học tiếng Việt và tiếng Trung nóiriêng và những ai yêu mến muốn tìm hiểu văn hóa hai nước nói chung có thêm hiểubiết về văn hóa con trâu hai nước
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung củaluận văn được triển khai thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Các lớp nghĩa biểu tượng con trâu trong văn học dân gian Việt Nam
và Trung Quốc
Chương 3: Tư duy biểu tượng và bản sắc văn hoá Việt Nam và Trung Quốc từhình tượng con trâu
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Sơ lược về hình tượng văn học và hình tượng động vật trong văn học dân gian
Hình tượng văn học là một trong những phạm trù cơ bản và trung tâm củanghiên cứu lý luận văn học Theo nghĩa rộng, hình tượng văn học là hình ảnh nghệthuật về con người, sự vật, hiện tượng trong đời sống, được xây dựng thông qua sựtưởng tượng và cảm nhận mang tính cá nhân của người sáng tác, song vẫn phản ánhmột cách gián tiếp hay trực tiếp thực tại xã hội và văn hóa Hình tượng không phải
là bản sao của hiện thực mà là một thực tại thứ hai, được cấu trúc bằng ngôn ngữnghệ thuật Từ góc độ văn hóa - triết học phương Đông, theo Trần Đình Sử: “Hìnhtượng văn học là sự thống nhất giữa cái cá biệt và cái phổ quát, giữa cảm xúc và lýtrí, giữa nghệ thuật và hiện thực Nó là hình thức nghệ thuật cụ thể hóa thế giới tinhthần và quan điểm sống của chủ thể sáng tạo” [32, tr 75]
Trong truyền thống lý luận văn học Mác-xít, hình tượng được xem là “phươngthức phản ánh hiện thực mang tính đặc thù của văn học nghệ thuật” Theo NguyễnĐăng Mạnh, hình tượng là “sự kết tinh sống động giữa cái khách quan (hiện thựcđời sống) và cái chủ quan (tư tưởng, cảm xúc, cá tính nghệ sĩ), là nơi hội tụ giữa lýtrí và cảm xúc, tư duy logic và tư duy hình tượng” Còn theo Belinsky, nhà phê bìnhNga thế kỷ XIX, hình tượng là “linh hồn của tác phẩm nghệ thuật”, bởi nó khôngchỉ truyền tải thông tin mà còn khơi gợi cảm xúc, khái quát tư tưởng và biểu hiện cátính sáng tạo Đặc điểm quan trọng nhất của hình tượng văn học là tính biểu cảm,biểu tượng, đa nghĩa Đặc điểm này cho phép người đọc tiếp cận từ nhiều chiềukích khác nhau (nghệ thuật, triết lý, văn hóa, xã hội ) Từ góc độ cấu trúc văn bản,hình tượng có thể là một con người, con vật, đồ vật, khung cảnh, hành động, giọngnói, biểu tượng được gán nghĩa thẩm mỹ, mang tính tổ chức văn bản và biểu đạt
tư tưởng tác giả Hình tượng vừa là yếu tố vi mô (chi tiết nghệ thuật), vừa là yếu tố
vĩ mô (cấu trúc trung tâm, motif, biểu tượng chủ đạo)
Trang 21Như vậy, có thể khái quát rằng, hình tượng văn học đóng vai trò là cầu nốigiữa hiện thực và nghệ thuật, giữa tư tưởng và cảm xúc, giữa cái phổ quát và cái cáthể Thông qua hình tượng, nhà văn không chỉ miêu tả thế giới, mà còn tái tạo, đánhgiá và lý giải thế giới dưới ánh sáng của một hệ thống tư tưởng, thẩm mỹ nhất định.Hình tượng là nơi kết tinh tư tưởng nghệ thuật (mang tải các giá trị thẩm mỹ, nhânsinh quan, thế giới quan), cảm xúc thẩm mỹ (hình tượng tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ,gợi xúc cảm, hình dung và sự đồng cảm từ người đọc/nghe) và tính dân tộc và bảnsắc văn hóa (thông qua hình tượng, người đọc nhận diện thế giới quan, hệ giá trị vàđặc trưng tư duy của một cộng đồng).
Văn học dân gian Việt Nam là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ đượcnhân dân Việt Nam sáng tạo và lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng,nhằm phản ánh, gìn giữ và truyền đạt kinh nghiệm sống, tri thức dân gian, tư tưởngđạo lý và các giá trị thẩm mỹ của cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử văn hóadân tộc Theo Nguyễn Đổng Chi, văn học dân gian là: “Những sáng tác mang tínhtập thể, truyền khẩu, phản ánh tâm hồn và trí tuệ của nhân dân lao động, nhằm phục
vụ nhu cầu tư tưởng và thẩm mỹ của cộng đồng” [5]
Có ý nghĩa và vai trò tương tự, văn học dân gian Trung Quốc là một bộ phậnquan trọng trong di sản văn hóa truyền thống Trung Hoa, bao gồm các hình thứcsáng tác truyền miệng, tập thể và phi hàn lâm của nhân dân lao động qua nhiều thờiđại Đây là hệ thống các thể loại văn học hình thành, phát triển và truyền lưu chủyếu thông qua hình thức nghe - nhớ - kể - hát, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần,kinh nghiệm ứng xử, tín ngưỡng và trí tuệ dân gian của các cộng đồng cư dân trong
xã hội Trung Hoa cổ truyền Theo nhà nghiên cứu Hoàng Vĩnh Lâm (黄永林/HuangYongLin), văn học dân gian Trung Quốc được hiểu là: “Tổng thể các tác phẩmmang tính truyền miệng do quần chúng nhân dân sáng tạo, thông qua đó phản ánhquan niệm, khát vọng và kinh nghiệm sống của họ trong môi trường xã hội - lịch sử
- văn hóa cụ thể.” [62]
Về mặt thể loại, văn học dân gian Việt Nam bao gồm: Thần thoại, truyềnthuyết, truyện cổ tích; Truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện trạng; Ca dao, tục ngữ,
Trang 22câu đố, vè; Hát ví, hát ru, hò, dân ca nghi lễ… Văn học dân gian Trung Quốc cũngđược chia thành: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích; Truyện ngụ ngôn, truyệncười, truyện khôi hài; Tục ngữ, câu đố, vè, dân ca; Các nghi lễ dân gian và diễnxướng truyền thống như kể chuyện, múa rối, hí khúc dân gian…
Đặc điểm của văn học dân gian Việt Nam được khái quát thành năm đặc điểm,bao gồm: Thứ nhất, tính truyền miệng, đây là đặc trưng quan trọng nhất, giúp vănhọc dân gian được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng, qua đó tạo nên tính biến thể
và thích ứng cao với từng vùng văn hóa Thứ hai, tính tập thể, tác phẩm không gắnvới tác giả cá nhân, mà là kết tinh trí tuệ và cảm xúc tập thể, được hình thành và bồiđắp qua nhiều thế hệ Thứ ba, tính thực tiễn, giáo huấn, tức là văn học dân giankhông chỉ giải trí mà còn truyền dạy đạo lý, tri thức sản xuất, ứng xử xã hội Thứ tư,tính biểu cảm, hình tượng, biểu tượng cao, chẳng hạn, hình ảnh con vật, hiện tượngthiên nhiên, đồ vật thường được nhân cách hóa và biểu tượng hóa, mang ý nghĩasâu xa về văn hóa và triết lý sống, và cuối cùng là tính địa phương, dân tộc đậm đà,theo đó, văn học dân gian gắn bó với ngôn ngữ tiếng Việt, phương ngữ vùng miền,tín ngưỡng dân gian và kết cấu làng xã nông nghiệp cổ truyền
Trong khi đó, đặc điểm nổi bật của văn học dân gian Trung Quốc, có thể kểđến: Thứ nhất, tính giáo huấn và đạo lý cao, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,Phật giáo và Đạo giáo; Thứ hai, tính tượng trưng cao và giàu biểu tượng, theo đó,hình ảnh thường mang hàm nghĩa triết lý hoặc phong thủy (rồng, trâu, hổ, tiên,quỷ ); Thứ ba, tính đa tộc và địa phương hóa, do Trung Quốc là quốc gia đa dântộc, nên văn học dân gian có sự phong phú về phương ngữ, tập quán, tín ngưỡng
Có thể nói, văn học dân gian Trung Quốc cũng có những đặc điểm nổi bật, quantrọng tương tự văn học dân gian Việt Nam
Trong các thể loại văn học dân gian, có thể thấy ba thể loại tiêu biểu và gần gũi,
dễ tiếp nhận hơn cả là tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích Đây là những thể loại cótính chất lưu truyền rộng rãi, phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa con người với tựnhiên, xã hội và thế giới biểu tượng tâm linh trong các nền văn hóa nông nghiệptruyền thống Về mặt đặc trưng, tục ngữ được xem là kho tàng tri thức dân gian cô
Trang 23đọng, ghi lại kinh nghiệm ứng xử và quan niệm đạo lý của cộng đồng; ca dao thểhiện cảm xúc, tâm tư và quan hệ xã hội, thường có cấu trúc trữ tình gần gũi với đờisống nông dân; và truyện cổ tích là thể loại tự sự dân gian mang tính biểu tượng hóacao, phản ánh quan niệm về con người, số phận và thế giới thông qua hình thức kểchuyện giàu tưởng tượng.
Như đã nêu ở trên, trong văn học dân gian, hình tượng mang tính biểu trưng vàtượng trưng cao, được xây dựng thông qua ngôn ngữ truyền miệng, tích lũy và pháttriển qua nhiều thế hệ Mỗi hình tượng đều là kết tinh của trải nghiệm văn hoá, lịch
sử cộng đồng, mang ý nghĩa thẩm mỹ đồng thời phản ánh thế giới quan và nhânsinh quan của người dân lao động Theo Vũ Ngọc Phan, “Hình tượng trong văn họcdân gian thường giản dị, cụ thể, gần với đời sống nhưng lại hàm chứa những tầngnghĩa sâu xa Nó là tấm gương phản chiếu tâm hồn của một dân tộc” [31] Điều đócho thấy trong môi trường sáng tạo dân gian, hình tượng vừa là kết quả thẩm mỹ,vừa là một mã văn hóa, một phương tiện truyền tải kí ức xã hội
Trong hệ thống hình tượng văn học dân gian, hình tượng động vật là một trongnhững nhóm biểu tượng phong phú và giàu sức biểu cảm bậc nhất Động vật trongvăn học dân gian không còn chỉ là hình ảnh mang tính sinh học, mà được nâng lênthành những biểu tượng văn hóa có tính biểu cảm, giáo huấn và triết lý sâu sắc.Những con vật như trâu, ngựa, gà, hổ, rồng, cáo, rùa… thường mang các giá trịtượng trưng như sự cần cù, trung thành, trí tuệ, sức mạnh, mưu mẹo hay bền bỉ.Chúng xuất hiện nhiều trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyền thuyết, ca dao, tục
ngữ… và thường được nhân hóa, thần hóa hoặc thiêng hóa Trong công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã lý giải sức hút của hình tượng
động vật trong dân gian: “Tín ngưỡng vật linh, niềm tin vào sức mạnh của con vậtgần gũi với con người đã khiến người xưa sáng tạo nên những hình tượng động vậtvừa quen thuộc vừa kỳ ảo, vừa thực vừa mộng” [5]
Trong số các hình tượng động vật đó, con trâu nổi lên như một biểu tượng tiêubiểu cho nền văn minh nông nghiệp lúa nước - nền văn minh bản địa đặc trưng ởkhu vực Đông Nam Á và Đông Á Con trâu không chỉ là con vật kéo cày, mà còn là
Trang 24một phần không thể tách rời của đời sống kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng của cộngđồng nông dân cổ truyền Ở cả Việt Nam và Trung Quốc, con trâu xuất hiện với tầnsuất dày đặc trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, tranh dân gian, lễ hội, và thậmchí cả trong các hình thức tín ngưỡng nông nghiệp Trong văn học dân gian, hìnhtượng con trâu vừa biểu trưng cho sức lao động, cho sự cần mẫn, hiền lành, camchịu, vừa thể hiện mối gắn kết giữa con người với thiên nhiên, giữa lao động với giátrị sống.
Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng đã từng khẳng định trong công trình “Văn hóa Việt Nam nhìn từ truyền thống”: “Con trâu trong văn hóa Việt không đơn thuần
là sức kéo Nó là hiện thân của vòng quay mùa vụ, là vật tế thần, là biểu tượng củađời sống nông nghiệp, và là kí ức văn hóa của làng quê Việt” [41, tr 183] Cũngtheo ông, hình tượng con trâu còn là một loại “biểu tượng thâm sâu” vì vừa hiệndiện trong sản xuất, vừa hiện diện trong các hình thức tâm linh (như tế trâu trong lễhội làng, hình tượng trâu vàng ở hồ Tây, tranh Đông Hồ chăn trâu thổi sáo ) Điềunày cho thấy, qua lăng kính dân gian, con trâu là một hình tượng phức hợp, mang ýnghĩa vật chất, tinh thần và tâm linh quan trọng
Như vậy, có thể thấy hình tượng con trâu trong văn học dân gian không chỉ làmột hình ảnh quen thuộc của đời sống nông nghiệp mà còn là một hệ biểu tượngvăn hóa dân gian đa tầng, phản ánh hệ thống tư duy, tình cảm, đạo lý và mỹ học củacộng đồng cư dân trồng lúa nước Nó có vai trò định hình tư duy biểu tượng truyềnthống Từ đó, việc nghiên cứu hình tượng động vật là tiếp cận một hệ thống ký hiệuvăn hóa sâu xa trong văn học dân gian So sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc, sựtương đồng trong việc lựa chọn trâu làm biểu tượng văn hóa phần nào cho thấy tínhchất khu vực của nền văn minh nông nghiệp, trong khi những dị biệt về cách thểhiện hình tượng này cũng phản ánh sự khác biệt về nền tảng triết lý, tín ngưỡng vàthẩm mỹ của hai dân tộc Việc khảo sát, phân tích và đối sánh hình tượng con trâutrong văn học dân gian Việt Nam và Trung Quốc, vì thế, vừa là một hướng tiếp cậnmang tính biểu tượng học văn học, vừa là một nỗ lực khám phá chiều sâu văn hóa
và tâm thức dân gian phương Đông
Trang 251.1.2 Khái lược về kí hiệu học và biểu tượng văn hoá
Kí hiệu là khái niệm trung tâm trong lĩnh vực kí hiệu học, ngành khoa họcnghiên cứu về các hệ thống biểu đạt, cấu trúc và cơ chế tạo nghĩa của các đơn vịgiao tiếp trong đời sống con người Kí hiệu xuất hiện ở khắp nơi trong đời sống xãhội như trong ngôn ngữ, hình ảnh, hành vi, nghi lễ, trang phục, nghệ thuật vàđóng vai trò là phương tiện tạo lập, truyền tải và duy trì ý nghĩa giữa các cá nhân vàcộng đồng Trong tư cách một khoa học liên ngành, ký hiệu học không chỉ khảo sát
ký hiệu như một thực thể đơn lẻ, mà còn quan tâm đến hệ thống, ngữ cảnh, hành vitạo nghĩa của con người
Khái niệm phổ biến nhất của kí hiệu học là “khoa học nghiên cứu về các kíhiệu” [34, tr.75], “là một khoa học nghiên cứu về bản chất, chức năng, cơ chế hoạtđộng của kí hiệu và hệ thống kí hiệu” [35, tr.134] Có thể thấy, khoa học về các kýhiệu ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XIX và được định hình rõ nét vào khoảng đầuthế kỉ XX Hai nhà lý thuyết đống vai trò quan trọng và được xem là sáng lập rangành khoa học này là nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure(1857 - 1913) và triết gia người Mỹ Charles Sander Pierce (1839 - 1914)
Theo đó, Ferdinand de Saussure là đại diện tiêu biểu cho truyền thống chủnghĩa cấu trúc châu Âu Ông coi ký hiệu ngôn ngữ là sự kết hợp của “cái biểu đạt”(signifier) và “cái được biểu đạt” (signified), gắn kết với nhau theo cơ chế quy ước
xã hội Từ đây, Ferdinand de Saussure khẳng định: “kí hiệu học là một ngành khoahọc nghiên cứu vai trò của các dấu hiệu như một phần của đời sống xã hội”.[29] và
“Ký hiệu không có giá trị tự thân, mà chỉ có nghĩa trong mối quan hệ đối lập vớicác ký hiệu khác trong cùng hệ thống” Mô hình của Ferdinand de Saussure là kíhiệu (sign) = cái biểu đạt (signifier) + cái được biểu đạt (signified).[29, tr.7-8] Cáibiểu đạt tức là các hệ thống tín hiệu như ngôn từ, hình ảnh, ngôn ngữ cơ thể, âmthanh hoặc bất cứ hình thức nào có khả năng biểu thị Cái được biểu đạt thì là ýniệm của cái biểu đạt Một dấu hiệu ra đời là quá trình kết hợp của cả signifier vàsignified, và bắt buộc phải có hai yếu tố này Trong quá trình truyền đạt thông tin,
cả hai thành phần này không tách rời nhau và tạo thành một kí hiệu Chứ không thể
Trang 26nào truyền đạt được một ý niệm đó mà không có cái biểu đạt, cũng không có mộtcái biểu đạt mà không có ý niệm Để chứng minh cho lập luận, Sausure đưa ra ví dụ
về bó hoa hồng Nó có thể sử dụng để biểu đạt sự đam mê, khi nó mang ý nghĩa nhưvậy, bó hoa hồng chính là cái biểu đạt, sự đam mê là cái được biểu đạt Mối quan hệgiữa hai “tổng thể liên kết” này sẽ tạo ra thuật ngữ thứ ba, bó hoa hồng là một kíhiệu Và quan trọng phải hiểu rằng: bó hoa hồng khi là một kí hiệu là một thứ tươngđối khác so với bó hoa hồng khi là một cái biểu đạt Khi là một cái biểu đạt, nó chỉ
là một sản phẩm của vườn tược, là bó hoa hồng rỗng không; khi là một kí hiệu thì
bó hoa hồng này chứa đầy hàm ý.[29, tr.8]
Khác với Ferdinand de Saussure, Charles Sanders Peirce là người khởi đầutruyền thống logic học Hoa Kỳ, ông phân loại ký hiệu thành ba loại chính: biểutrưng (icon) - dựa trên sự tương đồng trực quan; chỉ dấu (index) - dựa trên quan hệnhân quả hoặc hiện diện vật lý; và biểu tượng (symbol) - dựa trên sự đồng thuận xãhội, có tính quy ước cao Peirce nhấn mạnh rằng: “Không có gì là không ký hiệu:mọi hoạt động tri thức đều gắn với diễn dịch ký hiệu.” Mô hình của Charles SandersPeirce là 3 yếu tố: cái trình hiện (representamen), cái nhận hiểu (interpretant) vàmục tiêu (object) “Yếu tố trình hiện là những kí hiệu, hình ảnh, từ ngữ được thiết
kế nhằm ngụ ý diễn tả một nội dung nào đó”.[29, tr.11] Cái nhận hiểu là quá trình
mà độc giả chuyển hóa những gì đã thấy được thành ý tưởng cho mình Mục tiêu lànhững gì mà những kí hiệu tượng trưng muốn nhắm tới
Ký hiệu học hiện đại không giới hạn ở ngôn ngữ học mà mở rộng thành kýhiệu học văn hóa, tiêu biểu với các đại diện như Roland Barthes, Yuri Lotman,Umberto Eco… R Barthes coi mọi thực hành văn hóa (ẩm thực, thời trang, điệnảnh, văn học…) đều là văn bản ký hiệu, có thể được “đọc” và “giải mã” như những
hệ thống mang tầng lớp nghĩa xã hội Y Lotman lại đưa ra khái niệm “không gian
ký hiệu văn hóa” (semiosphere), trong đó văn hóa được hình dung như một hệthống các mã (codes), nơi các ký hiệu không ngừng tái cấu trúc và sản sinh nghĩamới Từ các nền tảng này, có thể hiểu ký hiệu không chỉ là “dấu hiệu” mang tínhcông cụ giao tiếp, mà là phép chiếu của một thế giới quan, một hệ hình tư duy Đặc
Trang 27biệt trong văn học và văn hóa truyền thống, các ký hiệu nghệ thuật (ngôn từ, hìnhảnh, hành vi) vận hành như những cấu trúc mang tính ẩn dụ, tượng trưng và huyềnthoại hóa, phản ánh chiều sâu văn hoá bản địa.
Kí hiệu học đã được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70thế kỷ trước Nhiều bài viết của các tác giả đã sử dụng cách tiếp cận kí hiệu học.Năm 1973, những nhà nghiên cứu đã dịch và xuất bản Giáo trình ngôn ngữ học đạicương, một công trình kinh điển của Ferdinand de Saussure, một cuốn sách ảnhhưởng đến hầu hết các nhà kí hiệu học.[36]
PGS TS Lê Huy Bắc đã nêu lên định nghĩa về kí hiệu học trong cuốn “Ký hiệu
và liên ký hiệu” như sau: “Kí hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự vật
hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, được con người sáng tạo, mã hóa, để chuyển tảithông điệp, phục vụ giao tiếp thông qua một hệ nghĩa nhất định trong bối cảnh cụthể” Ông cũng chỉ ra các cấp độ của kí hiệu học văn học
- Hình tượng: Là một nhân vật (Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ) hoặc một khái niệmtrừu tượng (như Phép thắng lợi tinh thần của Aesop), một hình ảnh tự nhiên (liễu,khóm trúc, cánh chim ) thậm chí là một chữ thơ (“át cơ”, “trắng” trong thơ LêĐạt) Có khả năng tạo nghĩa và biểu tượng biểu lộ cảm xúc trong tác phẩm
- Biểu tượng: Là cấp độ biểu nghĩa cao hơn hình tượng Biểu tượng luôn mangtính khái quát cao và gắn với đặt thù của thời đại Thời đại sản sinh ra biểu tượng.Thời đại nào có biểu tượng đó Khái niệm “nhân vật điển hình” được dùng khinghiên cứu văn học hiện thực cũng là một dạng biểu tượng Kiền của Nguyễn Du làbiểu tượng cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến Đồng thời đó còn
là biểu tượng cho sự tài hoa bị vùi dập bị những những kẻ xấu
- Cơ mẫu: Là những hình ảnh, mô hình, cấu trúc, phép ứng xử, luân lý, đạođức được hình thành từ xưa và sử dụng lại trên tiến trình văn học
- Văn bản văn học không chỉ đơn giản là các kí hiệu ngôn từ mà văn bản vănhóa hay tác phẩm văn học đã thực sự tham gia vào đời sống giao tiếp
- Về mặt cấu tạo, tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu vì đó là một kí hiệu lớn,
do những kí hiệu nhỏ hơn kết dệt tạo thành
Trang 28- Tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu vì nó là kí hiệu của một cá nhân độcđáo, là kí hiệu đời sống văn hóa.
Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã đề cập đến kí hiệu học văn hóa trong quyển
“Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học” đã đề cập đến
vấn đề kí hiệu văn hóa được thể hiện dưới dạng các biểu tượng
Trần Lê Bảo đề cập đến sự cần thiết “giải mã văn hóa” trong tác phẩm văn học
trong cuốn “Giải mã văn học từ mã văn hóa” và sự giải mã văn hóa này thực chất
theo ông là tập trung vào những ký hiệu và biểu tượng văn hóa để phân tích nội hàmcủa chúng
Trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và văn học hiện đại, biểu tượng văn hóa làmột trong những yếu tố then chốt tạo nên cấu trúc tư tưởng và bản sắc của một cộngđồng Biểu tượng được hiểu là một ký hiệu đặc biệt, trong đó quan hệ giữa cái biểuđạt và cái được biểu đạt vượt khỏi cấp độ chỉ định thông tin, để trở thành sự quychiếu có chiều sâu văn hoá, tâm linh và lịch sử Góc tiếp cận biểu tượng đóng vaitrò quan trọng trong việc giải mã mối quan hệ giữa ngôn ngữ, hình ảnh và hệ thốnggiá trị văn hoá - xã hội của cộng đồng Theo cách hiểu phổ biến, biểu tượng văn hóa
là những hình ảnh, vật thể, hành vi hoặc khái niệm được xã hội mã hóa và sử dụng
để truyền tải các ý niệm sâu xa, vượt khỏi nghĩa đen của sự vật Các biểu tượng cóchức năng vừa nhận diện (identity), vừa biểu đạt (representation), đồng thời duy trì
kí ức văn hóa và tạo nên tính cố kết xã hội
Khác với ký hiệu ngôn ngữ thông thường có tính minh xác và quy ước rõ ràng,biểu tượng thường mang tính mơ hồ, đa trị, và giàu tính biểu cảm, tồn tại trong hệhình tư duy biểu tượng, vốn là cách tư duy đặc trưng của các nền văn hóa phươngĐông Biểu tượng có thể là hình ảnh (như rồng, trâu, sen, tre), hành vi (như chầu, tế,rước), vật thể (như trống đồng, áo dài, chiêng ), và tồn tại như các “hạt nhân vănhoá” kết tinh hệ giá trị - niềm tin - ký ức cộng đồng
Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng có nguồn gốc từ tiếng Hán, có nghĩa là: 1.
hình ảnh tượng trưng; 2 hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnhcủa sự vật còn giữ lại trong đầu óc và khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã
Trang 29chấm rứt Theo Từ điển Biểu tượng, những gì được coi là biểu tượng khi nó đượcmột nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bảnthân nó Theo Đinh Hồng Hải (2012), thuật ngữ smybology trong tiếng Anh tươngđương với thuật ngữ nghiên cứu biểu tượng (hoặc biểu tượng học) trong tiếng Việt.Biểu tượng được xem như những trầm tích văn hóa trong văn bản nghệ thuật.Tuy nhiên, về cơ bản, biểu tượng có hai ý nghĩa chính là biểu hình và biểu ý Mỗibiểu tượng có ý nghĩa riêng tùy thuộc vào nền văn hóa sản sinh ra nó, bối cảnh vàthời điểm mà nó ra đời, mục đích mà nó được sử dụng Vì vậy, đối với khoa họcnghiên cứu về biểu tương, tiếp cận liên ngành là một hướng đi bắt buộc mà sự kếtnối các lĩnh vực ngôn ngữ học, nhân học và kí hiệu học cần phải được đặt làm nềntảng.
Khởi nguồn từ các ngành nhân học, lý thuyết biểu tượng văn hóa được pháttriển mạnh bởi các nhà nghiên cứu như Clifford Geertz, Victor Turner, MaryDouglas… Trong đó, Clifford Geertz khẳng định rằng: “Văn hóa là một hệ thốngcác biểu tượng, một mạng lưới ý nghĩa mà con người tự dệt nên và trong đó họsống” [63] Từ cách nhìn này, văn hóa không phải là một thực thể vật chất, mà làmột hệ thống mã nghĩa (code of meanings), nơi các biểu tượng đóng vai trò trungtâm trong việc kiến tạo và tái tạo tri thức, niềm tin và cảm xúc xã hội Theo Geertz
và các lý thuyết gia tương tự, biểu tượng không tồn tại như những yếu tố đơn lẻ màhoạt động trong một hệ quy chiếu văn hoá - lịch sử cụ thể Chúng được sinh thành,duy trì và biến đổi thông qua quá trình thực hành xã hội và kí ức cộng đồng Đặcbiệt trong các xã hội truyền thống, biểu tượng thường mang tính đa nghĩa(polysemy), biểu trưng (emblematic) và huyền thoại hóa (mythical), phản ánh hệthống tư duy và thế giới quan bản địa Vì vậy, việc nghiên cứu biểu tượng khôngchỉ là phân tích ngữ nghĩa mà còn là tiếp cận văn hóa từ bên trong Lý thuyết biểutượng văn hóa đặc biệt hữu ích khi ứng dụng vào việc nghiên cứu các hình tượngtrong văn học dân gian, bởi đây là môi trường sản sinh và bảo tồn các biểu tượngcộng đồng một cách tập thể, bền vững và linh hoạt
Trang 30Biểu tượng là một loại ký hiệu đặc biệt trong văn bản văn học Biểu tượng cótính tượng tượng trưng, đa nghĩa, mơ hồ và có khả năng hội tụ các giá trị văn hóa.
Nó tự xác lập một cơ chế hoạt động, có chức năng và bản chất đặc thù Tính đanghĩa và khả năng hội tụ nhiều lớp nghĩa tiềm tàng trong từng văn cảnh cụ thể củabiểu tượng như một thứ chất kích thích Theo Cao Kim Lan (2014): “Hoạt động cácmối quan hệ lấy xuất phát điểm từ mô hình quan hệ tác giả - kí hiệu biểu tượng -người diễn giải được phát hiện và gợi mở nhiều điều thú vị cũng như nó cho thấyviệc giải mã các ký hiệu biểu tượng chưa bao giờ có dấu hiệu đi đến tận cùng” Tác
giả Cao Kim Lam còn lấy ví dụ biểu tượng “bếp lửa” trong Bếp Lửa của Bằng Việt
là sự hội tụ của nhiều giá trị văn hóa - lịch sử Khi lần đầu tiên được phát hiện và sửdụng, lửa đã đánh dấu một bước tiến hóa của loài người Dần dà, lửa mang ý nghĩathiết thực trong đời sống vật chất: lửa dùng để làm chất đốt, làm chín thức ăn, để soisáng, sưởi ấm Từ những giá trị hiện thực đó, lửa dần dần trở thành một biểu tượngtinh thần - một biểu tượng văn hóa đa nghĩa: lửa - bản thể, lửa - thần thánh, lửa - tẩy
uế và tái sinh, lửa - hủy diệt, lửa - giắc ngộ, lửa - trái tim, lửa - chân lý
Trong nghiên cứu văn học hiện đại, việc phân biệt giữa ký hiệu (sign) và biểutượng (symbol) giữ vai trò nền tảng cho cách tiếp cận các hình tượng nghệ thuật,đặc biệt là những hình tượng có chiều sâu văn hóa như con trâu trong văn học dân
gian Việt Nam Theo Trịnh Bá Đĩnh trong công trình Từ ký hiệu đến biểu tượng, ký
hiệu là đơn vị ngôn ngữ có tính quy ước, mang ý nghĩa trực tiếp và tương đối ổnđịnh trong một hệ thống ngôn ngữ, trong khi đó, biểu tượng là hình ảnh ngôn ngữvượt lên trên chức năng quy chiếu, mang tính gợi mở, đa nghĩa, gắn với cảm xúc,tưởng tượng và kinh nghiệm văn hóa của cộng đồng “Một biểu tượng, thuộc vềmột cộng đồng văn hoá nhất định”.[14, tr 21] Điểm độc đáo trong tư tưởng củaTrịnh Bá Đĩnh là ông không chỉ nhìn biểu tượng như một loại hình ký hiệu đặc biệt,
mà như một hình thức tư duy nghệ thuật, nơi mà hình ảnh cụ thể (như con trâu)chuyên chở những nội dung khái quát mang tính triết lý, đạo đức, tâm linh hay bảnsắc dân tộc Biểu tượng, theo đó, không tồn tại một cách tự phát, mà được hìnhthành và định hình qua lịch sử văn hóa, xã hội, tâm thức cộng đồng Rõ ràng, với
Trang 31cách nhìn này, hình tượng con trâu trong văn học dân gian không thể chỉ được tiếpcận như một ký hiệu đơn nghĩa (chỉ loài vật kéo cày), mà cần được nhìn nhận nhưmột biểu tượng văn hóa đa tầng: biểu tượng của lao động nông nghiệp, của tínhcách người nông dân Việt Nam, của quan niệm về sức mạnh thụ động, về sinh tồn
và gắn bó với đất đai Việc chuyển từ cách đọc ký hiệu học sang biểu tượng họckhông chỉ mở rộng chiều sâu tiếp cận văn bản, mà còn giúp luận văn đặt hình tượngcon trâu vào đúng vị trí của nó trong hệ thống biểu tượng dân gian Việt Nam, nơivăn học không chỉ là trò chơi ngôn ngữ mà còn là nơi lưu giữ và truyền tải ký ứcvăn hóa cộng đồng
1.1.3 Sơ lược về nghiên cứu so sánh và liên văn hoá
Bên cạnh lý thuyết biểu tượng văn hóa, nghiên cứu các hình tượng trong vănhọc dân gian giữa hai hay nhiều quốc gia còn đòi hỏi vận dụng lý thuyết nghiên cứu
so sánh văn học (comparative literature) và nghiên cứu liên văn hoá (interculturalstudies) Đây là hai hướng tiếp cận có nhiều điểm giao thoa, thường được áp dụngtrong nghiên cứu các hiện tượng văn hóa - văn học nằm trong vùng tương tác giữacác không gian văn hóa khác nhau
Nghiên cứu văn học so sánh là một ngành có bề dày lịch sử, khởi nguồn từchâu Âu vào thế kỷ XIX, được xác định rõ hơn trong thế kỷ XX với các học giả nhưRené Wellek, Henry Remak, Susan Bassnett… Theo định nghĩa của Bassnett(1993): “So sánh văn học là việc nghiên cứu văn học vượt ra khỏi biên giới mộtquốc gia, để khám phá các mối quan hệ tương đồng hoặc khác biệt trong cấu trúc,
đề tài, biểu tượng, tư tưởng, thể loại giữa các nền văn học” [64] Trong khuôn khổnghiên cứu hình tượng văn học, phương pháp so sánh cho phép người nghiên cứuđối chiếu cách thức xây dựng, sử dụng và tiếp nhận hình tượng trong các khônggian văn hóa khác nhau, từ đó rút ra các mô hình tương tác và biệt lập về mặt tư duy,thẩm mỹ, xã hội
Nghiên cứu liên văn hóa là một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành, phát triểnmạnh từ nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và đối thoại vănminh Theo Milton J Bennett (1998), nghiên cứu liên văn hóa tìm hiểu “cách thức
Trang 32con người thuộc các nền văn hóa khác nhau giao tiếp, biểu đạt và diễn giải thế giới”,
từ đó khám phá sự khác biệt trong hệ hình tư duy, giá trị và cảm thức văn hóa.Phương pháp này nhấn mạnh vào sự đối thoại, so sánh và liên hệ giữa các khônggian văn hoá nhằm giải mã bản chất của sự khác biệt, chứ không phải chỉ tìm kiếmnhững điểm tương đồng
Việc vận dụng hai lý thuyết trên trong nghiên cứu văn học dân gian vừa giúptiếp cận văn bản ở cấp độ nội dung, hình thức và chức năng, vừa mở rộng sang cấp
độ văn hóa - xã hội - lịch sử Theo đó, khi so sánh hình tượng giữa các nền văn học,cần chú ý đến bối cảnh văn hóa và thế giới quan chi phối việc kiến tạo hình tượngnghệ thuật Theo Trần Đình Hượu, khi so sánh văn hóa và văn học dân gian ViệtNam với các nền văn hóa lớn trong khu vực như Trung Quốc, cần đặt trong mốiquan hệ đối chiếu “không chỉ về hình thức, mà về cơ tầng văn hóa, triết học, tâmthức” Điều này đòi hỏi người nghiên cứu cần vận dụng linh hoạt cả phân tích nộitại và phân tích đối chiếu xuyên văn hóa, đảm bảo cả chiều sâu lý luận và độ rộngkhảo sát
Nghiên cứu so sánh trong việc tiếp cận tác phẩm văn học dân gian
Nghiên cứu so sánh trong việc tiếp cận văn học dân gian là một phương phápnghiên cứu nhằm đối chiếu và so sánh các đặc điểm, yếu tố, hình thức, nội dung củavăn học dân gian từ nhiều vùng miền khác nhau hoặc giữa các nền văn hóa khácnhau Mục tiêu của nghiên cứu so sánh này là làm rõ sự tương đồng và sự khác biệttrong các yếu tố văn hóa, từ đó giúp hiểu sâu hơn về những đặc trưng của từng nềnvăn hóa và những ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển vănhọc dân gian
Theo tác giả Nguyễn Văn Dân, “phương pháp so sánh là một phương pháp đãxuất hiện từ lâu trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu văn học nóiriêng” [10] Trong nghiên cứu văn học, có thể so sánh một hiện tượng văn học vớicác hiện tượng cùng loại, nhưng cũng có thể so sánh với cả các hiện tượng đối lập
để làm nổi bật bản chất của cái hiện tượng được so sánh
Trang 33Từ lâu, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã sử dụng phương pháp so sánh để tiếp
cận nghiên cứu văn học dân gian Chẳng hạn như trong công trình Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, đã áp dụng phương pháp so sánh để làm rõ sự
ảnh hưởng của thơ ca phương Tây, đặc biệt là thơ Pháp, và của thơ Đường Trung
Quốc đối với Thơ Mới Việt Nam Trong công trình văn học “Văn học lãng mạn Việt Nam” của Phan Cự Đệ đã áp dụng phương pháp so sánh một cách kỹ lưỡng nghiên
cứu về cả Thơ Mới lẫn văn xuôi lãng mạn Việt Nam, để làm rõ những đặc điểm củadòng văn học này và làm rõ ý nghĩa cách tân và những hạn chế của Thơ Mới Ôngkhẳng định rằng: “Thơ ca Pháp đã có ảnh hưởng rõ rệt vào Thơ Mới trong cách gieovần, lối ngắt nhịp, lối bắc cầu, cách làm cho ngôn ngữ giàu nhạc điệu, lối diễn tảbằng những cảm giác tính tế, Nhưng dầu sao những hình ảnh đó vẫn nằm trongphạm vi hình thức nghệ thuật Điểm chính vẫn là những ảnh hưởng về nội dung.Khá nhiều bài thơ Pháp có tác dụng gợi ý cho những bài thơ Việt.”[10]
Khi sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu văn hóa dân gian, phải tuânthủ một số nguyên tắc như: Thứ nhất là nguyên tắc khách quan, phi định kiến Khi
so sánh phải dựa vào thực tế khách quan chứ không được xuất phát từ một định kiếnnào đó để đi chứng minh cho cái định kiến đó Thứ hai là nguyên tắc so sánh cùngloại khi phân hàng thứ bậc, một trong những chức năng của so sánh là phân hạngthứ bậc, nhưng khi phân hạng thứ bậc thì các vế so sánh phải thuộc cùng một loại.Nhưng không chấp nhận có sự phân hạng thứ bậc giữa các nền văn học dân tộc.Thứ ba là nguyên tắc so sánh liên ngành Một hiện tượng văn hóa - văn học khôngtồn tại biệt lập, mà chịu tác động từ nhiều tầng bậc giá trị và bối cảnh Do đó, tiếpcận liên ngành là cần thiết để người nghiên cứu có thể mở rộng tầm nhìn, phân tíchvấn đề từ nhiều chiều như lịch sử, xã hội, đến tâm thức cộng đồng Thứ tư lànguyên tắc so sánh tổng hợp Đặt sự việc trong nhiều cấp độ, nhiều hệ thống, sẽ làm
rõ hơn ý nghĩa tiềm ẩn và giá trị khác nhau của nó Chúng tôi sẽ áp dụng nhữngnguyên tắc này trong quá trình phân tích, so sánh đối chiếu hình tượng con trâutrong văn học dân gian Việt Nam và Trung Quốc
Trang 341.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Bối cảnh và đặc điểm văn hóa nông nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng quan trọng từ xa xưa Hainước có truyền thống trao đổi hữu nghị về chính trị, kinh tế và văn hóa cũng nhưcác lĩnh vực khác Với đặc điểm khí hậu, điều kiện địa lý và thói quen sinh hoạt,Việt Nam và Trung Quốc đều là những quốc gia nông nghiệp truyền thống, nôngnghiệp luôn là nền tảng kinh tế, và văn hóa nông nghiệp là nền tảng văn hóa của hainước, cũng là một phần quan trọng nhất trong trao đổi văn hóa giữa Việt Nam vàTrung Quốc Sự phát triển nông nghiệp phản ánh những thay đổi và tiến bộ của xãhội, kinh tế và văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc
Sơ lược bối cảnh và đặc điểm văn hoá nông nghiệp Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp lớn, có nền văn hóa canh tác và lịch sửtrồng lúa lâu đời Trong truyền thuyết về thời đại Hùng Vương có phản ánh haiphương thức canh tác cơ bản của người cổ Việt là: chọc lỗ tra hạt trên đất bãi khô
và cây lúa trên ruộng nước Chuyện Vua Hùng dạy dân làm ruộng được mô tả: “Tớibản sông, vua xuống bãi lấy que nhọn chọc lỗ để tra hạt lúa và gieo hạt kê Cácvùng đất ven sông mỗi lần nước lớn dâng lên lại được phù sa bồi thêm màu mỡ.Vua Hùng thấy đất ấy tốt lắm mới gọi dân đến bảo tìm cách đắp bờ giữ nước Vuathấy lúa mọc hoang nhiều nơi bày cách cho dân giữ hạt, gieo mạ, khi mạ lên xanhthì đem cấy vào các chân ruộng có nước.”[38]
Về điều kiện tự nhiên, Việt Nam là quốc gia nằm ven rìa phía Đông của bánđảo Đông Dương, được định hình bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, điển hình là haiđồng bằng lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Địa hình chủyếu là đồng bằng châu thổ, đồi thấp và núi trung bình, có khí hậu nhiệt đới gió mùa,mưa nhiều, nóng ẩm, chính điều này tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển củanông nghiệp trồng lúa nước Sự phụ thuộc cao độ vào tự nhiên, đặc biệt là nước,khiến người Việt phát triển các hình thức làng xã, công xã nông nghiệp, tín ngưỡngdân gian, lễ hội nông nghiệp mang đậm dấu ấn môi trường và chu kỳ mùa vụ
Trang 35Văn hóa nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trọng xã hội Việt Nam, khôngchỉ ảnh hưởng đến kinh tế và văn hóa mà còn đi sâu vào thói quen sinh hoạt và giátrị của con người Con trâu đã xuất hiện trong nền văn minh lúa nước của cư dânViệt từ thuở khai hoang mở cõi, thời đại các vùa Hùng cách đây 4.000 năm Cũng
từ xa xưa, người dân đã biết dùng trâu để cày bừa, kéo xe, chở người, làm thựcphẩm, tham gia các hoạt động vui chơi hay thờ cúng Trâu là gia súc quan trọng,ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp, kinh tế gia đình và sự giàu có, trù phúnông thôn Việt Nam
Ở xã hội nông nghiệp ngày xưa Việt Nam, không phải nhà nào cũng có trâu,nhà nào có trâu là quý lắm, càng nhiều trâu chứng tỏ càng giàu, con trâu còn ngầmkhẳng định vị thế của con người trong xã hội Việt Nam có câu tục ngữ “Con trâu làđầu cơ nghiệp”, đối với người nông dân ngày xưa, phải trải qua 3 việc lớn “Tậu trâu,cưới vợ, làm nhà”, mỗi nhà phải cố gắng có được con trâu để chủ động trong côngviệc làm ruộng; có con trâu mới bắt đầu tính đến chuyện lập gia đình; sau khi đã
“tậu trâu, cưới vợ” thì vợ chồng mới cùng nhau lao động, sản xuất, dành dụm tiềncủa để “làm nhà” Hồi đó ít người làm trâu lấy thịt, nếu có trường hợp trâu chết thìngười ta mang đi chôn chứ không ăn, coi trâu là bạn bè người thân
Làng quê Việt Nam mang tính cộng đồng cao, các hoạt động như cấy lúa, chănnuôi trâu thường được tổ chức theo hình thức tập thể dưới mô hình hợp tác xã sảnxuất nồng nghiệp trong nông thôn Việt Nam Các của cải của hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp như ruộng đất, trâu bò, nông cụ đều là của chung của các xã viên.Trước đây, con trâu là tài sản quý giá của từng hộ gia đình, biểu tượng cho sự giàu
có và năng lực lao động cá nhân Khi hợp tác xã ra đời, trâu trở thành tài sản chung,phục vụ cho sản xuất tập thể Điều này làm mờ đi ý nghĩa cá nhân của con trâu, thayvào đó là hình ảnh con trâu gắn với sức lao động cộng đồng
Nhờ vai trò quan trọng trong nông nghiệp, con trâu không chỉ là phương tiệnsản xuất mà còn được người nông dân Việt Nam coi là người bạn đồng hành trungthành, là biểu tượng của tinh thần văn hóa Để ghi chép lại hình ảnh của người bạnnày, con trâu đã đi vào thơ ca, ca dao và những truyện cổ tích Việt Nam với những
Trang 36hình ảnh kéo cày trên cánh đồng, nằm nghỉ dưới tán tre hoặc trẻ em vui đùa trênlưng trâu, trở thành biểu thượng mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc trong văn học dângian, gắn liền với lao động nông nghiệp.
Sơ lược bối cảnh và đặc điểm văn hoá nông nghiệp Trung Quốc
Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn, trải dài từ vùng ôn đới lục địa đến cận nhiệtđới, chia thành hai trung tâm nông nghiệp lớn, đó là miền Bắc Trung Quốc (đồngbằng Hoàng Hà), có truyền thống trồng kê, lúa mì, khí hậu khô, phụ thuộc tưới tiêu
và miền Nam Trung Quốc (châu thổ Dương Tử), giống Việt Nam, là vùng nôngnghiệp lúa nước, mưa nhiều, ẩm ướt, sông ngòi phong phú Văn hóa nông nghiệpTrung Quốc vì thế có tính phân hóa vùng miền cao, và hệ thống tưới tiêu - thủy lợi -điều phối lao động quy mô lớn hình thành từ rất sớm đã dẫn đến sự phát triển củacác thiết chế nhà nước tập quyền và Nho giáo như công cụ tổ chức xã hội
Trên cơ sở phát triển của công cụ sản xuất, lịch sử phát triển nông nghiệp củaTrung Quốc được coi là 3 giai đoạn Giai đoạn 1 là Đao Canh Hỏa Chủng (刀耕火
种), trong thời kí đó, người nông dân chặt bỏ một số cây trên mặt đất, đốt nó sau khinhững cây bị chết khô, chọc lỗ tra hạt, tro cỏ cây thì được làm phân bón Giai đoạn
2 là thời kỳ đồ đá mới (新石器时代), dưới sự xuất hiện của cái cày bằng xương (骨
耜)và cái cày bằng đá (石耜), sử dụng cái cày xương và đá để đào đất đã giúp cảithiện đáng kệ hiệu quả lao động và giảm bớt gánh nặng lao động của người nôngdân Giai đoạn 3 là cày sắt và cày trâu (铁 犁 牛 耕), đến thời kỳ Xuân Thu ChiếnQuốc, mức sống người dân được cải thiện, kéo theo sự xuất hiện của phương phápcanh tác bằng cày sắt và cày trâu, nâng cao hiệu quả năng lực sản xuất nông nghiệp,
từ đó trở đi, nó trở thành phương thức canh tác chủ yếu của người nông dân cổ đạiTrung Quốc
Sự tiến bộ của công cụ nông nghiệp ở Trung Quốc cổ đại là quá trình chuyểnđổi từ công cụ phi kim loại sang công cụ kim loại, từ công cụ bằng gỗ, đá, xươngsang công cụ bằng sắt Từ đó, sản xuất nông nghiệp trở nên thuận tiện hơn, hiệu quảhơn và quy mô lớn hơn
Trang 37Sự xuất hiện của cày trâu là cột mốc quan trọng trong lịch sử nông nghiệp, cóảnh hưởng sâu sắc đến văn minh lúa nước Trung Hoa Nó không chỉ nâng cao hiệuquả sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp, mà còn tác động mạnh mẽđến cấu trúc xã hội và truyền thống văn hóa Ở các quốc gia với nền văn minh lúanước như Trung Quốc, cày trâu không chỉ là kỹ thuật then chốt trong sản xuất nôngnghiệp, mà còn là một phần quan trọng của văn hóa nông nghiệp.
Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn và khí hậu đa dạng Miền bắc Trung Quốcchủ yếu là trồng tiểu mạch và cây ngô với điều kiện khí hậu khô và ít mưa, đất đairộng lớn Con trâu trong nền nông nghiệp miền bắc đóng vai trò cày đất và vậnchuyển lượng thực, phân bón cũng như các hàng hóa khác Vậy thì con trâu thườngđược xuất hiện và khen ngợi trong những thơ ca với hình tượng sức mạnh và kiênnhẫn Ở miền nam Trung Quốc, có những đồng bằng và lưu vực rộng lớn như đồngbằng trung và hạ lưu sông Trường Giang, đồng bằng châu thổ sông Châu Giang vớiđịa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, rất thích hợp trồng lúa nước
Sản xuất nông nghiệp thời xưa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên,nhưng do thiếu hiểu biết nên người xưa không thể giải thích được nguyên nhân gây
ra thiên tai và thường cho rằng các thảm họa thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt, sâubệnh là do thần linh trừng phạt Vì sợ hãi và mong muốn mùa màng bội thu, ngườixưa đã dùng cách riêng của mình để dâng lễ vật lên các vị thần nhằm cầu xin phướclành, cầu mong mưa thuận gió hòa và thu hoạch dồi dào Từ đo, con trâu trở thànhvật hiến tế cho thần để đảm bảo sản xuất nông nghiệp
Trong thời kỳ phong kiến, nông nghiệp được coi là gốc rễ của quốc gia trongtriết lý Nho giáo Điều này thể hiện qua chính sách “trọng nông ức thương” (coitrọng nông nghiệp, hạn chế thương nghiệp) của các triều đại Theo trật tự xã hội củaNho giáo Sĩ - Nông - Công - Thương, nông dân đứng thứ hai trong thứ bậc xã hội,chỉ sau học giả (Sĩ), thể hiện sự coi trọng của Nho giáo Nho giáo đề cao đức tínhcần cù, tiết kiệm của người nông dân, nhấn mạnh đạo đức lao động, Nho giáo đãbiến nông nghiệp Trung Quốc thành một phần của hệ thống đạo đức - chính trị, nơi
kỹ thuật canh tác gắn liền với triết lý cai trị
Trang 381.2.2 Vai trò của con trâu trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam và Trung Quốc
Trong nền văn minh lúa nước kéo dài hàng nghìn năm ở Đông Á, đặc biệt tạiViệt Nam và Trung Quốc Con trâu không chỉ là sức kéo trên đồng ruộng mà còn lànhân tố then chốt định hình cấu trúc kinh tế và văn hóa xã hội
Ngoài ra, con trâu cũng đóng góp sản xuất nông nghiệp bền vững, phân trâu làphân bón hữu cơ tự nhiên, phân trâu được sử dụng để cải tạo đất, duy trì độ phìnhiêu của ruộng lúa Trâu đươc thả tự do trong đồng ruộng, giúp kiểm soát cỏ dại
và duy trì hệ sinh thái ngập nước
Đồng thời con trâu là nguồn thu nhập và sinh kế, đóng góp vào ngành chănnuôi và công nghiệp chế biến Con trâu là nguồn cho thịt, da và sữa, thịt trâu và sữatrâu đều chứa lượng đạm cao, có giá trị dinh dưỡng rất cao, da trâu được chế biếnthành da thuộc cao cấp, dùng trong ngành công nghiệp giày dép và thủ công mỹnghệ Trâu được coi là “cây thuốc biết đi”, mọi bộ phận cơ thể của con trâu đều cóthể đem chế thành thuốc, phòng chống và chữa trị hiệu quả nhiều bệnh ở người
Về vai trò xã hội
Con trâu không chỉ là con vật gia súc, mà còn có mặt trong rất nhiều lĩnh vựccủa đời sống vật chất, tinh thần của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội,trở thành biểu tượng văn hóa, có vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội của ngườidân Việt Nam và Trung Quốc
Trang 39Ở Việt Nam, mọi người dễ dàng bắt gặp hình ảnh mục đồng ngồi đọc sách trênlưng trâu; bên lũy tre các em nhỏ nô đùa bên đàn trâu đang gặm cỏ; cánh diều đangbay trên bầu trời, đàn trâu nằm tắm dưới bờ kênh; buổi chiều tà đứa trẻ dắt trâu vềtrên con đê Đã bao đời, con trâu gắn bó mật thiết với người nông dân Việt Nam.
Từ hình dáng trăng khuyết và cấu trúc của sừng trâu nên sừng trâu được sửdụng làm chiếc tù và Theo PGS.TS Dương Văn Sáu: “Chiếc tù và làm bằng sừngtrâu do cấu trúc to dần từ chóp sừng to ra cùng với các nếp sóng do hệ thống vânrãnh trên vỏ sừng trâu sẽ tạo ra sóng âm thanh được phóng đại to dần lên, kích thíchtinh thần quân sĩ, tăng thêm sức mạnh (người ta ví: khẻo như trâu), xong lên tiêudiệt quân thù ” [42]
Da trâu thì được sử dụng để làm trống Theo PGS.TS Dương Văn Sáu:
“Những chiếc trống lớn bọc ra trâu được gọi là trống sấm dùng trong chiến trận đểkhích lệ tinh thần quân sĩ xông lên giết giặc, lập công Trống sấm, trống đại dùngtrong các đình chùa vào dịp lễ hội để quảng uy âm thanh, báo hiệu, thu hút, mời goịbách tính tự hội chốn đình chung tham gia hội lễ.” [18] Con trâu vốn có sức khỏe,
sự kiên trì, bền bỉ trong kéo cày, làm các công việc nặng nhọc đến thành công nên
da trâu được dùng làm các dụng cụ báo hiệu, thúc giục, cổ vũ, khích lệ số đôngngười chuyên cần, chăm chỉ tấn tới, tiến lên Do đó trống bằng da trâu còn được sửdụng để điều khiển nề nếp sinh hoạt, học tập, trong các trò chơi hội hè, Trung thu
Từ lúc nằm nôi, con trâu đã nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ theo lời ru của bà, mẹ
vì đức tính hiền lành, bình yên:
“Ví dầu, ví dẩu, ví dâu,
Ví qua, ví lại, ví trâu vô chuồng,
Vô chuồng trâu lại trâu ra,
Ta lại ví nữa ví trâu vô chuồng.”
Ngoài ra, trâu còn gắn liền với nhiều phong tục truyền thống của người ViệtNam như: dùng làm sính lễ, cưới hỏi, hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), phiênchợ trâu Cán cấu (Si Ma Cai, Lào Cai) Trong văn hóa đại chúng, trâu được conngười đưa vào hội họa, âm nhạc, điện ảnh, thơ ca, ca dao, tục ngữ không sao kể hết
Trang 40Trâu còn là niềm tự hào của người dân Việt, khi được chọn là linh vật SEA Games
22 (Việt Nam đăng cai)
Dù ngày nay, xu thế hiện đại hóa lên ngôi, máy móc đã thay thế con trâu rấtnhiều trong sản xuất nông nghiệp Nhưng, đâu đó trên những cánh đồng làng, người
ta vẫn bắt gặp hình ảnh con trâu
Ở Trung Quốc, con trâu vốn là một loài gia súc bình thường phục vụ cho sảnxuất và đời sống con người, nhưng khi được sử dụng trong những dịp đặc biệt, pháthuy vai trò đặc biệt thì vị thế của chúng thay đổi rất lớn
Thời kỳ Tiên Tần, cúng tế và chinh phạt là hai sự kiện trọng đại hàng đầu củatriều đình Cúng tế, với tư cách là một phần quan trọng trong đời sống xã hội, liênquan đến rất nhiều việc từ việc lên ngôi của quân vương, tu bổ vũ khí để chinhchiến, đến cày cấy cầu mưa, du ngoạn, giao tế, đặt tên người dân đều tiến hành bóitoán và cúng tế, mong được sự che chở của thành linh và tổ tiên để mọi việc thuậnlợi, giàu có phúc lộc Con trâu trở thành vật hiến tế chính trong nghi lễ cúng tế Như
ghi chép trong Tập bộ thủ Ngưu của Thuyết Văn Giải Tự (说文解字·牛部): “Ngưu, làcon vật hiến tế lớn” (牛,大牲也) Khi chọn trâu để hiến tế, người xưa có những quyđịnh nghiêm ngặt về màu lông, giới tính và tuổi tác Sau khi trâu chết, xươngchúng cũng được sử dụng rông rãi Trong số các loại xương thú dùng để bói toán,xương trâu xuất hiện phổ biến nhất, theo ghi chép: “Xương trâu chiếm tỷ lệ cao nhất,
Trong văn hóa và nghệ thuật cổ đại, con trâu cũng giữ vị trí quan trọng Trâu làmột trong những linh vật sơm nhất của người dân Trung Hoa, tượng trưng cho sứcmạnh và sự phồn thịnh Trên các bức phù điêu đá thời Hán, hình ảnh xe trâu, càyruộng bằng trâu xuất hiện thường xuyên, phản ánh đời sống nông nghiệp và phongtục xã hội đương thời Trong những bức tranh hang động của người nguyên thủy,con trâu là loại đồng vật được nhấn mạnh nổi bật, các họa tiết trang trí hoặc hìnhdáng của trâu đã xuất hiện từ rất sớm trên đồ đồng và gốm thời kỳ Tiên Tần Trênvăn tự khắc trên xương thú và mai rùa thời nhà Thương, có nhiều biểu tượng đầutrâu cùng các nghi lễ hiến tế trâu làm sinh tế Hơn nữa, hình tượng nghệ thuật của